1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC III: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY – GIAI CẤP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI

101 579 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 464,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN THỨ NHẤT: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1.1. Xã hội và các đặc trưng cơ bản của quy luật xã hội 1.1.1. Xã hội và quy luật xã hội Xã hội là gì? Trước Mác, có nhiều học thuyết, lý luận tìm cách lý giải về bản chất và quy luật vận động của xã hội loài người trong đó có những khía cạnh hợp lý, tiến bộ nhưng chưa chỉ ra được tính quy luật của nó do chủ yếu lấy hệ tư tưởng (tôn giao, pháp luật, chính trị,...) làm cơ sở. Chưa có học thuyết, lý luận nào giải quyết được toàn diện, triệt để về cơ sở khoa học của bản chất và quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người. Thời kỳ cổ đại: Hêrôđôt: tìm cái chung thông qua việc mô tả hoạt động sản xuất của con người và lưu truyền cho các thế hệ sau. Pratôn: nêu ra mô hình nhà nước lý tưởng dựa trên sự bất bình đẳng trong xã hội. Thời kỳ trung cổ: Tômat Đacanh, Bêcơn: giải thích xã hội, số phận con người theo quan điểm coi lịch sử là sự thể hiện của mệnh trời, số phận con người do thượng đế quy định. Thời kỳ triết học khai sáng Pháp Hecdo: cho rằng những lực lượng sống, những năng lực người là nguồn gốc sự vận động xã hội.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG

CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC III BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

- CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY – GIAI CẤP, DÂN TỘC VÀ NHÂN LOẠI

Giảng viên: Th.s Trần Thị Hà Giang

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT: BIỆN CHỨNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI

1.1. Xã hội và các đặc trưng cơ bản của quy luật xã hội

1.1.1 Xã hội và quy luật xã hội

Xã hội là gì?

Trước Mác, có nhiều học thuyết, lý luận tìm cách lý giải về bản chất và quyluật vận động của xã hội loài người trong đó có những khía cạnh hợp lý, tiến bộnhưng chưa chỉ ra được tính quy luật của nó do chủ yếu lấy hệ tư tưởng (tôn giao,pháp luật, chính trị, ) làm cơ sở Chưa có học thuyết, lý luận nào giải quyết đượctoàn diện, triệt để về cơ sở khoa học của bản chất và quy luật vận động, phát triểncủa xã hội loài người

Thời kỳ triết học khai sáng Pháp

Hecdo: cho rằng những lực lượng sống, những năng lực người là nguồn gốc

sự vận động xã hội

Rutxô: cho rằng sở hữu tư nhân là nguyên nhân của bất bình đằng, củanhững đối kháng trong xã hội và sự xuất hiện nhà nước Để hạn chế sự bất bình

Trang 3

đằng trong xã hội theo ông nên có nền dân chủ trực tiếp dựa trên cơ sở đồng thuận

xã hội và quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Xanhximông: mỗi xã hội đều là những bước tiến của lịch sử và chứng trảiqua những giai đoạn hưng thịnh,suy tàn, tan rã Ông chia xã hội loài người thành 3giai đoạn, trong đó có những tư tưởng đáng chú ý về giải phóng giai cấp công nhân,loại bỏ sự bần cùng, nâng cao trình độ vật chất, văn hóa cho giai cấp nghèo khổ, tưtưởng về nền sản xuất kế hoạch

Moocgang: chia thành 3 thời kỳ: mông muội, dã man, văn minh

Hêghen: chia thành 3 thời kỳ: Phương đông, Cổ đại, Giecmani Ông vẫn lấytôn giáo làm công cụ thống trị

Các quan điểm trên về xã hội vẫn mang màu sắc duy tâm vì vậy nó làm đảolộn, hạn chế sự phát triển xã hội Một số nhà xã hội học tư sản xem xã hội là tổng

số các cá nhân, là sự kết hợp một cách cơ học giữa các cá nhân Họ ví xã hội nhưmột bao tải khoai tây, mà mỗi cá nhân là một củ Bắt đầu từ xã hội nguyên thủy đếnchăn nuôi và trồng trọt

Ngày nay, có quan điểm cho rằng cần thay thế cách tiếp cận xã hội của lý

luận hình thái kinh tế - xã hội bằng cách khác, trong đó cách tiếp cận theo nền vănminh của các nhà tương lai học A Toffler và H Toffler là đáng chú ý hơn cả Họchia lịch sử xã hội loài người thành 3 nền văn minh thay thế nhau:

Văn minh nông nghiệp: nền văn minh khép kín, tự cung, tự cấp, kéo dài từnhững năm 1650 - 1750

Trang 4

Văn minh công nghiệp: công nghiệp giữ vai trò chủ đạo, kéo dài từ nhữngnăm 50 thế kỷ XX nhờ sự xuất hiện của các ngành khoa học mới: CN thông tin, CNsinh học, CN vật liệu, Nền văn minh đã làm ra hàm lượng tri thức nhiều hơn giátrị thể lực của người lao động.

Văn minh hậu công nghiệp: quan điểm khoa học, kỹ thuật về xã hội chỉ có ýnghĩa trong nghiên cứu trình độ và các giai đoạn tất yếu phải trải qua của kinh tếmỗi nước, mà không có ý nghĩa trong phân chia chế độ xã hội của mỗi nước vàkhông thấy rõ mối quan hệ biện chứng giữa các lĩnh vực trong đời sống xã hội bởivậy mà không chỉ ra được quy luật thay thế xã hội này bằng xã hội khác

Quan điểm Mácxit về xã hội

Trên cơ sở phê phán quan điểm duy tâm trong mọi hình thức của triết học cổđiển Đức về xã hội, phê phán quan điểm siêu hình về xã hội của triết học khai sángPháp, triết học thời kỳ cận đại, Mác đã đưa ra quan điểm của mình về xã hộitrong đó đề cao quan hệ xã hội giữa các cá nhân Theo đó xã hội không phải là sựkết hợp, ràng buộc duy tâm tôn giáo hay cơ học giữa các cá nhân với nhau

Xã hội là một bộ phận đặc thù của tự nhiên, là một hình thức vận động cao nhất của vật chất, là giới tự nhiên kéo dài ra C.Mác cho rằng: “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan

hệ của các cá nhân đối với nhau” 1 Hoặc “xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” 2 Theo C.Mác, xã hội là do con người tạo ra, là một thực thể đặc biệt, có quá trình hình thành, vận động và phát triển riêng Sự vận động và phát triển của xã hội chính là sự vận động, phát triển của cơ cấu xã hội Ở mỗi giai đoạn lịch sử xã hội, cơ cấu xã hội có dạng cơ bản, đặc thù Đó chính là

1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998, t.46, tr.335.

2 C.Mác và Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, 1996, t.27, tr.675.

Trang 5

hình thái kinh tế xã hội Mỗi hình thái kinh tế xã hội là một nấc thang của sự phát triển xã hội

Xã hội là một cấu trúc đặc biệt, trong đó nền tảng của nó là quan hệ sản xuất - quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Trên nền tảng những quan hệ sản xuất ấy hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng

Trong các quan hệ xã hội thì quan hệ vật chất - quan hệ kinh tế giữa người với người là cơ sở, là nền tảng quyết định những mối quan hệ khác Trong nền sản

xuất xã hội, có các dạng sản xuất: sản xuất của cải vật chất, sản xuất tinh thần, “sảnxuất” ra chính con người Sản xuất vật chất tạo ra hỗn hợp thông thường, sản xuấttrí tuệ tạo ra hỗn hợp đặc biệt, còn “sản xuất” con người tạo ra hỗn hợp sức laođộng

Trong các quan hệ xã hội C.Mác đặc biệt chú ý tới quan hệ vật chất, coi đó

là quan hệ cơ bản và quyết định nhất, đó chính là quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế và vấn đề sở hữu Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của một phương

thức sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung bên trong của phương thức sảnxuất Nội dung của phương thức sản xuất là cái khách quan thứ yếu, do vậy hìnhthức biểu hiện của nó là quan hệ sản xuất thuộc quan hệ xã hội cũng mang tínhkhách quan tất yếu Do vậy, xã hội với tư cáhc là sản phẩm của sự tác động lẫnnhau giữa người với người cũng được hình thành, vận động, phát triển một cáchkhách quan tất yếu

Quy luật xã hội

Xã hội hình thành, vận động biến đổi theo quy luật nội tại vốn có, đó chính

là quy luật xã hội Quy luật xã hội khác với quy luật tự nhiên Quy luật tự nhiên

được hình thành và phát huy tác dụng do những nhân tố vô ý thức và mù quáng tácđộng lẫn nhau, là cái tất nhiên được biểu hiện thông qua vô số cái ngẫu nhiên Làquy luật mà thuần tuý những lực lượng tự nhiên tác động lẫn nhau theo quy luật

Trang 6

chính bản thân nó, không theo sự sắp xếp, chỉ đạo của con người Quy luật tự nhiênmang tính tự phát, tự nó, tự động của chính tự nhiên Nó có thể được nhận biết quacác phương tiện máy móc có độ chính xác cao Còn quy luật xã hội chỉ là nhữngquy luật hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của mình, là quy luậtlợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế thông qua lăng kính giai cấp Là loại quy luật nhậnthức, C.Mác cho rằng, bất cứ một cương lĩnh nào, tuyên ngôn chính trị nào, bất cứmột hứa hẹn của vĩ nhân chính trị nào đằng sau đó là lợi ích Kinh tế là nội dungvật chất của chính trị Mọi cái chính trị sẽ tự làm nhục mình nếu cái chính trị đóthoát ly lợi ích Trong quy luật xã hội, cái chủ thể tiến dần tới cái khách thể do nhậnthức được quy luật

1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của quy luật xã hội

Đặc điểm chung

Cũng giống như quy luật tự nhiên, quy luật xã hội mang tính khách quan,tính xu hướng, tính tất yếu và phổ biến

Tính khách quan: Quy luật xã hội được biểu hiện thông qua hoạt động của

con người nhưng nó không phụ thuộc vào ý thức của con người, không phụ thuộcvào ý chí cá nhân hay một lực lượng xã hội nào Bởi vì, bằng hoạt động thực tiễncon người tạo ra xã hội, làm nên lịch; song, những hoạt động của con người đượcthực hiện trong những điều kiên sinh hoạt vật chất nhất định, trong những mối quan

hệ nhất định giữa con người với tự nhiên, mà những điều kiện và những mối quan

hệ đó là khách quan đối với mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ, mỗi con ngườikhi họ theo đuổi mục đích của bản thân mình

Quy luật xã hội được biểu hiện ra như là xu hướng, mang tính xu hướng Xu

hướng xã hội là xu hướng của số đông, là tổng hợ lực của các lực lượng lẫn nhau.Những mối liaan hệ và sự tác động lẫn nhau vô cùng phức tạp giữa người và người

đã tạo ra những hoạt động khác nhau trong xã hội Tổng hợp những lực lượng khác

Trang 7

nhau đó tạo thành xu hướng vận động của lịch sử, trong đó, lực hoạt động của khốiđông người chiếm ưu thế Điều đó có nghĩa là, mặc dù hoạt động của con ngườitrong xã hội biểu thị cho rất nhiều ý muốn, nhiều mục đích của nhiều con ngườikhác nhau, và những ý muốn và mục đích đó luôn chồng chéo nhau, thậm chí đốilập nhau, mâu thuẫn nhau, nhưng quy luật xã hội chỉ phản ánh những ý muốn,những mục đích của khối đông người, phù hợp với xu hướng vận động và pháttriển của lịch sử Xu hướng này là khách quan, không có một thế lực nào điều khiểnđược.

