1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các biện pháp điều chỉnh các tỷ giá hối đoái của việt nam trong thời gian 2008 2013 theo bạn trong các biện pháp trên, biện pháp nào là hiệu quả nhất, vì sao đề xuất giải pháp của nhóm trong thời gian tới

21 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 290,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không những vậy, tỷ giá hối đoái còn có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cảtrong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp… Tro

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (TGHĐ) 3

1 Khái niệm về TGHĐ 3

2 Tầm quan trọng của TGHĐ 3

3 Các nhân tổ chủ yếu tác động đến sự biến đổi TGHĐ 3

4 Các chính sách và biện pháp điều chỉnh TGHĐ 4

CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 6

1 Tình hình cán cân thương mại củaViệt Nam ( 2008-2013) 6

2 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2013 9

3 Biện pháp đư ợc cho là hiệu quả nhất 13

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT TRONG THỜI GIAN TỚI 14

1 Những vấn đề tồn tại trong việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái trong thời gian qua 14

2 Mục tiêu, định hướng và nguyên tắc thực hiện 15

2.1 Mục tiêu 15

2.2 Định hướng 15

2.3 Nguyên tắc thực hiện 16

3 Giải pháp cụ thể 16

3.1 Ổn định thị trường vàng và thị trường ngoại hối 16

3.1.1 Tình hình thực tế 16

3.1.2 Biện pháp cụ thể 16

3.2 Hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trường mở 16

3.2.1 Cơ sở lý thuyết 16

3.2.2 Tình hình thực tế 16

3.2.3 Biện pháp cụ thể 16

3.3 Điều chỉnh mối quan hệ của tỷ giá với lãi suất 16

3.4 Các công cụ hành chính 16

3.5 Giải pháp phối hợp các chính sách kinh tế vĩ mô để hoạt động can thiệp vào tỷ giá đạt hiệu quả cao 16

KẾT LUẬN 16

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong các quan hệ kinh tế, thương mại và các quan hệ khác giữa các chủ thể khácnhau của các quốc gia khác nhau thường nảy sinh nhu cầu trao đổi giữa tiền tệ của các quốcgia này để phục vụ cho việc thanh toán tiền tệ Do mỗi quốc gia có luật pháp và phương thứcđiều chỉnh tiền tệ khác nhau nên khi ký hợp đồng, hiệp định, các bên phải thỏa thuận vớinhau sẽ sử dụng đồng tiền của nước nào làm đồng tiền tính toán/thanh toán Việc này dẫn tớivấn đề cần xác định tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiển để thuận lợi trong chuyển đổi và thanhtoán.Chính vì vậy, tỷ giá hối đoái đóng vai trò rất lớn trong ngoại thương Không những vậy,

tỷ giá hối đoái còn có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cảtrong nước ,lạm phát khả năng sản xuất , công ăn việc làm hay thất nghiệp…

Trong thời gian gần đây, cụ thể là trong giai đoạn 2008-2013, tỷ giá hối đoái của ViệtNam luôn nằm trong tình trạng bất ổn, tăng giảm thất thường qua từng thời kì khác nhau.Điều này dẫn tới những biến động không ngừng của nền kinh tế nước nhà Bàn tay của chínhphủ càng trở nên có vai trò quan trọng hơn trong việc bình ổn giá cả, bình ổn tỷ giá hối đoái,cũng là bình ổn cán cân thương mại, mang lại sự phát triển cân bằng cho nền kinh tế trongthời kì biến động khôn lường của kinh tế chính trị thế giới

Vì những lý do trên, trong phạm vi một tiểu luận, chúng tôi tập trung nghiên cứu sâuhơn về tình hình tỷ giá hối đoái của Việt nam trong thời kì 2008-2013, và những biện phápcủa chính phủ Việt Nam trước tình hình đó Đồng thời, trong tầm hiểu biết của mình, chúngtôi cũng mong muốn được đưa ra những đánh giá, nhận định về hiệu quả các biện pháp củaNhà nước, từ đó đề xuất các giải pháp cho thời gian sắp tới Chúng tôi tin rằng tiểu luận này

sẽ mang tới cho người đọc cái nhìn khái quát hơn về sự biến động của tỷ giá hối đoái trên thịtrường Việt Nam, đồng thời đây sẽ là nền tảng để chúng tôi có thể tiến hành các nghiên cứusâu hơn về vấn đề này trong tương lai

Trang 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (TGHĐ)

1 Khái niệm về TGHĐ

a Khái niệm cơ bản : là quan hệ so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước với nhau.

