1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC

185 508 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 802,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các đặc điểm cơ bản của thế giới quan: Khi bàn về thế giới quan, đã có nhiều quan niệm khác nhau: - Trong cuốn “Từ điển bách khoa toàn thư triết học” - Tiếng Nga - Xuất bản năm 1964 tại

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC

CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC

(Tài liệu nghiên cứu Triết học dùng cho học viên Cao học không chuyên)

Tác giả: VI THÁI LONG

Chuyên đề 1 THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG - VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NHẬN THỨC VÀ THỰC TIỄN

Triết học là hình thái ý thức xã hội, phản ánh những qui luật vận động chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Nó ra đời từ rất sớm và để lại những giá trị to lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Kể từ khi ra đời cho đến nay, nó đã có nhiều thay đổi về nội dung và chức năng, trong đó chức năng thế giới quan có vị trí và vai trò rất quan trọng Vì vậy, khi nghiên cứu triết học không thể không nghiên cứu chức năng này Nhưng thế giới quan là gì? nó có cấu trúc như thế nào? có bao nhiêu loại thế giới quan? trong các loại thế giới quan đó thì thế giới quan nào là thế giới quan khoa học cần phải trang bị cho con người trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? những vấn đề đó sẽ được làm sáng tỏ trong chuyên đề này

I KHÁI NIỆM THẾ GIỚI QUAN

1 Các đặc điểm cơ bản của thế giới quan:

Khi bàn về thế giới quan, đã có nhiều quan niệm khác nhau:

- Trong cuốn “Từ điển bách khoa toàn thư triết học” - Tiếng Nga - Xuất bản năm 1964 tại Matxcơva, (T3,Tr.454) đã xác định: “Thế giới quan là hệ thống những quan điểm khái quát của con người về thế giới nói chung, về những hiện tượng riêng lẻ và bản thân con người trong thế giới ấy, về sự chinh phục trong hoạt động của mình và về số phận của nhân loại, là toàn bộ những quan điểm khoa học, triết học, chính trị, pháp quyền…”

Trang 2

- Trong cuốn “Từ điển triết học” của Liên Xô do M.Rôdentan và P.Iuđin chủ biên Nxb Sự thật, Hà Nội 1976, (Tr.906) có viết: “Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên và trong xã hội: các quan điểm triết học, xã hội và chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học vv… Các quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủ yếu của mọi thế giới quan, hiểu theo nghĩa đen của danh từ ấy”.

- Trong “Từ điển triết học” Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1986 (Tiếng Việt, Tr.539) có viết: “Thế giới quan là toàn bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xã hội của một giai cấp hay của xã hội nói chung đối với thực tế”

- Trong Cuốn “Giáo trình triết học Mác - Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội 1999 (Tr 21) đã xác định: “Toàn bộ những quan niệm về thế giới về

vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của con người và loài người hợp thành thế giới quan của một con người, một cộng đồng người trong mỗi thời đại nhất định.”

- Còn ở cuốn “Giáo trình triết học Mác - Lênin” (dùng trong các trường Đại học và Cao đẳng) xuất bản năm 2002, (Tr.12) đã cho rằng “thế giới quan

là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó”

- Trong tài liệu “Triết học” tập 3 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (dành cho nghiên cứu sinh và cao học), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, (Tr.5) đã viết: “Thế giới quan là hệ thống những quan niệm của con người về thế giới,

về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, cuộc sống của con người”

Từ các định nghĩa đã nêu ở trên, mặc dù còn có cách hiểu theo các khía cạnh khác nhau, song khi nói đến thế giới quan, các định nghĩa đó đều xác định thế giới quan là “hệ thống quan điểm của con người về thế giới” Nó bao gồm các đặc trưng cơ bản:

Trang 3

- Đặc trưng thứ nhất, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm của con người Điều đó có nghĩa xác định thế giới quan thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người chứ không phải lĩnh vực đời sống vật chất của họ Các quan niệm đó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người chứ không phải là bản thân hiện thực khách quan

ấy Nó có thể là một quan niệm của cá nhân và cũng có thể là tất cả những quan niệm, quan điểm của con người, của loài người gộp lại

- Đặc trưng thứ hai, thế giới quan là nó phản ảnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội Có nghĩa là nó phản ảnh mối quan hệ giữa con người với thế giới Đó là những tri thức, niềm tin, tình cảm ý chí, lý tưởng của con người về thế giới và về chính bản thân con người và vị trí của họ trong thế giới đó

- Đặc trưng thứ ba, thế giới quan là nó có tính lịch sử - xã hội vì nó ra đời, vận động và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của loài người

Nó phản ánh trình độ và lợi ích khác nhau của con người trong các giai đoạn lịch sử Điều đó là hiển nhiên, vì trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người luôn luôn phải thích nghi với thế giới xung quanh, phải sống hoà hợp và có quan hệ mật thiết với thế giới đó Song con người không thích nghi, quan hệ hoà hợp một cách thụ động, chịu sự chi phối hoàn toàn của thế giới

mà luôn luôn tìm cách cải biến thế giới theo nhu cầu và lợi ích cuộc sống của mình Muốn vậy con người phải hiểu biết về tự nhiên, về xã hội và về chính bản thân mình Từ đó buộc con người phải lý giải nhiều vấn đề về thế giới và bản thân mình Chẳng hạn như thế giới này do đâu mà có? Bản chất của nó

là gì? Nó có vai trò gì đối với đời sống con người? Sự biến đổi của nó có tác động như thế nào đến sinh vật và con người? Con người được sinh ra từ đâu? Bản chất của con người là gì? Con người có vị trí như thế nào trong tự nhiên và trong xã hội? Bản chất của xã hội là gì? Nó hình thành và phát triển dưới tác động của những qui luật nào? vv… Những câu hỏi đó được con người luôn luôn đặt ra và giải quyết ở những mức độ khác nhau tuỳ theo sự phát triển của chính con người và sự phát triển của xã hội từ thời mông muội

Trang 4

cho đến ngày nay cũng như của mai sau Con người thường xuyên muốn hiểu biết hoàn toàn đầy đủ, chính xác về các sự vật hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan Song tri thức của con người và cả loài người tích luỹ được lại có giới hạn Quá trình tìm hiểu và giải đáp những câu hỏi đặt ra sẽ hình thành ở con người những quan niệm nhất định về thế giới cũng như về

vị trí, vai trò của con người trong thế giới hiện thực Những quan niệm đó tạo nên thế giới quan của con người Thông qua thế giới quan của mình, con người xem xét, nhìn nhận, tìm tòi để hiểu biết bản chất của thế giới Từ đó định hướng, chỉ đạo, chi phối nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Trên cơ sở của ba đặc trưng cơ bản đó có thể định nghĩa khái niệm thế giới quan như sau: “Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm có tính lịch sử

- xã hội của con người về thế giới”

Quan niệm về thế giới quan như vậy không có nghĩa là đồng nhất nó với triết học Bởi vì giữa thế giới quan và triết học tuy có những điểm giống nhau là cùng tìm cách giải thích thế giới và định hướng cho việc cải tạo thế giới, nhưng có sự khác nhau cơ bản là ở chỗ, thế giới quan bao gồm toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới Còn triết học chỉ là một hệ thống các quan niệm dưới dạng lý luận về những vấn đề chung nhất của thế giới

mà thôi Chính vì vậy mà thế giới quan chỉ là một trong các chức năng của triết học, còn triết học lại là hạt nhân lý luận của thế giới quan

2 Cấu trúc của thế giới quan

Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, bao gồm tri thức, niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng

- Tri thức là kết quả của nhận thức, tức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người Tri thức bao gồm nhiều loại khác nhau: có tri thức về tự nhiên, có tri thức về xã hội và có tri thức về tư duy Lại có tri thức đúng, có tri thức sai

Trang 5

- Tình cảm là tình yêu và sự cảm hoá của con người trước một hành động, một sự vật nào đó Có nhiều loại tình cảm khác nhau như tình cảm trong sáng, tình cảm không trong sáng; tình cảm chân thành, tình cảm không chân thành

- Niềm tin là sự tin tưởng vào một quan niệm nào đó Bao gồm các loại niềm tin khoa học, niềm tin không khoa học; niềm tin bền vững hoặc niềm tin không bền vững…

- Ý chí là năng lực trí tuệ của con người quyết tâm đạt được một ý định nào đó đã đề ra Nó được hình thành trên cơ sở niềm tin để tạo thành lý tưởng sống của con người

- Lý tưởng là lý luận mà con người tưởng tượng ra thành mục đích để hướng tới trong cuộc sống Lý tưởng được hình thành nếu không xuất phát từ

