Trình bày được tại sao phải thay đổi góc ngang và 14.Phân tích được các hạn chế của việc đọc phim góc đứng của cone chụp trên phim làm việc để tạo 15.Trình bày được một số kỹ thuật mới v
Trang 1CHƯƠNG 11
C
X quang nội nha
▲ Richard E Walton
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, sinh viên có khả năng: được trên cả hình chiếu vuông góc và nghiêng
1 Trình bày được tầm quan trọng của X quang trong 9 Trình bày được cách phát hiện và xác định vị trí (trên chẩn đoán và điều trị nội nha phim làm việc chụp nghiêng) các ống tủy hoặc chân
2 Trình bày được các áp dụng đặc biệt của chụp X răng chưa tìm thấy
quang trong nội nha 10.Trình bày được các kỹ thuật để chụp phim “làm việc”
3 Phân tích được tại sao phải hạn chế số lần chụp (ví dụ, đặt phim và chỉnh cone khi đã đặt đê cao su)
4 Nhận dạng các đặc điểm giải phẫu bình thường của 11.Trình bày được các chi tiết quan trọng trong việc đặt xương hàm trên và hàm dưới trên phim phim và chỉnh cone cho mỗi răng trên phim làm việc
5 Trình bày được các đặc điểm trên phim X quang để 12.Trình bày được các hạn chế của rửa phim nhanh phân biệt giữa tổn thương thấu quang hoặc cản trong chụp phim làm việc
quang do nội nha và không do nội nha (bình 13.Trình bày được kỹ thuật chụp để xác định vị trí của
6 Trình bày được tại sao phải thay đổi góc ngang và 14.Phân tích được các hạn chế của việc đọc phim góc đứng của cone chụp trên phim làm việc để tạo 15.Trình bày được một số kỹ thuật mới và áp dụng của
ra phim trượt bóng chúng đối với X quang nội nha hiện nay và trong
7 Trình bày được cách xác định chiều thứ ba trên tương lai
phim nghiêng (ví dụ, các cấu trúc nằm trong cùng 16.Trình bày được kỹ thuật đặt phim và cone bên ngoài một mặt phẳng trong-ngoài, dùng quy tắc [SLOB]) miệng
8 Trình bày được các yếu tố cấu trúc của răng thấy
MỤC LỤC
TẦM QUAN TRỌNG CỦA X QUANG
TRONG NỘI NHA
Chụp X quang kỹ thuật số Chẩn đoán
Điều trị Tái khám Các áp dụng đặc biệt
TRÌNH TỰ CHỤP X QUANG
Phim chẩn đoán Phim làm việc Trám bít Tái khám
CHỈNH MÁY VÀ CHỌN PHIM CHỤP TRƯỢT BÓNG
Nguyên lý Chỉ định và ưu điểm Nhược điểm
GIẢI PHẪU X QUANG NỘI NHA
Đọc phim Hạn chế
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Bệnh lý nội nha Bệnh lý không do nội nha Các cấu trúc giải phẫu
CÁC KỸ THUẬT ĐẶC BIỆT
Chụp cắn cánh Đặt phim-cone Phim làm việc kỹ thuật số Rửa phim nhanh
Thiết bị đọc phim Đặt phim/cone bên ngoài miệng
CÔNG NGHỆ MỚI
Chụp X quang kỹ thuật số Chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
húng tôi đã chán ngấy tia Rơn-ghen bạn có thể thấy xương của người khác bằng đôi mắt trần, và còn nhìn được xuyên qua gỗ tám inch
Sự khiếm nhã khủng khiếp của nó không cần phải nhắc
lại Việc trên hết mà chúng ta phải trình lên Chính phủ
đó là yêu cầu phải cấm thứ tồi tệ này bằng pháp luật
Có lẽ điều tốt đẹp nhất cho mọi quốc gia văn minh đó là
cùng lúc hủy tất cả các công việc trên tia Rơn-ghen,
hành hình tất cả những người đã phát minh ra nó, và
gom hết toàn bộ tungstate (vật liệu sản xuất bóng phát
tia X) trên thế giới và nhấn chìm xuống đáy đại dương
BÀI VIẾT TRONG BÁO PALL MALL GAZETTE
LONDON, 1896
Rõ ràng là (và cũng may mắn là) mối lo trong bài viết của tờ báo ở London nói trên không trở thành quan điểm chung
về X quang Phim X quang là rất cần thiết, chúng là đôi mắt thứ hai của nha sĩ Điều này đặc biệt đúng với nội nha, lĩnh vực mà rất nhiều quyết định chẩn đoán và điều trị dựa vào đọc phim X quang Do phần lớn các cấu trúc liên quan không nhìn thấy được bằng mắt thường, rõ ràng là phải dựa vào phim X quang, một nhu cầu và một phương tiện không thể thiếu Tuy nhiên X quang phần nào còn là một
