Bài mở đầu- Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới, - Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và In
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Bài giảng Bảo tồn đa dạng sinh học
CBGD: Ths Trần Văn Phước
Nha Trang, tháng 2 năm 2017
Trang 3Bài mở đầu
- Việt Nam là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh
học cao trên thế giới,
- Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc
vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo –
Malaysia,
- 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích
đất liền của thế giới,
- Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc
duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái,
- Nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành
Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản,
- Do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài
nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị
suy giảm,
Trang 4- Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp,
- Nhiều taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ
bị tuyệt chủng,
- Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp,
- Thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn
ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và
phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu
đối với bảo tồn ĐDSH,
Chương 1 Một số khái niệm cơ bản về đa dạng sinh học
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Khái niệm
1.1.2 Sự cần thiết bảo vệ đa dạng sinh học
1.2.Các cấp độ chính của đa dạng sinh học
1.2.1 Đa dạng gen
1.2.2 Đa dạng loài
1.2.3 Đa dạng hệ sinh thái
Trang 51.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Khái niệm
- ĐDSH: Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống
trên trái dất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi
sinh vật, là những gen chứa trong các loài, là những hệ
sinh thái vô vùng phức tạp cùng tồn tại trong môi
- ĐDSH cần phải được xem xét ở ba mức độ Đa dạng
sinh học ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên trái
đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và nấm,
- Ở mức nhỏ hơn, đa dạng sinh học bao gồm sự khác
biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các
quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa
các cá thể cùng chung sống trong một quần thể,
- ĐDSH cũng bao gồm sự khác biệt trong các quần xã
sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái
trong đó các quần xã tồn tại và cả sự khác biệt của các
mối tương tác giữa chúng với nhau,
Trang 6Các mức độ đa dạng sinh học (Heywood& Baste 1995)
Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái
Giới (Kingdoms) Quần thể (Populations) Sinh đới (Biomes)
Ngành (Phyla) Cá thể (Individuals) Vùng sinh học (Bioregions)
Lớp(Class) Nhiễm sắcthể (Chromosomes) Cảnh quan (Landscapes)
Loài (Species)
1.1.2 Sự cần thiết bảo vệ đa dạng sinh học
a Tầm quan trọng của Đa dạng sinh học
+ Gía trị sinh thái và môi trường
Chúng duy trì sư ổn định và màu mỡ của đất, nước ở
hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô
nhiễm, giảm nhẹ thiên tai,
- Bảo vệ tài nguyên đất và nước:Các quần xã SV đóng
vai trò rất quan trọng: bảo vệ rừng đầu nguồn, đặc
biệt thảm thực vật có thể làm nhẹ mức độ hạn hán, lũ
lụt cũng như duy trì chất lượng nước và đất canh tác,
Trang 7a Tầm quan trọng của Đa dạng sinh học (tt)
- Điều hòa khí hậu: Quần xã thực vật có vai trò quan trọng