“mảnh đất” hiện thực, từ đời sống xã hội của con người thì lý tưởng đó sẽ là phi hiện thực và ảo tưởng Ví dụ: “Cõi niết bàn” hay “chủ nghĩa xã hội không tưởng” Còn lý tưởng được hình thành nếu xuất phát từ “mảnh đất” hiện thực

từ quy luật phát triển của cuộc sống thì lý tưởng đó sẽ trở thành hiện thực Ví dụ: “Lý tưởng cộng sản chủ nghĩa”

Giữa tri thức, niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Trong mối quan hệ đó thì tri thức là bộ phận quan trọng nhất đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng Bởi vì nếu có tri thức đúng đắn, khoa học thì sẽ hình thành niềm tin vững chắc, tình cảm trong sáng, ý chí mãnh liệt và lý tưởng cao cả Ngược lại nếu tri thức mà không đúng đắn sẽ hình thành niềm tin không bền vững, tình cảm không trong sáng, ý chí yếu ớt

và lý tưởng thấp hèn

3 Những hình thức thể hiện của thế giới quan

Thế giới quan được thể hiện ra ở nhiều hình thức khác nhau Song có

ba hình thức cơ bản, phản ánh ba trình độ khác nhau của con người về thế

Trang 6

giới là thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học.

- Thế giới quan thần thoại: là hình thức thế giới quan đặc trưng cho người nguyên thuỷ trong buổi sơ khai của lịch sử loài người Đó là sự phản ánh mang tính chất cảm nhận ban đầu của người nguyên thuỷ về thế giới mà trong đó các yếu tố hiện thực và ảo tưởng, sự thật và hoang đường, lý trí và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hoà quyện vào nhau Thế giới quan thần thoại phản ánh thế giới bằng các hình tượng thần thoại Nó còn tiếp tục tồn tại ở các giai đoạn sau này của con người và ở mọi dân tộc trên thế giới

- Thế giới quan tôn giáo: ra đời khi trình độ nhận thức của con người còn thấp kém, bất lực trước các hiện tượng tự nhiên (sấm sét, bão lụt…) Đó

là sự phản ánh hiện thực một cách hư ảo, “là thuốc phiện của nhân dân” Đặc trưng của thế giới quan này là xây dựng niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên

Nó thể hiện khát vọng giải thoát nỗi khổ đau của con người để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp, vĩnh hằng Tuy nhiên con đường để vươn tới cuộc sống tốt đẹp đó là một ảo tưởng phi hiện thực

- Thế giới quan triết học: ra đời trong thời kỳ chuyển biến từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ Nó phản ánh thế giới không phải bằng hình tượng thần thoại hay niềm tin tôn giáo, ảo tưởng mà bằng một hệ thống khái niệm, phạm trù lý luận Thế giới quan này không chỉ nêu ra các quan niệm của mình mà còn chứng minh các quan niệm đó bằng

lý tính Thế giới quan triết học là một hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó Đây là một chức năng cơ bản của triết học

- Các loại thế giới quan triết học:

Tuỳ theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta lựa chọn những cơ sở phân chia khác nhau Vì vậy mà thế giới quan được chia ra thành các loại khác nhau

Trang 7

- Nếu xuất phát từ mục đích là xác định rõ thái độ, lập trường, quan điểm của con người và xã hội đối với đời sống tín ngưỡng của họ thì thế giới quan được chia ra thành thế giới quan vô thần và thế giới quan hữu thần Thế giới quan vô thần là thế giới quan phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, của chúa… Tức là phủ nhận sự tồn tại của những lực lượng siêu nhiên Còn thế giới quan hữu thần là thế giới quan xác nhận sự tồn tại của các lực lượng siêu tự nhiên (như thần thánh, chúa…) trong thế giới Những lực lượng này ngự trị trong tự nhiên, trong xã hội và trong đời sống của con ngườ, nó chi phối đời sống của con người.

- Nếu xuất phát từ mục tiêu tìm hiểu đúng đắn bản chất, những mối liên

hệ có tính quy luật trong sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng, để đạt tới một trình độ nhất định và có thái độ cư xử khoa học đối với các sự vật, hiện tượng đó thì thế giới quan lại được chia ra làm hai loại là thế giới quan phản khoa học và thế giới quan khoa học Thế giới quan phản khoa học là thế giới quan chứa đựng những quan niệm không đúng đắn về bản chất của các sự vật, hiện tượng phản ánh sai lệch hoặc xuyên tạc bản chất, quy luật vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng Ví dụ: thế giới quan tôn giáo hay thế giới quan hữu thần Đâylà những loại thế giới quan phản ánh

hư ảo, xuyên tạc thế giới hiện thực Còn thế giới khách quan khoa học là thế giới quan đưa ra những quan niệm đúng đắn về bản chất và quy luật vận động, phát triển của thế giới, chẳng hạn thế giới quan duy vật biện chứng Bởi

vì, thế giới quan này đã đưa ra quan niệm đúng đắn về bản chất của thế giới,

về những quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Những quan niệm đó phù hợp với tự nhiên, với xã hội và với con người Nó

có tác dụng định hướng đúng đắn cho hoạt động của con người trong việc nhận thức và cải tạo thế giới

- Khi xuất phát từ chủ định phân kỳ lịch sử phát triển của xã hội loài người, để tìm hiểu quy luật vận động của nó thông qua những quan hệ kinh tế trong xã hội, (vì quan hệ này quyết định các quan hệ xã hội khác), người ta dựa vào hình thái kinh tế – xã hội để phân chia thế giới quan thành năm loại

Trang 8

khác nhau là thế giới quan chiếm hữu nô lệ, thế giới quan phong kiến, thế giới quan tư bản và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa Đây là những loại thế giới quan đặc trưng cho mỗi một xã hội ở trong lịch sử

- Nếu xuất phát từ việc tìm hiểu cách giải quyết khác nhau vấn đề cơ bản của triết học để tìm ra quy luật của sự vận động và phát triển của triết học thì người ta lại chia thế giới quan ra thành thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm Đây là hai loại thế giới quan đặc trưng và có quan hệ đối lập nhau trong triết học Chúng ta sẽ nghiên cứu chúng ở phần sau

- Nếu xuất phát từ việc nghiên cứu lợi ích của các tập đoàn người khác nhau trong xã hội thì người ta lựa chọn tính giai cấp để phân chia thế giới quan ra thành thế giới quan thống trị và thế giới quan bị trị Thế giới quan thống trị là thế giới quan của giai cấp giữ địa vị chi phối toàn bộ các giai cấp khác ở trong xã hội đó Ví dụ: thế giới quan phong kiến là thế giới quan thống trị trong xã hội phong kiến Thế giới quan tư sản là thế giới quan thống trị trong xã hội tư bản Còn thế giới quan bị trị là thế giới quan của các giai cấp chịu sự chi phối của giai cấp thống trị trong xã hội Ví dụ: thế giới quan nô lệ

là thế giới quan bị trị trong xã hội chiếm hữu nô lệ Bởi vì giai cấp này tồn tại dưới sự nô dịch của giai cấp chủ nô

Trong điều kiện hiện nay đang tồn tại hai giai cấp cơ bản trong xã hội là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Vì vậy mà tồn tại hai loại thế giới quan đối lập nhau là thế giới quan tư sản và thế giới quan vô sản

Thế giới quan mà trong đó cơ sở, nền tảng lý luận của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin được gọi là thế giới quan Macxit hay thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, thế giới quan duy vật biện chứng Đó là thế giới quan khoa học, cách mạng và triệt để nhất trong lịch sử bởi vì nó đưa ra quan niệm đúng đắn về những quy luật chung nhất của tự nhiên, khoa học xã hội nhân văn và thực tiễn kiểm nghiệm tính chân lý vốn có của mình

Chú ý: Khi phân chia ra các loại thế giới quan đó, không nên hiểu một cách máy móc, áp đặt một cách rập khuôn, miễn cưỡng mà cần phải căn cứ vào những tiêu chí cụ thể để phân chia các loại thế giới quan

Trang 9

Ví dụ: Không thể quy thế giới quan tư sản là thế giới quan duy tâm Khi xem xét các vấn đề của chủ nghĩa tư bản thì đừng vội quy tư sản là duy tâm

cả, mà phải nhìn nhận kỹ càng, khách quan Bởi vì thế giới quan tư sản có thể có duy vật - duy vật đến thực dụng để tồn tại và cạnh tranh Nó cũng thay đổi để phù hợp

+ Thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau

+ Thế giới quan luôn luôn gắn liền với phương pháp luận thì mới có tác động vào sự vật Triết học duy vật biện chứng không chỉ là giải thích thế giới

mà còn là cải tạo thế giới

II SỰ ĐỐI LẬP GIỮA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ THẾ GIỚI QUAN

DUY TÂM TRIẾT HỌC.

1 Vấn đề cơ bản của triết học

Như đã nói ở trên, sự hình thành và tồn tại hai loại thế giới quan khác nhau, đối lập nhau là thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm, là dựa vào việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Vậy vấn đề cơ bản của triết học là gi? Tại sao đó lại là vấn đề cơ bản của triết học và vấn đề cơ bản của triết học có cấu trúc như thế nào?

Thế giới về đại thể được chia ra theo hai lĩnh vực khác nhau, có quan

hệ với nhau đó là lĩnh vực vật chất (tự nhiên, tồn tại) và lĩnh vực ý thức (tinh thần, tư duy) Mối quan hệ giữa hai lĩnh vực đó được xác định là vấn đề cơ bản của triết học Nói cách khác, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức (hay giữa tự nhiên và tinh thần, giữa tồn tại

và tư duy) Điều này đã được Ph Ăngghen xác định trong tác phẩm “Lútvích phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” rằng, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa

tư duy và tồn tại”

Tại sao đó lại là vấn đề cơ bản của triết học?

Trang 10

Sở dĩ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được coi là vấn đề cơ bản của triết học bởi vì: Đây là vấn đề mà mọi trào lưu triết học đều phải giải quyết Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung của triết học Việc giải quyết vấn đề đó theo kiểu nào sẽ quyết định giải quyết tất cả vấn đề khác theo kiểu đó Hơn nữa việc giải quyết vấn đề ấy sẽ định ra tiêu chuẩn để phân biệt các trào lưu triết học trong lịch sử là duy vật hay duy tâm.

Cấu trúc của vấn đề cơ bản của triết học: Vấn đề cơ bản của triết học bao gồm 2 mặt:

- Thứ nhất, giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

- Thứ hai, con người có thể nhận thức được thế giới hay không?

2 Các cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học:

Khi giải quyết mặt thứ nhất: giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào thì tuỳ theo việc lựa chọn cách giải quyết nào mà triết học phân ra thành thế giới quan duy tâm và thế giới quan duy vật

- Thế giới quan duy tâm là một trào lưu lớn trong lịch sử triết học Thế giới quan này khẳng định trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì ý thức

là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất Thế giới quan duy tâm lại được chia ra hai loại là thế giới quan duy tâm chủ quan và thế giới quan duy tâm khách quan

+ Thế giới quan duy tâm chủ quan cho rằng cảm giác, ý thức của con người là cái có trước, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Họ coi các sự vật, hiện tượng chỉ là sự phức hợp của những cảm giác Những màu sắc, mùi vị và những đặc tính khác nhau khác của sự vật chẳng qua chỉ là những cảm giác của con người; của “cái tôi” cảm nghĩ mà thôi Quan niệm duy tâm đó không trách khỏi dẫn đến cái gọi là chủ nghĩa duy ngã Đại diện cho thế giới quan duy tâm khách quan là Béccơli và Đêcáctơ

Trang 11

Bởi vì: Béccơli cho rằng “Sự vật là sự phức hợp của những cảm giác” Còn Đềcáctơ khẳng định “Tôi tư duy thì tôi tồn tại”.

+ Thế giới quan duy tâm khách quan lại cho rằng ý thức, ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là cái có trước vật chất Chúng tồn tại khách quan, độc lập với con người, không phụ thuộc vào con người, vào sự vật Nó quyết định sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và con người Tất cả các sự vật, hiện tượng và cả con người nữa đều là sự hiện thân của “ý niệm” hay “ý niệm tuyệt đối” Đại diện cho thế giới quan duy tâm khách quan là Platon và Hêghen Bởi vì theo Platon thì “Sự vật hình ảnh là cái bóng của ý niệm” Còn Hêghen coi “ý niệm tuyệt đối tồn tại tự nó và vì nó” “Sự vật là kết quả của sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối”

- So sánh thế giới quan duy tâm chủ quan và thế giới quan duy tâm khách quan:

- Tuy có khác nhau về hình thức thể hiện, song về bản chất của chúng

có sự thống nhất Bởi vì cả thế giới quan duy tâm chủ quan và thế giới quan duy tâm khách quan đều thừa nhận ý thức là cái có trước và quyết định vật chất

- Thế giới quan duy tâm tuy có yếu tố hợp lý nhưng về cơ bản là lý luận triết học sai lầm

Có hai nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện và sai lầm đó là nguyên nhân

về nhận thức và nguyên nhân về xã hội

- Về nhận thức: Do cường đại hoá, khuếch đại, thổi phồng, tuyệt đối hoá yếu tố ý thức, nhận thức Khi nhận định về lý do này, Lênin đã viết: “Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học

là một sự phát triển (một sự thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái hoá … của một trong những đặc trưng của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi

tự nhiên, thần thánh hoá”

Trang 12

- Về nguồn gốc xã hội: Do sự áp bức giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị sử dụng thế giới quan duy tâm làm vũ khí tinh thần để ru ngủ quần chúng, duy trì và củng cố địa vị thống trị của chúng trong

xã hội

- So sánh thế giới quan duy tâm và thế giới quan tôn giáo:

+ Giống nhau: cả hai loại đều thừa nhận ý thức (tinh thần) có trước + Khác nhau: Về hình thức thể hiện:

Thế giới quan tôn giáo: Dựa vào lòng tin thuần tuý, lấy lòng tin thay cho tri thức

Thế giới quan duy tâm: Dựa vào lý trí, vào tri thức bao gồm một hệ thống khái niệm có tính lý luận

Thế giới quan tôn

giáo: Cảm nhận

phi hiện thực, vô

minh, ảo tưởng

Thế giới quan duy tâm: có tính

lý trí, có tri thức

Thế giới quan tôn giáo: Niềm tin mù quáng

Thế giới quan duy tâm: Tri thức

lý luận có hệ thống

Mối quan hệ giữa thế giới quan tôn giáo và thế giới quan duy tâm:

- Thế giới quan tôn giáo và thế giới quan duy tâm là hai loại thế giới quan khác nhau Nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại lẫn nhau Sự quan hệ đó là quan hệ song hành với cùng một mục đích, một bản chất Tôn giáo là sự biểu hiện đặc thù của thế giới quan duy tâm Còn thế giới quan duy tâm là cơ sở triết học của tôn giáo Vì vậy trong lịch sử phát triển triết học chúng thường liên minh với nhau để chống lại thế giới quan duy vật

- Thế giới quan duy vật cho rằng, trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái có sau Vật chất quyết định

ý thức Tính chất quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện ở chỗ:

Trang 13

Vật chất có trước, sinh ra ý thức Sự vật như thế nào thì ý thức hư thế ấy Sự vật thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo.

- Thế giới quan duy vật có 3 hình thái phát triển là:

+ Thế giới quan duy vật chất phác thời cổ đại: Hêracơlít

+ Thế giới quan duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII: Bê Cơn

+ Thế giới quan duy vật biện chứng: Mác, Ăngghen, Lênin

Trong lịch sử phát triển triết học thì CNDV và CNDT là hai dòng phái lớn, hai loại thế giới quan đối lập nhau, luôn luôn đấu tranh với nhau Nó thể hiện tính Đảng trong triết học vì đó là hai loại tư tưởng của hai giai cấp đối lập nhau trong xã hội

Khi giải quyết mặt thứ hai: Con người có thể nhận thức được thế giới hay không, đã xuất hiện hai học thuyết, hai loại thế giới quan khác nhau là thế giới quan bất khả tri và thế giới quan khả tri

- Thế giới quan bất khả tri là thế giới quan triết học phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người Đại diện cho thế giới quan này là Đavít Hium, Cantơ và Đề cáctơ Bởi vì Đavít Hium cho rằng “Con người không thể nhận thức được sự vật” Trong khi đó Cantơ khẳng định “Con người không nhận thức được cái bản chất của vật tự nó” Còn Đềcáctơ thì

“hoài nghi sự nhận thức”của con người

- Thế giới quan khả tri là thế giới quan triết học khẳng định khả năng nhận thức được thế giới của con người Không có cái gì con người không thể nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thức được mà thôi

III BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG:

1 Cơ sở hình thành thế giới quan duy vật biện chứng: Sự hình thành

và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng dựa trên những cơ sở sau đây:

- Những thành tựu lý luận, thực tiễn và khoa học

Trang 14

- Đó là triết học duy vật biện chứng Để có được thế giới quan duy vật biện chứng phải có tri thức triết học duy vật biện chứng (triết học Macxit) Nó

kế thừa và phát triển những yếu tố đúng đắn và hợp lý trong các quan điểm, quan niệm của các thế giới quan khác nhau

Nó được xây dựng bởi các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin

2 Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học vì nó giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học trên quan điểm thực tiễn

- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học

- Đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận nhận thức

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa quan niệm duy vật và phép biện chứng:

Quan niệm duy vật Phép biện chứngTrước Mác Sai – phiến diện, tách rời nhau

- Thế giới quan duy vật Macxít: Duy vật và biện chứng về cả tự nhiên,

xã hội và tư duy

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, thống nhất giữa hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại với lý luận khoa học

- Tính khoa học

- Tính cách mạng

- Hệ tư tưởng tiên tiến nhất thời đại

Trang 15

- Lý luận khoa học

=> Không tách rời nhau - thống nhất với nhau

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan của giai cấp vô sản cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới

Tóm lại: thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học tiên tiến, triệt để và cách mạng

Người cộng sản chân chính, mọi nhà khoa học chân chính đang hoạt động trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hoá, khoa học, nghệ thuật…cần phải được trang bị thế giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Có như vậy mới đạt hiệu quả cao và đúng đắn trong công tác của mình

IV VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG

HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN.

Thế giới quan có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người

- Nó là lăng kính mà qua đó con người xem xét, nhìn nhận thế giới một cách đúng đắn, đưa ra được sự giải thích khoa học các hiện tượng nảy sinh trong tự nhiên và xã hội Chẳng hạn, hiện tượng khủng hoảng của chủ nghĩa

xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu

Như chúng ta đã biết, sau chính biến ngày 19 tháng 8 năm 1991, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã lâm vào sự khủng hoảng Nguyên nhân của sự khủng hoảng đó là do quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước này đã vận dụng một cách máy móc, giáo điều học thuyết Mác – Lênin

về chủ nghĩa xã hội Họ muốn “đi tắt” đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mà bỏ qua những bước quá độ tất yếu của quá trình xây dựng chủ nghĩa

xã hội hiện thực Chính những sai lầm đó đã đưa chủ nghĩa xã hội lâm vào sự khủng hoảng và đổ vỡ Đứng trước những sự kiện đó, một số trường phái duy tâm và siêu hình ở một số nước đã dao động, không tin vào chủ nghĩa xã hội Họ còn cho rằng chủ nghĩa xã hội là ảo tưởng, phi hiện thực Nó đã bị tan

rã và thất bại Nhưng nếu dừng lại ở sự nhận thức siêu hình như vậy sẽ dẫn

Trang 16

tới mất niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng mới cho chúng ta cách nhìn toàn diện và đánh giá đúng đắn về chủ nghĩa xã hội hiện nay.

Thế giới quan duy vật biện chứng cho rằng chủ nghĩa xã hội hiện nay đang từng bước đi đúng bước và phát triển Nó sẽ thành công trong tương lai, mặc dù nó chỉ được theo đuổi ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba… Nhưng chắc chắn các nước này sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Thời gian là bao nhiêu, dài hay ngắn, điều đó tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước Còn hệ thống chủ nghĩa xã hội đã tồn tại trước đây, tuy có đổ vỡ nhưng đó chỉ là một hiện tượng tạm thời, chỉ là bước quanh

co trong sự phát triển của xã hội Chính sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội đó đã để lại một bài học vô cùng to lớn đối với các nước đi sau, giúp cho các nước này có được những kinh nghiệm nhất định trong việc kiên trì con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình Bởi đây là xã hội tốt đẹp, hợp với những qui luật phát triển khách quan của lịch sử Nó thống nhất hữu cơ giữa khát vọng giải phóng của con người và loài người với mong muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phản ánh bản chất tốt đẹp của con người trong một xã hội hiện thực

- Nó định hướng cuộc sống, chi phối nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Thế giới quan đúng – hoạt động đúng Thế giới quan sai – hoạt động sai

- Nó là tiêu chí quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách của con người

- Muốn có thế giới quan đúng đắn phải có tri thức khoa học- niềm tin - định hướng hành động đúng

V BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC, CHỐNG NHỦ NGHĨA

CHỦ QUAN

1 Tính tất yếu của việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học

Trang 17

- Khẳng định: Thế giới quan khoa học chỉ là thế giới quan duy vật biện chứng.

- Muốn hoạt động có hiệu quả trên các lĩnh vực của đời sống vật chất

và tinh thần của xã hội cần phải có thế giới quan đúng đắn, khoa học – thế giới duy vật biện chứng

2 Nội dung của việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học

- Nâng cao sự hiểu biêt các tri thức khoa học vì tri thức khoa học là yếu

tố cơ bản, quyết định thế giới quan Tri thức đúng là cơ sở để có thế giới quan đúng đắn, khoa học Tri thức sai sẽ có thế giới quan phản khoa học Đặt biệt phải nâng cao sự nhận thức về triết học Mác - Lênin vì:

+ Triết học Mác - Lênin là tri thức quan trọng nhất, quyết định sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng (đây là điều kiện đủ)

+ Không có triết học Mác - Lênin không thể có thế giới quan khoa học

- Củng cố và nâng cao sự hiểu biết học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản

- Nâng cao ý chí quyết tâm, phấn đấu cho sự nhgiệp giải phóng nhân loại, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp bức bất công Thực hiện thắng lợi

sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc

- Bồi dưỡng tình cảm cách mạng trong sáng và lý tưởng cao cả

Trang 18

- Chống chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí

- Phấn đấu dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện khẩu hiệu “giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” hướng theo mục tiêu xây dựng chủ nghĩa cộng sản

- ở nước ta, trước mắt xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập,

“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Triết học” tập 3 (dùng cho nghiên cứu sinh

và cao học không thuộc chuyên ngành triết học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Giáo trình triết học mác – Lênin”(dùng trong các trường đại học và cao đẳng), Nxb Chính trị Quốc gia, 2002

3 Nguyễn Trọng Chuẩn: “Sinh học và thế giới quan”, Tạp chí Triết học,

6 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974 - 1981, các tập: 1,

18, 29, 26, 33

Trang 19

7 C Mác và Ăngghen: Toàn bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 – 1996, các tập: 1,3,4,13,18,21,23.

8 M.Rôdentan và P Iuđin chủ biên: “Từ điển triết học”, Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1976

9 “Từ điển triết học”, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1986 (tiếng việt)

10 Viện triết học: “Chủ nghĩa Mác – Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Chuyên đề 2 PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT - PHƯƠNG PHÁP LUẬN NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

I KHÁI NIỆM PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÉP

BIỆN CHỨNG.

1 Khái niệm phép biện chứng.

- Biện chứng và siêu hình: Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung nhất của tư duy

Phương pháp siêu hình là phương pháp:

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lập nhau có một ranh giới tuyệt đối

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự biến đổi thì đó chỉ

là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhân của sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng

Phương pháp siêu hình là phương pháp “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và

sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”

Trang 20

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng trước hết phải tách đối tượng ấy ra khỏi những mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian, thời gian xác định Phương pháp siêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định, vượt ra khỏi phạm vi đó tư duy siêu hình sẽ mắc phải sai lầm

Phương pháp biện chứng là phương pháp:

+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc lẫn nhau

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quá trình thay đổi về chất của các

sự vật hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những bối cảnh xác định thì bên cạnh cái “hoặc là …hoặc là” còn

có cả cái “vừa là …vừa là” Nó thừa nhận một chỉnh thể trong cùng một lúc vừa là nó lại vừa không phải là nó, cái khẳng định và cái phủ định vừa là loại trừ nhau lại vừa thống nhất với nhau trong sự tồn tại, vận động, biến đổi của

sự vật

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

- Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

Biện chứng khách quan: là biện chứng của sự vật, của thế giới hiện thực khách quan, nó nói lên bản chất sự tồn tại của sự vật là trong những mối liên hệ phổ biến và trong sự vận động, phát triển

Biện chứng chủ quan: là biện chứng của tư duy, của hoạt động nhận thức của con người, nó nói lên bản chất của quá trình nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng khách quan vào trong đầu óc con người một cách năng động, sáng tạo Đó là quá trình phức tạp và mâu thuẫn, trong đó các giai đoạn

Trang 21

của sự nhận thức không tách rời nhau mà có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Con đường biện chứng của sự nhận thức là “từ trực quan sinh động tới tư duy trừu tượng và tư duy trừu tượng tới thực tiễn” Về bản chất, biện chứng chủ quan là sự phản ánh của biện chứng khách quan.

- Phép biện chứng

Ănghen đã đưa ra định nghĩa phép biện chứng: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động

và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

Phép biện chứng đối lập với phép siêu hình được tạo thành bởi hệ thống quan điểm xem xét sự vật trong trạng thái biệt lập, ngưng đọng, tĩnh tại với một tư duy cứng nhắc

2 Khái quát lịch sử phát triển của phép biện chứng

a Phép biện chứng chất phác thời cổ đại.

Đây là hình thức đầu tiên trong lịch sử phát triển của phép biện chứng Phép biện chứng cổ đại, kể cả trong triết học phương Đông lẫn phương Tây đều xem xét mọi sự hiện tượng của vũ trụ trong sự sinh thành, biến hoá và trong những mối liên hệ vô cùng, vô tận Tuy còn mang tính chất tự phát, ngây thơ, mới chủ yếu dựa trên những phỏng đoán, những trực kiến thiên tài chứ chưa phải chủ yếu dựa trên kết quả của nghiên cứu khoa học nhưng căn bản là đúng Phép biện chứng tự phát thời cổ đại đã phác hoạ ra được bức tranh chung về thế giới trong tác động qua lại chằng chịt lẫn nhau giữa các bộ phận, các yếu tố của chúng Phép biện chứng cổ đại đã đặt nền móng cho sự hình thành phát triển của các quan điểm biện chứng về thế giới trong nhiều thế kỷ sau

b Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức

Đây là hình thức thứ hai của lịch sử phép biện chứng, gọi là phép biện chứng duy tâm Đỉnh cao của hình thức này được thể hiện trong triết học cổ điểm Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học

Trang 22

Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng Tuy nhiên, theo họ, biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc ở tinh thần nên nó dựa trên thế giới quan duy tâm Phép biện chứng cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao, nhưng với hạn chế duy tâm, nó chưa thể trở thành cơ sở lý luận cho một thế giới quan khoa học.

c Phép biện chứng duy vật

Đây là hình thức cao nhất trong lịch sử phép biện chứng Phép biện chứng duy vật được Mác và Ăngghen xây dựng, sau đó được Lênin phát triển Mác và Ăngghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng cổ điển Đức(trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen) Mác và Ăngghen đã cải tạo lại một cách căn bản phép biện chứng của Hêghen, trên cơ sở những thành tựu lý luận, khoa học của nhân loại, trên cơ sở đúc kết từ thực tiễn xã hội, các ông đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật, hình thức cao nhất cao nhất của phép biện chứng

Phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất Nó bao gồm một hệ thống các nguyên lý, phạm trù và quy luật; nó đồng thời là lý luận nhận thức và logic học của chủ nghĩa Mác, có sự thống nhất trong nó giữa tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn, trở thành phương pháp luận chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và thức tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội của con người

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT - TÍNH

KHOA HỌC VÀ TÍNH CÁCH MẠNG CỦA NÓ.

1 Nguyên nhân về mối liên hệ phổ biến.

a Nội dung của nguyên lý

Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được dặt ra là: các sự vật hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua

Trang 23

lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?

Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyển hoá lẫn nhau; nếu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài Hạn chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên ranh giới giả tạo giữa các sự vật hiện tượng Hạn chế này có nguồn gốc bởi phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đoạn sưu tập tài liệu Phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra được cái chung, cái bản chất, quy luật của sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới

Đối lập với quan điểm siêu hình, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Thế giới như một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật hiện tượng tồn tại trong những mối liên hệ phổ biến

Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm (duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan) cho rằng cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng là một lực lượng tinh thần siêu nhiên hoặc cảm giác, ý thức của con người

Còn quan điểm duy vật biện chứng thì khẳng định cơ sở của những mối liên hệ phổ biến là quan điểm đứng đắn khoa học vì nó đã dựa trên sự đúc kết những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên thế kỉ XIX và kế thừa một cách xuất sắc các giá trị tư tưởng, lý luận trong tư duy triết học biện chứng của nhân loại Cơ bản hơn, nó đã phản ánh đúng đắn bản chất của sự tồn tại của thế giới

Nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ bản sau:

Trang 24

+ Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bộ phận, yếu tố trong cùng một sự vật hiện tượng luôn tồn tại trong sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng.

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới, biểu hiện trong tất cả các quá trình tự nhiên, xã hội, tư duy Sự vật hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập và sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:

Bất cứ sự vật hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài những mối liên hệ Các mối liên hệ biểu hiện dưới các hình thức riêng biệt, đa dạng, phong phú tuỳ theo điều kiện nhất định Song dù dưới hình thức nào thì chúng cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng đó thành từng loại tuỳ theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp…mà có thể khái quát thành những mối liên hệ khác nhau

b Các mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng.

Các mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng trong thế giới được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng

+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng

+ Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả

+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng

Trang 25

+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức

+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực…

2 Nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật.

a Nội dung của nguyên lý

Giải thích về bản chất của sự tồn tại của thế giới, câu hỏi đặt ra là: thế giới tồn tại như thế nào, đứng im, vĩnh viễn, bất biến hay vận động, biến đổi? Nếu vận động biến đổi thì diễn ra như thế nào? Có hai quan điểm đối lập nhau:

+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, không có sự thay đổi gì về chất Sự vật ra đời với những chất nào thì cứ giữ nguyên trong suốt quá trình tồn tại Hoặc nếu có sự thay đổi thì cũng chỉ là diễn ra trong một vòng khép kín Phát triển chỉ là sự thay đổi về lượng của sự vật, không có sự ra đời cái mới với những chất mới Phát triển được hiểu như là một quá trình tiến lên liên tục, không có những quanh co, thăng trầm phức tạp

+ Quan điểm biện chứng xem phát triển là một quá trình vận động đi lên

từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa đến sự

ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển diễn ra cả ở trong tự nhiên,

xã hội, tư duy Dù ở lĩnh vực nào, quá trình phát triển không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời

Về nguồn gốc của sự phát triển, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật.Đó là những mău thuẫn bên trong của chính sự vật qui định Phát triển là quá trình tự thân, là

sự giải quyết liên tục những mâu thuẵn bên trong của sự vật Quan điểm này đối lập với quan điểm duy tâm tôn giáo, tìm nguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, thượng đế, các lực lượng siêu nhiên hay ý thức của con người

Về thực chất của sự phát triển, theo quan niệm duy vật biện chứng, sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ một quá trình vận động tiến

Trang 26

lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.

Về hình thức thể hiện sự phát triển cũng rất khác nhau tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của những dạng vật chất.(ví dụ: sự phát triển ở giới vô cơ khác ở giới hữu cơ, sự phát triển của tự nhiên khác sự phát triển của đời sống xã hội hay của tư duy)

Về cách thức của sự phát triển: đi từ tuần tự đến nhảy vọt, từ thay đổi

về lượng dẫn đến biến đổi ở trình độ cao hơn về chất

Về xu hướng của sự phát triển: sự phát triển dẫn đến sự vật mới ra dời thay thế sự vật cũ diễn ra không ngừng trong tự nhiên, xã hội và tư duy Ở từng trường hợp cá biết thì có sự vận động đi lên, tuần hoàn, hoặc đi xuống Song xét trong cả quá trình vận động thì khuynh hướng chung là khuynh hướng phát triển, tức là sự vận động đi lên

Tính chất của sự phát triển: Sự phát triển của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới có những tính chất sau:

- Tính khách quan: phát triển là khuynh hướng tất yếu của thế giới vật chất

- Tính phổ biến: phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực của thế giới, trong tự nhiên, xã hội và tư duy

- Tính đa dạng phong phú: mỗi sự vật hiện tượng có quá trình phát triển khác nhau; không gian, thời gian, điều kiện khác nhau thi sự phát triển cũng thể hiện ra theo những cách khác nhau; trong quá trình phát triển của một sự vật, do những mối quan hệ tác động, bên trong, bên ngoài theo chiều hướng khác nhau cũng làm cho sự phát triển diễn ra theo hướng này hoặc theo hướng khác

Dù thăng trầm phức tạp, dù biểu hiện cụ thể vô cùng đa dạng, phong phú, khuynh hướng chung của sư vận động biến đổi của mọi sư vật trong thế giới vẫn là khuynh hướng đi lên

Trang 27

b Các quy luật cơ bản của sự phát triển

Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng - chất) Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động phát triển Cách thức đó là: Bất kỳ sự vật hay hiện tượng nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng Trong sự vật, sự quy định về lượng không bao giời tồn tại nếu không có quy định về chất và ngược lại Chất và lượng thống nhất với nhau nhưng thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau trong quá trình vận động, biến đổi sự vật Mọi sự biến đổi của sự vật đều bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Sự thay đổi về lượng của sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với sự thay đổi về lượng của nó Khi sự vật còn là nó chưa biến thành cái khác, chất và lượng thống nhất với nhau trong “độ” “Độ” chính

là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy “Độ” nói lên mối liên hệ giữa lượng và chất của sự vật ấy Trong giới hạn “độ”, sự thay đổi về lượng chỉ tác động làm thay đổi trạng thái của chất chứ chưa làm biến đổi căn bản chất của sự vật Khi lượng của sự vật thay đổi vượt quá giới hạn “độ”, tới điểm “nút”, sẽ diễn

ra sự biến đổi căn bản về chất, chất mới ra đời thay thế chất cũ Lượng mới

và chất mới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên “độ” mới và điểm “nút” mới, trong đó lại tiếp tục diễn ra quá trình biến đổi về lượng để dẫn tới quá trình biến đổi về chất Quá trình này diễn ra liên tiếp làm cho mọi sự vật hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi không ngừng Cơ chế của sự vận động biến đổi là vừa có sự biến đổi dần dần về lượng, vừa có sự nhảy vọt về chất

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm trong

đó những mặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn của sự vật Các mặt đối lập không chỉ tồn tại trong quan hệ thống nhất mà luôn tác động qua lại lẫn nhau theo xu hướng bài trừ và phủ

Trang 28

định lẫn nhau, gọi là đấu tranh của các mặt đối lập Trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập, mâu thuẫn được hình thành, biến đổi, phát triển Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, theo khuynh hướng trái ngược nhau của các mặt đối lập Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và biến đổi Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ mất đi, thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi,sự vật mới ra đời Như vậy đấu tranh giữa các mặt đối lập gắn với quá trình phát sinh, phát triển giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển.

Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên của sự vật Đó là sự phát triển diễn ra theo con đường xoáy trôn ốc Hình ảnh đường xoáy trôn ốcvừa diễn tả tính chất liên tiếp, tính chất chu kỳ, tính quanh co phức tạp của sự phát triển Sự phát triển diễn ra không thẳng tắp theo đường thẳng mà thăng trầm, phức tạp.Sau mỗi chu kỳ của sự phát triển,

sự vật dường như lặp lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn.Sự phát triển bao giờ cũng mang tính khách quan và tính kế thừa, dẫn đến sự ra đờicủa cái mới, kế thừa những yếu tố phù hợp, tích cực trong cái cũ nhưng ở một trình

độ cao hơn, tiến bộ cao hơn so với cái cũ

3 Tính khoa học và tính cách mạng của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật mang tính khoa học và tính chất cách mạng sâu sắc.Tính khoa học và tính cách mạngcủa phép biện chứng duy vật thống nhất với nhau bởi vì phép biện chứngg duy vật là học thuyết “về sự phát triển dưới hình thức hoàn bi nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện”

Phép biện chứng duy vật về bản chất có tính phê phán và cách mạng Đối với phép biện chứng duy vật “không có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả.Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tất yếu, và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của

sự hình thành và sự tiêu vong của sự tiến triển vô cùng vô tận từ thấp đến cao.” Bản chất cách mạng của phép biện chứng duy vật thể hiện ở chỗ, trong

Trang 29

khi đưa ra quan niệm về tính hợp lý của cái hiện tồn thì đồng thời cũng bao hàm trong nó quan niệm về sự diệt vong tất yếu của cái hiện tồn đó Phép biện chứng duy vật chống lại mọi quan điểm bảo thủ, trì trệ Chính quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn bên trong sự vật, quá trình tích luỹ dần dần về lượng, đến một giới hạn nhất định, khi điều kiện chín muồi, tất yếu dẫn đến

sự tự phủ định của sự vật, làm cho sự vật phát triển lên một giai đọan mới cao hơn, tiến bộ hơn về chất

Với bản chất cách mạng sâu sắc và triệt để, được thể hiện trong những nguyên lý, các cặp phạm trù và những quy luật của mình, phép biện chứng duy vật đã vạch ra biện chứng của quá trình phát triển, với nội dung và hình thức hết sức phong phú Nó là cơ sở phương pháp luận, chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp cách mạng khoa học và đúng đắn Bất cứ hành động cách mạng nào, nếu xa rời những quan điểm và nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, thì sớm muộn gì cũng sẽ phải trả giá cho điều đó Như vậy, đối vối mọi người cách mạng phép biện chứng duy vật trở thành công cụ quan trọng bậc nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân

Cánh mạng là quá trình xóa bỏ cái cũ, lỗi thời và xác lập cái mới, tiến

bộ hơn Với bản chất ấy, cách mạng không phải là quá trình thẳng tắp, trơn tru, mà là một quá trình khó khăn, phức tạp, quanh co, thậm chí có sự tụt lùi tạm thời nhưng cuối cùng cái mới tiến bộ hơn là cái chiến thắng Quan điểm

đó của phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học để xác định tinh thần lạc quan cách mạng, giữ vững niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù hiện nay chủ nghĩa xã hội thế giới đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chưa bao giờ tình hình thế giới lại phức tạp như ngày nay Trong bối cảnh ấy, sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta lại gặp nhiều khó khăn và phức tạp Đó là một thử thách to lớn đối với Đảng và dân tộc ta Chính sự nghiệp đổi mới ngày càng đặt ra nhiều vấn

đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần phải được giải quyết… Nhưng chính tình hình càng phức tạp lại càng đòi hỏi phải nắm vững phép biện

Trang 30

chứng duy vật, cần mài sắc tư duy biện chứng để nhận thức đúng những biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước ta trong giai đoạn hiện nay

Lênin là người nêu tấm gương sáng về việc nắm vững và vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật trong việc nhận định khả năng và đề ra phương pháp tiến hành cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cũng như vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật để vạch ra “chính sách kinh tế mới” – cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện một nước kém phát triển Ngày nay, học tập Lênin, việc nắm vững các biện chứng duy vật và mài sắc tư duy biện chứng, sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ tính chất biện chứng chung của thế giới cũng như của công cuộc đổi mới ở nước ta Từ đó giúp chúng ta xác định phương pháp nhận thức và hành động đúng đắn

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại phát triển như vũ bão, bắt đầu từ sau Đại chiến thế giới thứ hai Những thành tựu vĩ đại của nó được nhanh chóng áp dụng vào đời sống xã hội, đem lại bước phát triển kỳ diệu của nhân loại, đưa loài người lên trình độ văn minh mới - văn minh trí tuệ Nền văn minh mới là một bằng chứng sống chỉ rõ sự phát triển biện chứng của xã hội vẫn là một quá trình lịch sử tự nhiên hướng tới lý tưởng cao đẹp

mà học thuyết Mác-Lênin đã vạch ra Đó là lí tưởng xã hội chủ nghĩa, là lý tưởng giải phóng con người, thực hiện sự bình đẳng, công bằng để đem lại

“sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất

cả mọi người”

Tuy nhiên, những hình thức và con đường thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, ngay cả khi chủ thể không mắc phải sai lầm chủ quan, cũng không phải là những công thức có sẵn và càng không phải là bất biến Nghĩa là, chúng phải được vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo và luôn luôn đổi mới, phù hợp với điều kiện quốc tế và điều kiện của mỗi nước Như vây, để đi lên chủ nghĩa xã hội, các nước khác nhau có thể áp dụng những mô hình phương pháp và biện chứng khác nhau Những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, những biến đổi mới trong hệ thống các nước tư

Trang 31

bản chủ nghĩa và tình hình mới đang tạo ra những tiền đề cho quá trình lựa chọn đó

Trong khi thích nghi với điều kiện, thời đại ngày nay để tiếp tục phát triển, để khắc phục những mâu thuẫn gay gắt trong hệ thống nói chung và trong từng nước nói riêng, để giải quyết những vấn đề toàn cầu đang ảnh hưởng tới sự sống còn của chủ nghĩa tư bản, các nước tư bản chủ nghĩa buộc phải đẩy nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật, vận dụng nhanh những tiến bộ ấy vào đời sống xã hội trước hết vào lĩnh vực quân sự và kinh tế, buộc phải thay đổi nhận định các hình thức sở hữu và thực hiện một số chính sách

xã hội vv…Vì thế, chủ nghĩa tư bản đã tạm thời làm dịu đi những mâu thuẫn vốn có của nó Nhưng cũng qua đó, chủ nghĩa tư bản lại tạo ra một cách khách quan những tiền đề cho sự thực hành lý tưởng xã hội chủ nghĩa Những tiền đề ấy là: hình thành nền tảng công nghiệp mới(các công nghệ kỹ thuật cao), hệ thống điều tiết sản xuất và kinh doanh ở mức độ nhất định, trong phạm vi toàn xã hội; các cơ chế phân phối lại thu nhập quốc dân; hệ thống bảo hiểm và các quỹ phúc lợi xã hội; mở rộng sự tham gia của nhân dân lao động vào công việc quản lý,vv… Cũng vì thế chủ nghĩa tư bản hiện đại, tất nhiên vẫn là chủ nghĩa tư bản, nhưng nó đang chuẩn bị những điều kiện tự phủ định chính nó, những điều kiện cho sự chuyển biến lên mặt đối lập của nó là chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, như trên đã phân tích, điều đó không phụ thuộc vào ý muốn của giai cấp cầm quyền, mà là thành quả đấu tranh của đông đảo quần chúng vì hoà bình và tiến bộ xã hội

Thực tế trên đây chứng minh rằng, nếu nhận thức về chủ nghĩa xã hội như là một mặt đối lập tuyệt đối với chủ nghĩa tư bản, không có sự “đồng nhất” nào, hoặc ngược lại, qua hai chế độ xã hội đó không có gì khác nhau, đều là những quan niệm không biện chứng Biện chứng của sự kết hợp các mặt đối lập là sự triển khai cụ thể của sự “đồng nhất” và “thống nhất” của các mặt đối lập Vì vậy, phải căn cứ vào mức độ và trình độ của sự “đồng nhất” và

“thống nhất” của các mặt đối lập để thực hiện các hình thức kết hợp các mặt đối lập, vận dụng các khâu trung gian các bước quá độ cho phù hợp Đó là

Trang 32

phương pháp luận chung về sự kết hợp các mặt đối lập trong sự thống nhất biện chứng.

Ngày nay, sự “đồng nhất” và “thống nhất” của các mặt đối lập ngày càng mở rộng.Những giải pháp khoa học và kỹ thuật tiên tiến, những vấn đề toàn cầu…tạo ra những môi trường thuận lợi cho sự mở rộng đó Đương nhiên không lên lầm lẫn điều đó với thuyết “hội tụ” “Hội tụ” dẫn tới thủ tiêu cách mạng, còn sự “đồng nhất” và “thống nhất” của các mặt đối lập tất yếu dẫn tới cách mạng sâu sắc thông qua những biện pháp cách mạng phong phú, đa dang và uyển chuyển.Vì vậy, ngày nay, bước chuyển biến cách mạng

từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể không mang những hình thái đặc thù: có thể cho phép thực hiện biện pháp hoà bình bên cạnh biện pháp dùng bạo lực cách mạng giành chính quyền: có thể cho phép kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua một hay nhiều giai đoan nào đó trong sự phát triển tư bản chủ nghĩa Nhưng dù với bất cứ đăc thù nào, vẫn phải đảm bảo yêu cầu của tính “lịch sử tự nhiên” trong quá trình vận động cách mạng

Từ một xã hội với một điều kiện một nền kinh tế chậm phát triển, nước

ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Đó là con đường quá độ lâu dài, mà có thể nói, mâu thuẫn cơ bản của nó là mâu thuẫn giữa xu hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản với xu hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn này mới đảm bảo yêu cầu của quá trình lịch sử tự nhiên trong sự phát triển cách mạng nước ta, trong đó, tính chủ động sáng tạo và tự giác của Đảng và Nhà nước ta giữ vai trò quyết định

Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên đây của cách mạng nước ta là quá trình vừa tuân theo sự phát triển tiến hoá dần dần về lượng, vừa tranh thủ những bước phát triển cách mạng nhảy vọt về vật chất; lại vừa kế thừa tất cả những mặt cần thiết “hợp lý” của chủ nghĩa tư bản để phát triển lực lượng sản xuất, lại vừa đấu tranh tích cực để loại bỏ những mặt tiêu cực, mất nhân tính của chủ nghĩa tư bản; vừa biết tích luỹ nội dung, lại vừa phải luôn luôn nhạy bén để cải tạo hình thức cho phù hợp; vừa kết hợp

Trang 33

những giá trị truyền thống của dân tộc với những tiến bộ của nền văn minh mới.

Con dường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi chủ động và

tự giác phát triển và sử dụng chủ nghĩa tư bản làm khâu trung gian, làm phương tiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là hướng chủ nghĩa tư bản vào con đường tư bản nhà nước Đó chính là sự kết hợp tự giác các mặt đối lập thông qua hàng loạt các khâu trung gian và bước quá độ

Cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa hai xu hướng - tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoá trong các cuộc đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn khác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng vv…Bởi vì mâu thuẫn cơ bản là cơ sở nảy sinh và chi phối các mâu thuẫn khác Chính các cuộc đấu tranh giải quyết những mâu thuẫn cụ thể ấy

là quá trình trực tiếp giải quyết mâu thuẫn cơ bản, là cách thức cụ thể nhằm phát huy tổng hợp những yếu tố tích cực, tiến bộ của dân tộc và của thời đại, bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công, đưa sự nghiệp cách mạng nước

ta đến thắng lợi hoàn toàn

III.PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN; CÁC NGUYÊN TĂC

PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.

1.Phương pháp và phương pháp luận.

a Phương pháp:

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ những cách thức, thủ đoạn nhất định, được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã vạch ra Còn theo nghĩa chặt chẽ và khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người

Do đó phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất

Trang 34

bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực Trên cơ sở những điều kiện khách quan đã có, phương pháp càng đúng đắn thì kết quả đạt được càng cao, và ngược lại Ph.Bêcơn, nhà triết học nổi tiếng người Anh, thế kỷ XVII đã ví phương pháp như là chiếc đèn soi đường cho khách lữ hành trong đêm tối Nói về vai trò của phương pháp cách mạng, đồng chí Lê Duẩn viết:

“Phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu một phương hướng và mục tiêu rõ ràng, mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng thích hợp”

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phương pháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động Những người duy tâm xem phương pháp như một phạm trù thuần tuý chủ quan

Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, phương pháp hình thành không phải một cách chủ quan tuỳ tiện Phương pháp không phải

là nguyên tắc có sẵn, bất biến Nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đích đặt ra Để tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tới một cách khách quan Nghĩa là phải vạch rõ những tính chất, chỉ tiêu về số lượng và chất lượng…

Từ đó, nhận thức rõ những quy lụât của nó Chỉ trên cơ sở đó, và sau đó, chủ thể mới xác định được phải nghiên cứu và hành động như thế nào, và cần phải sử dụng phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết hợp với các yếu tố đã theo một trình tự như thế nào cho hợp lý Nghĩa là khi xác định phương pháp chỉ tuân theo một lôgíc nhất định, tuỳ thuộc vào lôgic của đối tượng Như vậy, phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan của đối tượng nghiên cứu Sức mạnh của phương pháp là, trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả để nghiên cứu thế giới và cải tạo thế giới Phương pháp có nhiều loại và nhiều cấp độ khác nhau

Trang 35

- Phương pháp riêng, phương pháp đặc thù và phương pháp chung.

- Phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn

Việc phân biệt các loại phương pháp như trên chỉ có ý nghĩa tương đối tuỳ theo góc độ và phân loại Tính tương đối giữa các loại phương pháp phản ánh tình hình thực tế là trong hoạt động nhận thức và thực tiến, các loại phương pháp có thể được phối hợp, đan xen và bổ sung cho nhau Cùng một đối tượng hay công việc có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau, nhưng cuối cùng chủ thể phải lựa chọn phương pháp tối ưu, và mang lại hiệu quả cao nhất Lựa chọn những phương pháp “giản tiện “để giải quyết những công việc phức tạp nhằm rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, đưa lại hiệu quả cao dựa trên sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đang là

xu hướng được chú ý hiện nay Chẳng hạn, với sự phát triển của công nghệ

vi xử lý, máy tính điện tử, phương tiện thông tin hiện đại…, hiện nay người kĩ

sư chỉ cần thực hiện những phương pháp hết sức “giản đơn” là bấm nút điều chỉnh, nhìn màn ảnh vô tuyến, nghe điện thoại mà vẫn có thể điều hành được một công đoạn hay toàn bộ quá trình sản xuất

b.Phương pháp luận:

- Khái niệm phương pháp luận: Trong thực tiễn, con người có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải quyết công việc đã định Quá trình lựa chọn phương pháp có thể đúng hoặc sai Vậy làm thế nào để xác định được phương pháp đúng đắn, khoa học? Từ đó, xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học về phương pháp và đó cũng là lý do để khoa học về phương pháp ra đời Đó chính là phương pháp luận

Vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về ương pháp Phương pháp luận giải quyết những vấn đề như: phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp như thế nào? Do đó, có thể nói cách khác, cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa

Trang 36

ph-Chẳng hạn, phương pháp luận toán học có nhiệm cụ nêu ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trình xác định và áp dụng các phương pháp, cụ thể như: phương pháp tiên đề, phương pháp giả thiết - diễn dịch v.v… Hoặc, trong kinh tế cụ thể như: phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương pháp thống kê v.v… Trên cơ sở đó, rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo việc áp dụng các phương pháp kinh tế cụ thể như: quan điểm về hiệu quả, quan điểm

về đồng bộ, quan điểm về phát triển và tiến bộ xã hội v.v… Việc lựa chọn, áp dụng một phương pháp kinh tế cụ thể nào phải xuất phát từ những quan điểm, nguyên tắc chung đó

Như vậy, phương pháp luận và phương pháp khác nhau Phương pháp luận là lý luậnvề phương pháp, là những quan điểm, nguyên tắc xuất hiện chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp một cách đúng đắn Còn phương pháp là cách thức, thủ đoạn hoạt động (cả trong nhận thức và thực tiễn) cụ thể của chủ thể, cái thứ nhất là thuần tuý lý luận, cái thứ hai là cả lý luận và thực tiễn Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định phương pháp cụ thể mà là rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng phương pháp Vì vậy không nên nhầm lẫn giữa phương pháp luận là cơ sở nghiên cứu các phương pháp cụ thể, còn phương pháp cụ thể phải xuất phát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận

- Các cấp độ của phương pháp luận: Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau: phương pháp luận bộ môn, phương pháp khoa học chung và ph-ương pháp luận chung nhất - phương pháp luận triết học

Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ môn khoa học cụ thể như: phương pháp luận toán học, vật lý học, hoá học, sinh học, kinh tế học, công nghệ học v.v… Đó là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để xác định các phương pháp cụ thể, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của các bộ môn khoa học đó

Trang 37

Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, nguyên tắc chung hơn, chỉ đạo việc xác định phương pháp bộ môn hay phương pháp luận của một nhóm các ngành của các bộ môn khoa học có những điểm chung nào đó Ví dụ, phương pháp luận chung cuả các ngành khoa học xã hội Phương pháp luận bộ môn nào đó cũng có thể được coi là phương pháp luận khoa học chung nếu bộ môn đó được phát triển và chia thành những môn học độc lập Ví dụ, phương pháp luận toán học trở thành phương pháp luận khoa học chung cho các bộ môn toán học như số học, hình học, đại số v.v… Hay phương pháp luận sinh vật học trở thành phương pháp luận chung cho các bộ môn sinh học cụ thể khác nhau như tế bào học, vi sinh học v.v…

Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc chung nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn

và các phương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa học chung và phương pháp luận chung nhất hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác định các phương pháp cụ thể một cách đúng đắn Các loại phương pháp luận này vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sung cho nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho nhau Do đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng tổng hợp các loại phương pháp luận

c Phương pháp luận biện chứng duy vật.

Phương pháp luận biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng, nó bao gồm hệ thống những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo việc hoạch định phương pháp cho hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật đều thể hiện sự thống nhất trong nó giữa thế giới khách quan khoa học và phương luận đúng đắn

2 Các nguyên tắc luận cơ bản của phép biện chứng duy vật

- Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn

Trang 38

Bất cứ sự vật hiện tượng nào thế giới cũng đều tồn tại trong những mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác và các mối liên hệ đó là vô cùng đa dạng và phong phú Vì thế trong nhận thức và thực tiễn phải quán triệt nguyên tắc toàn diện Nguyên tắc toàn diện đặt ra các yêu cầu:

+ Khi phân tích sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố, các bộ phận của chính sự vật trong mối liên hệ của chúng và sự tác động giữa sự vật

đó với các sự vật khác, kể cả những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của chúng để từ đó đi đến tri thức chỉnh thể về sự vật Cần tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một, hoặc một vài mối liên hệ đã vội vàng đi đến những kết luận về bản chất sự vật Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được

sự vật cần nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ

và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”

+ Đồng thời, nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, tránh cách xem xét dàn trải liệt kê, dẫn đến

sự đánh đồng ngang nhau những thuộc tính, những tính quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó cần phải đi

từ tri thức nhiều mặt, từ nhiều mối liên hệ của sự vật để khái quát và làm nổi bật lên cái cơ bản nhất, quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng đó

+ Quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện Thực chất của chủ nghĩa chiết trung là sự kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ, tạo nên một hình ảnh không đúng về sự vật Thực chất của thuật nguỵ biện là sự “đánh tráo” có dụng ý, biến cái không

cơ bản thành cái cơ bản, không bản chất thành bản chất… hoặc ngược lại, phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện tượng

- Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn

Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải quán triệt nguyên tắc phát triển Nguyên tắc phát triển đặt ra các yêu cầu sau:

Trang 39

+ Xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong xu hướng vận động, biến đổi, chuyển hoá của chúng Không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại, mà phải thấy khuynh hướng phát triển trong tương lai Phải phân tích để làm rõ những biến đổi của sự vật, khái quát những hình thức biểu hiện của sự biến đổi đó để tìm ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật đó.

+ Phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến kém hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau cho nên phải có

sự phân tích cụ thể để tìm ra những cách thức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp nhằm thúc đẩy những biến đổi có lợi và sự kìm hãm những biến đổi có hại

+ Cần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến vv… trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Cần có quan điểm đúng đắn trong nhận thức về cái mới và tạo điều kiện cho sự khẳng định cái mới Từ đó xây dựng quan điểm đúng đắn, khoa học trong việc nắm bắt hiện thực và có sự định hướng, niềm tin khoa học vào những xu hướng tất yếu, hợp quy luật của hiện thực

- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển đòi hỏi đi cùng với nó là quan điểm lịch sử cụ thể Điều kiện, hoàn cảnh cụ thể khác nhau thì mối liên

hệ của sự vật và hình thức phát triển của sự vật khác nhau Cho nên phải đặt

sự vật vào trong những bối cảnh lịch sử cụ thể để xem xét Nguyên tắc lịch sử

- cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Một luận điểm nào đó là đúng đắn, khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không còn là đúng đắn trong một điều kiện, bối cảnh khác Vượt ra khỏi những bối cảnh cụ thể xác định, sự vật hiện tượng

sẽ không được biểu hiện ra trong bản chất cũ, mà có thể biểu hiện ra trong bản chất khác…

Trang 40

Vận dụng vào thực tiễn xã hội, việc quán triệt các nguyên tắc toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể có ý nghĩa vô cùng to lớn.

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Triết học” 3 tập (dùng cho nghiên cứu sinh

và cao học thuộc chuyên ngành triết học), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

2 Hội đồng Trung Ương biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: “Giáo trình triết học Mác - Lênin”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999

3 Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: “Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996

4 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện triết học: “Lịch sử phép biện chứng”, tập 4 (Phép biện chứng mácxit - giai đoạn Mác- Ăngghen), tập 5 (Phép biện chứng macxit - giai đoạn Lênin) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

5 Viện Triết học: “Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Câu hỏi Xêmina

1 Phân tích sự đối lập giữa phép biện chứng với phép siêu hình? Những giai đoạn cơ bản trong lịch sử phép biện chứng?

2 Quán triệt nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong thực tiễn ngành giáo dục và đào tạo ở nước ta hiện nay như thế nào?

Ngày đăng: 01/04/2017, 09:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.ăngghen: “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” C.Mác và Ph.ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
Tác giả: Ph.ăngghen
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia
Năm: 1995
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Triết học” (dùng cho nghiên cứu sinh và cao học không thuộc chuyên ngành triết học), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
3. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: “Giáo trình triết học Mác -Lênin” Nxb.Chính trị quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác -Lênin
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Hà Nội
4. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Phân viện báo chí và tuyên truyền, Khoa chính trị học: “Lịch sử tư tưởng chính trị”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng chính trị
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
5. V.I.Lênin: “Nhà nước và cách mạng”- V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1976, tập 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và cách mạng
Tác giả: V.I. Lênin
Nhà XB: Nxb. Tiến bộ
Năm: 1976
6. S.L.Môngtetxkiơ: “Tinh thần pháp luật”, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Tác giả: S.L.Môngtetxkiơ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
7. Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật: “Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật”,Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w