185
Trang 2186 Chương 11 X quang nội nha
mối nguy hại trên quan điểm cả về tính an toàn và về thời
gian, và đáng tiếc là phim X quang thường bị đọc quá đi
(overinterpreted) hoặc đọc thiếu (underinterpreted)
Chụp X quang là thủ thuật không thể đảo ngược, nên
chỉ nên chụp những phim cần thiết Mối quan tâm về an
toàn phóng xa ngày càng được nhấn mạnh, tổng toàn bộ
phơi nhiễm chiếu xạ phải được giảm đến mức tối thiểu.1
Tuy nhiên, lượng chiếu xạ mà mô miệng và các mô khác
hấp thu được tính toán là rất thấp và chỉ mang lại rất ít
(nhưng vẫn có) nguy cơ.2,3
Một mối quan tâm khác đó là thời gian cần thiết để
chụp và xử lý từng phim – thời gian là tiền bạc Do đó, xét
cả về tính an toàn và thời gian, chỉ nên chụp những phim
mà thủ thuật đòi hỏi
Chương này trình bày về áp dụng của X quang đối với
các thủ thuật nội nha X quang cũng là một môn học trong
nha khoa đang ngày càng trở nên quan trọng với nhiều tiến
bộ về mặt công nghệ và gần đây đã được chấp nhận là một
chuyên ngành, do đó thay thế nội nha trở thành chuyên
ngành nha khoa mới mẻ nhất.4 Công nghệ đang bùng nổ
trong những năm gần đây, với nhiều thiết bị và phương
pháp mới đòi hỏi phải đào tạo đặc biệt và có kinh nghiệm
Những thiết bị và phương pháp mới này được áp dụng vào
chẩn đoán và điều trị nội nha như thế nào sẽ được trình
bày ở phần sau của chương này
TẦM QUAN TRỌNG CỦA X QUANG
TRONG NỘI NHA
X quang có nhiều vai trò quan trọng trong ba lĩnh vực Tuy
nhiên, nó có hạn chế là đòi hỏi phải có các phương pháp
đặc biệt Một phim X quang riêng lẻ chỉ là một hình chiếu 2
chiều của một vật thể 3 chiều Để có được nhiều thông tin
nhất, phải thấy và đọc được chiều thứ ba.5 Ba lĩnh vực
chính áp dụng X quang đó là chẩn đoán, điều trị, và tái
khám; mỗi lĩnh vực đều cần có phương pháp riêng biệt
Chụp X quang kỹ thuật số
Chụp X quang kỹ thuật số ngày càng trở nên phổ biến trong
nha khoa Mặc dù có nhiều ưu điểm về mặt kỹ thuật hơn
phương pháp chụp thông thường, nhưng giới hạn áp dụng
của hai phương pháp là như nhau Nói chung, phim X
quang số hóa tương đương với phim X quang thông
thường trong đọc phim chẩn đoán Ưu nhược điểm của
từng loại sẽ được phân tích kỹ hơn trong chương này
Chẩn đoán
X quang chẩn đoán không chỉ để nhận biết sự hiện diện và
bản chất của tình trạng bệnh l{ mà còn để xác định giải
phẫu chân răng, tủy răng và mô tả, phân biệt các cấu trúc
bình thường khác
Nhận biết tình trạng bệnh lý
Phim X quang phải được xem xét cẩn thận bởi người có
kiến thức về các thay đổi trên phim, cho biết các tổn
thương tủy, mô quanh chóp, nha chu, hoặc xương Nhiều thay đổi rõ ràng nhưng một số lại rất khó phát hiện
Xác định giải phẫu chân răng và tủy răng
Xác định hình dạng giải phẫu không chỉ gồm nhận biết và đếm số chân răng và ống tủy mà còn để phát hiện đặc điểm giải phẫu khác thường, như răng trong răng hay ống tủy hình chữ C,6 xác định độ cong, mối liên hệ giữa các ống tủy, và vị trí ống tủy.7,8 Ngoài ra còn phải mô tả hình dạng mặt cắt của từng chân răng và từng ống tủy (Hình 1-11)
Nhận biết các cấu trúc bình thường
Nhiều cấu trúc cản quang và thấu quang thường nằm gần nhau Thông thường, các cấu trúc này chồng lên và che khuất thân răng và chân răng.9 Phải nhận biết và phân biệt chúng với tình trạng bệnh lý và với giải phẫu của răng
Điều trị
Phim “làm việc” được chụp khi đã đặt đê cao su, do đó sẽ khó khăn hơn trong việc đặt phim và chỉnh cone Các phim loại này được chụp trong quá trình điều trị và chúng có các ứng dụng đặc biệt