trong việc điều hòa khí hậu địa phương, khí hậu vùng và
cả khí hậu địa toàn cầu,
- Phân hủy các chất thải :Các quần xã sinh vật, đặc biệt các
loài nấm và vi sinh vật có khả năng hấp thụ, hấp thụ và
phân hủy các chất ô nhiễm như kim loại nặng, thuốc trừ
sâu và các chất huy hại khác,
+ Gía trị kinh tế
ĐDSH trên toàn cầu có thể cung cấp cho con người một
giá trị tương đương 33.000 tỷ USD/mỗi năm,
a Tầm quan trọng của Đa dạng sinh học (tt)
Năm 2016, riêng hàng xuất khẩu của ngành thủy sản
Việt Nam đã có giá trị 7 tỷ USD Ngành nông, lâm
nghiệp hiện đang quản lý nguồn tài nguyên rừng có giá
trị vô cùng to lớn,
Gía trị được tính ra tiền do việc khai thác sử dụng mua
bán hợp lý các tài nguyên ĐDSH,
ĐDSH đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát
triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về
ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo,
Trang 8a Tầm quan trọng của Đa dạng sinh học (tt)
ĐDSH cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến
nông sản: mía đường, bông vải, cây lấy dầu, cây lấy sợi,
thuốc lá, cói, hạt điều,
ĐDSH góp phần nâng cao do phì nhiêu của đất, qua đó
làm tăng giá trị nông sản,
ĐDSH đang được thương mại hóa trong phát triển du
lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và quan sát cảnh quan
môi trường,
+ Gía trị xã hội và nhân văn
Trên Thế giới, một số loài động vật hoang dã được coi
là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác
phẩm hội họa, điêu khắc,
Cuộc sống văn hóa của con người Việt Nam rất gần gũi
thiên nhiên, các loài động, thực vật nuôi trồng hay
hoang dã và các sản phẩm của chúng đã quen thuộc với
mọi người dân, đặc biệt người dân sống ở vùng nông
thôn và miền núi, như lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải
Phòng), lễ hội đua thuyền, lễ hội cầu ngư (miền Trung,
Việt Nam),
Trang 9* Gía trị xã hội – nhân văn của ĐDSH thể hiện tập
trung ở các mặt sau:
- Tạo nhận thức, đạo đức và văn hóa hưởng thụ thẩm mỹ
công bằng của người dân,
- ĐDSH góp phần đắc lực trong việc giáo dục con người,
đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, lòng yêu thiên nhiên, yêu
quê hương, đất nước,
- ĐDSH là yếu tố chống căng thẳng, tạo sự thoải mái cho
con người,
- ĐDSH góp phần tạo ổn định xã hội thông qua việc bảo
đảm an toàn lương thực, thực phẩm, thỏa mãn các nhu
cầu của người dân về đầy đủ các chất dinh dưỡng, về ăn
mặc, nhà ở tham quan du lịch và thẩm mỹ,
b Sự cần thiết cần phải bảo vệ ĐDSH
+ Đạo đức: Cơ sở đạo đức của bảo tồn thiên nhiên được
nhấn mạnh tại hiến chương “Thế giới vì thiên nhiên” do
Đại hội Liên hợp Quốc đưa ra: “Mỗi một dạng của sự
sống là độc nhất, nó cần được tồn tại mà không kể đến
giá trị của nó đối với con người và để sống hòa hợp với
các sinh vật khác, hành động của con người cần chịu sự
hướng dẫn của một quy tắc về đạo đức”,
+ Cân bằng sinh thái: ĐDSH cần phải bảo tồn nhằm giữ
cho sinh quyển ở trạng thái cân bằng và thực hiện được
chức năng của nó,
Trang 10b Sự cần thiết cần phải bảo vệ ĐDSH (tt)
+ Kinh tế: ĐDSH là nguồn tài nguyên tái tạo, nó sẽ được
duy trì và sinh sôi nẩy nở phục hồi nhanh giá trị ban đầu
khi chúng ta sử dụng, nếu con người biết sử dụng hợp
lý, phát triển bền vững và đối xử thân thiện với môi
trường Phát triển bền vững là nguyên tắc cơ bản của
phát triển kinh tế, xã hội và xu thế tự nhiên của HST Vì
vậy, bảo tồn ĐDSH tức là đã bảo vệ được nền kinh tế
một cách bền vững,
+ Thẩm mỹ: Những cảnh đẹp thiên nhiên bao giờ cũng