b Khái niệm thị trường: là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn

vị tiền tệ nước kia

c Ngoài ra còn nhiều khái niệm khác nhau:

Theo PLNH 2005: TGHĐ của đồng VN là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tínhbằng đơn vị tiền tệ của VN

Theo Tài chính QT hiện đại trong nền kinh tế mở (N.V Tiến): TGHĐ là giá cả củamột đồng tiền được biểu thị bằng một đồng tiền khác

2 Tầm quan trọng của TGHĐ

TGHĐ giữ vai trò quan trọng với mọi nền kinh tế Sự vận động của nó có tác độngsâu sắc, mạnh mẽ tới mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thể hiện trên haiđiểm cơ bản sau:

Cân bằng ngoại thương : Khi đồng tiền của một quốc gia tăng giá (so với đồng tiền

khác) thì hang hóa nước đó ở nước ngoài trở thành đắt hơn và hàng hóa nước ngoài tại nước

đó lại rẻ hơn, và ngược lại (các yếu tố khác không đổi) TGHĐ tác động đến hoạt động xuấtnhập khẩu vì vậy nó tác động tới cán cân thanh toán quốc tế, gây ra thâm hụt hoặc thặng dưcán cân

Cân bằng sản lượng, công ăn việc làm và lạm phát: nếu TGHĐ có sự gia tăng liên

tục trong qua các năm có nghĩa lạm phát tăng Đối với sản xuất, sự gia tăng của hàng nhậpkhẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh, phát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ănviệc làm, giảm thất nghiệp, sản lượng quốc gia có thể tăng lên, và ngược lại

3 Các nhân tổ chủ yếu tác động đến sự biến đổi TGHĐ

a Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp :

Tình hình dư thừa hay thiếu hụt của Cán cân TTQT

Nếu thu > chi  CCTT dư thừa  khả năng cung cấp ngoại hối > nhu cầu về ngoạihối  TGHĐ giảm

Nếu thu < chi  CCTT thiếu hụt  khả năng cung cấp ngoại hối < nhu cầu về ngoạihối  TGHĐ tăng lên

Thu nhập thực tế của người dân tăng

Trang 4

Những nhu cầu về ngoại hối tăng (do nhu cầu về hàng hóa dịch vụ nhập khẩu tăng khi

mà nền kinh tế có sự tăng trưởng ổn định)

b Mức chênh lệch lãi suất giữa các nước (nước nào có lãi suất tiền gửi ngắn hạn cao

hơn lãi suất tiền gửi của các nước khác thì vốn ngắn hạn sẽ chảy vào nhằm thu phần chênhlệch do tiền lãi tạo ra, do đó sẽ làm cho cung ngoại tệ tăng lên, TGHĐ sẽ giảm xuống)

c Mức chênh lệch lạm phát của hai nước (giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành

mạnh, năng suất lao động của hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự

do, khi đó tỷ giá biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền Nướcnào có mức độ lạm phát lớn hơn thì đồng tiền của nước đó bị mất giá so với đồng tiền củanước còn lại)

Ngoài những yếu tố nêu trên, TGHĐ còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác, chẳnghạn như yếu tố tâm lý, chính sách của chính phủ, uy tín của đồng tiền,…

4 Các chính sách và biện pháp điều chỉnh TGHĐ

Điều chỉnh TGHĐ là việc nhà nước dùng các biện pháp kinh tế hoặc tài chính để canthiệp vào thị trường hối đoái nhằm điều chỉnh TGHĐ đó biến động theo chiều hướng hoặctrong mức độ mong muốn Có các biện pháp chính sau:

a Chính sách chiết khấu của NHTW (Discount policy)

Là chính sách của NHTW dùng để thay đội tỷ suất chiết khấu của Ngân hàng mìnhnhằm điều chỉnh TGHĐ trên thị trường

Khi TGHĐ lên cao NHTW nâng cao tỷ suất chiết khấu  lãi suất thị trường tăng; vốnngắn hạn chảy vào thị trường trong nước; dịu sự căng thẳng của cung cầu  TGHĐ giảm

Chính sách này sẽ rất phù hợp khi tình hình kinh tế, chính trị, tiền tệ trong nước ổnđịnh Tuy nhiên, chính sách này có thể làm giảm sự lệ thuộc của NHTM đối với NHTW

b Chính sách hối đoái

Là chính sách mà NHTW hoặc các cơ quan ngoại hối của Nhà nước trực tiếp tham giamua bán ngoại hối trên thị trường tự do nhằm tác động trực tiếp vào TGHĐ