Xác định chiều dài làm việc
Khoảng cách từ một điểm mốc tới chóp răng X quang được xác định một cách chính xác Nhờ đó chúng ta sẽ tính toán được khoảng cách từ vị trí kết thúc sửa soạn và trám bít cho tới chóp.10
Hình 11-1 A, Hình chiếu vuông góc của một răng tiền cối
mang lại một số thông tin về hình thái tủy/chân răng Hình
ảnh “gián đoạn đột ngột” – fast break (mũi tên nhỏ)
thường cho biết sự chia đôi của ống tủy Hình ảnh “lồi kép”
chân răng ở mặt gần (mũi tên lớn) gợi ý bề mặt chân răng
mặt gần có hai phần lồi và một phần lõm; hình ảnh này không có ở mặt xa gợi ý bề mặt chân răng mặt xa phẳng
hoặc lồi B, Phim của răng tiền cối trên chụp từ phía bên
Sự hiện diện của hai ống tủy riêng biệt, mỗi ống nằm trong một “phình chân răng” – root bulge, được xác minh
Trang 3Di chuyển các cấu trúc chồng lên nhau
Các cấu trúc giải phẫu cản quang thường chồng lên và làm
mờ chân răng và chóp răng Bằng cách sử dụng các góc
cone chụp đặc biệt, các cấu trúc cản quang này có thể
được “di chuyển” để đem lại hình ảnh chóp răng rõ hơn
Xác định vị trí ống tủy
Xác định vị trí ống tủy rõ ràng là rất cần thiết để điều trị
thành công Các kỹ thuật chuẩn và kỹ thuật đặc biệt cho
phép nha sĩ xác định vị trí của các ống tủy chưa định vị
được trong khi mở tủy
Phân biệt ống tủy và khoảng dây chằng nha chu
Ống tủy tận cùng ở buồng tủy và ở chóp răng Khoảng dây
chằng nha chu tận cùng ở bề mặt và ở chẽ chân răng (với
răng cối lớn) và có lá cứng nằm kế bên (Hình 11-2)
Đánh giá trám bít ống tủy
Chiều dài, mật độ, hình dạng và chất lượng chung của trám
bít ở mỗi ống tủy được xác định trên phim
Tái khám
Thành công cuối cùng sẽ được kiểm chứng ở lần tái khám
được định trước vài tháng hoặc vài năm sau điều trị Do
thất bại thường xảy ra mà không có các dấu hiệu và triệu
chứng, phim X quang là rất cần thiết để đánh giá tình trạng
của mô quanh chóp.11
Nhận biết tình trạng bệnh lý mới
Phát hiện và xác định bản chất của các tổn thương phát
sinh sau điều trị tốt nhất là trên phim X quang Các tổn
thương này có thể là của mô quanh chóp, nha chu, hoặc không do nội nha Quan trọng là các tổn thương đó thường xuất hiện mà không có các dấu hiệu và triệu chứng bên ngoài và chỉ phát hiện được trên phim X quang (Hình 11-3)
Đánh giá sự lành thương
Các tổn thương trước điều trị phải đang tiêu biến hoặc đã tiêu biến Với điều trị thành công (lành), sự phục hồi về cấu trúc bình thường phải rõ ràng trên phim X quang chụp khi tái khám (Hình 11-4)
Các áp dụng đặc biệt
Phim X quang phải được sử dụng đúng cách mang lại được lợi ích tối đa Có một số kỹ thuật thay thế giúp nâng cao khả năng đưa ra chẩn đoán chính xác, đáng tin cậy và kiểm soát quá trình điều trị Mặc dù các kỹ thuật này có thể được áp dụng trong các chuyên ngành khác nhiều hơn nội nha, nhưng các kỹ thuật dưới đây đang được áp dụng và rất cần thiết đối với chẩn đoán và điều trị
Chụp trượt bóng (Cone-image shift)
Thay đổi góc đứng, hoặc, đặc biệt là góc ngang của cone chụp từ vị trí vuông góc (với phim) sẽ làm thay đổi hình ảnh và nâng cao khả năng đọc phim.5,12 Phim trượt bóng sẽ bộc lộ chiều thứ ba và các cấu trúc chồng lên nhau Phim trượt bóng còn cho phép nhận biết và định vị các chi tiết nằm trong mặt phẳng trong-ngoài
Phim làm việc
Phim làm việc là phương tiện thiết yếu hỗ trợ cho điều trị
và được chụp khi cần thiết nhưng phải thận trọng
Hình 11-3 Điều trị tủy thất bại do sót chân răng hoặc ống tủy Phim nghiêng gần này cho thấy rõ chân trong chưa
được điều trị (mũi tên) (Courtesy Dr L Wilcox.)