gắn liền với cảnh quan, cây cỏ và muông loài Các tác
phẩm văn học nghệ thuật chỉ có thể hình thành khi con
người gắn với thiên nhiên,
b Sự cần thiết cần phải bảo vệ ĐDSH (tt)
+ Gía trị tiềm ẩn: Cho đến nay, phần lớn giá trị của
ĐDSH chưa được phát hiện và khai thác, nghĩa là tiềm
năng của ĐDSH chưa được nhận thức một cách đầy
đủ Số còn lại đang ẩn chứa nhiều tiềm năng lớn về giá
trị của chúng, nhưng vì trình độ khoa học kỹ thuật
hiện nay chưa cho phép con người có thể phát hiện tất
cả những bí mật của thiên nhiên,
Trang 111.2 Các cấp độ chính của đa dạng sinh học
1.2.1 Đa dạng di truyền
Là tất cả các gen di truyền khác nhau của tất cả các cá
thể thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật Đa dạng di
truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau,
Là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong
cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng
về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc
giữa các quần thể,
Là biểu hiện sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền
trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các
quần xã,
1.2.1 Đa dạng di truyền (tt)
- Các cá thể có bộ gen khác nhau quy định sự khác nhau về
hình thái ngoài Sự khác nhau cũng do đột biến gen,
Mô hình về sự biến dị:
- Khác kiểu gen, nhưng sống trong MT giống nhau cho
kiểu hình giống nhau,
- Cùng kiểu gen, nhưng sống trong MT khác nhau cho
kiểu hình khác nhau,
- Kiểu hình của các cá thể được thể hiện bởi các tính chất
về hình thái, sinh lý, sinh thái và được đặc trưng bằng các
kiểu di truyền trong từng môi trường xác định,
Trang 121.2.2 Đa dạng loài
Là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy
tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó,
Là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của
một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác
nhau,
Số lượng các loài chỉ đơn thuần cho biết một phần về
đa dạng sinh học, những sinh vật có sự khác biêt rõ rệt
về một số đặc điểm đặc thù sẽ có vai trò quan trọng đối
với đa dạng sinh học hơn nhiều so với những sinh vật
giống nhau,
1.2 Các cấp độ chính của đa dạng sinh học
Trang 14Đa dạng loài bao gồm tất cả loài trên trái đất Mỗi
loài thường được xác định theo một trong hai cách:
Thứ nhất, một loài được xác định là một nhóm các cá
thể có những đặc tính hình thái, sinh lý, sinh hoá đặc
trưng khác biệt với những nhóm cá thể khác (định
nghĩa về hình thái của loài),
Thứ hai là một loài có thể được phân biệt như là một
nhóm cá thể có thể giao phối giữa chúng với nhau để
sinh sản thế hệ con cái hữu thụ và không thể giao
phối sinh sản với các cá thể của các nhóm khác (định
nghĩa về sinh học của loài),
1.2.2 Đa dạng loài (tt)
Là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại
một khu vực nhất định tại một vùng nào đó,
Là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của
một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác
nhau,
Số lượng các loài chỉ đơn thuần cho biết một phần về
đa dạng sinh học, những sinh vật có sự khác biêt rõ rệt
về một số đặc điểm đặc thù sẽ có vai trò quan trọng đối
với đa dạng sinh học hơn nhiều so với những sinh vật
giống nhau,
Trang 151.2.2 Đa dạng loài (tt)
Các loài khác nhau sống trong một sinh cảnh xác
định tạo nên quần xã sinh vật Cấu trúc của quần xã
sinh vật bao gồm nhiều chỉ số sinh thái khác nhau như
sự đa dạng về thành phần loài, đa dạng về thông tin,
mức độ giàu có của các loài cũng như sự ưu thế của