Khi TGHĐ tăng, NHTW bán ngoại hối

Khi TGHĐ giảm, NHTW mua ngoại hối

Chính sách tương hỗ SWAP (Swing agreement of payment)

Chính sách này linh hoạt và chủ động hơn chính sách chiết khấu; có thể thay đổi giámua, giá bán theo thị trường

Trang 5

c Quỹ dự trữ bình ổn hối đoái

Là hình thức biến tướng của chính sách thị trường tự do nhằm tạo ra một cách chủđộng một lượng ngoại hối dự trữ để ứng phó với biến động của TGHĐ thông qua việc hoạtđộng công khai của Nhà nước trên thị trường

Có 2 cách lập quỹ: Phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền trong nước và Dùng vàngđể lập quỹ

d Phá giá tiền tệ

Là sự đánh tụt sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ thấp hơn sức mua thực

tế của nó hay là nâng cao TGHĐ của một đơn vị ngoại tệ

Tác dụng: đẩy mạnh XK, hạn chế NK; khuyến khích NK vốn, hạn chế XK vốn;khuyến khích du lịch vào trong nước, hạn chế du lịch ra nước ngoài; cướp không một phầngiá trị thực tế của những ai nắm trong tay đồng tiền bị phá giá

e Nâng giá tiền tệ

Là việc nâng cao đơn vị tiền tệ nước mình so với ngoại tệ cao hơn sức mua thực tếcủa nó

Tác dụng: ngược lại với phá giá tiền tệ

Trang 6

CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG

Tỷ giá( cuối năm, VND) 16,977 17,941 18,932 21,043 21,300

(Nguồn: IMF country Report Vietnam)

Theo trang web của Ngân hàng Nhà nước, trong buổi gặp mặt cuối năm với các tổchức tài chính, tiền tệ quốc tế và các tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, Phó Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng cho biết, cán cân tổng thể năm 2012 ước đạt thặng

dư 10 tỷ USD

Trang 7

Trước đây, cán cân tổng thể đạt thặng dư kỷ lục vào năm 2007, năm đầu tiên ViệtNam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Nhưng sau đó, thặng dư cán cân thanhtoán giảm mạnh vào năm 2008, khi CPI lên mức cao nhất kể từ năm 1992, cộng với khủnghoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới Cán cân tổng thể thâm hụt kỷ lục vào năm 2009.Đến năm 2011, cán cân tổng thể mới thặng dư trở lại với 2,5 tỷ USD Mức thặng dư năm

2012 cao hơn nhiều so với các dự báo từ đầu năm cho tới gần đây Đầu năm, Ngân hàng Nhànước dự báo thặng dư khoảng 3 tỷ USD

Cán cân tổng thể thặng dư do nhiều yếu tố

Đầu tiên, cán cân vãng lai cũng thặng dư khá Cán cân vãng lai có 4 nội dung là cán

cân thương mại, cán cân dịch vụ, cán cân thu nhập đầu tư và cán cân chuyển tiền Trong đó,cán cân thương mại và cán cân chuyển tiền đạt thặng dư

Cán cân thương mại bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa Nếu tính xuất khẩutính theo giá FOB, nhập khẩu tính theo giá CIF, các năm trước, Việt Nam nhập siêu khá lớn(năm 2007 là 14,2 tỷ USD, năm 2008 :18 tỷ USD, năm 2009 là 12,9 tỷ USD, năm 2010 là12,6 tỷ USD, năm 2011 : 9,8 tỷ USD) nhưng năm 2012 đã xuất siêu 284 triệu USD

Nhưng nếu xuất nhập khẩu đều tính theo giá FOB (giá CIF cao hơn giá FOB bìnhquân khoảng 8%), mức xuất siêu lớn hơn nhiều và cán cân thương mại thặng dư khoảng 9,4

tỷ USD

Nguồn thu chuyển tiền cũng thặng dư khá, nhờ lượng kiều hối cả năm có thể đạt gần

10 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay Trong khi đó, cán cân dịch vụ và cán cân thu nhập đầu

tư thâm hụt Theo Tổng cục Thống kê, nhập siêu dịch vụ năm 2012 ước 3,1 tỷ USD, trong đódịch vụ du lịch xuất siêu 4,7 tỷ USD, dịch vụ vận tải nhập siêu 6,6 tỷ USD, các dịch vụ khácnhập siêu 1,2 tỷ USD)