Tính tất yếu và tính phổ biến: Những mối quan hệ của con người trong xã

hội được hình thành một cách tất yếu nhằm thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triểncủa xã hội Có nhiều loại quy luật Có quy luật xã hội tồn tại phổ biến ở mọi hìnhthái kinh tế xã hội như quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lựclượng sản xuất, tồn tại xã hội phù hợp với ý thức xã hội Có loại quy luật chỉ tồn tạitrong một số giai đoạn phát triển xã hội như: Có loại quy luật chỉ tồn tại trong mộtgiai đoạn phát triển xã hội như: quy luật giai cấp và đấu tranh giai cấp Có loại quyluật chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử xã hội, có loại quy luật chỉ tồn tại trongmột lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, đạo đức…

Quy luật xã hội có đặc điểm riêng

Nó tồn tại và tác động trong những điều kiện nhất định, khi điều kiện tồn tại

xã hội không còn thì quy luật xã hội ấy cũng không còn Thí dụ như quy luật giai

cấp và đấu tranh giai cấp Để nhận thức được quy luật xã hội cần phải có phươngpháp khái quát hoá và trừu tượng hoá Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên gắn bóchặt chẽ với nhau Khi con người nhận thức được quy luật tự nhiên trong “thế giớivật tự nó” khi con người có tự do Con người có thể nhận thức được quy luật xã hội

và vận dụng nó vào hoạt động có mục đích của mình Nhận thức được quy luật, vận

Trang 8

dụng nó tức là nhận thức được cái tất yếu Tự do là nhận thức cái tất yếu và làmtheo cái tất yếu nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội

Sự tác động của quy luật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con người.Động lực cơ bản thúc đẩy con người hoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi

ích của chủ thể hoạt động Do vậy, lợi ích trở thành một yếu tố quan trọng trong cơ chế hoạt động của quy luật xã hội và trong sự nhận thức của con người về nó Điều

này không làm mất đi tính khách quan vốn có của quy luật xã hội, bởi vì, tuy hoạtđộng của con người bao giờ cũng nhằm theo đuổi những lợi ihcs và mục đích khácnhau, nhưng kết quả tác động của quy luật xã hội lại không phụ thuộc vào ý muốncủa từng cá nhân mà hướng đến ý muốn ưu trội của khối đông người đó Do đó, lợiích ở đây không thể nào là lợi ích cá nhân, àm phải là lợi ích của cộng đồng, củagiai cấp

Một đặc điểm nữa của quy luật xã hội là để nhận thức được nó cần phải có phương pháp khái quát hóa và trừu tượng hóa rất cao Bởi vì, sự biểu hiện và tác

động của quy luật xã hội thường diễn ra trong một thời gian rất lâu, có khi là trongsuốt quá trình lịch sử, do đó không thể dùng thực nghiệm để kiểm tra như nhữngquy luật của tự nhiên, cũng không thể dùng lối suy diễn logic một cách đơn thuần

Để nhận thức các quy luật xã hội cần phải nghiên cứu những nguyên nhânthúc đẩy sự vận động và phát triển của xã hội Quy luật xã hội là quy luật hoạt độngcủa con người Nguyên nhân thúc đẩy hoạt động của con người là một chuỗi nhânquả xã hội Nhu cầu và lợi ích là nguồn gốc, là động cơ trực tiếp thúc đẩy conngười hoạt động và do đó, cũng là nguyên nhân thúc đẩy sự vận động và phát triểncủa xã hội

Quy luật xã hội và quy luật tự nhiên gắn bó chặt chẽ với nhau trong hoạt

động của con người Để đạt được sự phát triển lâu bền của xã hội, một mặt, con người phải tôn trọng và tuân theo những quy luật xã hội, mặt khác, cũng phải tuân

Trang 9

theo những quy luật của tự nhiên, có như vậy mới đảm bảo được những cơ sở tựnhiên cho sự tồn tại và phát triển của xã hội.

1.2 Biện chứng của sự phát triển xã hội bắt nguồn từ mâu thuẫn và đấu tranh giải quyết mâu thuẫn

1.2.1 Mâu thuẫn và mâu thuẫn biện chứng

Mâu thuẫn:

Triết học thời cổ đại mà điển hình là 3 nền triết học lớn đó là Trung Quốc, ấn

Độ và Hy Lạp Triết học Trung Hoa đã xuất hiện rất lâu vào cuối thiên niên kỷ thứ

II trước công nguyên Tuy nhiên phải đến cuối đời Xuân Thu - Chiến quốc, các hệthống triết học lớn của Trung Quốc mới xuất hiện Những quan điểm biện chứng vềmâu thuẫn thời kỳ này đã xuất hiện tuy còn sơ khai Ví dụ như trường phái Âm -Dương, Phái Âm - Dương nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính đồng nhấttuyệt đối cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng Trái lạitất cả bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập được gọi là sự thống nhất của Âm

- Dương Âm - Dương là đối lập nhau nhưng là điều kiện tồn tại của nhau Hơn nữacái nguyên lý ấy còn được giải thích theo nguyên tắc của luật phi bài trung Quyluật này thừa nhận mọi thực tại trên tinh thần biện chứng là trong cái mặt đối lậpkia - ít nhất cũng ở trạng thái tiềm năng sinh thành

Sang đến phái Đạo Gia mà người sáng lập là Lão Tử, ông cũng có những tưtưởng biện chứng độc đáo về sự thống nhất biện chứng của mặt đối lập này bao

hàm khả năng của mặt đối lập Ông nói “Có và không tương sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” Tất cả trong đó, mỗi mặt đều trong quan hệ với mặt đối lập, không có

mặt này thì cũng không có mặt kia và giữa chúng cũng chỉ là tương đối “ai cũngcho cái đẹp là đẹp do đó sinh ra quan niệm về cái xấu, ai cũng cho điều thiện làthiện mà sinh ra quan niệm về cái ác

Trang 10

Triết học ấn Độ thì đưa ra phạm trù “vô ngã” “vô thường” (của trường pháiPhật Quốc) Một tồn tại nào đó chẳng phải là nó mà là tổng hợp hội họp của nhữngcái không phải là nó mà nhờ hội đủ nhân - duyên Trong cái Một đã bao hàm cái

Đa, cái nhiều Không có tồn tại nào là biệt lập tuyệt đối so với tồn tại khác Tất cảđều duy nhiếp nhau, và hoà đồng với nhau Nhưng đã như vậy thì tất yếu phải đi tớimột khẳng định về lẽ vô thường Vô thường là chẳng thường hằng Thường hằng làbất biến; Chẳng bất biến tức là biến, biến tức là biến động Sinh - biến, biến - sinh;

có có - không không, nay có - mai không tất cẩ đều trong quy luật nhất định Cóthể nói cùng với sự phát triển của các hình thức kinh tế - xã hội các tư tưởng Triếthọc về mâu thuẫn cũng ngày càng ró nét

Heraclit - nhà triết học lớn nhất của Hy Lạp cổ đại ở thời kỳ đầu của nó thìphỏng đoán rằng mâu thuẫn tồn tại trong mọi sự vật của Thế giới Theo ông, cácmặt đối lập gắn bó, quy định, ràng buộc với nhau: cái lạnh nóng lên, cái nóng lạnh

đi, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn Heraclit còn khẳng định vũ trụ là một thểthống nhất nhưng trong lòng nó luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các lực lượng

đối lập, nhờ vậy vũ trụ tồn tại và vận động: “Sống là chết, chết là sống, chúng sống là nhờ cái chết và chúng chết là cho cái sống” Vì thế đấu tranh là “cha đẻ của tất cả, là ông hoàng của tất cả” Trải qua hơn một ngàn năm đêm dài trung cổ,

nền triết học thời kỳ này chủ yếu là triết học linh viện tập trung vào cái chung vàcái riêng

Sang đến triết học Tây Âu thời phục hưng và cận đại cùng với những thành

tựu về khoa học tự nhiên thì sự đấu tranh giữa triết học duy tâm và duy vật cũngdiễn ra hết sức gay gắt Nhưng các quan điểm của thời kỳ này vẫn rơi nhiều vàosiêu hình máy móc Sang đến triết học cổ điển Đức mới thực sự bao hàm những tưtưởng triết học tiến bộ, cách mạng và khoa học

Trang 11

Triết học cổ điển Đức đã đạt tới trình độ khái quát và tư duy trìu tượng rất

cao với những hệ thống kết cấu chặt chẽ ao với những hệ thống kết cấu chặt chẽ,thể hiện một trình độ tư duy tài biện thâm cao vượt xa tính trực quan siêu hình củanền triết học Anh - Pháp ở thế kỷ XVII - XVIII, do vậy các tư tưởng triết học vềmâu thuẫn đã có những bước tiến đáng kể Đại biểu đặc trưng của triết học cổ điểnĐức là Heghen Mặc dù là nhà triết học duy tâm nhưng học thuyết về bản chất và

tư tưởng của Heghen về mâu thuẫn lại hết sức biện chứng Đây là một trong nhữnghọc thuyết giá trị nhất của ông Ông coi mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động, lànguyên lý của sự phát triển Theo ông, lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa những

