Bài giảng quy hoạch sử dụng đất
Trang 11
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUY HOẠCH
SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐẤT VÀ ĐẤT ĐAI
1.1.1 Khái niệm về đất và đất đai
Trên thế giới người ta sử dụng hai thuật ngữ có ý nghĩa khác nhau để chỉ về đất,
đó là đất và đất đai Đối với các nước tiên tiến, người ta thường có sự phân biệt về hai phạm trù này Ở Việt Nam, hai thuật ngữ trên thường không phân biệt rạch ròi và chỉ được gọi chung một cách không đầy đủ là đất
Nói về đất (soil), theo nghĩa Hán – Việt là thổ nhưỡng và đã được
V.V.Đôcutraev, người đã đặt nền móng cho khoa học thổ nhưỡng định nghĩa: “Đất là một thực thể tự nhiên riêng biệt và độc lập, có quy luật phát sinh và phát triển rõ ràng, được hình thành do tác động tương hỗ của các nhân tố: Đá mẹ, địa hình, khí hậu, nước, chất hữu cơ động thực vật và tuổi địa phương” Như vậy, đất tồn tại trong tự
nhiên một cách khách quan, độc lập với ý thức con người; những thuộc tính của đất trong nghiên cứu và đánh giá đất đai chúng ta có thể đo lường hay ước lượng được (FAO, 1995)
Đất đai (land) được hiểu là một vùng đất mà đặc tính của nó bao gồm cả đặc trưng về tự nhiên và kinh tế - xã hội, quyết định đến khả năng và mức độ khai thác của
vùng đó Theo Brinkman và Smith (1973), đất đai có thể định nghĩa: “Một vạt đất xét
về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những đặc tính tương đối ổn định, hoặc thay đổi có tính chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, thuỷ văn, quần thể động thực vật cư trú và những kết quả hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những đặc tính đó ảnh hưởng tới việc sử dụng vạt đất đó ngay hiện tại và trong tương lai”
Theo quan điểm đó, đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay bên trên, bên trong và dưới bề mặt đất như khí hậu, thổ nhưỡng, dạng địa hình, địa mạo, nước mặt (hồ, sông, suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện
Trang 22
tại để lại (san nền, xây dựng hồ chứa nước, hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa…)
Theo định nghĩa của tổ chức FAO: “Đất đai là một tổng thể vật chất, bao gồm cả
sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”
Như vậy, đất đai là một phạm vi không gian có giới hạn, là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay bên trên và bên dưới bề mặt trái đất
1.1.2 Các đặc tính cơ bản của đất đai
Đất đai là “điều kiện vật chất” chung nhất đối với ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là “đối tượng lao động” (là môi trường để con người tác động vào như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất… ), vừa là “phương tiện lao động” (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, chăn nuôi gia súc…) Vì vậy, có thể nói đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt” so với các tư liệu sản xuất khác và được thể hiện
ở các đặc tính:
a Đặc điểm tạo thành
Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của lao động Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất Trong khi đó, các tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động (do con người tạo ra)
b Tính hạn chế về số lượng
Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất (số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu (không gian) Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội
c Tính không đồng nhất
Đặc tính quan trọng nhất của đất là độ phì nhiêu Đây là tính chất làm cho đất khác hẳn với các tư liệu sản xuất khác Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, tính chất lý, hoá, sinh học (quyết định bởi các yếu tố hình thành đất và chế độ sử dụng đất khác nhau) Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất
về chất lượng, qui cách, tiêu chuẩn (mang tính tương đối do quy trình công nghệ quyết định)
Trang 33
d Tính không thay thế
Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được Các tư liệu sản xuất khác phụ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng các tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn và có hiệu quả kinh tế hơn
đ Tính cố định về vị trí
Đất đai hoàn toàn cố định về vị trí trong quá trình sử dụng, không thể di chuyển
từ nơi này sang nơi khác, đây là tính chất rất đặc thù của đất, làm cho các thửa đất ở vị trí khác nhau có giá trị rất khác nhau Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tuỳ theo sự cần thiết của con người
e Tính vĩnh cửu
Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu không lệ thuộc vào tác động của thời gian; nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị thoái hóa, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) và hiệu quả sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất phụ thuộc vào phương thức sử dụng là tính chất
có giá trị đặc biệt Các tư liệu sản xuất khác đều bị hao mòn, hư hỏng, hiệu ích sử dụng giảm xuống và cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất
1.1.3 Ý nghĩa và vai trò của đất đai trong sản xuất xã hội
Các Mác cho rằng, đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các
tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng tự nhiên của bất kỳ một quá trình sản xuất nào Khi nói về vai trò và ý nghĩa của đất đối với nền sản xuất xã hội,
Mác đã khẳng định: “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất
và giá trị tiêu thụ”
William Petti đã nói: “Lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ”
Như vậy, đất là điều kiện đầu tiên và là nền tảng tự nhiên của bất kỳ quá trình sản xuất nào Thực tế cho thấy phương thức và mục tiêu sử dụng đất rất đa dạng, có thể chia thành 3 nhóm mục đích:
- Lấy tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt từ đất để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và
phát triển
- Dùng đất để làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động
Trang 44
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng thụ tinh
thần
a Trong các ngành phi nông nghiệp
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản xuất nào, nhưng trong mỗi ngành, đất có vai trò không giống nhau
Trong các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến đất chỉ đóng vai trò thụ động là
cơ sở không gian, là nền tảng, là vị trí để thực hiện quá trình sản xuất và hoàn thiện quá trình lao động Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào tính chất tự nhiên sẵn có và đặc điểm độ phì nhiêu của đất
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, ngoài vai trò cơ sở không gian, đất còn là kho tàng dự trữ trong lòng đất, cung cấp các nguyên liệu quý giá cho con người Quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất
b Trong các ngành nông - lâm nghiệp
Đất không chỉ là cơ sở không gian và điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành sản xuất này, mà đất còn là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nước, không khí và các chất dinh dưỡng cần thiết để cây trồng sinh trưởng và phát triển Quá trình sản xuất liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu của đất và quá trình sinh học tự nhiên
Ngoài ra đất còn là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất Đất gần như trở thành một công cụ sản xuất hay một phương tiện lao động Năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào độ phì nhiêu của đất Trong số tất cả các tư liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp, chỉ có đất mới có được chức năng này Chính vì vậy, có thể nói rằng, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng trong nông nghiệp
Kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng nổ dân số và quá trình đô thị hoá, những sai lầm của con người trong quá trình sử dụng đất (có ý thức hoặc vô ý thức) đã làm cho nhiều vùng đất nông nghiệp màu mỡ bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng, đồng thời sự phát triển không ngừng của sức sản xuất đã gây áp lực ngày càng cao trong quá trình sử dụng đất Do đó vấn đề sử dụng đất, luôn bồi bổ đất và gìn
Trang 55
giữ những vùng đất nông nghiệp thuận lợi càng trở nên quan trọng và mang tính toàn cầu
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sử dụng đất đai
a Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất ngoài bề mặt không gian, cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là yếu tố hạn chế hàng đầu, tiếp đến là đất đai (chủ yếu là địa hình và thổ nhưỡng) và các yếu tố khác
* Yếu tố khí hậu
Yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều ít, nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian, không gian, giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố, sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Cường độ ánh sáng mạnh hay yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn có tác dụng ức chế đối với sinh trưởng, phát triển và tác dụng quang hợp của cây Chế độ nước vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển dinh dưỡng, vừa giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa trong việc giữ nhiệt độ và
độ ẩm đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng…
* Điều kiện đất đai (địa hình và thổ nhưỡng)
Sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc và hướng dốc, mức độ xói mòn mặt đất… thường dẫn đến sự khác nhau về loại thổ nhưỡng và khí hậu, ảnh hưởng đến sản xuất và phân bố các ngành nông, lâm nghiệp Địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, cần đặt ra yêu cầu xây dựng đồng ruộng để thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá Đối với đất phi nông nghiệp, địa hình phức tạp sẽ ảnh hưởng tới giá trị công trình và gây khó khăn cho thi công Điều kiện thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng về sản lượng cao hay thấp Độ dày tầng đất và tính chất đất ảnh hưởng lớn đối với sinh trưởng của cây trồng
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng cùng với
sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước… sẽ quyết định đến khả
Trang 66
năng, công dụng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về xã hội, môi trường
và kinh tế
b Điều kiện kinh tế xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm nhiều yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, trình độ quản lý, sử dụng lao động, sự phát triển khoa học kỹ thuật, điều kiện
và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực…
Điều kiện kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất Trong một vùng lãnh thổ, điều kiện tự nhiên có sự khác biệt không lớn, về
cơ bản là giống nhau, nhưng điều kiện kinh tế - xã hội lại khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng đất đai được khai thác triệt để đem lại hiệu quả kinh tế rất cao, có nơi lại
bỏ hoang hoá hoặc khai thác với hiệu quả rất thấp
Điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế, nhưng các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật không tương ứng thì ưu thế tài nguyên cũng khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực Khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác sử dụng đất, sẽ phát huy mạnh mẽ tiềm lực sản xuất của đất, đồng thời góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên từ bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế và các ngành càng phát triển, yêu cầu về đất đai sẽ càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ được nâng cao
Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, đất được dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất
Tóm lại, điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Điều kiện
Trang 77
tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp Điều kiện kinh tế sẽ kiềm chế tác dụng của con người trong việc sử dụng đất Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động đến việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu và xử lý các mối quan hệ trong lĩnh vực đất đai
c Yếu tố không gian
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất và phi vật chất đều cần đến đất đai như điều kiện không gian để hoạt động Không gian mà đất đai cung cấp có đặc tính vĩnh cửu, cố định vị trí khi sử dụng và giới hạn về số lượng
Sự bất biến của diện tích đất không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn chi phối giới hạn thay đổi cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại đất, diện tích đất được sử dụng căn cứ vào sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm đảm bảo nâng cao lực tải của đất Khả năng không chuyển dịch của đất đai dẫn đến việc phân bố về số lượng và chất lượng đất đai mang tính khu vực rất chặt chẽ Cùng với mật độ dân số của các khu vực khác nhau, tỷ lệ cơ cấu và lượng đầu tư sẽ có sự khác biệt rất rõ rệt Tài nguyên đất có hạn lại giới hạn về không gian, đây là nhân tố hạn chế rất lớn đối với việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả kết hợp bảo vệ tài nguyên đất và môi trường
Tác dụng hạn chế của không gian thường xuyên xảy ra khi dân số và kinh tế - xã hội luôn phát triển
1.1.5 Xu thế sử dụng đất hiện nay
Hiện nay xu thế sử dụng đất đai được phát triển theo các hướng sau:
a Sử dụng đất đai phát triển theo chiều rộng và tập trung
Lịch sử phát triển xã hội loài người cũng chính là lịch sử biến đổi của quá trình
sử dụng đất Khi con người còn sống bằng phương thức săn bắn và hái lượm, vấn đề
sử dụng đất hầu như không tồn tại Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và đồng cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt, diện tích đất đai được tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng và ý nghĩa kinh tế của đất cũng gia tăng Tuy nhiên, trình độ sử dụng đất còn rất thấp, phạm vi sử dụng
Trang 8Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều Đất canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
b Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá
Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, đã kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử dụng đất
Ở thời kỳ mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp, nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc
và chỗ ở Khi đời sống đã nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, đã làm cho cơ cấu sử dụng đất phức tạp hơn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất Trước đây, do trình độ khoa học kỹ thuật còn thấp nên việc sử dụng đất rất hạn chế chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai Khi khoa học kỹ thuật phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử dụng toàn diện
Hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân và phát triển kinh tế hàng hoá, dẫn đến sự phân công trong sử dụng đất theo hướng chuyên môn hoá Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công cụ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nảy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp
có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá
sử dụng đất khác nhau về quy mô và hình thức
c Sử dụng đất đai phát triển theo hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Trang 99
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và xã hội dẫn tới việc xã hội hoá sản xuất Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một loại sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã hội hoá sản xuất, cũng như
xã hội hoá việc sử dụng đất
Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hoá theo yêu cầu xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của
xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở chế độ xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân vẫn còn có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh… của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội
Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hoá sản xuất Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hoá cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng đất
1.1.6 Những tính chất của đất cần nghiên cứu trong QHSDĐ
Để sử dụng hợp lý và có hiệu quả bất kỳ tư liệu sản xuất nào cũng cần nghiên cứu kỹ tính chất của nó Đối với đất điều đó lại càng có ý nghĩa Đất có nhiều tính chất, nhưng ta chỉ nghiên cứu một số tính chất ảnh hưởng lớn đến nội dung và phương pháp QHSDĐ như: tính chất không gian, thổ nhưỡng, thảm thực vật tự nhiên và thuỷ văn…
a Tính không gian
Trong sản xuất công nghiệp, các tư liệu sản xuất và công nhân được bố trí ở những vị trí xác định, trên một không gian hạn chế Trong sản xuất nông nghiệp không thể tập trung vào một vài điểm nào đó mà phải trải trên một vùng lãnh thổ, các tư liệu sản xuất và người lao động được bố trí theo không gian của khoảnh đất canh tác Những tính chất không gian của đất như vị trí phân bố, địa hình, diện tích, hình dạng khoảnh đất có ảnh hưởng rõ rệt đến đặc điểm tổ chức sử dụng tư liệu sản xuất, người lao động và các quá trình sản xuất Do đó, để hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao khi
tổ chức lãnh thổ cần chú ý đến tính chất không gian của đất
Tính chất không gian quan trọng nhất của đất là địa hình Địa hình có ảnh hưởng lớn đến sự phân bố các loại đất, thảm thực vật, tiểu khí hậu, chế độ nước, độ ẩm, thành phần cơ giới Địa hình còn ảnh hưởng lớn tới việc tổ chức sản xuất, năng suất lao động
Trang 1010
và hiệu quả sử dụng máy móc Thực tiễn cho thấy, trên sườn dốc khi độ dốc tăng 10 thì chi phí nhiên liệu tăng lên 1,5% và hiệu quả sử dụng máy móc giảm 1%
b Tính chất thổ nhưỡng
Lớp phủ thổ nhưỡng liên quan chặt chẽ với địa hình Trên các địa hình khác nhau
sẽ hình thành các loại đất với tính chất khác nhau Trong khi đó, cây trồng lại phụ thuộc rất nhiều vào loại đất và chất lượng đất Mỗi loại cây trồng chỉ thích hợp với một
số loại đất và chất đất nhất định Mỗi loại đất theo phát sinh học được đặc trưng bởi các tính chất lý, hoá và sinh học khác nhau Tính chất vật lý của đất là một yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến khả năng sử dụng của đất vào các mục đích khác nhau Con người có thể tác động làm biến đổi một số yếu tố theo hướng có lợi cho mục đích sử dụng cụ thể nào đó (chế độ nước, độ chua, hàm lượng chất dinh dưỡng…), nhưng cũng có những tính chất khó cải tạo thậm chí không thể cải tạo được (độ cao, độ dốc, loại đất, thành phần cơ giới…) Điều này đặc biệt quan trọng khi tổ chức luân canh cây trồng trên các loại đất khác nhau Vì vậy việc bố trí cây trồng hợp
lý theo quan điểm thổ nhưỡng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất
c Tính chất thảm thực vật
Thảm thực vật tự nhiên là yếu tố môi trường có vai trò rất quan trọng, là yếu tố điều tiết khí hậu, chế độ nước, nhiệt, độ ẩm trong đất Thảm thực vật còn là nguồn cung cấp lâm sản quý và là nguồn thức ăn quan trọng cho chăn nuôi gia súc Trong nhiều trường hợp, nó còn tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp, làm nơi du lịch, nghỉ mát
Ngoài ra, việc nghiên cứu thảm thực vật tự nhiên còn cho ta biết được khả năng thích nghi
của các loại cây trồng Chính vì vậy, khi QHSDĐ ta cần phải nghiên cứu kỹ thảm thực vật
tự nhiên
d Tính chất thuỷ văn
Hệ thống sông, suối, nước ngầm… có vai trò nhất định trong việc tổ chức sử dụng hợp lý đất đai, chúng có tác dụng to lớn đối với sản xuất và đời sống: Nguồn cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho cây trồng, nguồn tiêu nước khi ngập úng
Hệ thống thuỷ văn tạo nên cảnh quan thiên nhiên đẹp, có tác dụng điều tiết tiểu khí hậu, song cũng có một số ảnh hưởng xấu đối với việc sử dụng đất: gây cản trở cho việc tổ chức sản xuất và tổ chức lãnh thổ, cho giao thông vận tải, làm tăng chi phí sản xuất, gây nguy cơ ngập úng, lũ lụt… vào mùa mưa Do đó, khi bố trí các đơn vị sử
Trang 11độ nhận thức… Về mặt kinh tế, thế giới được phân thành các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển, các quốc gia này có sự khác biệt rất xa về tiềm lực kinh tế, khả năng tài chính, trình độ phát triển cơ sở hạ tầng…
Trong phạm vi mỗi nước, sự khác biệt này nhận thấy dễ dàng, đất nước đã chia thành 3 vùng kinh tế tự nhiên rõ rệt là miền Bắc, miền Trung và miền Nam với đặc trưng khí hậu rất khác nhau Miền Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm tương đối ôn hoà, miền Trung có khí hậu khô và nóng, chịu ảnh hưởng của gió biển và gió Lào, miền Bắc lại có mùa đông lạnh mang tính chất á nhiệt đới, biên độ dao động nhiệt khá lớn
Chính sự khác biệt đó là điều kiện tạo ra đa dạng sinh học cho mỗi vùng lãnh thổ
Sự khác biệt này mang tính hai mặt: vừa tạo ra lợi thế so sánh, đồng thời gây ra những khó khăn trở ngại cho sản xuất và đời sống của con người
1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC TÍNH VÀ PHÂN LOẠI QHSDĐ
1.2.1 Khái niệm và đặc tính của QHSDĐ
a Khái niệm về QHSDĐ
Về mặt thuật ngữ “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự nhất định bằng những hoạt động như phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức….Đất đai là một phần, một diện tích lãnh thổ nhất định Mỗi vùng đất, vạt đất đều có một diện tích, hình dạng và những tính chất tự nhiên xác định Các đặc tính về thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật và các tính chất lý, hóa học khác biệt nhau của đất đai tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng đất theo các mục đích khác nhau Do đó để sử dụng đất đai đạt hiệu quả cao cần phải tiến hành QHSDĐ
QHSDĐ sẽ là một thực trạng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 03 biện pháp:
Trang 12Theo Luật đất đai 2013 QHSDĐ được định nghĩa như sau: “QHSDĐ là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với
từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định”
b Đặc tính của quy hoạch đất
QHSDĐ là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc thù có tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống
kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của QHSDĐ được thể hiện cụ thể như sau:
1 Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển xã hội chính là lịch sử phát triển QHSDĐ Nói cách khác, QHSDĐ là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội Các giai đoạn phát triển của QHSDĐ phù hợp với giai đoạn phát triển của nền sản xuất xã hội Nội dung và phương pháp QHSDĐ luôn phát triển, hoàn thiện để phù hợp với những biến đổi của
các nhiệm vụ kinh tế và chính trị trong từng giai đoạn lịch sử
2 Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của QHSDĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt:
- QHSDĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực khoa học, kinh tế và xã hội như khoa học tự
nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
- Đối tượng nghiên cứu của QHSDĐ là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn
bộ tài nguyên đất cho nhu cầu sử dụng đất của nền kinh tế quốc dân QHSDĐ đề cập đến 02 nhóm đất chính là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp
Qua đó QHSDĐ có trách nhiệm:
Trang 1313
- Tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất;
- Điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực;
- Xác định điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền
vững, đạt tốc độ cao và ổn định
3 Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng như: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, từ đó xây dựng quy hoạch trung hạn và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng năm
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển kinh tế, xã hội lâu dài Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thờigian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của kỳ QHSDĐ là 10 năm; kỳ kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia, cấp tỉnh, an ninh, quốc phòng là 5 năm; kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lập hàng năm (Điều 37 Luật đất đai 2013)
4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐ chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất mang tính đại thể, chứ không
dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của những thay đổi đó Vì vậy, QHSDĐ là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và tính khái lược về sử dụng đất của các ngành như:
- Phương hướng, mục tiêu và chiến lược trọng điểm của việc sử dụng đất trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng;
- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất trong vùng;
- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Trang 1414
Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế, xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu càng khái lược hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định
5 Tính chính sách
QHSDĐ thể hiện đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương
án phải quán triệt những chủ trương, chính sách và những quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo việc sử dụng đất phù hợp với mục tiêu phát triển của nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai, môi trường sinh thái
6 Tính khả biến
Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều phương diện khác nhau, QHSDĐ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐ không còn phù hợp Việc chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này nói lên tính khả biến của quy hoạch QHSDĐ luôn là quy hoạch động, một qui trình lặp lại theo
chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực
hiện” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.2.2 Các loại hình QHSDĐ
Sự phát triển của nền kinh tế quốc dân đòi hỏi phải tổ chức phân bố hợp lý lực lượng sản xuất trong từng vùng và trên phạm vi cả nước, đó chính là nhiệm vụ quan trọng nhất của QHSDĐ
Trong nhiều trường hợp, QHSDĐ phải tiến hành quy mô lớn, có thể là vùng lãnh thổ của huyện, có thể một tỉnh hoặc một vùng kinh tế tự nhiên lớn gồm nhiều tỉnh hợp lại, có thể trên phạm vi cả nước Trong những trường hợp đó,QHSDĐ phải giải quyết vấn đề phân chia lại lãnh thổ, tổ chức sản xuất và lao động, bố trí lại mạng lưới điểm dân cư, các xã, nông trường, lâm trường, thậm chí phải bố trí lại các huyện, các tỉnh (phân chia lại tỉnh, huyện, xã hoặc thành lập tỉnh, huyện, xã mới)
Bên cạnh nhiệm vụ tổ chức sử dụng đất trong phạm vi ranh giới từng đơn vị sử dụng đất, QHSDĐ còn phải đáp ứng nhu cầu đất cho các ngành, các chủ sử dụng đất
Trang 1515
QHSDĐ thực hiện việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của Nhà nước cho các ngành, các chủ sử dụng đất thông qua việc thành lập các đơn vị sử dụng đất mới hoặc chỉnh lý, hoàn thiện các đơn vị sử dụng đất đang tồn tại
Điều 38 Luật Đất đai năm 2013 quy định hệ thống QHSDĐ theo các cấp lãnh thổ của cả nước ta gồm 3 cấp:
- QHSDĐ cấp quốc gia
- QHSDĐ cấp tỉnh (gồm các tỉnh, Tp trực thuộc trung ương)
- QHSDĐ cấp huyện (gồm các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Luật Đất đai còn quy định việc lập QHSDĐ theo ngành gồm:
1.3 QUAN HỆ GIỮA QHSDĐ VỚI CÁC QUY HOẠCH KHÁC
1.3.1 Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là tài liệu mang tính khoa học, sau khi được phê duyệt sẽ mang tính chiến lược được luận chứng bằng nhiều phương án kinh tế -
xã hội về phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo không gian (lãnh thổ) có tính đến chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp sản xuất của các vùng và các đơn vị lãnh thổ cấp dưới
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong đó đề cập đến dự kiến sử dụng đất ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu Còn đối tượng của QHSDĐ là tài nguyên đất, nhiệm vụ chủ yếu là căn cứ vào yêu cầu phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mà điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất, xây dựng phương án QHSDĐ thống nhất và hợp lý
Trang 1616
Như vậy QHSDĐ là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhưng nội dung phải được điều hoàthống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Quan hệ giữa QHSDĐ với dự báo chiến lược dài hạn sử dụng đất
Các nhiệm vụ đặt ra của QHSDĐ chỉ có thể được thực hiện thông qua việc xây dựng các dự án quy hoạch với đầy đủ cơ sở về mặt kỹ thuật, kinh tế và pháp lý Để xây dựng phương án QHSDĐ cấp vi mô cho một thời gian trước mắt nào đó, trước hết phải xác định được định hướng và nhu cầu sử dụng đất dài hạn trên phạm vi lãnh thổ lớn hơn
Dựa vào các số liệu thống kê đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành sẽ lập
dự báo sử dụng đất, sau đó xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng
và bảo vệ quỹ đất cho thời gian trước mắt cũng như lâu dài trên phạm vi cả nước, theo đối tượng và mục đích sử dụng
Dự báo cơ cấu đất đai (cho lâu dài) liên quan chặt chẽ với chiến lược sử dụng tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên rừng, dự báo phát triển các công trình thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất với mục tiêu cơ bản là xác định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông - lâm nghiệp, xác định định hướng sử dụng đất cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một cách tổng hợp cùng với các dự báo về phát triển khoa học kỹ thuật, dân số, xã hội trong cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Nội dung của chiến lược sử dụng đất đai bao gồm:
- Phân tích hiện trạng phân bố và sử dụng quỹ đất của các ngành
- Xác định tiềm năng đất để khai hoang đưa vào sản xuất nông nghiệp
- Xác định nhu cầu đất đai cho các ngành kinh tế quốc dân
- Thiết lập các biện pháp cải tạo, phục hồi và bảo vệ quỹ đất cũng như để hoàn thiện việc sử dụng đất
- Xây dựng dự báo phân bổ quỹ đất cho các ngành kinh tế quốc dân theo các đối tượng và mục đích sử dụng
Dự báo sử dụng đất đai là một bộ phận của dự báo dài hạn về phát triển kinh tế
xã hội phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất và các mối quan hệ sản xuất Trong QHSDĐ theo cấp hành chính đều giải quyết chung một nhiệm vụ là sử dụng
Trang 17Như vậy, các vấn đề liên quan đến việc sử dụng hợp lý đất đai được thực hiện theo tuần tự từ quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai đến các dự án quy hoạch chuyên ngành sẽ cho phép giải quyết cụ thể các vấn đề về sử dụng đất (trồng trọt, tưới tiêu, cơ giới hoá ) trên cơ sở áp dụng các tiến bộ và thành tựu của khoa học kỹ thuật
Định hướng sử dụng đất đai được đề cập trong nhiều tài liệu dự báo khoa học kỹ thuật thuộc các cấp và lĩnh vực khác nhau Việc xây dựng quy hoạch tổng thể mang tính chất tổng hợp, dựa trên các tài liệu khảo sát chuyên ngành, đưa ra định hướng phân bố và tạo điều kiện thuận lợi về mặt không gian để thực hiện các quyết định về
sử dụng đất Các quyết định về QHSDĐ vừa là cơ sở không gian để bố trí các công trình vừa là căn cứ kỹ thuật để lập kế hoạch đầu tư chi tiết
Tóm lại, dự báo sử dụng tài nguyên đất và các dự báo khoa học kỹ thuật cũng như các số liệu về quản lý đất đai là cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch và thiết kế công trình Tuy nhiên cần hạn chế sự chồng chéo các biện pháp khi lập dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng như trong công tác điều tra khảo sát
1.3.3 Quan hệ giữa QHSDĐ của đơn vị hành chính cấp trên với đơn vị hành chính cấp dưới
QHSDĐ 3 cấp đơn vị hành chính: cả nước, tỉnh, huyện hợp thành một hệ thống QHSDĐ hoàn chỉnh Tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp quy hoạch có nội dung và ý nghĩa khác nhau Quy hoạch cấp trên là cơ sở và căn cứ định hướng để xây dựng QHSDĐ cấp dưới, quy hoạch cấp dưới là phần kế tiếp và cụ thể hoá quy hoạch cấp trên và là nền tảng để bổ sung hoàn thiện QHSDĐ cấp trên
Khi lập QHSDĐ phải thu thập nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích của các đơn
vị hành chính trực thuộc, nhu cầu này do UBND cấp dưới trực tiếp gửi đến bằng văn
Trang 1818
bản Chỉ tiêu phân bổ quỹ đất cho các đơn vị hành chính trực thuộc là chỉ tiêu định hướng, chỉ tiêu này được tính toán lại trong quá trình lập QHSDĐ (hoặc QHSDĐ chi tiết) của các đơn vị hành chính trực thuộc và trở thành chỉ tiêu pháp lệnh sau khi QHSDĐ (hoặc QHSDĐ chi tiết) được xét duyệt
QHSDĐ của mỗi cấp chỉ xác định và khoanh định trên bản đồ QHSDĐ đối với phần diện tích phải chuyển mục đích sử dụng đất nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của cấp mình; diện tích quỹ đất phải thu hồi nhằm đảm bảo quỹ đất để thực hiện công trình, dự án thuộc thẩm quyền của cấp mình phê duyệt; phần diện tích phải chuyển mục đích sử dụng đất và diện tích phải thu hồi đất nhằm đáp ứng cho nhu cầu phát triển của cấp dưới trực thuộc được xác định và khoanh định trên bản đồ QHSDĐ (hoặc bản đồ QHSDĐ chi tiết) của đơn vị hành chính trực thuộc
Trong QHSDĐ của mỗi cấp phải thể hiện phương án phân bổ quỹ đất đối với diện tích thuộc nhiệm vụ quy hoạch của cấp mình và phương án phân bổ quỹ đất đối với diện tích đã được xác định trong QHSDĐ của các đơn vị hành chính cấp trên
1.3.4 Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch các ngành
a Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch phát triển nông nghiệp (sơ đồ 1.2)
Quy hoạch phát triển nông nghiệp xuất phát từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đối với sản xuất nông nghiệp để xác định hướng đầu tư, biện pháp, bước đi về nhân lực, đảm bảo cho ngành nông nghiệp phát triển đạt được các chỉ tiêu về đất đai, lao động, giá trị sản phẩm, sản phẩm hàng hoá trong một thời gian dài với tốc độ và tỷ lệ nhất định
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu của QHSDĐ, song lại phải tuân thủ theo QHSDĐ, đặc biệt là xác định cơ cấu sử dụng đất phải đảm bảo được việc chống suy thoái, ô nhiễm đất và bảo vệ môi trường
QHSDĐ tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của ngành nông nghiệp nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát
QHSDĐ cả nước, QHSDĐ vùng kinh tế
QHSDĐ cấp tỉnh
QHSDĐ cấp huyện
Sơ đồ 1.1: Quan hệ hệ thống quy hoạch sử dụng đất các cấp
Trang 1919
triển nông nghiệp Hai loại hình quy hoạch này có mối quan hệ qua lại mật thiết nhưng không thể thay thế lẫn nhau
b Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch đô thị
Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển
đô thị,quy hoạch đô thị định ra tính chất, qui mô, phương châm xây dựng đô thị, các
bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, đảm bảo cho sự phát triển đô thị được hài hoà và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể từng khoảnh đất cho các dự án, sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp xếp các nội dung xây dựng QHSDĐ được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, qui mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ đất đai cũng như bố cục không gian (hệ thống đô thị) trong khu vực quy hoạch đô thị
Quy hoạch sử dụng đất
QHSD đất theo cấp hành chính
QHSD đất theo ngành
QHSD đất cả nước, vùng
QHSD đất cấp tỉnh
QHSD đất cấp huyện
QHSD đất khu
DC nông thôn
QHSD đất lâm nghiệp
QHSD đất nông nghiệp
QHSD đất chuyên dùng QHSD đất đô thị
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các loại hình quy hoạch sử dụng đất
Trang 2020
Quy hoạch đô thị và QHSDĐ có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ và toàn diện QHSDĐ sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho xây dựng và phát triển đô thị Sự bố cục, qui mô sử dụng, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng trong đô thị sẽ được điều hoà với QHSDĐ
c Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch các ngành phi nông nghiệp khác
Quan hệ giữa QHSDĐ với quy hoạch phát triển các ngành là quan hệ tương hỗ, vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quy hoạch các ngành là cơ sở và bộ phận hợp thành của QHSDĐ nhưng lại chịu sự chỉ đạo và khống chế của QHSDĐ Quan hệ giữa chúng là quan hệ cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn diện, không có sự sai khác về quy hoạch theo không gian và thời gian ở cùng một khu vực cụ thể Tuy nhiên, giữa chúng
có sự khác khác biệt rõ rệt về tư tưởng chỉ đạo và nội dung: một bên là sự sắp xếp chiến thuật, cụ thể, cục bộ, một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục
1.4 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
1.4.1 Hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến công tác quy hoạch
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, việc quản lý đất đai hiệu quả và bền vững luôn là mục tiêu quan trọng của mỗi quốc gia, một trong các nội dung trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai là QHSDĐ Để tạo được cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải dựa trên hệ thống các văn bản pháp luật như Hiến pháp, Luật đất đai và các văn bản dưới luật nhằm giúp giải đáp ứng về mặt nguyên tắc đối với những vấn đề đặt ra như sự cần thiết về mặt pháp lý phải lập quy hoạch, trách nhiệm lập quy hoạch, nội dung lập quy hoạch và thẩm quyền xét duyệt quy hoạch Hệ thống các văn bản có liên quan đến công tác lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất từ cao đến thấp như sau:
- Hiến pháp nước CHXHCNVN năm 1992 đã khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu
toàn dân”, “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm
sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” (Điều18 Chương II)
- Điều 4 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đấ theo quy định của Luật này”
Trang 2121
- Điều 6 Luật đất đai 2003 cũng nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý về đất
đai” và “Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất” là một trong những nội dung quản
lý nhà nước về đất đai
- Toàn bộ Mục 2 từ Điều 21 đến Điều 30 Luật Đất đai ngày 10/12/2003 quy định
về nguyên tắc, căn cứ, nội dung, kỳ quy hoạch, trách nhiệm lập, thẩm quyền quyết định, xét duyệt, điều chỉnh, công bố, thực hiện QHSDĐ
- Điều 31 Luật đất đai 2003 khẳng định:
“Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;”
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ban hành ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi
hành Luật đất đai 2003 cũng đã qui định chi tiết về nội dung, lập, xét duyệt, điều chỉnh, công bố, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (toàn bộ Chương III từ Điều 12 đến Điều 29)
Như vậy để sử dụng và quản lý đất đai - thuộc sở hữu toàn dân, là tư liệu sản xuất - một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải làm quy hoạch
Ngoài những quy định của các văn bản có tính pháp lý ở mức độ cao nêu trên còn có các văn bản dưới luật và các văn bản ngành quy định về thẩm quyền, hướng dẫn phương pháp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như:
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ trưởng Bộ tài nguyên
và Môi trường về việc ban hành Quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư 04/2006/TT/BTNMT ngày 22/5/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ban hành ngày 13/08/2009 của Chính phủ quy định
bổ sung về QHSDĐ, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hổ trợ và tái định cư
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 221 Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới quyền
sử dụng đất, nó không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn là một vấn đề chính trị, bởi vì tài nguyên đất là đối tượng sở hữu nhà nước, đồng thời là một căn cứ quan trọng để phát triển sức sản xuất, củng cố và hoàn thiện phương thức sản xuất trong tất cả các ngành, đặc biệt là nông nghiệp Hơn nữa, dự báo sử dụng đất đai là một bộ phận của
dự báo dài hạn về phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với trình độ phát triển lực lượng sản xuất và các mối quạn hệ sản xuất Vì vậy, QHSDĐ phải dựa trên cơ sở của quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế xã hội qua các thời kỳ QHSDĐ luôn thống nhất với chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước;
vì vậy, nên vận dụng một cách đúng đắn vào địa phương nơi tiến hành quy hoạch Bên cạnh đó, QHSDĐ còn ưu tiên cho mục tiêu chiến lược quốc phòng, an ninh
Trang 2323
2 Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với QHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt QHSDĐ cấp quốc gia phải đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; QHSDĐ cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã
Trong QHSDĐ, giải quyết nhiệm vụ chủ yếu là sử dụng hợp lý quỹ đất gắn với phân bổ lực lượng sản xuất theo nguyên tắc từ tổng quát đến chi tiết và ngược lại sẽ chỉnh lý, hoàn thiện từ dưới lên Để xây dựng được phương án quy hoạch cấp vi mô cho một thời gian trước mắt nào đó, trước hết phải xác định được định hướng và nhu cầu sử dụng đất dài hạn trên phạm vi lãnh thổ lớn hơn Hơn nữa dự báo cơ cấu sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến chiến lược sử dụng nguồn tài nguyên và dự báo phát triển kinh
tế, xã hội của cả nước Chính vì vậy, muốn phương án quy hoạch cấp dưới được thực hiện thì đòi hỏi phương án quy hoạch cấp dưới phải phù hợp và hài hòa với phương án quy
hoạch của cấp trên
Kế hoạch sử dụng đất được phân kỳ thực hiện theo QHSDĐ, nó cụ thể hóa những công việc dự kiến làm trong phương án QHSDĐ đã được duyệt, phù hợp với từng giai đoạn 5 năm và hàng năm; có thể nói kế hoạch sử dụng đất là bước đi để thực hiện QHSDĐ Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch sử dụng đất phải căn cứ vào các chỉ tiêu
sử dụng đất đã được xác định trong phương án quy hoạch để phân phối quỹ đất phù hợp với từng thời kỳ nhất định
3 Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
Khi QHSDĐ, thường dự kiến phương hướng sử dụng đất trong thời gian dài Việc tổ chức sử dụng hợp lý đất đai phụ thuộc vào việc tổ chức sử dụng các tư liệu sản xuất và toàn bộ quá trình sản xuất nói chung Ngoài ra, việc sử dụng đất còn ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, đến việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến hiệu quả sử dụng các tư liệu sản xuất… Để tăng năng suất các loại cây trồng cần phải xác định được cơ cấu đất thích hợp và cơ cấu luân canh hợp lý, đồng thời bố trí hợp lý trên lãnh thổ
Vì lẽ đó khi thực hiện quy hoạch phải biết tiết kiệm quỹ đất, mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng với phương châm “mỗi mét vuông đấtđều cho sản phẩm” Mặt khác, tính hiệu quả kinh tế phải ổn định bền vững thể hiện qua nguồn thu từ đất mà
Trang 2424
phương án đó mang lại, luôn hài hoà với bảo vệ đất, bảo vệ môi trường nhằm sử dụng
đất đai bền vững, hài hoà với lĩnh vực an ninh, quốc phòng
4 Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
Đất đai có đặc điểm hết sức quan trọng là nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng tốt lên.Nhiệm vụ hàng đầu của QHSDĐ là tổ chức sử dụng hợp lý, có hiệu quả cao tài nguyên đất phục vụ cho lợi ích của các ngành, của người sử dụng đất Do đó, khi làm quy hoạch phải nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất đai, xác định mức độ thích hợp của từng khoanh đất cụ thể đối với các mục đích sử dụng khác nhau làm cơ sở khoa học để bố trí sử dụng đất
Tuy nhiên, đất đai rất dễ bị suy thoái dưới tác động của các yếu tố thiên nhiên bất lợi như địa hình, khí hậu và sự thiếu ý thức của con người trong việc sử dụng đất Trên đất dốc, chế độ làm đất không hợp lý vào mùa mưa sẽ làm đất bị xói mòn, rửa trôi nhanh chóng Chế độ canh tác độc canh, bón phân không hợp lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tùy tiện, rác thải công nghiệp và sinh hoạt cũng là nguyên nhân gây suy thoái, ô nhiễm đất Vì vậy, trong phương án quy hoạch cần đề ra các biện pháp bảo vệ, cải tạo, nâng cao độ màu mỡ của đất để có thể phát triển một nền nông nghiệp bền vững
5 Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
Những di tích lịch sử - văn hóa của dân tộc, những danh lam thắng cảnh của thiên nhiên là di sản của cả nước, bên cạnh đó còn có các công trình văn hóa do con người tạo lập để phục vụ cho hiện tại cũng như cho thế hệ mai sau; Vì vậy, khi làm QHSDĐ ta phải đưa ra các biện pháp bảo vệ và tôn tạo những di tích đó để có thể phát triển thêm một số ngành góp phần nâng cao nền kinh tế
6 Dân chủ và công khai
QHSDĐ phải công khai, cần thiết phải được các ngành, các cán bộ chuyên môn
và nhân dân cùng biết để đóng góp, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội Khi phương án quy hoạch được duyệt phải công bố để các ngành các cấp và nhân dân cùng thực hiện theo đúng quy định tại Điều 28 Luật đất đai và Điều
27 Nghị định 181/2001/NĐ-CP
7 Đảm bảo ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích
quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
Trang 2525
8 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt
1.4.3 Căn cứ lập QH, KHSDĐ
Căn cứ để lập QHSDĐ gồm: (khoản 1 điều 22 Luật đất đai 2003)
- Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương;
- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước;
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường;
- Hiện trạng quỹ đất đai và nhu cầu sử dụng đất ;
- Định mức sử dụng đất;
- Tiến bộ khoa học công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất;
- Kết quả thực hiện QHSDĐ kỳ trước
Căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất gồm: (khoản 2 điều 22 Luật đất đai 2003)
- QHSDĐ đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt;
- Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm và hàng năm của Nhà nước;
- Nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;
- Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ trước;
- Khả năng đầu tư thực hiện các dự án, công trình có sử dụng đất
1.4.4 Trách nhiệm lập QH, KHSDĐ
Điều 42 Luật đất đai 2013 và điều 15 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định:
1 Bộ Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giúp Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc xác định nhu cầu sử dụng đất của bộ, ngành, địa phương
2 Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, mục đích an ninh và có trách nhiệm phối hợp với UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xác định nhu cầu sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, mục đích an ninh tại địa phương
Trang 2626
3 UBND, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình; Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp
Sở, ban, ngành của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài nguyên Môi trường trong việc xác định nhu cầu sử dụng đất của ngành, địa phương
4 UBND huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và của thị trấn thuộc huyện UBND huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và của các đơn vị hành chính cấp dưới; Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp
Phòng ban của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và UBND phường, thị trấn, UBND xã thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị có trách nhiệm phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường trong việc xác định nhu cầu sử dụng đất của ngành, địa phương
5 UBND xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy
hoạch tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương
6 UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất trình HĐND cùng cấp thông qua trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
7 Ban quản lý khu công nghệ cao có trách nhiệm tổ chức lập QHSDĐ chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết cho toàn khu công nghệ cao
8 Ban quản lý khu kinh tế có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất chi tiết đối với phần diện tích đất giao cho quản lý được xác định trong QHSDĐ của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất đối với phần diện tích đất còn lại được thể hiện trong quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và QHSDĐ chi tiết, kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn
9 Cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thuê
các tổ chức được phép hoạt động trong lĩnh vực lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
tư vấn trong việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trang 2727
10 Không phải lập QHSDĐ, kế hoạch sử dụng đất đối với huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, QHSDĐ chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đối với xã, phường, thị trấn nếu việc sử dụng đất trong kỳ quy hoạch sử đất tiếp theo không có thay đổi; có thay đổi mục đích sử dụng giữa các loại đất trong cùng một nhóm mà diện tích đất phải thay đổi mục đích sử dụng dưới mười phần trăm (10%) so với kỳ quy hoạch trước thì chỉ quyết định việc điều chỉnh phần diện tích phải chuyển mục đích sử dụng
QHSDĐ chi tiết của khu công nghệ cao được lập một lần cho toàn khu; trường hợp có thay đổi nhu cầu sử dụng đất thì lập điều chỉnh QHSDĐ chi tiết
1.4.5 Thẩm quyền quyết định, xét duyệt công bố, lưu trữ hồ sơ, quản lý QHSDĐ QHSDĐ
1.4.5.1 Thẩm quyền quyết định, xét duyệt QHSDĐ
Điều 45 Luật đất đai năm 2013 qui định như sau:
- Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ
trình
- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương; đất quốc phòng, an ninh
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp
- Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị
UBND cấp huyện trình UBND cấp tỉnh phê duyệt KHSDĐ hàng năm UBND cấp tỉnh trình HĐND cấp tỉnh thông qua danh mục các dự án cần thu hồi quy định tại khoản 3 Điều 62 của Luật đất đai 2013 trước khi phê duyệt KHSDĐ hàng năm của cấp huyện
1.4.5.2 Công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 28 Luật đất đai, khoản 1 Điều 24 Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT, khoản
1, 2, 3 và 5 Điều 27 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai qui định như sau:
Tài liệu về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải công bố bao gồm:
Trang 28+ UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất chi tiết và các dự án, công trình đầu tư đã được xét duyệt tại trụ sở UBND trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Sở, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn
bộ tài liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương đã được xét duyệt tại trụ sở cơ quan mình trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và trích đăng trên báo của địa phương
+ Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm công bố công khai toàn bộ tài liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước đã được Quốc hội quyết định tại trụ
sở cơ quan Bộ trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng công báo; công bố trên mạng thông tin quản lý nhà nước của Chính phủ và trích đăng trên một báo hàng ngày của trung ương
1.4.5.3 Lưu trữ hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Điều 25 Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định như sau:
a Hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải lưu trữ gồm:
- Quyết định xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quyết định xét duyệt điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (bản in trên giấy và bản dạng số);
- Bản đồ QHSDĐ, bản đồ điều chỉnh QHSDĐ (bản in trên giấy và bản dạng số);
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất (bản in trên giấy và bản dạng số)
Trang 2929
- Các văn bản có liên quan trong quá trình lập, thẩm định, thông qua Hội đồng nhân dân, trình cấp có thẩm quyền xét duyệt
b Số lượng và nơi lưu trữ hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Cả nước: Hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước được lưu trữ gồm 4 bộ: 1
bộ tại văn phòng Quốc hội, 1 bộ tại văn phòng Chính phủ, 2 bộ tại Bộ Tài nguyên và Môi trường
- Cấp tỉnh: Hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được lưu trữ gồm 4 bộ: 2 bộ tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1 bộ tại UBND tỉnh, 1 bộ tại Sở Tài nguyên
và Môi trường
- Cấp huyện: Hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được lưu trữ
gồm 4 bộ: 1 bộ tại UBND tỉnh, 1 bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường, 1 bộ tại UBND huyện và 1 bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường
- Cấp phường, thị trấn và xã thuộc khu vực phát triển đô thị: Hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp phường, thị trấn và xã thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô
thị được lưu trữ gồm 5 bộ: 1 bộ tại UBND tỉnh, 1 bộ tại Sở Tài nguyên và Môi trường,
1 bộ tại UBND huyện, 1 bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường và 1 bộ tại UBND xã nơi có quy hoạch
Đối với xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị được lưu trữ gồm 3 bộ: 1 bộ tại UBND huyện, 1 bộ tại Phòng Tài nguyên và Môi trường và 1 bộ tại UBND xã nơi có quy hoạch
c Trách nhiệm phổ biến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Cấp lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có trách nhiệm in sao hồ sơ quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất sau khi được xét duyệt gửi cho các đơn vị hành chính trực thuộc
để triển khai việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp đó và theo dõi việc
thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương
1.4.5.4 Thực hiện và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
a Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Chính phủ tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Trang 3030
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới trực tiếp
- UBND xã, phường, thị trấn tổ chức, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương; phát hiện, ngăn chặn các hành vi sử dụng đất trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố
b Quản lý QHSDĐ
- UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt
- UBND xã, phường, thị trấn có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất tại địa phương Khi phát hiện những trường hợp sử dụng đất không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố thì xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý
- Sở, Phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn tổ chức, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương; phát hiện và xử lý theo thẩm quyền hoặc đề nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trường hợp phát hiện nhu cầu thực tế cần điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì báo cáo UBND cùng cấp về nhu cầu đó
- Hàng năm, UBND các cấp có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch
sử dụng đất của địa phương đến ngày 31/12; thời hạn nộp được qui định như sau: + UBND xã, phường, thị trấn báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trước ngày 15/01 năm sau
+ UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh báo cáo UBND tỉnh, thành
phố thuộc trực trung ương trước ngày 31/01 năm sau
+ UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Bộ Tài nguyên và Môi trường trước ngày 15/02 năm sau
- Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện kế
hoạch sử dụng đất hàng năm của cả nước để báo cáo Chính phủ, thời hạn nộp báo cáo
là trước ngày 15/03 năm sau
Trang 3131
- Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của
mỗi kỳ quy hoạch phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kỳ kế hoạch và kỳ QHSDĐ (đối với kỳ cuối)
Trang 3232
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Yêu cầu chủ quan: Là yêu cầu chung của xã hội, của nền kinh tế quốc dân hoặc
địa phương đối với các ngành kinh tế khác nhau có liên quan đến việc sử dụng đất Yêu cầu của xã hội và nền kinh tế luôn thay đổi tùy theo sự phát triển theo từng giai đoạn, do đó QHSDĐ phải nắm bắt được yêu cầu này Yêu cầu chủ quan được thể hiện thông qua nhóm căn cứ cụ thể gồm:
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh;
- Nhu cầu sử dụng đất đai;
- Quy hoạch phát triển của các ngành và địa phương;
- Định mức sử dụng đất đai;
- Yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh…
* Yêu cầu thực tế khách quan:
Đây là căn cứ rất quan trọng, quyết định thực tiễn và khoa học của QHSDĐ
- Điều kiện tự nhiên: Địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thời tiết, thủy văn, khoáng sản…
- Điều kiện xã hội: Hiện trạng sử dụng quỹ đất, thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, khả năng đầu tư, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai kỳ trước…
2.1.2 Mục tiêu của QHSDĐ
Trang 3333
Mục tiêu quan trọng nhất của QHSDĐ là việc sử dụng có hiệu quả và bền vững nhất tài nguyên đất
- Sử dụng đất đai có hiệu quả:
Việc sử dụng có hiệu quả đất đai có sự khác biệt giữa các chủ sử dụng đất, cụ thể với các cá nhân sử dụng đất thì hiệu quả sử dụng đất được biểu thị bằng lợi ích cao nhất trên một đơn vị tư bản đầu tư trên một đơn vị diện tích Còn đối với Nhà nước thì vấn đề hiệu quả của sử dụng đất mang tính tổng hợp hơn bao gồm các nội dung: Toàn vẹn lãnh thổ, an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa…
- Sử dụng đất phải có tính hợp lý và được xã hội chấp nhận:
Những mục đích này bao gồm các vấn đề về an ninh lương thực, việc làm và đảm bảo thu nhập cho cư dân ở nông thôn Sự cải thiện và phân phối lại đất đai có thể thu hẹp khoảng cách kinh tế giữa các vùng, giữa các chủ sử dụng đất khác nhau và góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo
- Tính bền vững:
Việc sử dụng đất bền vững là phương thức sử dụng đất mang lại hiệu quả, đáp ứng được các nhu cầu trước mắt nhưng đồng thời đảm bảo được nhu cầu sử dụng đất trong tương lai
2.1.3 Đối tượng của QHSDĐ
Do việc sử dụng đất chịu sự tác động của các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân tố không gian nên khi tiến hành xây dựng phương án QHSDĐ trên một vùng lãnh thổ xác định, cần thiết phải nghiên cứu kỹ các yếu tố sau:
- Đặc điểm khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng;
- Hình dạng và mật độ khoảng thửa;
- Đặc điểm thủy văn, địa chất;
- Đặc điểm thảm thực vật tự nhiên;
- Các yếu tố sinh thái;
- Mật độ, cơ cấu và đặc điểm phân bố dân cư;
- Tình trạng và sự phân bố cơ sở hạ tầng;
- Tình trạng phát triển các ngành sản xuất
Do tác động đồng thời của nhiều yếu tố nên để tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp
lý, có hiệu quả cao kết hợp với việc bảo vệ đất và môi trường cần đề ra những nguyên
Trang 3434
tắc chung và riêng về chế độ sử dụng đất, căn cứ và những quy luật đã được phát hiện, tùy theo những điều kiện cu thể và mục đích cần đạt Như vậy, đối tượng nghiên cứu của QHSDĐ là:
- Nghiên cứu các quy luật về chức năng của đất như là một tư liệu sản xuất chủ yếu
- Đề xuất các biện pháp tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao kết hợp với bảo vệ đất và môi trường trong tất cả các ngành
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG QHSDĐ
2.2.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận trong nghiên cứu QHSDĐ dựa trên phép biện chứng duy vật về mặt nhận thức, thể hiện ở các điểm sau:
- Nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, phạm trù xã hội trong mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ở trạng thái vận động (phát triển)
- Nhìn nhận sự phát triển như là sự chuyển hoá từ lượng thành chất
- Xem xét các sự kiện và hiện tượng trên quan điểm thống nhất của các mặt đối lập nhau
- Phát hiện những nhân tố mới, tiến bộ trong quá trình vận động và phát triển
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu các vấn đề cụ thể
a Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp này được ứng dụng để điều tra thu thập các số liệu, sự kiện, thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu Trong thực tiễn có thể thực hiện phương pháp điều tra nội nghiệp, ngoại nghiệp, điều tra nông thôn có sự tham gia của người dân
b Phương pháp minh hoạ trên bản đồ
Đây là phương pháp đặc thù của QHSDĐ Mọi thông tin cần thiết được biểu diễn trên bản đồ có tỷ lệ thích hợp, tạo thành tập bản đồ gồm bản đồ hiện trạng sử dụng đất, QHSDĐ, bản đồ địa hình, thổ nhưỡng - nông hoá, bản đồ cây trồng, bản đồ khảo sát, quy hoạch giao thông, thuỷ lợi, chế độ nước
c Phương pháp thống kê
Mục đích của việc sử dụng phương pháp thống kê là nhằm phân nhóm toàn bộ các đối tượng điều tra có cùng một chỉ tiêu, xác định các giá trị trung bình của chỉ tiêu, phân tích tương quan giữa các yếu tố
Trang 3535
Về đối tượng nghiên cứu, phương pháp thống kê đề cập vấn đề sau:
- Nghiên cứu tình hình sử dụng đất: cơ cấu đất, đặc tính về lượng và chất
- Phân tích đánh giá về diện tích, vị trí và khoảng cách
- Đánh giá các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các chỉ tiêu kinh tế
kỹ thuật
Phương án này có nhược điểm cơ bản là do đối tượng nghiên cứu lớn nên kết quả thu được đôi khi không phản ánh đúng bản chất và nguồn gốc của các sự kiện và hiện tượng
d Phương pháp nghiên cứu điểm
Đây là phương pháp áp dụng nhằm bổ sung cho phương pháp thống kê, nó nghiên cứu từng sự kiện và hiện tượng mang tính điển hình Phương pháp này có ưu điểm là cho phép phân tích cụ thể tình trạng quá khứ và hiện tại của các sự kiện và hiện tượng, song cũng có nhược điểm là xuất hiện các điều kiện và các mối quan hệ mới thì kết quả nghiên cứu cũ của nó không thể áp dụng cho tương lai
e Phương pháp nghiên cứu mẫu
Theo phương pháp này người ta lựa chọn ra những mẫu đại diện cho từng sự kiện, từng hiện tượng để nghiên cứu Khi ứng dụng phương pháp nghiên cứu mẫu, đòi hỏi phải rất thận trọng trong việc chọn mẫu và quy mô cũng như đặc điểm của sự kiện
và hiện tượng có liên quan đến mẫu
g Phương pháp phương án (phương pháp tính toán theo định mức)
Đây là phương pháp áp dụng nhiều trong QHSDĐ để dự đoán và tạo ra các hình thức tổ chức lãnh thổ mới dựa vào định mức tính toán về thời gian, chi phí vật chất, lao động, thức ăn, nhiên liệu
Phương pháp này đòi hỏi xây dựng hệ thống định mức trên cơ sở khoa học vì nó ảnh hưởng quyết định đến kết quả, phải xây dựng được các phương án QHSDĐ sơ bộ theo định mức, phải phân tích, so sánh, đánh giá và lựa chọn phương án hợp lý và kinh
tế nhất theo các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật Ngoài ra cần phải kết hợp phương pháp này với phương pháp tư duy trừu tượng
Phương pháp phương án cũng có một số hạn chế, cụ thể là nó bị giới hạn về số lượng phương án (thường chỉ xây dựng 2 - 3 phương án) và việc lựa chọn phương án
Trang 3636
chỉ là kết quả so sánh tương đối giữa các phương án với nhau, chứ chưa tìm được phương án thực sự tối ưu
h Phương pháp mô hình tính toán kinh tế sử dụng máy vi tính
Đây là phương pháp đang được áp dụng rộng rãi Phương án tối ưu được tìm
ra trên cơ sở xây dựng các mô hình tính toán kinh tế dưới dạng các bài toán vận tải, các bài toán tương quan hồi quy hoặc quy hoạch tuyến tính, lập và giải trên máy tính điện tử
Phương pháp này đòi hỏi phải định lượng được các yếu tố cần biểu thị và điều kiện hạn chế phải trình bày được bằng ngôn ngữ toán học Do đó, nó có hạn chế cơ bản là khó áp dụng đối với các điều kiện văn hoá - xã hội và sinh thái
Trong lĩnh vực QHSDĐ, một số vấn đề có thể giải quyết được bằng phương pháp
mô hình hoá toán học như:
- Vấn đề chuyển loại sử dụng đất
- Xác định quy mô sản xuất hợp lý các ngành
- Phân bố hợp lý các điểm dân cư
- Xác định cơ cấu diện tích gieo trồng
- Bố trí đất đai và cây trồng theo các điều kiện xói mòn đất
- Xác định năng suất cây trồng
m Phương pháp chuyên gia
Trang 3737
Phương pháp này chủ yếu lấy ý kiến đóng góp từ các chuyên gia am hiểu về đối tượng nghiên cứu Để thực hiện một cách có hiệu quả, phương pháp cần phải được triển khai theo quy trình chặt chẽ như thành lập nhóm chuyên gia, thành lập bảng câu hỏi và xử lý kết quả thu được từ sự phản hồi của các chuyên gia Phương pháp này được áp dụng khi đối tượng nghiên cứu thiếu số liệu, kết quả mang tính chất chủ quan
2.3 CHỈ TIÊU CÁC LOẠI ĐẤT THEO MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG TRONG QH, KHSDĐ
Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, được áp dụng thống nhất trong cả nước, bao gồm:
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia
1.1 Đất trồng lúa LUA 2.4 Đất khu chế xuất SKT Trong đó: Đất chuyên
trồng lúa nước LUC 2.5
Đất phát triển hạ tầng cấp quốc
1.2 Đất rừng phòng hộ RPH 2.6 Đất có di tích lịch sử - văn hóa DDT 1.3 Đất rừng đặc dụng RDD 2.7 Đất danh lam thắng cảnh DDL 1.4 Đất rừng sản xuất RSX 2.8 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA 1.5 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 3 Đất chưa sử dụng CSD
1.6 Đất làm muối LMU 4 Đất khu công nghệ cao* KCN
Chỉ tiêu được xác định
Chỉ tiêu được xác định bổ
Trang 382.7 Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp SKC 0 x 0
2.8 Đất sử dụng cho hoạt động khoáng
Trang 3939
2.16 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự
2.17 Đất xây dựng cơ sở ngoại giao DNG 0 x 0
2.19 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà
2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng đất cấp huyện
Chỉ tiêu được phân bổ
Chỉ tiêu được xác định
Chỉ tiêu được xác định bổ sung
Trang 402.7 Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp SKC x 0 x
2.8 Đất sử dụng cho hoạt động khoáng
2.12 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA x 0 x