loài hay nhóm loài trong quần xã sinh vật,
Mức đa dạng về các thành phần cấu trúc của quần
xã được thể hiện dưới cả 2 chỉ số: Mức giàu có (hay
độ phong phú) của loài và mức bình quân (hay sự san
bằng) của các loài với các chỉ số dưới đây:
+ Chỉ số về mức giàu có (hay độ phong phú) về loài
được R Margalef (1958), H.I Odum và cộng sự (1980),
E.F Menhinick (1964) mô tả bằng biểu thức:
d - Mức giàu có của loài, S - số loài, N- tổng số cá thể
Để tính d người ta thường dùng logarit tự nhiên (loge),
Chỉ số đa dạng (mức giàu có) của loài còn được E.H
Simpson (1949) mô tả theo biểu thức:
ni là số lượng cá thể của một loài i nào đó, pi là xác
suất xuất hiện của loài ni,
100
S d
i
S I i p
d
1 2
1
Trang 16+ Chỉ số về mức bình quân hay sự san bằng (e) hay chỉ
số Pilou do E.C Pilou đề xuất năm 1966 theo biểu thức:
hay
Giá trị e biến thiên từ 0 đến 1, trong đó, 0- mức bình
quân tối đa và 1- mức ưu thế tối đa,
Người ta cũng xác định giá trị đa dạng Dv theo công
thức (Chen Qingchao,1994):
+ Chỉ số về mức ưu thế của loài (C) được E.H Simpson
(1949) mô tả như sau:
1 1
1 2
S HH e H
)1(
N N
n n n
i
- Chỉ số về mức đa dạng thông tin trong quần xã được
tính theo lượng thông tin trung bình (Shannon &
Weaveerm 1949, Margalef, 1986) theo:
ni là vai trò (số lượng, sinh khối…) của một loài i nào
đó, N - tổng số giá trị các vai trò (số lượng, sinh khối…)
trong quần xã có thể tính bằng loga với cơ số 2 (log2)
để nhận ngay được giá trị bằng bit cho các quần xã
Hiện nay, chỉ số này được áp dụng như một chỉ số để
đánh giá chất lượng nước; với càng cao, nước càng
sạch,
N ni n
i N ni
H
1 2
log
Trang 171.2.3 Đa dạng hệ sinh thái
Là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi
quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi
trong từng hệ sinh thái,
Hệ sinh thái là sự thống nhất giữa quần xã sinh vật với
môi trường vật lý mà nó tồn tại (hình 1),
C?u trúc hệ bao gồm sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ
và sinh vật phân huỷ, các chất vô cơ, các chất hữu cơ và
các nhân tố khí hậu
1.2 Các cấp độ chính của đa dạng sinh học
Hình 1 Mô hình hệ sinh thái hồ:1-Năng lượng, 2-Muối N-P, 3-TV nổi,
4-ĐV nổi, 5-Côn trùng ở nước, 6-Giun, 7- Cá nổi, 8- Cá dữ, 9-VSV phân
hủy, 10- Cỏ nước, 11- Chim ăn cá, 12- Côn trùng trên cạn, 13- Bốc hơi
nứơc.
¸nh s¸ng
Trang 18Sinh vật sản xuất gồm các sinh vật mang màu, có khả
năng tổng hợp nguồn thức ăn sơ cấp thông qua hoạt
động quang hợp và những sinh vật có khả năng hoá tổng
hợp,
Sinh vật tiêu thụlà những sinh vật dịdưỡng, sống nhờ vào
nguồn thức ăn sơ cấp, gồm chủ yếu những loài động vật,
Vi sinh vật chủ yếu là sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh,
phân hủy xác chết và mảnh vụn hữu cơ phức tạp thành các
chất vô cơ đơn giản để trả lại cho môitrường.
Vi sinh vật đóng vai trò rất quan trọng, vừa kết thúc vừa
mở đầu cho các chu trình sinh địa hoá diễn ra trong các
hệ sinh thái, đồng thời như “một vệ sinh viên” cần mẫn
của sinh quyển, giữ cho môitrường luôn luôn trong sạch,
Các hệ sinh thái rất đa dạng về nguồn gốc hình thành và
kích cỡ Theo nguồn gốc, hệ sinh thái gồm các hệ tự
nhiên và nhân tạo,
Theo kích cỡ thì hệ sinh thái có đủ loại, có thể cực bé
được tạo ta trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn, một hệ
sinh thái trong ống nghiệm hay một bể cá cảnh trong
gia đình đến cỡ lớn hơnnhư ao nuôi và cực lớn như đại
dương và sinh quyển,
Các hệ sinh thái đều có chung một tính chất: thực hiện