“tính quy định” rồi trong sụ đồng nhất ấy bộc lộ ra những khác biệt, rồi khác biệtlại chuyển thành những mặt đối lập và cuối cùng xuất hiện mâu thuẫn Song theoông mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của “ý niệm tuyệt đối” chứ không phải của thếgiới vật chất Hêghen cũng đưa ra tư tưởng cho rằng hiện tượng và bản chất thốngnhất với nhau, bản chất thể hiện ra trong hiện tượng và hiện tượng là thể hiện củabản chất Hêghen cùng phân tích một cách biện chứng khái niệm hiện thực, coihiện thực là thống nhất giữa bản chất với tồn tại ông phê phán quan điểm siêu hình

về tất nhiên và ngẫu nhiên, khả năng và hiện thực Song song với những quanđiểm biện chứng về mâu thuẫn, trong lịch sử triết học cũng xuất hiện sự đấu tranhgay gắt giữa các quan điểm này với các quan điểm siêu hình của những nhà siêuhình học, họ phủ nhận mâu thuẫn bên trong của các sự vật và hiện tượng Theo họ

sự vật là một cái gì đồng nhất, thuần tuý, không có mâu thuẫn trong bản thân nó

Tư duy của người ta về sự vật có thể còn mâu thuẫn, song như vậy thì tư duy đó sailầm, không đáng tin cậy Những người theo quan điểm siêu hình chỉ thừa nhận cónhững sự đối kháng, sự xung đột giữa các sự vật và hiện tượng với nhau, nhưngkhông cho đó là quy luật

Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mâu thuẫn:

Trang 12

Triết học cổ điển Đức đã tạo tiêu đề cơ sở lý luận trực tiếp cho sự ra đời củatriết học Mác Vào những năm 40 của thế kỷ XIX Nó là sự kết tinh những giá trịcao quý của tư duy triết học, văn hoá, lịch sử nhân loại Sự ra đời của triết học Mác

là một tất yếu lịch sử, phù hợp với những tiền đề kinh tế - xã hội cũng như các tiền

đề về lý luận và khoa học tự nhiên lúc bấy giờ Phương pháp tư duy siêu hình từngthống trị trong khoa học và trong triết học duy vật đã bị những phát minh mới nhấtnửa đầu thế kỷ thứ XIX, giáng một đòn mạnh mẽ Nhận thức duy vật biện chứng vềmâu thuẫn của chủ nghĩa Mác là nhận thức đúng đắn nhất nó đã phát triển thànhmột quy luật - Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập - là một trong

những hạt nhân của phép biện chứng Lênin viết “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những giải thích và một sự phát triển thêm” 3 Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng, mọi sự

vật và hiện tượng trong thế giới đều tồn tại mâu thuẫn bên trong Mỗi sự vật và hiện tượng đều là một thể thống nhất của các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau Những mặt này đối lập với nhau nhưng lại liên hệ rằng buộc nhau tạo thành mâu thuẫn Mâu thuẫn chẳng những là một hiện tượng khách quan

mà còn là một hiện tượng phổ biến Mâu thuẫn tồn tại khách quan trong mọi sự vậthiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội và tư duy của con người Chằngnhững mâu thuẫn tồn tại phổ biến ở mọi sự vật, hiện tượng mà còn tồn tại phổ biếntrong suốt quá trình phát triển của chúng Không có sự vật nào, hiện tượng nào lạikhông có mâu thuẫn và không có giai đoạn nào trong sự phát triển của mỗi sự vật,hiện tượng lại không có mâu thuẫn Mâu thuẫn này mất đi, thì mâu thuẫn khác lạihình thành Để chứng minh tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn Ăngghenchỉ ra rằng, ngay hình thức vận động đơn giản nhất của vật chất - vận động cơ học,

Trang 13

đã là một mâu thuẫn Sở dĩ sự di động một cách máy móc và đơn giản ấy có thểthực hiện được chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa là ở nơi này lại vừa ở nơikhác, vừa là ở trong cùng một chỗ duy nhất lại vừa không ở chỗ đó Tất nhiên sựtồn tại của vật chất ở những hình thức vận động cao hơn lại càng bao hàm mâuthuẫn

Và chính bản thân sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các

sự vật và các quá trình, tự đề ra và tự giải quyết không ngừng, và khi mâu thuẫn đãhết thì sự sống cũng không còn nữa vì cái chết đã xảy đến Cũng như chúng ta đãthấy rằng trong lĩnh vực tư duy cũng vậy, chúng ta không thể thoát khỏi mâu thuẫn;chẳng hạn như mỗi mâu thuẫn giữa năng khiếu nhận thực vô tận ở bên trong củacon người với sự tồn tại thực tế của năng khiếu ấy trong những con người bị hạnchế bởi hoàn cảnh bên ngoài, và bị hạn chế trong những năng khiếu nhận thức, mâuthuẫn này được giải quyết trong sự nối tiếp của các thế hệ, sự nối tiếp đó ít ra đốivới chúng ta, thực tế cũng là vô tận, và được giải quyết trong sự vận động đi lên vôtận

Mâu thuẫn biện chứng:

Khi nói tới nhân tố cấu thành mâu thuẫn biện chứng, “đối lập”, “mặt đối lập”

là phạm trù dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, nhữngtính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách kháchquan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Cũng không nên nhầm lẫn mặt đối lập vớimâu thuẫn Mỗi mâu thuẫn phải có hai mặt đối lập, nhưng không phải bất kỳ mặtđối lập nào cũng tạo thành mâu thuẫn Chỉ những mặt đối lập nào nằm trong mộtchỉnh thể có liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại với nhau mới tạo thànhmâu thuẫn Mâu thuẫn là một chỉnh thể, trong đó mặt đối lập vừa thống nhất vớinhau vừa đấu tranh với nhau Trong một mâu thuẫn, hai mặt đối lập có quan hệ

Trang 14

thống nhất với nhau Chính những mặt như vậy nằm trong sự liên hệ, tác động qualại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng

Mâu thuẫn biện chứng được hình thành từ hai mặt đối lập biện chứng (hai mặt có các thuộc tính, khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau) Sự cùng tồn tại từ hai mặt đối lập biện chứng trong không gian và thời gian liên hệ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất Các mặt đó tác động qua lại, đấu tranh với nhau, đồng thời thống nhất với nhau Sự đấu tranh là tuyệt đối, sự thống nhất là tương đối Mâu thuẫn biện chứng có tính khách quan, tính phổ biến và tất yếu Là xung lực nội tại của mọi sự vận động và phát triển.

1.2.2 Mâu thuẫn xã hội và tiến bộ xã hội

Mâu thuẫn xã hội là một loại mâu thuẫn đặc thù Nó bao hàm mối quan hệ

giữa khách thể và chủ thể Sự đối lập về lợi ích là nhân tố nội tại làm nảy sinh vàtồn tại của những mâu thuẫn xã hội Mâu thuẫn xã hội là hình thức và kết quả hoạtđộng của con người, nảy sinh trong đời sống, được giải quyết nhờ những hoạt độngcủa con người Không phải là mọi mâu thuẫn xã hội đều do nguyên nhân kháchquan Có mâu thuẫn xã hội do ý thức chủ quan của con người Mâu thuẫn chủ quankhông phải là mâu thuẫn biện chứng, không phải là động lực phát triển của xã hội.Mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn giữa các lực lượng xã hội có lợi ích đối lập nhau

Biện chứng của các quá trình xã hội chính là sự tác động, chuyển hoá lẫn nhau giữa cái khách quan và cái chủ quan Tính đặc thù của xã hội biểu hiện ở

chỗ, mọi sự vận động và phát triển xã hội được thực hiện bởi con người Quy luậtkhách quan của xã hội tác động thông qua hoạt động của con người với tính cách làmột hoạt động có ý thức Thông qua hoạt động của con người, cái khách quan vàcái chủ quan luôn chuyển hoá lẫn nhau Cái khách quan được chuyển hoá thànhmục đích và phương pháp hành động của con người Con người (cái chủ quan) lạiđược chuyển hoá thành cái khách quan trong kết quả hoạt động của con người

Trang 15

Trong sự vận động và phát triển của xã hội trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất là kết quả năng lực thực tiễn của thế hệ trước chuyển hoá thành cái kháchquan Các quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan, nhưng lại đượcthực hiện thông qua cái chủ quan Trong sự phát triển xã hội, nhân tố chủ quanngày càng giữ vị trí quan trọng Những tư tưởng tiến bộ, cách mạng trong quá trìnhchuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế x hình thái khác, vìthế có vai trò to lớn Vai trò nhân tố chủ quan được thể hiện rõ rệt trong sự pháttriển khoa học công nghệ Khoa học công nghệ phát triển là động lực cho sự pháttriển của xã hội.

Biện chứng của sự phát triển xã hội bao hàm cả khái niệm tiến bộ xã hội.

Có nhiều quan niệm về tiến bộ xã hội Có quan niệm đồng nhất tiến bộ xã hội vớiphát triển Có quan niệm phân biệt tiến bộ với phát triển Thực ra, phát triển là vậnđộng theo hướng đi lên, song phát triển bao giờ cũng là quá trình phức tạp Trong

phát triển có tiến bộ và thoái bộ Tiến bộ xã hội là sự tiến lên của xã hội về kết cấu,

tổ chức, chức năng của xã hội Sự thay thế của HTKTXH là sự biểu hiện rõ nhấtcủa tiến bộ xã hội Tiến bộ xã hội diễn ra như là một quá trình tự nhiên, tuân theoquy luật khách quan của xã hội Các HTKTXH là các nấc thang, những giai đoạn

cơ bản trong sự tiến bộ xã hội Nguyên nhân, nguồn gốc, động lực của tiến bộ xãhội nằm trong bản thân xã hội Đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội là động lựccủa tiến bộ xã hội trong các xã hội có giai cấp đối kháng Tiêế bộ xã hội vận độngtheo hướng đi lên Xã hội cộng sản chủ nghĩa như là đỉnh cao của tiến bộ xã hội.Chủ nghĩa cộng sản là kiểu tiến bộ xã hội mới về chất trong lịch sử xã hội

Những đặc điểm của tiến bộ xã hội:

- Tiến bộ xã hội là quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn giữa tiến bộ và thoái

bộ, thắng lợi và thất bại, văn minh và tàn bạo, hoà bình và chiến tranh, hạnh phúc

và đau khổ Tiến bộ xã hội, vì thế diễn ra trong mâu thuẫn và thông qua mâu thuẫn

Trang 16

Con đường tiến bộ xã hội tuy khó khăn, phức tạp nhưng xuyên suốt là sự vận độngtiến lên từ thấp đến cao, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử xã hội.

- Tiến bộ xã hội được thực hiện thông qua hoạt động tự giác của con người,được thực hiện thông qua hoạt động tự giác của con người, được thực hiện trong sựthay thế của các hình thái kinh tế - xã hội, trong sự phát triển của các phương thứcsản xuất

- Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội cũng thể hiện sự tiến bộ xã hội Giaiđoạn đầu của mỗi hình thái thể hiện sự tiến bộ, giai đoạn sau thể hiện ra như sựthoái bộ

- Sự tiến bộ xã hội diễn ra không đều Xã hội bao giờ cũng tồn tại với tư cách

là một chỉnh thể, trong đó gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận Bản thân mỗi yếu tố,mỗi bộ phận lại có tính tương đối, vận động độc lập và tuân theo những quy luậtriêng Theo C.Mác, giữa cơ ở sản xuất và nghệ thuật không phải lúc nào cũngtương ứng Ph.Ăngghen cho rằng, từ xã hội nguyên thuỷ lên xã hội nô lệ là mộtbước tiến về xã hội nhưng lại là một bước lùi về đạo đức, hoặc từ xã hội nô lệ lên

xã hội phong kiến là một bước lùi về triết học Như vậy tiến bộ trong mối quan hệnày nhưng lại thoái bộ trong mối quan hệ khác

Tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội căn cứ vào sự phát triển của lực lượng sảnxuất, vào sự phát triển của khoa học – công nghệ, vào sự phát triển con người (tiêuchuẩn HDI)

1.2.3 Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta hiện nay

Quan niệm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó

Trang 17

trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủnghĩa.

Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, thì có hai

con đường quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Con đường thứ nhất là con đường quá

độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ

cao Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ

nghĩa tư bản phát triển còn thấp hoặc các nước tiền tư bản

Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hìnhthực tế của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam

là tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân,

tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội Chính ở nội dung cụ thể này, Hồ Chí Minh đã cụ thể hóa và làm

phong phú thêm lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước

ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xãhội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này chiphối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội vàlàm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến

mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém của nước ta.

Mâu thuẫn cơ bản trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Trang 18

Trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH hiện nay ở nước ta mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện cụ thể giữa một bên là yêu cầu thỏa mãn các nhu

cầu vật chất và văn hoá ngày càng tăng của nhân dân và bên kia là nền sản xuấtthấp kém, đang còn ở trình độ của nền sản xuất hàng hóa giản đơn và mang nhiềutính tự túc, tự cấp

Theo logic phát triển khách quan của sự vật, sau khi phá vỡ kết cấu kinh tế

xã hội cổ truyền theo kiểu phương đông thì nền kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ và

tự nó sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, từ đó sẽ tạo ra một trạng thái

xã hội phát triển cao hơn cả về lượng lẫn và chất so với xã hội tiền tư bản, đáp ứngđầy đủ hơn về các nhu cầu vật chất của con người Nhưng đồng thời nó cũng kéotheo những hậu quả tiêu cực gắn liền với tình trạng người bóc lột người Chính vìnhững tiêu cực đó mà chúng ta muốn tìm ra con đường đi khác làm cho con ngườibình đẳng hơn Ngoài hai mâu thuẫn cơ bản trên, trong quá trình đi lên chủ nghĩaxxa hội ở nước ta còn sự tác động của mâu thuẫn thứ ba, mâu thuẫn mà sự vậnđộng của nó quyết định toàn bộ sự phát triển của xã hội, đó là mâu thuẫn giữa mộtbên là sự phát triển của các lực lượng, các khuynh hướng đi lên TBCN và bênkia là sự can thiệp tự giác (và do đó có yếu tố chủ quan) của chúng ta vào quá trìnhphát triển tự giác ấy của sự vật, hướng nó đi theo con đường phát triển để cho xãhội vừa giàu mạnh vừa thoát khỏi tình trạng người bóc lột người Toàn bộ sựnghiệp xây dựng CNXH của chúng ta thành công hay thất bại đều tùy thuộc ở kếtquả giải quyết mâu thuẫn này

Trước đây, khi xem xét kết quả của một hình thái kinh tế xã hội nhất định,chúng ta ta chỉ tìm nó trong lĩnh vực đời sống vật chất của xã hội Nhưngchúng ta đã biết, xã hội không chỉ gồm lĩnh vực đời sống vật chất cho dù đó là lĩnhvực đời sống quan trọng đi nữa, mà còn bao gồm lĩnh vực đời sống chính trị - tinhthần đặc biệt là sự tác động qua lại giữa chúng Ngoài hoàn cảnh kinh tế là cơ sở ra

Trang 19

còn có các yếu tố khách quan khác nhau của kiến trúc thượng tầng, kể cả các hìnhthái ý thức xã hội như các lý luận chính trị, pháp lý, triết học và sự tác động qua lạigiữa chúng đều tác động mạnh mẽ đến tiến trình lịch sử thậm chí đôi khi còn là tácđộng quyết định.

Quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình diễn ra với sự can thiệpmột cách chủ quan của con người nhằm đưa xã hội nhanh chóng vượt qua mọi ápbức bóc lột để tạo ra một xã hội có trình độ phát triển vừa cao hơn vừa đẹp hơnTBCN, vừa giàu có hơn, vừa không có tình trạng người bóc lột người Sự can thiệpnày có thể làm cho sự phát triển của sản xuất diễn ra mạnh mẽ như chúng ta mongmuốn và cũng có thể kìm hãm sự phát triển ấy Vì vậy, cũng có thể nói toàn bộ sựnghiệp xây dựng CNXH của chúng ta thành công hay thất bại tùy thuộc vào kết quảcủa sự can thiệp đang được đề cập tới, tức là tuỳ thuộc ở kết quả giải quyết mâuthuẫn Trước đây, chúng ta quan niệm phát triển theo con đường CNXH là sự pháttriển theo hướng trong đó sở hữu tư nhân được thay thế bằng sở hữu công cộng,làm ăn cá thể được thay thế bằng làm ăn tập thể, kinh tế tư nhân được thay thế bằngkinh tế quốc doanh hoặc hợp doanh, kinh tế hàng hóa được thay thế bằng kinh tếphát triển tương đối và có kế hoạch, quan hệ bóc lột được thay thế bằng quan hệ cólàm có hưởng, không làm không hưởng, quan hệ hàng hóa được thay thế bằng quan

hệ phân phối hiện vật, cạnh tranh được thay thế bằng một xã hội có trật tự, … Tất

cả những biến đổi trên đây theo những nước đạt đến trình độ phát triển cao của tưbản chủ nghĩa là sẽ diễn ra một cách tất yếu và tự phát Thay thế quá trình pháttriển ấy chúng ta sẽ dùng ý chí của mình để thực hiện các biến đổi đó, buộc sự vậtphải diễn ra nhanh chóng theo ý chúng ta mong muốn Nếu nhìn thẳng vào sự vật

ấy thì phải thấy đây không phải là mâu thuẫn giữa hai con đường phát triển kháchquan, mà thực chất là mâu thuẫn giữa một bên là con đường phát triển tất yếukhách quan theo hướng TBCN với bên kia là sự can thiệp chủ quan của con người

Trang 20

nhằm buộc xã hội đi theo con đường chúng ta mong muốn hướng tới một xã hộimới – XNCN Trong thực tiễn xây dựng CNXH hơn 70 năm qua cho thấy những

nỗ lực chủ quan của chúng ta đã không thành công Những nỗ lực ấy tuy đã tạo rađược một xã hội trong chừng mực nhất định có những nét đẹp hơn TBCN trongviệc chăm lo đến con người, trong mối quan hệ giữa người với người, nhưng đồngthời nó cũng triệt tiêu mất những động lực của sự phát triển xã hội làm cho xã hộicủa chúng ta phát triển chậm hơn so với các nước tư bản về nhiều phương diện.Thực tiễn đó đã buộc chúng ta phải đi giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của thời kỳquá độ lên CNXH theo cách khác

Mâu thuẫn giữa yêu cầu tăng trưởng, phát triển kinh tế với sự bất cập của cơ chế, chính sách khai thác nguồn lực hiện nay.

Để đạt mục tiêu đến năm 2010 thoát khỏi tình trạng một nước kém phát triển,tốc độ phát triển kinh tế thời gian tới phải đạt mức trung bình khoảng 8%/năm(1).Chỉ bằng cơ chế, chính sách như hiện nay, chúng ta khó có thể thực hiện phát triểnđột biến về khả năng khai thác những tiềm năng lớn về tài nguyên, lao động trongnước, về khả năng tận dụng những cơ hội quốc tế để gia tăng mạnh và sử dụng tốtcác nguồn lực từ bên ngoài Nền kinh tế hiện vẫn rất dễ bị tổn thương trước tácđộng không lớn lắm của những biến đổi kinh tế bên ngoài Khoảng cách về kinh tếgiữa nước ta với nhiều nước trong khu vực và thế giới ngày càng mở rộng Sự tụthậu trên lĩnh vực này chưa được ngăn chặn

Mâu thuẫn giữa tính ưu việt của nền kinh tế thị trường đinh hướng XHCN với những hạn chế trong việc tìm ra quyết sách khắc phục mặt trái của kinh tế thị trường.

Tính ưu việt của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa phải được thể hiện ngày càng đậm nét trước hết và chủ yếu ở khả năngbảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực

Trang 21

hiện tiến bộ và công bằng xã hội, trong khi đó, chúng ta chưa tìm được những giảipháp hữu hiệu để giải quyết những hậu quả xã hội do tác động tiêu cực của nhữngmặt trái thuộc kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế gây ra Nhiều vấn đề

xã hội có xu hướng ngày càng gay gắt Đặc biệt, điều làm cho nhân dân hết sức bấtbình, lo lắng là tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân, suy thoái về tưtưởng chính trị và phẩm chất đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,đảng viên rất nghiêm trọng Văn hoá lai căng có xu hướng phát triển Hiện tượng

ma chay, cưới xin, hội hè với nhiều hủ tục được khôi phục ở nhiều nơi Đạo lý xãhội, gia đình xuống cấp Tình huống mất ổn định cục bộ có khả năng xảy ra nhiềuhơn, mức độ phức tạp của tình hình gia tăng hơn… Chúng ta chưa tìm được nhữngphương hướng ngăn chặn có hiệu quả tình trạng đó

Mâu thuẫn giữa tính tất yếu khách quan phải nâng cao sự đồng thuận

xã hội trong đổi đất nước với sự tấn công của các thế lực thù địch trong và ngoài nước nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân là một điều kiện tấtyếu để đưa công cuộc đổi mới tiến lên mạnh mẽ hơn Nhưng, cùng với những yếukém của chính chúng ta, thì sự tác động của các thế lực thù địch nhằm thực hiệnchiến lược “diễn biến hoà bình” đối với nước ta bằng nhiều con đường, nhiều biệnpháp và phương tiện, cả trực tiếp lẫn gián tiếp qua một số phần tử cơ hội về chínhtrị để chống phá trên lĩnh vực tư tưởng -lý luận đã làm cho một bộ phận cán bộ,Đảng viên và nhân dân phân tâm… Chúng ta có phần còn lúng túng, hữu khuynhtrong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này

Mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao tính tích cực chính trị với lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Trong khi cuộc sống đòi hỏi phải thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của nhândân, phát huy đóng góp của nhân dân vào việc hoàn thiện và tổ chức thực hiện

Trang 22

đường lối đổi mới, thì tình trạng thờ Ơ chính trị, chỉ lo vun vén cho lợi ích của bảnthân và gia đình, lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền của một bộ phận cán bộ,đảng viên và nhân dân có chiều hướng gia tăng Chúng ta chưa tìm được cách đểkhắc phục tình hình này với hiệu quả cao.

Mâu thuẫn giữa yêu cầu đẩy mạnh đổi mới hệ thống chính trị với sự thiếu hụt trong những biện pháp mang tính đột phá trên lĩnh vực này.

Công cuộc đổi mới kinh tế đã phát triển tới mức đòi hỏi phải đẩy mạnh hơnnữa việc đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, sự kết hợphài hoà hơn nữa giữa các bộ phận cấu thành hệ thống đó, song, chúng ta chưa cónhững đột phá trên lĩnh vực này Đã có nhiều nghị quyết, nhiều chủ trương chốngquan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhưng hiệu quả thực tiễn còn thấp Bộ máy của hệthống chính trị còn quá cồng kềnh, cơ chế vận hành chưa thật khoa học, tình trạnglẫn lộn chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị còn xuấthiện ở nhiều cấp, nhiều địa phương Việc thực hiện luật pháp, kỷ cương khôngnghiêm Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân Đội ngũ cán bộ, côngchức chưa đủ mạnh, phương pháp hoạt động của nhiều cán bộ đảng, đoàn thể còntrong tình trạng viên chức hoá… Sự yếu kém đó, nếu không được khắc phục cóhiệu quả, thì một số phương diện của hệ thống chính trị sẽ trở thành lực cản lớn đốivới đổi mới trên lĩnh vực kinh tế

Mâu thuẫn giữa quá trình phát triển dân chủ với tình trạng thiếu giá đỡ

về lý luận và thực tiễn cho quá trình đó.

Dân chủ hoá đời sống xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực của đổi mới.Nhưng chúng ta chưa tìm được những giải pháp tất nhất để xác lập vững chắc quanđiểm khoa học về dân chủ phù hợp với điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền,không đa nguyên về chính trị, không tổ chức quyền lực Nhà nước theo nguyên tắcphân quyền, chưa tìm được những cơ chế và hình thức thực hiện dân chủ thích hợp

Trang 23

với truyền thống văn hoá chính trị, với trình độ dân trí, trình độ văn hoá chung củanhân dân Dân chủ trong Đảng, trong xã hội và ở cơ sở tuy đã được nhấn mạnhtrong nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng và các văn bản pháp quy của Nhà nước,nhưng kết quả đạt được trên thực tế còn nhiều hạn chế Cải cách hành chính tiếnhành chậm, thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp Chưa có cơ chế để bảo đảm quyền lựcNhà nước thực sự thuộc về nhân dân, vai trò giám sát thực hiện quyền kiểm tra củanhân dân đối với chính quyền và cán bộ, Đảng viên còn mờ nhạt.

Mâu thuẫn giữa tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế với khả năng giữ vững độc lập tự chủ trong hội nhập và khắc phục những tác động tiêu cực của hội nhập.

Hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là một nhân tố tất yếu để phát triển,nhưng chúng ta còn thiếu nhất quán và lúng túng, bị động trong việc xử lý mốiquan hệ giữa mặt tích cực và tiêu cực của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữađộc lập tự chủ về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế, lúng túng trong việc giảiquyết mối quan hệ giữa hội nhập đồng thời nhiều cấp độ hơn, sâu hơn, rộng hơn, đadạng hơn… với việc giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc

1.2.4 Biện chứng khách quan của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Công cuộc đổi mới vì chủ nghĩa xã hội làm bộc lộ biện chứng khách quan của sự phát triển xã hội; đường lối đổi mới là kết quả của sự vận dụng tổng hợp những quan điểm phương pháp luận cơ bản của triết học mác xít, của phép biện chứng xã hội vào giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt; bản thân quá trình

đổi mới là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn, có tính quy luật Đó là biện chứng

giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội dân sự; giữa tăng trưởng kinh tế, phát triển văn hóa với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa tăng cường đại đòan kết toàn dân tộc với

Trang 24

sự đa dạng hóa ngày một tăng lên về cơ cấu xã hội; giữa việc giữ vững độc lập

tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh giao lưu hợp tác trên nhiều lĩnh vực

Trước hết, về nội dung kinh tế-xã hội: Trong TKQĐ lên CNXH, kết cấu kinh

tế-xã hội TBCN và kết cấu kinh tế-xã hội XHCN cùng chung sống, tác động qualại, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh, thống nhất đa dạng trong nền kinh tế do nhà nước

tổ chức, quản lý Nhà nước này là nhà nước pháp quyền XHCN, mọi quyền lựcthuộc về nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Ngày nay, ở nước ta,

đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nền kinh tế này tồn tại và pháttriển lâu dài trong TKQĐ lên CNXH, nhất là trong điều kiện bỏ qua chế độ TBCN

Nước ta đi lên CNXH từ một nền kinh tế kém phát triển, bỏ qua chế độTBCN, nên phải từng bước xây dựng LLSX hiện đại, đồng thời phải xây dựngQHSX phù hợp Cho nên, mặc dù chúng ta có lợi thế của nước đi sau, có thể đi tắt,đón đầu về khoa học-công nghệ; song TKQĐ lên CNXH của nước ta chắc chắn rấtlâu dài, gian khổ và phức tạp Chỉ khi nào, xã hội mà chúng ta đang xây dựng, tạo

ra được năng suất lao động cao hơn CNTB, thì con đường bỏ qua chế độ TBCN đilên CNXH mới giành được thắng lợi; CNXH mới có cơ sở vững chắc để tồn tại,phát triển, góp phần tích cực thúc đẩy thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trênphạm vi toàn thế giới

Về nội dung chính trị: Vấn đề quan trọng hàng đầu là xây dựng một nhà

nước kiểu mới, gắn liền với xây dựng một nền dân chủ mới Đây là kiểu nhà nướcchưa từng có trong lịch sử nhân loại, là nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọiquyền lực thuộc về nhân dân Để xây dựng được nhà nước đó, thay thế cho kiểunhà nước của các giai cấp thống trị, là quá trình phức tạp, phải tìm tòi, thử nghiệm.Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã dạy chúng ta: cuộc sống sẽ chỉ racái gì có thể đứng vững được; do đó, chúng ta phải tìm tòi, tổ chức một nhà nước

Trang 25

và cơ chế hoạt động như thế nào để thể hiện, đảm bảo và thực sự phát huy vai trò,hiệu lực làm chủ của nhân dân Chẳng hạn như: xây dựng và tổ chức hoạt động củaquốc hội như thế nào, để khi họp, bàn bạc, biểu quyết và đi đến quyết định phải thểhiện được sự thống nhất ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, ; nhất là, tổchức bầu cử quốc hội như thế nào để đảm bảo dân chủ thực sự, thống nhất lòng dân

và sự lãnh đạo của Đảng; Đảng lãnh đạo xây dựng pháp luật nhưng các tổ chứcđảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật;Đảng lãnh đạo cơ quan tư pháp, xét xử, nhưng phải đảm bảo quyền độc lập của cơquan xét xử; Đây là những vấn đề phức tạp, chưa có tiền lệ mà thực tiễn cuộcsống đang đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết có hiệu quả

Tổ chức nhà nước kiểu mới, gắn mật thiết với xây dựng nền dân chủ mới Đó

là nền dân chủ của đa số người dân, trước hết là của nhân dân lao động Nền dânchủ mà nhân dân ta đang xây dựng là nền dân chủ XHCN, ở đó quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, mọi hoạt động của công dân đều phải tuân thủ pháp luật, theoquyết định của đa số Tuy nhiên, ý kiến của thiểu số sẽ được bảo lưu, nếu thực tiễnkiểm nghiệm đúng thì sẽ được vận dụng vào thực tế; nhưng để tổ chức nhân dânxây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì vẫn phải theo quyết định của đa số Tổ chức mộtnền dân chủ như thế phải rất tỉ mỉ, cụ thể Từ trình độ nước kém phát triển, nhândân ta chưa trải qua nền dân chủ tư sản mà bước thẳng lên nền dân chủ XHCN, thìkhông khỏi lúng túng, bỡ ngỡ, khó khăn Vì vậy, việc xây dựng nền dân chủXHCN của nước ta cần thời gian không ngắn, cần trải nghiệm nhiều hình thức,nhiều bước đi để chọn lọc những yếu tố hợp lý, trình độ dân chủ được mở rộng,thấm sâu, dần dần, trên cơ sở phát triển kinh tế và văn hóa của nhân dân ĐảngCộng sản Việt Nam là đảng duy nhất được lịch sử, nhân dân và dân tộc giao phó sứmệnh lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, thì tổ chức nền dân chủ mới ấy càng là

Trang 26

một quá trình tìm tòi, sáng tạo để từng bước thực hiện có hiệu quả phương thức:Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, nhân dân làm chủ.

Những nội dung kinh tế, chính trị của TKQĐ lên CNXH không tồn tại biệtlập mà tác động qua lại Trình độ xây dựng nhà nước, quản lí nhà nước; trình độxây dựng và phát huy nền dân chủ XHCN ảnh hưởng trực tiếp đến những diễn biếnkinh tế và những động lực phát triển kinh tế Trình độ phát triển kinh tế lại làm cơ

sở vững chắc cho nền chính trị mới Nhận thức tự giác nội dung kinh tế, chính trịcủa TKQĐ lên CNXH, chúng ta cần có những giải pháp phù hợp để thúc đẩyTKQĐ đi lên CNXH Giải pháp ở đây là theo nghĩa rộng, là vai trò của yếu tố chủquan, là phát huy tính năng động chủ quan trong đề ra những chủ trương, chínhsách và phương thức tổ chức thực tiễn có hiệu quả

CNXH, về thực chất là sự nghiệp có tính chất kinh tế, nên giải pháp trước

hết, quan trọng hàng đầu là đưa ra những hình thức kinh tế quá độ (KTQĐ) phù hợp

với những đặc trưng của TKQĐ lên CNXH Hình thức KTQĐ là hình thức trunggian giữa CNTB và CNXH, vận động theo định hướng XHCN Lựa chọn hình thứcKTQĐ về thực chất là lựa chọn hình thức, bước đi quá độ về QHSX, mà QHSX,theo Ph Ăng-ghen, là biểu hiện trước hết ở lợi ích kinh tế Vì thế, lựa chọn hìnhthức KTQĐ là lựa chọn một hợp lực về lợi ích kinh tế, một sự giao thoa về lợi íchkinh tế phù hợp, không còn lợi ích hoàn toàn TBCN, nhưng cũng chưa phải lợi íchXHCN đầy đủ; qua đó, tạo động lực hợp lý thúc đẩy phát triển kinh tế Trong hìnhthức KTQĐ, CNTB không chống lại CNXH; mà nó tích cực “cày trên luống càycủa CNXH”; còn CNXH sử dụng một số mặt hợp lý của CNTB để phát triển kinh

tế, thậm chí người lao động có cơ hội học cách quản lý có hiệu quả của các chuyêngia tư sản Những hình thức KTQĐ là những nấc thang tạo nên sự chín muồi dầncủa CNXH cả về phương diện LLSX và QHSX Hình thức KTQĐ cũng là biểu

Trang 27

hiện dân chủ có lãnh đạo trên lĩnh vực kinh tế, giúp nhân dân từng bước tiếp thu,giác ngộ XHCN một cách vững chắc.

Ở nước ta hiện nay, thị trường định hướng XHCN là hình thức KTQĐ tổng quát, bao trùm Nó không phải thị trường TBCN, mà cũng chưa phải là thị trường

XHCN đầy đủ Thị trường định hướng XHCN là một thực thể, một tồn tại, nhữngyếu tố của thị trường và tác động của những quy luật thị trường đều có tính đặc thùđòi hòi khách quan, phù hợp với đất nước, xã hội đang quá độ đi lên CNXH Cácchính sách cũng như các hoạt động khác phải được nhà nước quản lý; nhà nướcphải vận dụng tốt yêu cầu khách quan quá độ đó Chẳng hạn, giá cả lên xuống theoquan hệ cung cầu; tuy nhiên, nhà nước có những biện pháp để giá cả không hoàntoàn tự phát, nhằm giảm bớt khó khăn, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.Biện pháp của nhà nước không phải là xóa bỏ quy luật cung cầu (và cũng khôngthể xóa được quy luật khách quan đó), cũng không phải chủ yếu bằng biện pháphành chính mà chủ yếu bằng biện pháp kinh tế thông qua thực lực của kinh tế nhànước và các công cụ kinh tế để điều chỉnh quan hệ cung cầu, góp phần điều tiết giá

cả trên thị trường Không nên hiểu chỉ trong thị trường TKQĐ mới có quy luậtcung cầu còn trong thị trường XHCN đầy đủ thì không có quy luật cung cầu Vấn

đề là ở chỗ, cường độ hoạt động và tương tác giữa quy luật cung cầu và quy luậtcân đối có kế hoạch thì có sự khác nhau trong TKQĐ và khi CNXH được xây dựngxong

Đời sống kinh tế nước ta đang cho thấy doanh nghiệp cổ phần là hình thức KTQĐ phổ biến, đặc sắc, điển hình; trong đó có các doanh nghiệp hỗn hợp sở hữu

nhà nước và sở hữu tư nhân Dù kinh tế nhà nước chi phối hay không chi phối, thìdoanh nghiệp cổ phần loại này đều thể hiện không thuần túy là kinh tế nhà nướchay kinh tế tư nhân Nó thực sự là hình thức kinh tế trung gian, nhưng dưới sự quản

lý của nhà nước, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì xu hướng vận động của nó không

Trang 28

theo con đường TBCN, mà tiệm tiến lên CNXH Trong doanh nghiệp cổ phần loạinày, có sự dung hợp lợi ích nhà nước và lợi ích tư nhân; đặt trong chế độ XHCN,

nó trở thành động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế Thực tiễn đã chỉ ra, nếu trongTKQĐ lên CNXH mà chỉ chú trọng lợi ích nhà nước, thì không có động lực trựctiếp; trái lại, nếu chỉ chú trọng lợi ích tư nhân thì không còn là CNXH nữa Đươngnhiên, vẫn có những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, theo đó nhà nước nắm giữnhững vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân; những doanh nghiệp 100% vốn tưnhân, theo đó chịu sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước XHCN Kinh nghiệm xâydựng CNXH ở nước ta (từ 1975 đến 1986) cho thấy, sự chủ quan duy ý chí và bước

đi nóng vội, bỏ qua những hình thức quá độ trung gian, đã không thành công Thựctiễn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, dưới sự lãnh đạo củaĐảng (1986-2010) cho ta bài học quý giá: hình thức quá độ trung gian là sự chọnlựa đúng đắn, đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển nhanh, bền vững

TKQĐ lên CNXH ở nước ta dài hay ngắn tùy thuộc một phần quan trọng vàotính năng động chủ quan của chúng ta; làm đúng, làm tốt thì thời gian ngắn, làm dởthì sẽ kéo dài Xuất phát từ thực tiễn, vận dụng lý luận, tổng kết thực tiễn, vữngvàng nguyên tắc, linh hoạt trong hình thức, bước đi, là một trong những chìa khóađưa sự nghiệp xây dựng CNXH của Đảng và nhân dân ta đến thành công

Trang 29

PHẦN THỨ II: CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY 2.1 Cách mạng khoa học công nghệ và kinh tế tri thức

2.1.1 Cách mạng KHCN và các cuộc cách mạng KHCN trên thế giới từ trước đến nay

Khoa học là gì?

Hiện nay, người ta đề cập đến khái niệm khoa học ở ba khía cạnh sau:

- Khoa học là hệ thống những hiểu biết hoặc tri thức của con người về tựnhiên - xã hội - tư duy, nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyêntắc, phạm trù, tiền đề

- Khoa học là một hình thái ý thức - xã hội thể hiện tồn tại xã hội trong nộidung, mục đích và các chuẩn mực giá trị, các nguyên lý thế giới quan trong triếthọc và bức tranh chung về thế giới

Trang 30

- Khoa học là một dạng hoạt động lao động của con người, nó ra đời trongquá trình chinh phục giới tự nhiên và khoa học giúp nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa con người Đó là một hình thức hoạt động đặc thù, là hoạt động nhận thức Nó

ra đời chỉ ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử Từ ba khía cạnh trên,chúng ta có thể định nghĩa, khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của

tự nhiên, xã hội và tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhậnkiến thức

Công nghệ, theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương pháp,quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lựcthành sản phẩm Công nghệ bao gồm nhiều khâu như : điều tra, nghiên cứu, thửnghiệm, sản xuất thử¦ đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo¦ tham gia vào quátrình tạo ra sản phẩm cuối cùng Công nghệ cũng chính là bản thân những thao táckhai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra¦ đó đều là mỗi phần củaquá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuối cùng nhất định Công nghệ gồm bốn thành phần THIO: thành phần kỹ thuật T (Technoware), thànhphần con người H (Humanware), thành phần thông tin I (Inforware) và thành phần

Trang 31

tổ chức quản lý O (Orgaware) Bốn thành này có tác động qua lại với nhau và cùngthực hiện bất kỳ quá trình sản xuất và dịch vụ nào

Cách mạng KHKT là gì?

Hệ thống kỹ thuật của mỗi thời kỳ lịch sử quyết định lực lượng sản xuất củathời kỳ đó và tính chất nền văn minh của xã hội đó Trong thời kỳ Cổ đại và Trungđại đó là nền văn minh nông nghiệp Ở phương Tây, từ cuối thế kỷ XVIII đến giữathế kỷ XX đó là văn minh công nghiệp Với hệ thống công nghệ đương đại, xã hộiloài người tại các nước khoa học và công nghệ phát triển đang chuyển sang mộthình thái mới được gọi một cách quy ước là xã hội hậu công nghiệp, Avin Tollergọi là nền văn minh làn sóng thứ ba Thực chất đó là xã hội thông tin với vai tròchủ đạo của thông tin và trí tuệ Để có được nền văn minh đó trước tiên phải kể đếnvai trò đáng kể của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật thế kỷ XX Thuật ngữ cách mạng khoa học kỹ thuật có nhiều cách viết khác nhau Từ sau chiếntranh thế giới lần thứ hai đến sau những năm 60 thuật ngữ này được viết là cáchmạng Khoa học và Kỹ thuật Đầu những năm 60 là khái niệm cách mạng Khoa học

và Công nghệ Đến năm 70 lại là cách mạng Khoa học - Kỹ thuật Tuy các kháiniệm này khác nhau về cách thức thể hiện nhưng nó đều phản ánh cuộc cách mạngkhoa học kỹ thuật diễn ra vào thế kỷ XX

Cách mạng hiểu theo nghĩa thông thường nghĩa là thay cũ, đổi mới với sự rađời của cái mới tiến bộ hơn cái cũ, ưu việt hơn cái cũ về chất Cách mạng khoa học

kỹ thuật cũng vậy; đó là một sự thay đổi kỹ thuật cũ bằng một kỹ thuật mới, tiến bộhơn kỹ thuật cũ từ đó làm cho năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần so với kỹthuật sản xuất trước đây

Ví dụ: Nếu như trước năm 1947 khi chất bán dẫn chưa được tìm thấy thì đènđiện tử trong các thiết bị điện tử là các đèn điện tử bằng sợi đốt với catốt và anốt rấtphức tạp, cồng kềnh và tiêu hao nhiều nhiên liệu cho nên nó chưa được ứng dụng

Trang 32

rộng rãi trong sản xuất Đến khi khoa học tìm ra chất bán dẫn và năm 1947 ba nhàvật lý ở Bell Laboratories đã phát minh transistor, tạo điều kiện thuận lợi cho việcthu nhỏ mạch phức tạp và từ đó trở đi, các linh kiện bán dẫn đã thay thế các đènđiện tử bằng sợi đốt trước đây Và một thời gian sau, mạch tổ hợp IC ra đời cho đếnnay đã được ứng dụng trong hầu hết các thiết bị điện Hoặc sự ra đời của công nghệlaze được coi là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của thế kỷ XX Nó đượcứng dụng trong nhiều ngành khoa học và kỹ thuật đặc biệt là trong thông tin Như vậy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật với nội dung cơ bản là thuyết lượng tử

và thuyết tương đối đã mở ra cho khoa học những chân trời mới, bao la đi vào tầngsâu thẳm của cấu trúc vật chất, lao vào cái vô cùng tận của vũ trụ, đi sâu tìm hiểu

sự sống ở mức phân tử và cơ chế tư duy Có thể nói cuộc cách mạng khoa học kỹthuật ra đời gắn liền với sự ra đời của các phát minh trong các lĩnh vực khác nhaucủa khoa học kỹ thuật như trong điều khiển học (điều khiển từ xa bằng công nghệ

vô tuyến, hồng ngoại¦), di truyền học (phát minh ra cấu trúc xoắn kép AND mang

mã di truyền của sự sống năm 1953 của Watson và Crick), thiên văn học (vớithuyết BigBang về cấu trúc tiến hóa của vũ trụ, con người đặt chân lên mặt trăng¦),công nghệ sinh học¦v v

Tóm lại, cách mạng khoa học kỹ thuật là một bước tiến cao hơn so với cuộccách mạng công nghiệp thế kỷ XIX Với cuộc cách mạng này thì con người bướcsang sang một phương thức sản xuất mới là tự động hóa thay cho cơ khí hóa trướcđây Đó là sự đi tiếp của cách mạng công nghiệp đã loại bỏ yếu tố cơ khí và sửdụng điện từ, con người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất

Cách mạng khoa học công nghệ là gì?

Từ những thành tựu khoa học kỹ thuật đầu thế kỷ XX tạo cơ sở cho sự xuấthiện một hệ thống công nghệ mới, kỳ diệu khác hẳn về chất so với hệ thống côngnghệ trước đây của cách mạng công nghiệp, tạo ra một cuộc cách mạng khoa học

Trang 33

công nghệ, đã đưa lại cho con người một sức mạnh phi thường, có thể tạo ra nhữngloại vật liệu có tính năng mong muốn, những giống loài thực vật, động vật theo yêucầu của con người, kể cả những loài không có trong tự nhiên, có khả năng khámphá những nguồn năng lượng khổng lỗ ẩn náu trong hạt nhân nguyên tử, khôngngừng tạo ra những kỷ lục mới trong việc chinh phục không gian và thời gian Và

hệ thống công nghệ đó còn rất trẻ và rất sung sức, tiềm năng còn rất lớn, hứa hẹnnhững thành tựu kỳ diệu hơn nữa trong thế kỷ XXI

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ là một giai đoạn phát triển của cuộccách mạng khoa học kỹ thuật, nó bắt đầu hình thành và phát triển từ những năm 80,

90 của thế kỷ XX Các thành tựu khoa học và công nghệ kỳ diệu nhất của thế kỷ

XX mà con người đạt được là: con người bay vào vũ trụ, sử dụng năng lượngnguyên tử, công nghệ gen, máy tính và mạng internet Có thể nói rằng cách mạngkhoa học công nghệ và cách mạng khoa học kỹ thuật là hai khái niệm có gắn bóchặt chẽ với nhau Nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật tạo điều kiện cho sự

ra đời của công nghệ mới và từ đó lại thúc đẩy các ngành khoa học kỹ thuật pháttriển hơn nữa bởi khoa học công nghệ là sự ứng dụng của khoa học kỹ thuật để giảiquyết các vấn đề trong thực tiễn, trong hoạt động của con người Bản thân côngnghệ đã chứa đựng trong nó thành phần kỹ thuật; một trong bốn thành phần tạo nêncông nghệ Vì vậy khoa học kỹ thuật phát triển sẽ làm cho khoa học con người pháttriển theo

Tóm lại, hai khái niệm cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng khoa học

công nghệ đều là một thể thống nhất không tách rời nhau Người ta sử dụng từ cáchmạng khoa học kỹ thuật để chỉ cuộc cách mạng từ đầu thế kỷ XX, còn từ cáchmạng khoa học công nghệ là chỉ một giai đoạn phát triển của cách mạng khoa học

kỹ thuật từ những năm 80, 90 của thế kỷ XX Cách mạng khoa học công nghệ làmột bước tiến của cách mạng khoa học kỹ thuật

Trang 34

Các cuộc cách mạng KHCN trên thế giới từ trước đến nay

Đến nay nhân loại đã trải qua 3 cuộc cách mạng công nghiệp:

1 Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Đây là cuộc cách mạng xuất hiện cuối thập niên 18, đầu thập niên 19 đượcbắt dầu ở Anh và lan tỏa ra các nước châu Âu Nó thay thế lao động thủ công cótính truyền thống của thời đại nông nghiệp kéo dài 17 thế kỷ chủ yếu dựa vào sứcmạnh gỗ, nước, sức mạnh cơ bắp rồi sau đó chuyển sang lao đọng máy móc tạo ra

sự phát triển của lực lượng sản xuất Đây là giai đoạn chuyển từ nền sản xuất nôngnghiệp sang sản xuất cơ khí

2 Cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Cuộc cách mạng này diễn ra cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 với hệ thống kỹthuật dựa trên động lực là động cơ đốt trong, nguồn năng lượng là dầu mỏ, khí đốt

đã tạo cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp Yếu tố quyết định của cuộc cáchmạng công nghiệp lần thứ hai này là điện cơ khí và bắt đầu chuyển sang giai đoạn

tự động hóa cục bộ

3 Cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Được bắt đầu thập niên 40 thế kỷ XX đến nay bao gồm hai giai đoạn kế tiếpnhau:

Giai đoạn 1: Cách mạng khoa hocxj kỹ thuật được bắt đầu giữa thập niên

40 đến thập niên 70 của thế kỷ 20 Trong giai đoạn này là sự phát triển mạnh mẽcác ngành khoa học: Toán, Lý thuyết ứng dụng, Vật lý hạt nhân, Vật lý chất rắn,Điện tử, Vi điện tử… đã đưa khoa học lên vị trí trọng yếu trong đời sống xã hội tạo

ra những biến đổi về chất đối với lực lượng sản xuất

Giai đoạn 2: Cách mạng khoa học diễn ra cuối thập niên 70 của thế kỷ 20đến nay và cuộc cách mạng khoa học công nghệ có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 35

+ Sự vượt lên trước khoa học so với kỹ thuật công nghệ trong quá trình

diễn ra đồng thời cuộc cách mạng khoa học và cách mạng công nghệ

+ Các yếu tố riêng biệt của quá trình sản xuất được kết hợp hữu cơ vớinhau, được kết nối thành hệ thống lien kết mạng trên quy mô quốc gia, quốc tế(máy điều khiển, máy công cụ, kết nối mạng, liên mạng)

+ Hầu hết các chức năng của lao động dần dần thay thế từ thấp lên cao, từlao động chân tay đến lao động trí óc

+ Tạo bước ngoặt đáng kể trong toàn bộ hệ thống lực lượng sản xuất thúcđẩy năng suất lao động xã hội tăng lên và nâng cao hiệu quả của nền sản suất xãhội Đây là bước ngoặt về chất lao động trên cơ sở khoa học công nghệ

2.1.2 Kinh tế tri thức và đặc trưng của kinh tế tri thức

Căn cứ vào thực tiễn thế giới, đặc biệt là ở những nước nền kinh tế tri thức

đã bắt đầu hình thành như đã nói trên, các nhà khoa học đưa ra một số định nghĩa

về Kinh tế tri thức ở Việt Nam, Giáo sư Đặng Hữu đã định nghĩa như sau: “Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế sử dụng có hiệu quả tri thức cho phát triển kinh tế và

Trang 36

xã hội, bao gồm cả việc khai thác kho tri thức toàn cầu, cũng như làm chủ và sáng tạo tri thức cho những nhu cầu của riêng mình” 4

Trên thế giới có nhiều định nghĩa có đôi chút khác nhau:

Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa: Một nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức là một nền kinh tế mà việc sản sinh và khai thác tri thức

có vai trò nổi trội trong quá trình tạo ra của cải.

Cũng trong năm 1998, công trình “The Knowledge Economy” của NXB Butterworth Heinemann cho rằng: Chưa có một định nghĩ chính xác được chấp nhận chung về nền kinh tế tri thức, nhưng có thể nói rằng, đặc trưng nổi bật nhất của kinh tế tri thức là tri thức đã vượt qua các nhân tố sản xuất truyền thống là vốn

và sức lao động, để trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia Nói một cách khác, đang có

sự chuyển biến toàn cầu từ các nền kinh tế dựa trên bắp thịt và tiền vốn chuyển sang các nền kinh tế dựa trên trí não.

Nhà học giả Trung Quốc Ngô Quý Tùng cho rằng: Tổng hợp các khái niệm

về kinh tế tri thức từ 30 năm nay, có thể thấy định nghĩa tương đối sát thực nhất về

“kinh tế tri thức” là: Nền kinh tế mà trong đó nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối trí lực và việc sáng tạo, phân phối, sử dụng tri thức trong các ngành sản xuất có hàm lượng khoa học kỹ thuật cao.

Tác giả Tian Zhong Qing, đưa ra một định nghĩa ngắn gọn: “Nền kinh tế dựa trên tri thức là một loại nền kinh tế được hình thành trên cơ sở sản xuất, phân phối, áp dụng và sử dụng tri thức và thông tin” 5 Định nghĩa này giống với địnhnghĩa của Tổ chức nghiên cứu của Liên hợp quốc đã dẫn ra ở trên, nhưng tác giả lại

tác động xã hội chính trị ở Đông Á” ở Tokyo, 25 và 26/10/2000.

Trang 37

giải thích kỹ càng thêm: “nền kinh tế này có nhiều lớp ý nghĩa: Thứ nhất, các nhân

tố sản xuất mà tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào, đã thay đổi về cơ bản Sự đổi mới và tích luỹ tri thức khoa học đã làm cho tri thức trở thành nhân tố sản xuất chủ yếu Thứ hai, thiết bị sản xuất, cũng có ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế, thay đổi về cơ bản Các “thiết bị thông minh”, chẳng hạn như máy tính, các loại phần mềm, mạng, đặc biệt là mạng Internet, đã cho thấy tầm quan trọng của chúng trong các hoạt động chế tác và quản lý Thứ ba, các ngành dẫn đầu có ảnh hưởng chủ yếu đến tăng trưởng kinh tế, đã có sự thay đổi về chất Người ta hy vọng rằng ngành thông tin sẽ thay thế ngành dầu lửa như ngành công nghệ số 1 Thứ tư, những thay đổi to lớn đang diễn ra trong các khu vực tiêu dùng cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến tăng trưởng kinh tế Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm dựa trên tri thức đang tăng lên nhanh chóng và hoạt động buôn bán bằng sáng chế và công nghệ đang trở thành một trong những hoạt động thương mại có sự tăng trưởng nhanh nhất thế giới.”

Như vậy, mỗi định nghĩa tuy có sự diễn giải đôi chút khác nhau, nhưng nộidung cơ bản là thống nhất với định nghĩa của Tổ chức nghiên cứu của Liên hợp

quốc Một số nhà khoa học còn thống nhất với nhau về: “Những tiêu chí của nền kinh tế tri thức”, cho rằng có thể gói gọn trong 4 con số 70%:

Trên 70% GDP là do các ngành sản xuất và dịch vụ ứng dụng công nghệ caomang lại Trong cơ cấu giá trị gia tăng, trên 70% là kết quả của lao động trí óc.Trên 70% lực lượng lao động là lao động trí óc hoặc có thể gọi là công nhân trithức Trên 70% vốn là vốn về con người

Nhìn chung lại, khái niệm “kinh tế tri thức” phản ánh một đặc điểm tổng

hợp, bao trùm nhiều mặt của đời sống xã hội ở các nước đã đi vào kinh tế tri thứcnhư Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số nước Tây Âu Trong nền kinh tế này, tỷ trọng cácngành sản xuất vật chất suy giảm không ngừng, tỷ trọng các ngành sản xuất phi vật

Trang 38

chất, dịch vụ tăng nhanh chóng và giữ vai trò chủ đạo, trong đó lĩnh vực tri thứcthông tin phát triển mạnh nhất Sở hữu trí tuệ trở thành hiện thực phổ biến Tươngứng với cơ cấu kinh tế đó, lợi nhuận thu được từ lao động đơn giản, đất đai, tư bảnngày càng giảm đi một cách tương đối Các ngành công nghiệp viễn thông, sảnxuất công cụ và thiết bị xử lý thông tin và việc ứng dụng khoa học công nghệ vàokhoa học, y tế, giáo dục phát triển với tốc độ cao Chính phủ các nước OECD (tổchức hợp tác kinh tế và phát triển) chú trọng đầu tư vào lĩnh vực này, coi đây làchiến lược phát triển kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá của thế giới Theo báo

cáo tổng quan của Liên Hợp Quốc: “Từ đầu năm 1980, chính phủ Mỹ đã đề ra chương trình “SDI” bao gồm hệ thống lade cực mạnh, các hệ thống vệ tinh các loại, hệ thống điều khiển tự động và hệ thống siêu máy tính điện tử Từ năm 1984 đến nay, hàng năm chính phủ Mỹ dành cho nghiên cứu-triển khai một tỷ lệ ngân sách lớn từ 2,6 đến 2,8% tổng sản phẩm quốc dân Theo số lượng tuyệt đối thì đầu

tư cho khoa học-kỹ thuật, công nghệ tăng từ 101 tỷ đô la năm 1984 lên 157,4 tỷ đô

la năm 1992, tức là tăng gấp hai lần so với năm 1982(80 tỷ) Từ những năm 70, chính phủ Nhật Bản đã đề ra chương trình vi điện tử (V.L.S.I) và đến năm 80 đã chi cho chương trình đó 123 tỷ đô la Sau đó Nhật Bản đã đề ra chương trình sản xuất máy tính điện tử thế hệ 5 Những năm 90 Nhật Bản đã chi khoảng gần 3% tổng sản phẩm quốc dân cho việc nhgiên cứu - triển khai, với số tiền 120 tỷ đô la Các nước Tây Âu cũng tăng cường cạnh tranh với Mỹ, Nhật Bản trong việc triển khai cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba này Chương trình Eureca ra đời trong những năm 80 nhằm thúc đẩy các nước Tây Âu hợp tác nghiên cứu một

số lĩnh vực mũi nhọn như máy tính điện tử, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng mặt trời Đầu những năm 90, Đức đứng thứ hai sau Nhật Bản và trên Mỹ về

tỷ lệ chi phí tổng sản phẩm quốc dân cho lĩnh vực khoa học công nghệ”6

Trang 39

Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức

Thứ nhất, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó khoa học đã

trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp.

Mặc dù trước kia khoa học cũng đã tác động vào quá trình sản xuất nhưng đómới chỉ là gián tiếp Tri thức chỉ góp phần tạo ra các công cụ lao động ngày càngtinh xảo, từ thấp đến cao, từ công cụ cầm tay đến công cụ cơ khí, điện tử Bằngcông cụ con người làm ra sản phẩm Còn ngày nay khoa học đã tham gia trực tiếpvào quá trình sản xuất bằng việc tạo ra công nghệ cao, tạo ra phương pháp tổ chứcquản lý khoa học ngày một hiện đại nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả laođộng, đổi mới sản phẩm

Đặc biệt là khoa học có thể trực tiếp làm ra sản phẩm hoàn toàn mới, như sảnphẩm phần mềm trong công nghệ thông tin Ngay trong kỹ thuật điện tử tuy đã cótrong cách mạng công nghiệp, nhưng chưa trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,thì hiện nay công nghệ thông tin với mạng Internet, siêu xa lộ thông tin thật sự

đã do khoa học trực tiếp làm ra

Trong sinh học, công nghệ gien đã trực tiếp tạo ra sinh vật như cho ra đờichú cừu Dolly, tạo ra những bộ phận cơ thể của con người để thay thế những bộphận đã hư hỏng, thậm chí công nghệ gien còn có thể tạo ra cả một con người nhântạo cụ thể mà nhân loại đang lo ngại và ngăn ngừa

Thứ hai, nếu trong các nền kinh tế trước, vốn và lao động là quan trọng

nhất thì trong kinh tế tri thức, tri thức và tài nguyên thông tin (yếu tố tinh thần) là

Trang 40

quan trọng nhất Nói về tầm quan trọng của tri thức trong sản xuất, so với sựchuyển biến về nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, thì sự chuyển biến từ kinh tếcông nghiệp sang kinh tế tri thức là có ý nghĩa sâu sắc và trọng đại hơn.

Trước hết, đó là sự chuyển biến từ một nền sản xuất dựa vào vốn, tài nguyên,lao động là chính, sang nền sản xuất dựa vào trí tuệ con người là chính, cũng tức là

từ lực lượng sản xuất vật chất là chủ yếu sang lực lượng sản xuất tinh thần là chủyếu Trước kia, người ta cho rằng chỉ có lao động và vốn là các yếu tố của sản xuất,còn tri thức, công nghệ, giáo dục là các yếu tố bên ngoài của sản xuất, chỉ có ảnhhưởng tới sản xuất Nay nhiều nhà kinh tế thừa nhận tri thức là yếu tố bên trong của

hệ thống kinh tế, coi tri thức là một trong ba yếu tố không thể thiếu được của sảnxuất (vốn, lao động và tri thức) Vì vậy mà về đầu tư, trước kia đầu tư vào vốn làquan trọng hơn cả thì nay đầu tư vào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăngtrưởng kinh tế Trong các nước công nghiệp phát triển đầu tư vô hình như giáo dục,đoà tạo, vào khoa học công nghệ, văn hoá, việc tạo ra nguồn lực con người đãtăng nhanh hơn đầu tư hữu hình

Đặc biệt trong nền kinh tế tri thức, khi tri thức đã trở thành yếu tố quan trọngnhất của sản xuất thì nó lại có đặc điểm khác là các yếu tố vốn và lao động ở chỗ:người có kiến thức nếu trao cho người khác thì kiến thức của anh ta không bị mất

đi mà còn được sử dụng tốt hơn Càng trao cho nhiều người thì khả năng sử dụngcủa nó để tạo ra của cải, lợi ích càng nhiều hơn Mặt khác chi phí cho việc phổ biếntri thức ra công chúng để làm tăng số lượng người sử dụng lại là không đáng kể.Không phải như các nguồn lực khác đã bị mất đi khi được sử dụng, còn tri thức vàthông tin lại có thể được chia sẻ mà không bị mất đi, trên thực tế lại tăng lên khi sửdụng Nền kinh tế tri thức do đó là một nền kinh tế dư dật chứ không phải khanhiếm

Ngày đăng: 05/04/2016, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w