Hình 11-2 Góc chụp từ phía xa này cho thấy đường viền
bề mặt chân răng (mũi tên lớn) và khoảng dây chằng nha
chu (đường viền nhỏ) với một lá cứng kế bên Trâm đang
nằm trong ống tủy gần ngoài (cùng chiều nằm trong, ngược
chiều nằm ngoài theo quy tắc [SLOB])
Trang 4188 Chương 11 X quang nội nha
TRÌNH TỰ CHỤP X QUANG
Phim X quang được chụp theo một trình tự và số lượng
nhất định cho mỗi thủ thuật Số lượng tối thiểu sẽ được
trình bày dưới đây, các tình huống đặc biệt có thể sẽ đòi
hỏi phải chụp thêm
Phim chẩn đoán
Số lượng
Số lần chụp phụ thuộc vào từng tình huống Để chẩn đoán,
trong phần lớn trường hợp, chỉ cần duy nhất một lần chụp
Phim và cone đặt đúng cách (thường hình chiếu song song
Hình 11-4 Phim X quang tái khám sau 9 tháng của cùng
một răng ở Hình 11-3 cho thấy xương đã phục hồi gần như
hoàn toàn, chứng tỏ tổn thương đang lành lại Cần phải
phục hồi thân răng vĩnh viễn càng sớm càng tốt (Courtesy
Dr L Wilcox.)
là tốt nhất) phải cho phép nhìn được ít nhất 3 đến 4 mm phía dưới chóp Phim chẩn đoán ban đầu chủ yếu dùng để phát hiện bệnh lý và cung cấp thông tin chung về giải phẫu chân răng và tủy răng Thường thì tại thời điểm này chưa cần thiết phải chụp thêm phim để xác định thêm ống tủy khác vì việc này sẽ được thực hiện về sau trên các phim trượt bóng xác định chiều dài làm việc
Thường thì sẽ có sẵn một vài phim để hỗ trợ việc đọc phim (v.d., bệnh nhân đã chụp phim khảo sát toàn miệng) Nếu cùng lúc có nhiều phim, mỗi phim sẽ cung cấp một góc
nhìn hơi khác nhau của cùng một răng (Hình 11-5) Cần
phải xem xét một răng trên tất cả các phim có mặt răng đó
Góc chụp
Không cần phải bàn cãi, phim X quang chính xác nhất là phim được chụp bằng kỹ thuật chụp song song.13 Các ưu điểm là (1) ít biến dạng hơn, rõ ràng hơn và (2) tính lặp lại của hình ảnh trên các phim trước và phim sau Sự lặp lại quan trọng khi đánh giá liệu các thay đổi xảy ra ở mô quanh chóp có cho thấy đang lành thương hay không Các thiết bị giữ phim song song sẽ làm tăng cường tính lặp lại
Có thể có các tình huống đặc biệt trong đó kỹ thuật chụp song song là không khả thi, như vòm miệng thấp, lồi xương khẩu cái, chân răng quá dài, hay bệnh nhân không hợp tác hoặc phản xạ nôn Các tình huống này có thể sẽ đòi hỏi một kỹ thuật khác Sự lựa chọn hàng thứ hai là kỹ thuật chụp song song sửa đổi; kỹ thuật kém chính xác nhất là chụp phân giác
Phim làm việc
Các tình huống đặc biệt đòi hỏi phải xem xét một cách kỹ lưỡng Mặc dù phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản là làm mọi cách có thể để có được phim có chất lượng tốt nhất, nhưng có một số hạn chế nhất định trong chụp phim làm việc Việc chụp đòi hỏi sự hợp tác của bệnh nhân nếu cần bệnh nhân giữ phim đúng vị trí
Phim làm việc thường không phải là phim song song hay phim phân giác Kỹ thuật thường dùng được gọi là
chụp song song sửa đổi.14 Bản chất của kỹ thuật này là
Hình 11-5 A, Hình chiếu vuông góc (facial) của
các răng cửa gợi ý một chân răng và một ống tủy
B, Hình chiếu nghiêng xa cung cấp một góc nhìn
khác Ống tủy của răng cửa giữa và bên chia đôi ở
một phần ba giữa chân răng (mũi tên) và hợp nhất
ở một phần ba chóp
Trang 5phim không song song với răng, nhưng chùm tia trung tâm
vẫn vuông góc với bề mặt phim Trong chụp phim làm việc,
có thêm một kỹ thuật chụp khác thực hiện bằng cách thay
đổi góc ngang của cone chụp (chụp trượt bóng) Các chi
tiết cụ thể về đặt phim và cone cũng như cách đọc phim sẽ
được trình bày ở phần sau của chương này
Chiều dài làm việc
Nói chung, để thiết lập chiều dài làm việc thường chỉ cần
một lần chụp duy nhất Nếu một chân răng chứa hay nghi
ngờ chứa hai ống tủy chồng lên nhau, thêm một phim
nghiêng gần hoặc nghiêng xa là rất cần thiết; phim chụp
vuông góc trong trường hợp này không giúp ích nhiều.15 Có
thể cần phải chụp thêm phim chiều dài làm việc về sau để
xác nhận chiều dài làm việc, để phát hiện hoặc đo chiều dài
của ống tủy mới tìm ra (Hình 11-6), hoặc chụp lại nếu
không nhìn rõ chóp răng ở phim thứ nhất
Cone chính
Chụp phim thử cone chính áp dụng các nguyên tắc giống
với phim chiều dài làm việc Nếu thực hiện đúng kỹ thuật,
chỉ cần 1 phim cũng đủ đánh giá chiều dài của cây côn
gutta percha chính
Chụp phim và loại phim
Cũng như với phim chẩn đoán, để đạt được độ nét thích
hợp cần dùng một phim E với kilovoltage trung bình.16 Độ
nét rất quan trọng khi xác định đỉnh của file hoặc chóp
răng kích thước nhỏ để tính toán chiều dài làm việc Phim F được giới thiệu rất gần đây giảm được số lần chụp xuống 20% đến 25% so với phim E Chưa có nghiên cứu nào kiểm định chất lượng và sự hữu ích của loại phim mới này
Các cân nhắc khác
Nhiều khi cần phải chụp thêm phim làm việc Ví dụ, chúng
sẽ hỗ trợ xác định vị trí ống tủy hoặc xác định các tai biến
do điều trị (thủng, gãy dụng cụ, hay tạo khấc) Có thể phải thay đổi vị trí và góc của cone chụp khi cần thiết
Trám bít
Chụp phim đánh giá trám bít áp dụng các nguyên tắc cơ bản giống với phim chẩn đoán Ít nhất cần phải chụp một phim song song Có thể nên bổ sung một phim nghiêng giúp quan sát được các ống tủy chồng lên nhau để đánh giá riêng từng ống tủy Các thông số chụp phim chẩn đoán giống với phim đánh giá trám bít Tuy nhiên, phim chỉ cung cấp được thông tin sơ bộ về độ dài và chất lượng của trám bít ống tủy.17,18
Tái khám
Chụp phim tái khám áp dụng các nguyên tắc giống với phim chẩn đoán và phim sau trám bít (kỹ thuật chụp song song
và các thông số chụp phim) Có một ngoại lệ, đó là khi cho rằng kết quả điều trị có vấn đề hoặc điều trị thất bại, thường cần phải chụp thêm phim nghiêng để kiểm tra còn sót ống tủy không hoặc các bất thường khác
Hình 11-6 Nhận biết và định vị một ống tủy Răng cửa này đã được xoay nhờ phim làm việc nghiêng
gần A, Mặt gần của chân răng (mũi
tên) cho thấy file nằm lệch tâm Do
đó còn có một ống tủy nữa và file đang nằm trong ống ngoài (quy tắc
SLOB) B, Tìm kiếm kỹ về phía trong
đã định vị được ống tủy trong Thường thì hai ống tủy sẽ hợp lại ở 1/3 chóp
Trang 6190 Chương 11 X quang nội nha
CHỈNH MÁY VÀ CHỌN PHIM
Thiết lập đúng thông số cho máy chụp và rửa phim cẩn
thận là rất quan trọng để đạt được chất lượng tối ưu Cả
phim D (Ultraspeed) và phim E (Ektaspeed) đều đang được
sử dụng và so sánh Mặc dù phim D có độ tương phản tốt
hơn một ít, nhưng xét về tổng thể hai loại phim này là
tương đương nhau.19 Phim Ektaspeed Plus mới mang lại
hình ảnh có chất lượng giống với phim Ultraspeed nhưng
chỉ đòi hỏi một nửa bức xạ so với phim Ultraspeed.20
Thiết lập tối ưu để có độ tương phản cao nhất giữa các
cấu trúc cản quan và thấu quang là 70 kV Thời gian chụp
và cường độ dòng điện (mA) được điều chỉnh tùy vào từng
máy Tóm lại, loại phim ưa dùng hơn là phim E và
Ektaspeed Plus để hạn chế bức xạ tia X, máy chỉnh mức 70
kV để đạt được độ nét tối đa
Phim kỹ thuật số cần ít thời gian chụp hơn nhiều so với
phim thông thường, rõ ràng đây là một ưu điểm
CHỤP TRƯỢT BÓNG
Kỹ thuật chụp trượt bóng giúp bộc lộ chiều thứ ba
Nguyên lý
Trượt bóng
Các cấu trúc chồng lên nhau
Kỹ thuật chụp trượt bóng làm cho các cấu trúc ở mặt
phẳng trong ngoài tách rời nhau và giúp ta nhận ra được
chúng.5 Một ví dụ là chân gần ngoài của răng cối lớn hàm
trên chứa hai ống tủy chồng lên nhau Phim trượt bóng sẽ tách chúng ra và cho phép nhìn thấy cả hai ống tủy
Xác định vị trí của đối tượng theo hướng trong ngoài
Nguyên lý về sự chuyển động tương đối của các cấu trúc theo hướng chụp được áp dụng để phân biệt vị trí của đối tượng (Hình 11-7 và 11-8)
Quy tắc SLOB
Khi cone chụp di chuyển từ vị trí ban đầu (song song), theo hướng đứng hay hướng ngang, đối tượng trên phim sẽ di chuyển ngược với hướng di chuyển của cone chụp (hoặc cùng hướng với chùm tia trung tâm) Nói cách khác, khi hai đối tượng và phim được giữ có định và nguồn phát tia X (cone chụp) di chuyển, hình ảnh của cả hai đối tượng sẽ di chuyển theo hướng ngược lại (Hình 11-9) Đối tượng nằm
ở phía ngoài (má) sẽ di chuyển ra xa nhất, đối tượng nằm ở phía trong (lưỡi) sẽ di chuyển ít nhất Phim X quang thu được sẽ cho thấy đối tượng nằm ở phía lưỡi di chuyển cùng hướng với cone và đối tượng nằm ở phía má di chuyển ngược hướng với cone.21 Nguyên tắc này là nguồn gốc của chữ viết tắt SLOB (same lingual, opposite buccal) (Hình 11-10)
Một cách để dễ hình dung đó là nhắm một mắt và giữ
2 ngón tay thẳng góc phía trước mắt mở, một ngón sẽ bị che khuất bởi ngón kia Khi di chuyển đầu sang phải rồi sang trái, vị trí tương đối của ngón tay này so với ngón tay kia sẽ thay đổi Cơ chế tương tự đối với hai chân răng chồng lên nhau (hai ngón tay) và cách chúng di chuyển tương đối so với nguồn phát tia X (mắt) và chùm tia trung tâm (tầm ngắm) Khi dùng kỹ thuật chụp trượt bóng, nhất
Hình 11-7 A, Phim được đặt song song với mặt phẳng cung răng Cone có tia trung tâm (mũi
tên) hướng vuông góc tới phim Đây là tương quan cone-film cơ bản dùng để chỉnh góc ngang
hoặc góc đứng của cone cho đúng B, Hình dạng của răng cối lớn thứ nhất là rõ ràng nhưng có
rất ít thông tin về các cấu trúc chồng lên nhau (các ống tủy nằm trong cùng mặt phẳng trong-
ngoài) Mũi tên chỉ vào khoảng dây chằng nha chu nằm sát một phình chân răng bị che khuất, không phải là chỉ vào ống tủy thứ hai (Theo Walton R: Dent Radiogr Photogr 46:51, 1973.)