trọn vẹn chu trình sinh học của mình dựa trên các hoạt
động chức năng (sản xuất-phân huỷ vật chất, thực hiện
các chu trình sinh địa hoá và biến đổi nănglượng),
Các HST cũng có quá trình phát sinh, phát triển, tồn tại
và suy vong,
Trang 20Đầm phá, vũng vịnh
Trang 21Chương 2 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học
2.1 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học ở nước
2.1.1 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học các thủy vực
nội địa
2.1.2 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học đất NN
2.1.3 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học biển
2.2 Hiện trạng bảo tồn đa dạng thủy sinh vật
Trang 222.1 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học ở nước
2.1.1 Thủy vực nội địa
a Các vùng sinh thái nước ngọt
L·nh thæ nướcc ta được chia thµnh 9 vïng sinh th¸i
(Ecological Zone) víi 33 tiÓu vïng sau ®©y (Le Quy An
et al., 1995):
Vïng nói phÝa B¾c vµ Trung t©m B¾c víi 4 tiÓu vïng,
Vïng trung du B¾c bé vµ B¾c Trung bé víi 2 tiÓu vïng,
Trang 23b Thành phần loài thủy sinh vật nước ngọt
Thành phần ĐDSH trong hệ sinh thỏi nước ngọt:
Thực vật nổi 1.042 loài tảo; động vật khụng xương
sống: 782 loài (trong đú, 48 loài giỏp xỏc, 148 loài
thõn mềm) và 546 loài cỏ thuộc 228 giống, 57 họ và
18 bộ Cỏc tỉnh Bắc bộ cú 226 loài cỏ, cỏc tỉnh Nam
bộ 306 loài cỏ, Bắc Trung bộ 145 loài cỏ và Nam
Trung bộ 120 loài cỏ, cú nhiều loài phõn bố rộng,
Các thủy vựcnước ngọt trên lãnh thổ nước ta không chỉ
đa dạng về loại hình mà còn phân bố ở các vĩ độ địa lý
và độ cao khác nhau,
Các nhà khoa học quốc tế khẳng định, lãnh thổ nước ta
là“điểm nóng” về đa dạng sinh học bởi mấy lẽ:
- Sự phân hóa cao về sinh cảnh và nơi sống, kéo theo là
mức đa dạng cao về thành phần loài sinh vật và những
biến dị di truyền trong nội bộ loài,
- Lưu giữ nhiều loài mới cho khoa học, những dạng đặc
hữu và quý hiếm hoặc những loài đang bị đe dọa diệt
chủng ở mức toàn cầu hoặc đã biến mất ở nhiều vùng
khác trên thế giới,
Trang 24- Tốc độ hủy hoại sinh cảnh, nơi sống và tiêu diệt các loài
trên lãnh thổnước ta ở mức cao,
Trong chúng không ít loài không thể tự khôi phục số
lượng của mình, đang rơi vào tình trạng bị đe doạ tuyệt
chủng ở những mức độ khác nhau do bị khai thác quá
mức hoặc do nơi sống bị ô nhiễm, bị xáo động thường
xuyên hay bị huỷ hoại hoàn toàn như Cà cuống, trai
Cánh, trai Cóc, cá Mòi cờ, cá Cháy, cá Anh vũ, cá
Lăng, cá Chiên, cá Chình Nhật, cáSấu hoa cà v.v
c Sản l-ợng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản nội địa
Cá nội địa được khai thác trong các sông suối,
đầm, hồ, ao, ruộng và đầm phá ven biển,
Khai thỏc thủy sản nội địa:
- Năm 2014: 208.100 tấn,
- Năm 2015: 188.000 tấn,
- Năm 2016: 200.000 tấn,
Trang 25Sản lượng nuụi thủy sản (tấn)
Tổng SL nuụi 3.413.300 3.516.000 3.650.000
Tụm nước lợ 601.000 593.800 650.000
Cỏ tra 1.158.300 1.123.000 1.150.000
NTTS ở nước ta nói chung hay nuôi nước ngọt nói
riêng đang phát triển theo hướng đa dạng hoá đối
tượng và đa dạng hoá các loại hình nuôi thả,
Tốc độ sản lượng tăng nhanh là dựa vào kỹ thuật
nuôi ngày một cải thiện, công nghệ sản xuất con
giống ngày một tiến bộ và các cơ sở sản xuất giống
ngày một gia tăng,
NTTS nước ngọt đã chủ động sản xuất nguồn giống
nhờphương pháp dục đẻ nhân tạo và cho cá đẻ nhân
tạo, không còn phụ thuộc vào nguồn giống tự nhiên
vớt trên sông,
Trang 262.1.2 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học đất
ngập nước.