Trang 8

Thứ hai, cán cân vốn đạt thặng dư, gồm 6 khoản (đầu tư trực tiếp, vay trung, dài hạn,

vay ngắn hạn, đầu tư vào giấy tờ có giá, tiền và tiền gửi, tài sản khác) Trong số đó, 5 khoảnđầu đạt thặng dư Đầu tư trực tiếp đạt thặng dư lớn nhất nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài đạtkhá (12,2 tỷ USD, cao nhất từ trước tới nay), so với đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nướcngoài (ước 1,2 tỷ USD)

Vay trung, dài hạn sau khi trừ đi phần trả nợ gốc, cũng đạt thặng dư Vay ngắn hạn,sau khi trừ đi phần trả nợ gốc, cũng đạt thặng dư Đầu tư vào giấy tờ có giá của nước ngoài,sau khi trừ đi phần đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài, cũng đạt thặng dư

Cán cân tổng thể đạt thặng dư lớn đã góp phần tích cực cho ổn định kinh tế vĩ mô,góp phần làm tăng sức mạnh tài chính quốc gia Nhờ vậy, mặc dù Ngân hàng Nhà nước cungứng ra thị trường một lượng lớn nội tệ để mua ngoại tệ (tốc độ tăng tổng phương tiện thanhtoán ở mức khá cao) nhưng không gây áp lực lạm phát, mà trái lại lạm phát năm nay thấp hơnnhiều so với năm trước, vừa góp phần chống "đô la hóa"

Tỷ giá giảm trong nhiều tháng, tính chung cuối năm 2012 giảm 0,96% so với cuốinăm trước, góp phần giảm áp lực tâm lý kỳ vọng lạm phát, vừa không làm khuếch đại lạmphát trong nước

Có thể thấy, tình trạng cán cân vãng lai ở Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt từnăm 2008-2011:

Xét về cán cân thương mại Theo số liệu từ tổng cục Hải quan :

( Đơn vị : tỷ đồng)

Tổng kim ngạchXNK

2008, cán cân thương mại hàng hoá thâm hụt 12,85 tỷ USD

2009, Nhập siêu là 12,61 tỷ USD, bằng 17,5% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

2011, cán cân thương mại thâm hụt 9,84 tỷ USD, bằng 10,2% tổng kim ngạch xuấtkhẩu của Việt Nam

2012, Cán cân thương mại hàng hoá cả nước xuất siêu 780 triệu USD (trong khi năm

2011 nhập siêu 9,84 tỷ USD)

Tính từ đầu năm đến hết tháng 9 năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá củaViệt Nam đạt 192,53 tỷ USD, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu đạt

Trang 9

96,27 tỷ USD, tăng 15,5% và nhập khẩu là 96,26 tỷ USD, tăng 15,1% Kết quả là cán cânthương mại hàng hoá của Việt Nam khá cân bằng trong 3 quý tính từ đầu năm 2013.

Tình hình cán cân thương mại nói riêng và CC thanh toán nói chung có chiều hướngtốt lên

Biểu đồ 1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hoá của Việt

Nam theo tháng của năm 2012 và quý I/2013

Nguồn: Tổng cục Hải quan

2 Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái từ năm 2008 đến 2013

Diễn biến tỷ giá hối đoái ở Việt Nam được chia là hai giai đoạn chính: từ 2008 đến

2010 và từ 2011 đến nay

a Giai đoạn I - từ 2008 đến 2010: Tỷ giá bán USD/VND của Vietcombank tăng từ

16.112 (tháng 1/2008) lên đến 19.500 (tháng 12/2010)

Trang 10

Giai đoạn 2008-2010đánh dấu sự biến động trong các phản ứng chính sách tỷ giá ởViệt Nam với sự gia tăng mạnh, cụ thể: năm 2008 tăng 6,31%, năm 2009 tăng 10,07%, năm

2010 tăng 9,68% Hình trên cho thấy tỷ giá đã có những biến động mạnh trong năm 2008 dolạm phát tăng cao trong nửa đầu năm và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu tácđộng tới nền kinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008

Xu hướng chung của năm 2009 và 2010 là sự mất giá danh nghĩa của VND so vớiUSD Cho đến cuối năm 2009, tỷ giá chính thức USD/VND đã tăng 5,6% so với cuối năm

2008 Trong khi trong năm 2008,tỷ giá niêm yết tại các NHTM biến động liên tục, đầu nămcòn có giai đoạn thấp hơn tỷ giá chính thức, thì năm 2009 lại là một năm mà tỷ giá NHTMluôn ở mức trần của biên độ giao động mà NHNN công bố Trong một thời gian ngắn, Ngânhàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã liên tục có 2 lần thay đổi mạnh tỷ giá giữa đồng ViệtNam và đồng đô la Mỹ Lần thay đổi thứ nhất vào ngày 26/11/2009, tỷ lệ phá giá là 5,44%,đồng thời NHNN thu hẹp biên độ biên độ giao động của tỷ giá từ 5% xuống 3% Lần thay đổithứ hai, chỉ cách lần thứ nhất chưa đầy 2 tháng, vào ngày 11/2/2010 tỷ giá VND/USD tăngthêm 3,36% Trước sức ép của thị trường, tháng 8/2010, NHNN buộc phải tăng tỷ giá bình

quân liên ngân hàng thêm 2,1%, lên mức 18.932 đồng/USD Những thay đổi chính sách tỷ giá có thể đem lại những tác dụng tức thời nhằm khơi thông nguồn cung cầu trên thị trường ngọai tệ, nhưng sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường bằng quyết định hành chính sẽ để lại cho xã hội tâm lý bất an khi sở hữu đồng nội tệ khiến tỷ

giá trên thị trường tự do ngày càng rời xa tỷ giá chính thức Hơn nữa, tình trạng nhập siêu kéodài và ngày càng tăng từ tháng 3 đến cuối năm Giá trị xuất khẩu trong cả năm giảm 10% so

Trang 11

với năm 2009 chủ yếu do mặt bằng giá xuất khẩu giảm đặc biệt là các mặt hàng xuất khẩuchủ lực của Việt Nam Mặc dù xuất khẩu tăng vào cuối năm nhưng trong tháng 11/2010,nhập siêu lên tới hơn 2 tỷ USD khiến cho cầu USD tăng cao cũng góp phần làm tăng tỷ giáhối đoái Cuối tháng 11, tỷ giá tăng vọt lên mức 21.380 - 21.450 đồng/USD, trên thị trường

tự do tỷ giá vượt qua mức 21.500 đồng/USD

Thêm vào đó, chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế đã khiếncho nhu cầu về USD càng tăng để phục vụ việc nhập khẩu vàng Giá vàng và USD đều đãtăng mạnh Người dân đẩy mạnh mua ngoại tệ trên thị trường tự do, giá USD trên thị trườngchợ đen tăng mạnh Do khan hiếm nguồn cung USD, các doanh nghiệp cũng phải nhờ đến thịtrường chợ đen hoặc phải cộng thêm phụ phí khi mua ngoại tệ tại các NHTM Tâm lý hoangmang mất lòng tin vào VND làm tăng cầu và giảm cung về USD đã đẩy tỷ giá thị trường tự

do tăng lên hàng ngày Chênh lệch tỷ giá giữa thị trường chợ đen so với tỷ giá chính thức đến10% Đây là mức chênh lệch cao nhất trong lịch sử tài chính Việt Nam từ năm 1990

b Giai đoạn 2: từ năm 2011 đến tháng 10 năm 2013

Từ 2011 đến 2012:

So với tháng 12 năm trước sau khi tăng khá cao trong thời kỳ 2008-2010, tỷ giá hối đoái đã tăng chậm lại vào năm 2011 (tăng 2,24%), giảm vào năm 2012 (giảm 0,96%) và tiếp tục tăng thấp trong 11 tháng năm 2013 mặc dù giá vàng trong nước vẫn cao hơn nhiều so với giá vàng thế giới

Năm 2012 được phân rõ hai thái cực, nửa đầu năm, tỷ giá VND/USD có xu hướngtăng nhẹ, trong khi 6 tháng cuối năm lại điều chỉnh giảm Đây là một hiện tượng ngược lạidiễn biến tỷ giá trên thị trường trong những năm xáo trộn (2008-2011) khi tỷ giá luôn biếnđộng theo chiều hướng tăng dần từ đầu năm đến cuối năm Điều đáng nói, quy luật biến độngmạnh của tỷ giá vào những tháng cuối năm, kèm với sự chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và

tỷ giá thị trường tự do thường ở mức khá cao đã không tái hiện trong năm 2012 Mặc dù, cuốitháng 8, đầu tháng 9/2012, tỷ giá tự do nhích lên và bỏ xa thị trường chính thức một khoảngkhá lớn, nhưng nhanh chóng trở lại bám sát tỷ giá chính thức Đây chính là một điểm sángtrong điều hành thị trường ngoại hối trong năm 2012

10 tháng đầu năm 2013:

Tỷ giá ổn định ở quý I/ 2013

nhưng, sang đầu quý II/2013, thị trường đã

có những biến động Cụ thể là, từ cuối

tháng 4/2013 đến cuối tháng 6/2013, nhiều

Ngày đăng: 18/11/2017, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w