Trang 7B A
Hình 11-8 A, Góc ngang của cone là 20⁰ về phía gần so với vị trí vuông góc (chiếu từ phía gần)
B, Phim X quang thu được biểu thị các đặc điểm hình thái của chân răng hoặc ống tủy trên chiều
thứ ba (chiều trong-ngoài) Ví dụ, đã thấy được hai ống tủy ở chân xa của răng cối lớn thứ nhất
(Theo Walton R: Dent Radiogr Photogr 46:51, 1973.)
T
Chùm 20⁰
tia X
Chùm tia X
20⁰ Chùm
tia X
chồng lên nhau trên phim Khi di chuyển cone về phía gần hoặc phía xa, vật nằm về phía trong sẽ
di chuyển cùng chiều với cone; vật nằm về phía ngoài sẽ di chuyển ngược chiều với cone (quy tắc SLOB) (Courtesy Dr A Goerig.)
thiết phải xác định được vật nào nằm ở phía ngoài, vật nào
nằm ở phía trong Nếu không, các sai lầm nghiêm trọng có
thể sẽ xảy ra
Chỉ định và ưu điểm
tách rời và nhận biết các ống tủy chồng lên nhau là cần
thiết ở tất cả các răng có khả năng chứa hai ống tủy
nằm trên cùng một mặt phẳng trong-ngoài
Di chuyển và nhận biết các cấu trúc chồng lên nhau
Đôi khi, một đối tượng cản quang có thể chồng lên chân răng Một ví dụ đó là mỏm gò má, hay che khuất chóp của các răng cối lớn hàm trên Do cấu trúc đặc này nằm ở phía ngoài so với chân răng, di chuyển cone về phía gần sẽ
“đẩy” gò má ra xa (Hình 11-11) Ngoài ra, giảm góc đứng của cone sẽ “đẩy” gò má lên trên
Xác định chiều dài làm việc
Chụp trượt bóng sẽ giúp nhìn rõ từng ống tủy, vốn bị chồng lên nhau, từ lỗ ống tủy cho tới chóp răng (Hình 11- 12), giúp xác định chiều dài làm việc
Trang 8192 Chương 11 X quang nội nha
Xác định chỗ uốn cong
Quy tắc SLOP có thể được áp dụng để xác định chỗ
uốn cong Tùy vào hướng chuyển động tương đối của chỗ
uốn cong so với cone, có thể được xác định được cong lồi
về phía trong hay về phía ngoài Ngoài ra còn có thể xác
định được độ cong
Xác định vị trí theo chiều ngoài-trong
Quy tắc SLOB có thể được áp dụng để định vị một vật
thể nào đó trên bề mặt chân răng hoặc bên trong ống tủy
Một ví dụ là vị trí thủng chân răng: thủng ở mặt nào, trong
hay ngoài? Hai phim ở hai góc ngang khác nhau sẽ dễ dàng
bộc lộ vị trí thủng (Hình 1-13)
Nhận biết được có sót ống tủy không
Quy tắc SLOB có thể được áp dụng trong khi mở tủy
Một chân lý giải phẫu đó là nếu một chân răng chỉ chứa
duy nhất một ống tủy, ống tủy đó sẽ nằm gần trung tâm của chân răng Nếu lúc đầu khi mở tủy, chỉ phát hiện được
một ống tủy, ta sẽ đặt một cây dụng cụ vào ống tủy Sau đó
phải chụp một phim nghiêng gần hoặc nghiêng xa do có
thể sẽ có một ống tủy khác Nếu cây dụng cụ lệch tâm nhiều, chắc chắn phải có thêm một ống tủy khác (Hình 11- 14) Vị trí của ống tủy bị bỏ sót sẽ được xác định bằng cách
áp dụng quy tắc SLOB
Định vị các ống tủy “vôi hóa”
Xác định vị trí của các ống tủy vôi hóa cũng được thực hiện trong quá trình mở tủy Một chân lý giải phẫu nội nha
khác đó là một chân răng luôn có ít nhất một ống tủy Ống
tủy có thể rất nhỏ, sẽ khó hoặc thậm chí không thể phát hiện hay thăm dò được, nhưng nó vẫn tồn tại Ngoài ra, nhiều khi không thấy được ống tủy trên phim X quang Nếu chân răng chỉ có một ống tủy, ống tủy sẽ nằm ở trung tâm của chân răng Do đó, khi tìm kiếm một ống tủy khó bằng cách khoan sâu dần, thỉnh thoảng phải chụp hai phim làm việc, một phim mặt thẳng và một phim nghiêng gần hoặc nghiêng xa Phim thẳng sẽ cho biết vị trí của mũi khoan theo chiều gần xa; phim nghiêng gần hoặc nghiêng xa sẽ cho biết hướng của mũi khoan theo chiều ngoài trong Sau
đó ta sẽ điều chỉnh khoan hướng vào trung tâm của chân răng, nơi mà ống tủy chắc chắn sẽ nằm ở đó (Hình 11-15)
Nhược điểm
Kỹ thuật chụp trượt bóng có một số nhược điểm và vì vậy đôi khi không nên dùng hoặc cần phải giảm thiểu việc di chuyển cone chụp
Giảm độ nét
Hình 11-11 A, Mỏm gò má của
xương hàm trên (mũi tên) che khuất
chóp răng làm cho việc đánh giá
trám bít trở nên khó khăn B, Di
chuyển nhẹ cone ra phía gần sẽ
“đẩy” chóp răng (mũi tên) vốn nằm
ở phía trong mỏm gò má sang phía gần để nhìn rõ hơn
Hình 11-10 Quy tắc SLOB
Trang 9A B
của 4 ống tủy B, Phim đúng cho răng cối lớn hàm dưới là phim nghiêng xa, nó sẽ bộc lộ ra các
chân răng Dễ quan sát thấy các ống tủy gần trên toàn bộ chiều dài Ống tủy xa là một ống tủy rộng và duy nhất vì các cây dụng cụ gần nhau và song song với nhau
được lỗ thủng trên phim vuông góc này Lỗ thủng nằm ở mặt trong hoặc mặt ngoài và sẽ được
bộc lộ khi chụp thêm một phim nghiêng B, Đỉnh của chốt đã di chuyển nhẹ ra xa trên phim
nghiêng gần này, do đó lỗ thủng nằm ở phía ngoài (quy tắc SLOB) C, Vị trí lỗ thủng (mũi tên)
Phim X quang rõ nét nhất là phim song song hoặc phim
song song sửa đổi.22 Khi chùm tia trung tâm thay đổi
hướng đi so với vật thể và phim (xuyên qua vật và tới phim
ở một góc lệch), hình ảnh của vật thể sẽ trở nên mờ đi Độ
tương phản giữa các vật thấy quan và cản quang sẽ giảm
đi Khi tăng góc cone, hình ảnh sẽ càng mờ hơn và nhiều
khả năng các cấu trúc khác sẽ chồng lên vật thể Do đó, để
có được độ nét tối ưu, chỉ nên thay đổi góc cone vừa phải, gây ra mức trượt bóng đủ cho mục đích đọc phim
Vật thể bị các cấu trúc khác chồng lên
Các vật thể thông thường vốn tách rời nhau trên phim song song có thể di chuyển tương đối so với vật thể khác và chồng lên nhau trên phim trượt bóng Một ví dụ là các
Trang 10194 Chương 11 X quang nội nha
A, Phim nghiêng xa với một file nằm trong chân gần cho thấy file lệch về phía ngoài Do đó phải
có một ống tủy khác nằm về phía trong Các đường thấu quang chạy dọc (mũi tên) là các khoảng
dây chằng nha chu của chân gần B, Tìm kiếm cẩn thận về phía trong đã bộc lộ ống tủy bị sót
Hình 11-15 Định vị một ống tủy đã bị thoái hóa vôi nặng Tìm kiếm ban đầu được thực
hiện khi chưa đặt đê cao su A, Ống tủy nhỏ,
mờ và mất thân răng làm cho việc định hướng
và tìm kiếm ống tủy trở nên khó khăn B, Phim
vuông góc được chụp trong khi mở tủy cho thấy rằng mở tủy đang lệch về phía gần so với
chân răng.) C, Phim nghiêng gần cho thấy mở
tủy còn bị lệch ra phía ngoài; cần phải điều chỉnh hướng khoan về phía ống tủy nằm ở
trung tâm (mũi tên) Vì vậy, phải chỉnh khoan
về phía xa và về phía trong D, Sau khi điều
chỉnh lại mũi khoan, ống tủy được phát hiện ở trung tâm chân răng Phim này được chụp khi
đã đặt đê cao su
chân răng của răng cối lớn hàm trên Phim song song
thường cho thấy ba chân răng và ba chóp răng riêng biệt
Phim nghiêng gần hoặc nghiêng xa sẽ di chuyển chân trong lại gần chân gần ngoài hoặc chân xa ngoài, làm giảm khả