a Vai trò của đất ngập nước
Đất ngập nước có thể sử dụng làm đất trồng lúa nước và
nuôi trồng thủy sản,
Đất ngập nước có vai trò bảo vệ môi trường, là nơi cư
trú của động vật di cư, bãi sinh sản của động vật biển,
Công ước RAMSAR định nghĩa “Đất ngập nước là
những vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước bất kể
tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm thời, có
nước chảy hay nước tù, là nước ngọt, nước lợ hay
nước biển kể cả những vùng nước biển có độ sâu
không quá 6 m khi triều thấp”,
b Hiện trạng đất ngập nước ở nước ta
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại
hình và hệ sinh thái,
Trang 27Rừng ngập mặn ven biển
Rạn San hô
Trang 28ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng: có diện
tích 229.762 ha,
ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Cửu Long: có
diện tích 4.939.684 ha,
Mỗi kiểu hệ sinh thái đất ngập nước đều có khu hệ sinh
vật đặc trưng của mình Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh
vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào từng
vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên,
Việt Nam có chiều dài bờ biển 3260 km, 112 vùng cửa
sông lớn nhỏ Diện tích đất ngập nước có khoảng 5,6
triệu ha, là tiềm năng chưa được khai thác và sử dụng,
Đất ngập nước là hệ sinh thái nhạy cảm và dễ bị đe
dọa ở nước ta: hiện có 20/38 loài chim bị đe dọa ở
mức độ toàn cầu của nước ta,
Đồng bằng Bắc bộ có 1,7 triệu ha và 3,9 triệu ha ở
đồng bằng sông Cửu Long đều bị chuyển đổi thành
đất canh tác nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản,
Diện tích rừng ngập mặn nước ta hiện nay khoảng
209.741 ha, giảm gần 50.000 ha so với năm 1990 và
đang tiếp tục bị thu hẹp nhanh,
Trang 29Các hệ sinh thái đầm phá, các thảm cỏ biển miền
Trung cũng đang bị suy thoái nặng do khai thác thủy
sản không bền vững và mở rộng diện tích nuôi trồng
thủy sản,
Các hệ sinh thái đất ngập nước sông hồ cũng đang bi
khai thác kiệt quệ Các đập nước làm ngăn dòng thủy
văn cản không cho sinh vật di cư sinh sản,
Các hệ sinh thái biển khai và ven bờ cũng đang bị
khai thác không bền vững và môi trường ô nhiễm
nghiêm trọng,
Hệ sinh thái nông nghiệp và giống vật nuôi bị suy
giảm và ảnh hưởng,
c Thực hiện Công ước RAMSAR của nước ta
Tháng 9/1989, nước ta đã tham gia Công ước
RAMSAR Vùng đất ngập nước Xuân Thủy (1994 –
Nam Định) ở đồng bằng Sông Hồng và khu Dự trữ
sinh quyển Cần Giờ ở đồng bằng sông Cửu Long đã
ghi vào danh sách các vùng đất ngập nước của nước
ta có tầm quan trọng quốc tế,
Nước ta đã có nhiều hoạt động tham gia Công ước
RAMSAR:
- Đầu tư kinh phí cho xây dựng và bảo tồn các vùng đất
ngập nước ở nước ta,
- Đầu tư nghiên cứu và xây dựng các giải pháp bảo tồn
và khai thác các vùng đất ngập nước ở nước ta,
Trang 30d Những nguy cơ đối với các vùng đất ngập
nước của nước ta
- Dân số các vùng ven biển tăng nhanh, tạo áp lực cho
các vùng đất ngập nước,
- Ô nhiễm môi trường do nước thải sinh hoạt và thuốc
BVTV,
- Khai thác thủy sản quá mức,
- Xây dựng các đập thủy điện chặn nước đầu nguồn,
- Săn bắn và dùng chất nổ đánh bắt thủy sản gây ảnh
hưởng đến sinh vật thủy sản,
- Ô nhiễm dầu do vận cuyển dầu và tàu thuyền trên
biển,
Trang 312.1.4 Hiện trạng sử dụng đa dạng sinh học biển
Các vùng sinh thái ven biển
Các hệ cửa sông (Estuary),
Các bãi triều trần (Naked intertidal flats, gồm thềm
cát, bãi bùn, bờ đá) hoặc các bãi triều lầy (Swamps)
được phủ bởi rừng ngập mặn (Mangrove forests),
Chuỗi các đầm phá (lagoon chain) ven biển miền
Trung,
Hệ thống vũng vịnh nông ven bờ, nhận nước từ vài ba
con sông (Shallow bays),
Các rạn san hô (Coral reefs),
Các đảo và quần đảo thềm lục địa,
Trang 32Thành phần loài thủy sinh vật biển
khoảng 12.000 loài sinh vật cư trú trong hơn 20 kiểu
hệ sinh thái điển hình, đặc biệt có mặt các hệ sinh thái
rạn san hô, thảm cỏ biển và rừng ngập mặn,
Trong tổng số loài được phát hiện có khoảng 6.000 loài
động vật đáy; 2.435 loài cá với trên 100 loài có giá trị
kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động vật phù du;
537 loài thực vật phù du; 94 loài thực vật ngập mặn;
225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 12
loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước,