BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM THỊ VÂN ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG ĐỆM TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜ
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHẠM THỊ VÂN
ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN
CƯ VÙNG ĐỆM TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TẠI VƯỜN
QUỐC GIA BÙ GIA MẬP
Chuyên ngành: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Mã chuyên ngành: 60.85.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thanh Sang
Cán bộ phản iện 1 : Cán bộ phản iện 2 :
Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại Hội đồng chấm ảo vệ Luận văn thạc sĩ Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày… tháng … năm
Trang 3NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngày, tháng, năm sinh: 12/03/1990 Nơi sinh: Nghệ An
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường Mã số: 60.85.01.01
quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập
II NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
1 Điều tra thực trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học của dân cư vùng đệm
Vườn quốc gia Bù Gia Mập
Thu thập và tổng hợp các thông tin về vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên sinh học và thực trạng phát triển kinh tế xã hội của cư dân vùng đệm VQG Bù Gia Mập
Mức độ phụ thuộc của người dân vào rừng:
Diện tích đất canh tác
Chăn nuôi
Trang 4 Săn ắt, uôn án động vật rừng và đánh ắt cá trên hồ, sông, suối
Khai thác gỗ
Thu hái lâm sản
Thu nhập và chi tiêu
Mức độ tác động của cộng đồng lên vườn quốc gia
Các đối tượng tác động lên vườn quốc gia
Mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn ĐDSH
Những thách thức và đe dọa đối với công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH VQG Bù Gia Mập
2 Đánh giá ảnh hưởng của cộng đồng dân cư vùng đệm đến đa dạng sinh học
VQG Bù Gia Mập
Mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn ĐDSH:
Các hình thức tham gia
Mức độ tham gia của cộng đồng
Đánh giá của cộng đồng về các hoạt động
Những lợi ích mà cộng đồng nhận được từ sự tham gia: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích được học hỏi, nâng cao nhận thức
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tham gia
Hạn chế từ phía người dân
Hạn chế về cơ chế
Việc giao đất lâm nghiệp
Nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn ĐDSH
Ảnh hưởng của các ên liên quan đến quản lý và bảo tồn ĐDSH
Cơ hội, thách thức đánh giá công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
3 Đề xuất nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý
và bảo tồn đa dạng sinh học
Tồn tại, xu hướng tích cực của công tác quản lý và bảo tồn hiện tại
Thách thức
Giải pháp trước mắt
Trang 5 Giải pháp lâu dài
2/10/2018 của Trường Đại học Công nghiệp TPHCM về việc giao nhiệm vụ hướng dẫn luận văn thạc sĩ
IV NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: …/…./ 2019
V NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS Đinh Thanh Sang
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2019
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS Đinh Thanh Sang
CHỦ NHIỆM BỘ MÔN ĐÀO TẠO
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KHCN&QLMT
Trang 6i
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ khoa học ngành quản lý tài nguyên và môi trường
Luận văn thạc sĩ khoa học ngành quản lý tài nguyên và môi trường với đề tài:
“Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo
tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập” là do học viên cao học Phạm
Thị Vân thực hiện và hoàn thành vào tháng 8 năm 2019, người hướng dẫn khoa học
là TS Đinh Thanh Sang, Trường Đại học Thủ Dầu Một
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đinh Thanh Sang là người trực tiếp tận tâm hướng dẫn tôi nghiên cứu thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt là các thầy cô giáo thuộc Viện Khoa học Công nghệ & Quản lý Môi trường thuộc Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức để tôi hoàn thành khóa học và làm nền tảng cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn các cán ộ, nhân viên VQG Bù Gia Mập và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND xã Đăk Ơ, xã Bù Gia Mập và xã Quảng Trực đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được khảo sát, phỏng vấn, thu thập tài liệu trong thời gian thực hiện luận văn
Bên cạnh đó tôi cũng nhận được nguồn động viên to lớn của gia đình, ạn hữu giúp tôi có điều kiện để hoàn thành luận văn
Học viên
Phạm Thị Vân
Trang 7ii
TÓM TẮT
Dựa trên kết quả khảo sát tại 9 thôn vùng đệm VQG Bù Gia Mập thuộc hai tỉnh Bình Phước và Đăk Nông với 180 hộ được phỏng vấn, luận văn nghiên cứa vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích thực trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) và sự tham gia trong công tác bảo tồn của cộng đồng, từ đó
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của họ trong công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH ở VQG Bù Gia Mập Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phỏng vấn hộ dân, kết quả nghiên cứu cho thấy đồng bào dân tộc bản địa S’tiêng, M’nông là các nhóm có tác động nhiều đến tài nguyên ĐDSH của vườn quốc gia Trình độ học vấn của cộng đồng rất thấp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp và các lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như củi, măng, rau rừng, hạt ươi, nấm, lan, mật ong, động vật rừng Mặt khác, nhận thức của họ về công tác quản lý
và bảo tồn còn rất kém nên công tác bảo tồn ĐDSH của VQG Bù Gia Mập găp rất nhiều khó khăn.Từ thực trạng trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển sinh kế vùng đệm và thu hút cộng đồng cùng tham gia bảo tồn ĐDSH ở VQG Bù Gia Mập, lồng ghép công tác bảo tồn ĐDSH vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tăng cường năng lực quản lý, xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích các LSNG cho cư dân vùng đệm, đặc biệt là đồng bào bản địa, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thu hút hơn nữa cộng đồng cùng tham gia vào nhiều hoạt động liên quan bảo tồn ĐDSH và phát triển bền vững
Trang 8iii
ABSTRACT
Based on the surveys in 9 hamlets in the buffer zone of Bu Gia Map National Park
in Binh Phuoc and Dak Nong provinces with 180 interviewed households, the thesis examined the role of the buffer zone communities in biodiversity conservation and management The prime objective of the study is to analyze the current situation of biodiversity resource use of the community and their participation in the resource management, to propose solutions to enhance their role in biodiversity conservation and management in Bu Gia Map National Park Using participatory rural appraisal (PRA) and household interviews, the research findings showed that the indigenous ethnic groups S’tiêng, M’nông were the ones that make a significant impact on biodiversity resources of the national park Their education levels were low; the income was mainly based on agriculture and non-timber forest products (NTFPs) such as firewood, bamboo shoots, wild vegetables, nuts of Scaphium macropodium, mushrooms, orchids, honey, forest animals On the other hand, their awareness of biodiversity conservation and management was still very poor, so the biodiversity conservation of Bu Gia Map National Park got a lot of problems Based on the above situation, the study proposed some solutions for developing buffer zone livelihoods and attracting communities to participate in biodiversity conservation and resource management: combining biodiversity conservation with socio-economic development plans; strengthening management capacity; building benefit sharing mechanism of NTFPs for local participants, especially indigenous ethnic minorities; expanding environmental education and encouraging more communities
to participating in activities related to biodiversity conservation and sustainable development
Trang 9iv
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong
công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập” là do
chính học viên thu thập tài liệu, số liệu, khảo sát thực tế để viết Không sao chép các báo cáo hoặc luận văn của người khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với nhà trường
Học viên
Phạm Thị Vân
Trang 10v
MỤC LỤC
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
5.1 Ý nghĩa khoa học 3
5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở lý luận của luận văn 5
1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng 11
1.2 Đặc điểm vùng nghiên cứu 14
1.2.1 Vườn quốc gia Bù Gia Mập 14
1.2.2 Tổng quan về các xã vùng đệm của VQG Bù Gia Mập 20
1.2.3 Tổng quan đối tượng nghiên cứu 23
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.1.1 Điều tra thực trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học của dân cư vùng đệm VQG Bù Gia Mập 25
2.1.2 Đánh giá ảnh hưởng của cộng đồng dân cư vùng đệm đến đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập 25
2.1.3 Đề xuất nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học 26
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp luận 26
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên của cộng đồng 35
3.1.1 Thông tin về đối tượng phỏng vấn 36
Trang 11vi
3.1.2 Mức độ phụ thuộc của người dân vào rừng 38
3.1.3 Mức độ tác động của cộng đồng lên vườn quốc gia 45
3.1.4 Các đối tượng tác động lên vườn quốc gia 47
3.1.5 Những thách thức và đe dọa đối với công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH VQG Bù Gia Mập 47
3.2 Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH 50
3.2.1 Mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn ĐDSH 50
3.2.2 Nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn ĐDSH 62
3.2.3 Ảnh hưởng của các ên liên quan đến quản lý và bảo tồn ĐDSH 68
3.2.4 Tương tác giữa quản lý bảo vệ rừng và hiện trạng sinh kế của cộng đồng 72
3.3 Đề xuất các giải pháp sinh kế bền vững 73
3.3.1 Các định hướng sinh kế bền 73
3.3.2 Các tiêu chí sinh kế bền vững 74
3.3.3 Giải pháp sinh kế bền vững đối với các hộ không có đất SXNN 76
3.3.4 Giải pháp sinh kế bền vững đối với các hộ có đất SXNN 77
3.3.5 Các giải pháp khác để tạo sinh kế bền vững 80
3.4 Đề xuất một số giải pháp thu hút cộng đồng cùng tham gia bảo tồn ĐDSH VQG Bù Gia Mập 81
3.4.1 Giải pháp lâu dài 81
3.4.2 Giải pháp trước mắt 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
LÝ LỊCH TRÍCH NGANG CỦA HỌC VIÊN 133
Trang 12vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Địa hình VQG Bù Gia Mập [23] 15
Hình 1.2 Tổng thể hệ thống thủy văn [23] 17
Hình 3.1 Kết quả điều tra trình độ học vấn 37
Hình 3.2 Sơ đồ mặt cắt khu vực nghiên cứu 41
Hình 3.3 Biểu đồ thu nhập các hộ gia đình vùng đệm 43
Hình 3.4 Biểu đồ các mức độ khai thác LSNG của các dân tộc vùng đệm 47
Hình 3.5 Biểu đồ các hoạt động cộng đồng đã tham gia 51
Hình 3.6 Biểu đồ mức độ tham gia của cộng đồng 55
Hình 3.7 Biểu đồ lý do tham gia thỉnh thoảng 55
Hình 3.8 Biểu đồ lợi ích tham gia hoạt động bảo tồn 56
Hình 3.9 Biểu đồ đánh giá của cộng đồng về các hoạt động 57
Hình 3.10 Biểu đồ nhận thức về thành lập vườn quốc gia 63
Bảng 3.13 Những hành động cần thiết để bảo tồn ĐDSH 64
Bảng 3.14 Lợi ích của các dự án vùng đệm 64
Hình 3.11 Biểu đồ các kỳ vọng của cộng đồng 68
Hình 3.12 Dòng thông tin của tiến trình hợp đồng GKQLBVR 69
Hình 3.13 Sơ đồ của các bên liên quan đến quản lý Bảo vệ rừng 71
Hình 3.14 Sơ đồ hướng phát triển sinh kế bền vững 75
Trang 13viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Diện tích và năng suất các loại nông sản chính ở các xã điều tra
[25,26,27] 20
Bảng 1.2 Số lượng gia súc và gia cầm tại các xã điều tra [25,26, 27] 21
Bảng 2.1 Thống kê số phiếu khảo sát nông hộ 2018 – 2019 32
Bảng 3.1 Số người được phỏng vấn theo cấp độ tuổi 36
Bảng 3.2 Quy mô diện tích đất SXNN của một hộ dân vùng đệm 38
Bảng 3.3 Các loài vật nuôi phổ biến trong khu vực nghiên cứu 40
Bảng 3.4 Tình hình khai thác tài nguyên rừng trong khu vực 42
Bảng 3.5 Các hạng mục chi tiêu/tháng của một hộ gia đình ở vùng đệm 44
Bảng 3.6 Các loại lâm sản chính, mục đích, thời gian thu hái và mức độ quan trọng 45
Bảng 3.7 Phân tích các nguồn thu nhập từ củi và các loại lâm sản ngoài gỗ khác theo nhóm kinh tế hộ gia đình 49
Bảng 3.8 Đánh giá sự tham gia của người dân vào công tác bảo tồn 53
Bảng 3.9 Lý do (%) tham gia hoạt động của cộng đồng 54
Bảng 3.10 Những nguyên nhân làm cho chương trình khoán quản lý tài nguyên rừng chưa hiệu quả 58
Bảng 3.11 Nguyên nhân và hậu quả của chương trình phát triển sinh kế không bền vững 59
Bảng 3.12 Nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng 62
Bảng 3.13 Những hành động cần thiết để bảo tồn ĐDSH 64
Bảng 3.14 Lợi ích của các dự án vùng đệm 64
Bảng 3.15 Hình thành VQG ảnh hưởng tới đời sống người dân vùng đệm 64
Bảng 3.16 Chính sách hỗ trợ để ổn định kinh tế người dân vùng đệm 65
Bảng 3.17 Mức độ hiểu biết của cộng đồng về bảo tồn ĐDSH 65
Bảng 3.18 Lý do đồng ý/không đồng ý đóng góp cho quỹ phát triển thôn 66
Bảng 3.19 Tổng hợp các ý kiến về sự bày tỏ thái độ của người dân về các hoạt động bảo tồn ĐDSH 67
Hình 3.12 Dòng thông tin của tiến trình hợp đồng GKQLBVR 69
Bảng 3.20 Bảng phân tích vai trò của các bên liên quan 70
Bảng 3.21 Thống kê số hộ dân có diện tích đất SXNN > 3 ha 79
Bảng 3.22 Kế hoạch tuyên truyền bảo tồn ĐDSH 86
Trang 14ix
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT BQL Ban quản lý
GIS Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural
Trang 151
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế giới đang đứng trước nguy cơ khủng hoảng về môi trường trên phạm vi toàn cầu, ước tính có khoảng 150 loài sinh vật trong tổng số 1,7 triệu loài động thực vật mất đi mỗi ngày và 16.000 loài động, thực vật đang ị đe dọa tuyệt chủng do ảnh hưởng các hoạt động của con người, tình trạng này đang có xu hướng gia tăng và các hoạt động của con người trở thành mối đe dọa đến khả năng cung cấp của hệ sinh thái (HST)
Hệ thống khu bảo tồn của nước ta được hình thành sau giai đoạn lâm nghiệp khai thác, phần lớn các khu bảo tồn trên cạn thường nằm ở những khu vực xa xôi, địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn Đó thường là nơi sinh sống của các cộng đồng người dân tộc thiểu số có đời sống khó khăn và kém phát triển về nhiều mặt Ở đó, những thể chế luật pháp hiện hành thường có mặt sau những luật tục và truyền thống của cộng đồng Hệ thống các khu bảo tồn nước ta cũng nằm trong khu vực sinh sống của nhiều nhóm người dân tộc thiểu số khác nhau Sự đa dạng của các cộng đồng bao gồm nhiều mặt như đa dạng về vùng sinh thái, về kinh tế, xã hội, bản sắc văn hóa truyền thống và luật tục Kiến thức bản địa được coi là hệ thống kiến thức của một cộng đồng dân tộc hoặc dân tộc bản địa tồn tại và phát triển trong từng hoàn cảnh cụ thể với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng của một vùng địa
lý Các kiến thức của người dân về cách sử dụng và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học không đơn thuần có ý nghĩa về khoa học mà còn là tài sản văn hóa quý giá của quốc gia và thế giới Song theo thời gian, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
sự phát triển nhanh chóng của kinh tế xã hội, vai trò của cộng đồng các dân tộc thiểu số trong việc bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học đã ị đánh giá không đầy đủ
và đôi khi gây ra các kết quả không như mong đợi trong công tác bảo tồn đ a dạng sinh học (ĐDSH) Nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số là những người nghèo nhất tại Việt Nam Để duy trì cuộc sống, họ vẫn giữ tập quán khai thác các sản phẩm rừng, săn ắn động vật rừng, thu hái các sản phẩm từ khu vực bảo tồn Áp lực từ phía
Trang 162
cộng đồng lên khu bảo tồn rất đa dạng về hình thức, phạm vi và mức độ tác động
Đó là một trong những thách thức lớn đối với bảo tồn ĐDSH Vì vậy, để duy trì sự tồn tại và phát triển của các vườn quốc gia, khu bảo tồn cần phải có các giải pháp bảo tồn phù hợp có sự hỗ trợ và cộng tác tích cực của cộng đồng địa phương Vườn quốc gia (VQG) Bù Gia Mập nằm trong vùng sinh thái rừng khô trung tâm Đông Dương của hạ lưu sông Mê Công [1] và nằm trong hành lang ưu tiên ảo tồn của Tiểu vùng Mê Công [2] Những kết quả ước đầu nghiên cứu tại VQG Bù Gia Mập của các nhà khoa học trong và ngoài nước cho thấy mức độ đa dạng thực vật và động vật của VQG Bù Gia Mập là rất cao Tuy nhiên các giá trị ĐDSH ở VQG Bù Gia Mập đang đối mặt với các đe dọa như: Săn ắt và bẫy thú rừng, xâm lấn đất rừng làm nông nghiệp, khai thác gỗ trái phép, thu hái lâm sản ngoài gỗ và thu nhặt củi đốt, cháy rừng, chăn thả gia súc
Vì vậy tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia
Bù Gia Mập” nhằm mục đích góp phần quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học của
VQG Bù Gia Mập, bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam nói chung và điều kiện đặc thù của VQG Bù Gia Mập nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:
Tìm hiểu thực trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học của cộng đồng dân cư vùng đệm VQG Bù Gia Mập
Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong việc tham gia quản lý và bảo tồn ĐDSH
Xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH ở VQG Bù Gia Mập
Trang 173
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sử dụng tài nguyên và mức độ tham gia của cộng đồng 9 thôn mục tiêu trên địa bàn xã Bù Gia Mập, xã Đắk Ơ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước và xã Quảng Trực, tỉnh Đắc Nông vào các hoạt động trong quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bù Gia Mập và
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao sự tham gia của họ trong công tác này
Đối tượng nghiên cứu: Cộng đồng dân cư 9 thôn có tác động qua lại với tài nguyên
đa dạng sinh học tại VQG Bù Gia Mập và ban quản lý VQG Bù Gia Mập
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Điều tra và thu thập thông tin về sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học của công đồng dân cư vùng đệm VQG Bù Gia Mập, từ đó đánh giá vai trò của cộng đồng dân
cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại VQG Bù Gia Mập
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, trong luận văn tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp: Kế thừa và thu thập số liệu, quan sát trực tiếp, nghiên cứu về sinh kế, phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) và phương pháp xử lý số liệu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Đây là cơ sở khoa học có thể áp dụng cho việc xây dựng mô hình quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng địa phương ở VQG Bù Gia Mập Cung cấp các phương pháp phân tích, lựa chọn, tìm kiếm những giải pháp thích hợp để nâng cao vai trò của người dân cùng kết hợp với ban quản lý VQG thực hiện tốt hơn việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập
Trang 195
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận của luận văn
1.1.1.1 Đa dạng sinh học
Cuối thế kỷ XX, khái niệm ĐDSH còn đề cập đến mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội, gắn yếu tố con người (human) với ĐDSH Theo tác giả Hồ Văn Cử, ĐDSH là một giới hạn ao trùm sự giàu có về sinh vật tự nhiên, điều đó củng cố cho sức khỏe và sự sống của con người…” [3]
Trong Luật đa dạng sinh học 2008 của Việt Nam thì định nghĩa: “Đa dạng sinh học
là sự phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên” [4]
1.1.1.2 Văn hóa đa dạng sinh học
Văn hóa đa dạng sinh học đặt con người vào vị trí trung tâm của vấn đề quản lý đa dạng sinh học, là liên kết giữa đa dạng văn hóa (hoặc con người) và đa dạng sinh học (ĐDSH) Mà tính đa dạng văn hóa là sự đa dạng của xã hội loài người, văn hóa
và đa dạng sinh học là sự đa dạng của đời sống thực vật và động vật, trong bất kỳ một khu vực cụ thể hoặc trong thế giới nói chung [5]
Sự biến mất của các nền văn hóa ản địa là một mất mát lớn cho xã hội, bởi có thể học hỏi rất nhiều từ kỹ năng truyền thống của họ trong việc quản lý hệ sinh thái Phục hồi văn hóa đa dạng sinh học thông qua các cuộc họp mặt, lễ kỷ niệm và tạo thuận lợi cho chuyển giao kiến thức giữa các thế hệ người lớn tuổi và thế hệ trẻ Có một sự hiểu biết về văn hóa đa dạng sinh học giúp đánh giá cao sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và văn hóa trong mỗi ngày Tìm hiểu về văn hóa
đa dạng sinh học giúp con người có thể cải thiện cuộc sống bằng cách áp dụng các chuẩn mực, giá trị, phong tục và ý tưởng trong xã hội của họ
Văn hóa và môi trường tự nhiên có mối liên kết chặt chẽ với nhau Văn hóa chính là một công cụ mạnh mẽ trong việc bảo tồn đa dạng sinh học [6]
Trang 206
1.1.1.3 Bảo tồn đa dạng sinh học
Hiện nay có nhiều phương pháp ảo tồn khác nhau Có thể phân chia các phương pháp và công cụ thành các nhóm như sau:
Bảo tồn nguyên vị: Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích ảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên mà loài đang tồn tại Tùy theo đối tượng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì có 6 loại khu bảo tồn: loại I: khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã), loại II: vườn quốc gia (VQG), chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí, giáo dục, loại III: công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt, loại IV: khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi ảo tồn một số sinh cảnh hay các loài đặc biệt cần bảo vệ, loại V: khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí và du lịch, loại VI: khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Trường hợp VQG Bù Gia Mập bảo tồn ĐDSH theo nhóm ảo tồn nguyên vị
Bảo tồn chuyển vị: Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hóa tự nhiên Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên
vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học [8]
Trang 217
1.1.1.4 Cộng đồng
Cộng đồng được nói tới ở đây là một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của một xã hội, một nhóm người trong một khu vực địa lí xác định,
có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử
Hay nói cách khác, cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau
và có ranh giới không gian trong một thôn bản Theo quan niệm này, “cộng đồng” chính là cộng đồng dân cư thôn ản (sau đây “thôn ản” được gọi chung là “thôn” cho phù hợp với Luật Lâm nghiệp 2017
Theo Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2016 (sửa đổi) “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán; có quy ước, hương ước phù hợp với quy định của pháp luật” [9]
Do vậy, một bài toán mà chúng ta cần phải giải là tạo nên sự gắn bó vốn đã có và phát huy vai trò và sự tham gia của mỗi cộng đồng cư dân vào việc bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG
Tham vấn: đây là ước cao hơn thông áo Các cộng đồng địa phương, các ên liên quan chủ chốt và các tổ chức nhận được thông báo về dự án hay kế hoạch để
Trang 221.1.1.6 Khái niệm về vùng đệm
Tại Điều 32 - Quyết định số Nghị định số 117/2010/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 24 tháng 12 năm 2010, về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng ghi rõ: “(1) Phạm vi vùng đệm gồm khu vực rừng, đất có dân cư sinh sống, đất ngập nước, khu vực biển tiếp giáp ranh giới ngoài hoặc nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng bằng các biện pháp quản lý, bảo tồn gắn với các hoạt động nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững (2) Vùng đệm được xác định đồng thời với việc lập dự án thành lập khu rừng đặc dụng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cụ thể về tiêu chí xác định vùng đệm (3) Phạm vi ranh giới của vùng đệm phải được xác định rõ trên bản đồ và thực địa (4) Vùng đệm được quy hoạch
sử dụng tài nguyên, đất đai phù hợp với mục tiêu ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng, đồng thời nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững” [10]
Mặc dầu vùng đệm của các VQG và các khu bảo tồn đã được chính thức đề cập đến
từ khoảng mười lăm năm nay sau khi có Quyết định số 194- CT ngày 9/8/1986 quy định danh mục 73 khu rừng cấm và Quyết định số 1171/QĐ/ 30/11/1986 của Bộ
Trang 239
lâm nghiệp (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT)) ban hành các loại quy chế rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, quy định vùng đệm của các vườn quốc gia và các khu BTTN Tại Nghị định 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 của Chính phủ Về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng đã nêu:
“Phạm vi vùng đệm gồm khu vực rừng, đất có dân cư sinh sống, đất ngập nước, khu vực biển tiếp giáp ranh giới ngoài hoặc nằm trong phạm vi ranh giới khu rừng đặc dụng, có chức năng ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng bằng các biện pháp quản lý, bảo tồn gắn với các hoạt động nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững [10]
Vùng đệm được quy hoạch sử dụng tài nguyên, đất đai phù hợp với mục tiêu ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại đối với khu rừng đặc dụng, đồng thời nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư và phát triển kinh tế xã hội bền vững” [10]
Vùng đệm có tác dụng ngăn ngừa, giảm nhẹ sự xâm hại vào khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển, thu hút người dân tham gia các hoạt động của khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển theo phương thức đồng quản lý nhằm từng ước nâng cao, ổn định đời sống của người dân trong vùng đệm” [10]
1.1.1.7 Vấn đề vùng đệm và sinh kế người dân vùng đệm ở Việt Nam
Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn chúng
ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo một khuôn khổ thống nhất Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xảy
ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã uộc các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư ở đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xảy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua được
Trang 24kể, như các vườn quốc gia Cúc Phương, Yok Đôn, Bạch Mã, Cát Tiên, các khu bảo tồn: Kẻ Gỗ, Xuân Thủy và một số khu bảo tồn khác nữa Một số dự án quốc tế cũng đã đạt nhiều kết quả trong việc hỗ trợ các khu bảo tồn về nâng cao nhận thức cho người dân, hoặc giúp dân vùng đệm nâng cao cuộc sống để họ giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn Một số dự án trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu Việt Nam-
Hà Lan cũng đã đề cập đến vấn đề vùng đệm [11]
Kinh nghiệm cho thấy trong công tác bảo vệ theo pháp luật là khó thành công Đường ranh giới có biển báo, trạm gác, bắt bớ, tịch thu, giáo dục cũng không thể ngăn cấm họ xâm phạm khu bảo tồn và nếu không có biện pháp thích hợp để ngăn chặn kịp thời thì chẳng bao lâu khu bảo tồn sẽ bị xuống cấp Phải có hệ thống tổ chức mới và cách giải quyết mới, nhằm thỏa mãn được nhu cầu trước mắt của nhân dân mà không gây nguy hại đến mục tiêu lâu dài của khu bảo tồn mới có thể cứu thoát sự suy thoái của các khu này Kinh nghiệm cho thấy: Hợp tác với nhân dân địa phương và chấp nhận những yêu cầu cấp bách của họ là biện pháp bảo vệ có hiệu quả hơn là chỉ có biện pháp hàng rào, ngăn cấm, tuần tra và xử phạt [12]
Hầu hết ban quản lý các khu bảo tồn chưa có giải pháp hữu hiệu để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia công tác bảo tồn, chẳng những thế mà trong nhiều trường hợp vùng đệm là nơi chứa chấp bọn phá rừng, là tụ điểm thu gom động vật hoang
dã trái phép [13]
Trang 2511
Tập quán canh tác của người dân sống trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc hậu, vẫn tồn tại phương thức đốt nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt vì vậy năng suất mùa màng rất thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao [2]
1.1.2 Bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng
Do hạn chế về nhận thức nên các hành vi ứng xử của cộng đồng dân cư đối với tài nguyên rừng chưa tốt Để người dân có hành vi ứng xử tốt với tài nguyên rừng, việc nâng cao nhận thức và thu hút sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý tài nguyên là rất cần thiết như thay đổi thái độ và tập quán của cộng đồng dân cư, cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng
1.1.2.1 Trên thế giới
Nhiều kết quả nghiên cứu trên thế giới và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của CĐĐP Ở VQG Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp
mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham gia quản lý VQG thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn ắn cổ truyền [14]
Ở Ấn Độ, Băng-la-đet, Indonesia, Philippines, Thái Lan hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã hình thành và phát triển mạnh, là hình thức chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi cho các cộng đồng địa phương
Tại VQG Kruger của Nam Phi, du lịch sinh thái được xem là cách thức để giải quyết các cuộc xung đột tiềm ẩn giữa nhu cầu mang lại nhiều doanh thu và nhu cầu bảo tồn đa dạng sinh học độc đáo của khu vực Cộng đồng người Makuleke có quyền hợp tác với khối tư nhân để phát triển sản phẩm du lịch sinh thái trong vùng
và họ sẽ được hưởng lợi từ việc được đào tạo kỹ năng, có việc làm, nhận được tiền thuê đất và cổ tức [15]
Trang 2612
Nhằm đảm bảo phát triển bền vững (kết hợp hài hoà giữa bảo tồn và phát triển), nhiều ngành, nhiều tổ chức quốc tế liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên đang hình thành và xây dựng những phương thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên thiên nhiên Điểm nổi bật trong các phương thức tiếp cận là nâng cao vai trò của cộng đồng địa phương cũng như những nhóm người trong xã hội có liên quan đến tài nguyên thiên nhiên (những người hưởng lợi, những người bị tác động)
Đề tài này lựa chọn dựa trên văn hóa đa dạng sinh học để nghiên cứu Nhìn nhận con người là một bộ phận của HST, vừa nâng cao đời sống của người dân phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên thông qua các hoạt động mang tính bền vững, vừa có thể bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú
1.1.2.2 Ở Việt Nam
Nếu thiếu đi vai trò của cộng đồng dân cư thì ảo tồn ĐDSH khó đạt hiệu quả Thực
tế cho thấy, kiểm lâm gặp nhiều khó khăn trong công tác ảo vệ rừng bởi lẽ rừng có nhiều cửa, không có rào chắn nên việc ngăn chặn hành vi vi phạm không hề dễ dàng Mặt khác, theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng, tại các khu bảo tồn quốc gia, mỗi kiểm lâm sẽ có trách nhiệm bảo vệ tương đương với 500 ha rừng
Rõ ràng, việc một cán bộ kiểm lâm quán xuyến hết một diện tích lớn như vậy thực
sự là thách thức đối với họ
Hơn nữa, tất cả những khu vực có giá trị ĐDSH cao ao gồm các khu vực rừng nguyên sinh đều có dân cư sinh sống Người dân nhờ có ĐDSH mà tồn tại và phát triển, do đó việc cộng đồng dân cư tham gia trực tiếp vào quản lý, kiểm tra bảo vệ rừng sẽ góp phần quan trọng phát hiện những hành vi vi phạm như khai thác gỗ lậu hay buôn án trái phép động vật hoang dã
Điều đó đòi hỏi phải gắn kết công tác bảo tồn với sinh kế của người dân để việc bảo tồn ĐDSH đạt hiệu quả đồng thời họ vẫn duy trì được cuộc sống của mình Trên thực tế, nỗ lực bảo tồn ĐDSH ở nước ta thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực với những sáng kiến, mô hình dựa vào cộng đồng Thậm chí có những mô hình được duy trì nhiều năm đơn cử như việc quản lý rừng thiêng của đồng bào dân tộc
Trang 2713
miền núi hay mô hình quản lý rừng ngập mặn của cộng đồng ven biển, sáng kiến xây dựng mô hình cộng đồng tham gia khu bảo tồn Có những địa phương người dân kết cùng VQG hay tự đứng ra tổ chức mô hình thôn xóm bảo vệ rừng đơn cử như VQG Bạch Mã hay VQG Cát Tiên, thông qua các hoạt động trồng rừng, nhận khoán BVR, hỗ trợ tài chính, cây hoặc con giống đã tạo công ăn việc làm, từ đó làm tăng thu nhập cho người dân [16] Thông qua định hướng của VQG, người dân tại VQG Bạch Mã hay Cát Tiên đã tham gia vào hoạt động DLST bằng cách làm nhân viên hay đầu tư và thực hiện các dịch vụ [17] Những hộ này trước đây chuyên sống dựa vào rừng bằng các hoạt động khai thác gỗ, củi, săn ẫy động vật rừng trái phép [18]
Tại VQG Tràm Chim, dự án bảo tồn đất ngập nước có sự tham gia của cộng đồng phục vụ xoá đói giảm nghèo, bảo tồn đất ngập nước, quản trị tốt tài nguyên thiên nhiên và tránh mâu thuẫn cộng đồng đã được thực hiện từ năm 2008, dự án khuyến khích những người tham gia xây dựng kế hoạch quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng dẫn của Ban quản lý VQG [19] Việc tiếp cận hợp pháp tài nguyên thiên nhiên trong VQG và vận dụng linh hoạt kiến thức bản địa đã tạo một nguồn thu nhập thiết yếu đối với các hộ nghèo [20] Trong năm 2009, sau hai năm thử nghiệm đồng quản lý tại VQGTC, hộ tham gia nhận được từ 30.000 đến 50.000 đồng cho một ngày đánh cá [19] Mỗi hộ tham gia thu nhập thêm được khoảng 1,3triệu đồng/tháng Việc công nhận vai trò của người dân trong tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo và tạo điều kiện cho họ tham gia thảo luận, góp ý kiến cho các hoạt động quản lý đã giúp giảm căng thẳng giữa người dân địa phương và Ban quản lý vườn và giúp việc quản lý vườn được hiệu quả hơn [21]
Trang 2814
1.2 Đặc điểm vùng nghiên cứu
1.2.1 Vườn quốc gia Bù Gia Mập
1.2.1.1 Lịch sử thành lập
Tiền thân VQG Gia Mập là khu rừng cấm Bù Gia Mập được thành lập năm 1986 Vườn quốc gia này được chuyển hạng từ khu bảo tồn thiên nhiên Bù Gia Mập thành vườn quốc gia theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 170/2002/QĐ-TTG ngày 27 tháng 11 năm 2002 [22]
1.2.1.2 Chức năng nhiệm vụ
Bảo tồn các nguồn gen động, thực vật quý hiếm, các mẫu chuẩn của hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm thường xanh, nửa rụng lá trên đồi núi thấp có độ cao dưới 1.000m đặc trưng cho sự chuyển tiếp các hệ sinh thái rừng từ vùng Tây Nguyên xuống vùng Đông Nam Bộ
Bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ chứa nước của các công trình thuỷ điện Thác Mơ, Cần Đơn, Sóc Phu Miêng
Phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ các hoạt động của VQG
1.2.1.3 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: VQG Bù Gia Mập nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Phước thuộc địa phận hành chính xã Đắk Ơ, Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước, cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km và tỉnh lỵ của tỉnh Bình Phước 100 km Quốc gia
Bù Gia Mập có tọa độ địa lý: Từ 12o8’30” đến 12o7’3” vĩ độ Bắc Từ 107o3’30” đến
Trang 2915
Phía Nam giáp Nông lâm trường Đăk Mai và Đăk Ơ thuộc Công ty một thành viên cao su Phước Long Vườn có diện tích vùng lõi 25.926 ha trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 18.269 ha, phân khu phục hồi sinh thái 7.663 ha, phân khu hành chính dịch vụ 100 ha Diện tích vùng đệm 15.200 ha, phía tỉnh Bình Phước là 7.200 ha, phía tỉnh Đắk Nông là 8.000 ha
Hình 1.1 Địa hình VQG Bù Gia Mập [23]
Đặc điểm địa hình địa mạo:
Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm đoạn cuối của dãy Trường Sơn Nam, là khu chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và vùng núi thấp
Độ cao giảm dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và từ Đông sang Tây Theo phân vùng địa lý thì VQG Bù Gia Mập là vùng sườn đồi Tây Nam của cao nguyên Bù Rang thuộc Đăk Nông ở độ cao 850 - 950m Độ cao nhất của là 738m
so với mực nước biển, nằm ở phía Đông - Bắc giáp Đăk Nông, độ cao thấp nhất
là 150m, nằm ở phía Tây Nam tại suối Đăk Huýt
Đặc điểm đất đai:
Trang 3016
VQG Bù Gia Mập thuộc nhóm đất đỏ vàng phát triển trên vỏ phong hoá bazan và một phần nhỏ phát triển trên đá phiến, được phân biệt qua cường độ feralit hoá là nhóm tự hình
Đất nâu đỏ có quá trình feralit hoá mạnh và đất nâu vàng có quá trình feralit hoá yếu Trong phân vùng địa lý thổ nhưỡng, đất ở Bù Gia Mập thuộc loại đất đồi cao - núi thấp Thành phần cơ giới thuộc nhóm thịt tới sét nặng, đất chặt, độ ẩm cao vào mùa mưa và xuống thấp vào mùa khô
Khí hậu – Thuỷ văn:
Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung ình năm: 24,10C Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất: 22,40C Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất: 250C từ tháng 3 đến tháng 6
Lượng mưa trung ình năm >2700mm, tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng
11, nhiều nhất vào tháng 7 – 8, độ ẩm trung bình 95%
Thuỷ văn: Mạng lưới sông suối trong VQG Bù Gia Mập nằm hoàn toàn trong lưu vực tả ngạn suối Đăk Huýt (cấp III) Các suối thuộc hệ thống cấp II bao gồm Đăk
Ca, Đăk Sam, Đăk Sá, Đăk Me và một suối khe ngòi thuộc cấp I mà hầu như chỉ
có nước vào mùa khô Nhìn chung, mực nước ngầm trong toàn lưu vực đều có mực thuỷ cấp thấp: Mùa mưa: 8 – 10 m, mùa khô: 15 - 20m tuỳ vào vị trí đỉnh hoặc sườn đồi của khu vực đó
Lượng bốc hơi: Theo số liệu đo đạc tại trạm Phước Long, lượng bốc hơi ình quân năm của vùng khoảng 1.130,1 mm
Chế độ mưa:
Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm trong vùng có lượng mưa năm vào loại trung bình lớn ở miền Đông Nam Bộ Lượng mưa ình quân năm theo số liệu trạm Phước Long là 2.526,8 mm Lượng mưa phân ố không đều các tháng trong năm, lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) chiếm gần 87% lượng mưa cả năm, các tháng mùa khô lượng mưa không đáng
kể đặc biệt là tháng 1, 2, 3 có những năm không có mưa
Trang 3117
Số ngày mưa ình quân cả năm là 142 ngày Thông thường mùa mưa ắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 10 nhưng cũng có năm mưa sớm hơn (tháng 4) và cũng có năm mưa kết thúc muộn hơn (tháng 11)
Hình 1.2 Tổng thể hệ thống thủy văn [23]
Về sông, suối: VQG Bù Gia Mập nằm ở thượng nguồn lưu vực sông Bé tại vị trí các nhánh chính là Đăk Huýt (nhánh đổ vào hồ chứa nước Cần Đơn) và nhánh Đăk Glun (nhánh đổ vào hồ chứa Thác Mơ) Sông suối trong VQG chủ yếu là các nhánh suối nhỏ đổ trực tiếp vào các sông chính (nhánh Đắk Huýt và Đắk Glun)
1.2.1.5 Sơ lược về tài nguyên đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập
Vườn quốc gia Bù Gia Mập có tổng diện tích 26.032 ha, trong đó diện tích tự nhiên
là 21.476 ha, bao gồm 388 ha rừng giàu, 2.798 ha rừng trung bình, 1.692 ha rừng nghèo, 5.064 ha rừng hỗn giao và 11.434 ha rừng tre nứa Vùng đệm vườn quốc gia
có diện tích 15.200 ha gồm 7.200 ha thuộc tỉnh Bình Phước và 8.000 ha của tỉnh Ðắc Nông
Vườn quốc gia Bù Gia Mập nằm trong đoạn cuối của dãy Trường Sơn Nam, ao gồm hai kiểu rừng chính là rừng thường xanh và rừng nửa rụng lá trên núi thấp, là khu chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và vùng thấp Độ cao trung bình từ 300m đến
Trang 3218
750m giảm dần theo hướng Đông Bắc -Tây Nam Kết quả khảo sát của Phân viện điều tra và quy hoạch rừng Nam Bộ thực hiện năm 2004 đã ghi nhận có khoảng 724 loài thực vật thuộc 366 chi, 109 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau Gần đây trong khuôn khổ dự án “Nâng cao năng lực bảo tồn đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập giai đoạn 2006 - 2008” với sự tài trợ của Quỹ bảo tồn Việt Nam, nhóm nghiên cứu thuộc Viện sinh học nhiệt đới kết hợp với các cán bộ VQG Bù Gia Mập
đã tiến hành khảo sát nhanh để đánh giá tính đa dạng sinh học, thực hiện tháng 6 và
7 năm 2007 kết quả đợt khảo sát này đã ổ sung thêm 101 loài, 40 chi, 10 họ và 1
bộ nâng tổng số loài ghi nhận lên 808 loài, 396 chi, 118 họ, 59 bộ của 5 ngành thực vật có mạch [24]
Trong các loài thực vật kể trên có 14 loài thực vật bậc cao được xếp loại trong Sách
đỏ Việt Nam (1996) bao gồm 1 loài nguy cấp (E) là trầm hương (dó) (Aquilariacrassna), 5 loài sẽ nguy cấp (V) là đầu ngỗng (Anaxogorea luzonensis); cẩm thị (Diospyros maritima), gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), cẩm lai Bà Rịa (Dalbergiabariense), cẩm lai nam (Dalbergia cochinchinensis), 1 loài hiếm (R) là lan ý thảo (Dendrobium gratiosissimum), 2 loài bị de dọa (T) là gáo tròn (Adina cordifolia), mã tiền Thorel (Strychnos thorellii) và 5 loài không biết chính xác (K)
là tung (Tetrameles nudiflora), lười ươi (Scaphium macropodium), gõ mật (Sindora siamensis), dáng hương quả to (Pterocarpus macrocarpus), xây (Dialiumcochimchinensis) [24]
Vườn quốc gia Bù Gia Mập là nơi ảo tồn các nguồn gen quý hiếm của hệ động, thực vật và cây làm thuốc, đồng thời bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn cho các hồ chứa nước của các công trình thủy điện Thác Mơ và Cần Ðơn, phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái Ðặc biệt khu rừng nơi đây còn mang đậm nét của rừng nguyên sinh giàu trữ lượng với ưu thế của những cây họ dầu và nhiều cây họ đậu quý hiếm như cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc và 278 giống cây dùng làm thuốc, vườn bao gồm nhiều kiểu rừng kín nửa thường xanh nửa nhiệt đới và kiểu rừng nửa thường xanh
ẩm nhiệt đới
Trang 3319
Ðây còn là nơi cư trú của các loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như gấu chó, báo gấm, sói lửa, bò tót, bò rừng, gà tiền mặt đỏ, gấu ngựa, voi, chà và chân đen Do còn mang đậm nét hoang sơ của rừng nguyên sinh đặc trưng của rừng ẩm thường xanh, có rừng dầu rụng lá theo mùa, rừng lồ ô xen cây gỗ, nên vườn quốc gia là nơi cư trú của nhiều loại động vật thuộc
bộ linh trưởng như khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, khỉ vàng, voọc ngũ sắc, voọc xám
Về động vật ở đây có 437 loài, thú có 73 loài, trong đó có 59 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam Có 168 loài chim, hiện có 10 loài đang ị đe dọa tuyệt chủng như gà lôi, hồng hoàng, hồng tía, dù dì phương Ðông, cu xanh, niệc mỏ vằn, chim công, gà tiền mặt đỏ, chim yến hồng xám bò sát có 30 loài trong đó 12 loài ghi trong sách đỏ Cũng đã xác định được hơn 200 loài có thể làm dược liệu như khỉ, rắn, trăn, tắc kè, mật ong, bìm bịp
Tại Campuchia, gần đây các nhà khoa học đã phát hiện nhiều loài động vật hoang
dã có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn là chà vá chân đen (Pygathrix nigripes) với số bầy lên đến 25 và số cá thể có thể lên đến 400 con, vượn má vàng (Nomascusgabrillae) có khoảng 40 - 50 bầy và số cá thể có thể trên 200 con; khỉ đuôi lợn (Macacaleonina), hổ Đông Dương (Pathera tigris), voi Châu Á (Elephas maximus)…
Thành phần khu hệ chim tại VQG Bù Gia Mập ghi nhận 84 loài thuộc 11 bộ 29 họ Trong 5 loài thì 3 loài có phân bố hẹp là gà so cổ hung (Arborophila davidi), gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini) và chích chạch má xám (Macronous kelleyi) và 2 loài bị đe dọa toàn cầu là gà so cổ hung, gà tiền mặt đỏ, loài bị đe dọa cấp quốc gia
là gà lôi hông tía (Lophura diardi) và niệc mỏ vằn (Aceros undulatus) Mặc dù chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết, nhưng những quan sát trên thực địa cho thấy khu hệ động, thực vật khá phong phú, một số loài thực vật bậc cao quý hiếm, có giá trị kinh tế, những loài động vật hoang dã quý hiếm hiện diện tại VQG Bù Gia Mập là những loài cần đặc biệt chú ý trong công tác bảo tồn và phát triển
Trang 3420
1.2.2 Tổng quan về các xã vùng đệm của VQG Bù Gia Mập
1.2.2.1 Điều kiện kinh tế xã hội các xã vùng đệm
Về trồng trọt:
Qua số liệu tổng hợp và kết quả khảo sát thực tế cho thấy các loài cây trồng chủ yếu gồm cà phê, tiêu, điều, mì cao sản, đậu, lúa Trong đó tiêu, điều,cà phê là loại cây trồng chủ lực, mang tính hàng hóa, các cây lương thực khác như lúa rẫy, lúa nước, bắp lai, để tự túc lương thực
Bảng 1.1 Diện tích và năng suất các loại nông sản chính ở các xã điều tra
Trực 138,9 1,5 429,1 1,2 177,3 1,5 352,2 0,5 2.173,1 2,3
Nhìn chung, các loại cây trồng đều có năng suất thấp do trình độ canh tác lạc hậu, cùng với sự thay đổi bất thường của thời tiết Người dân 3 xã vùng đệm VQG Bù Gia Mập đang có xu hướng chuyển đổi từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa Tuy nhiên do quỹ đất hạn chế và những tri thức truyền thống của người dân tộc thiểu số không còn phù hợp với nền sản xuất hàng hóa nên người dân gặp rất nhiều khó khăn
Các loại cây trồng lâu năm khác và cây hàng năm được nhân dân gieo trồng nhằm tăng thêm thu nhập, tuy nhiên diện tích ít, mới cho sản phẩm nên sản lượng không đáng kể
Về chăn nuôi: Hoạt động chăn nuôi trên địa àn chưa thực sự phát triển và ít mang tính chất hàng hóa Các loại gia súc, gia cầm được nuôi chủ yếu là bò, trâu, heo, gà, vịt Mục đích của việc nuôi ò, trâu là để lấy phân bón, làm thịt, gia cầm được nuôi chủ yếu dùng làm thức ăn cho gia đình, không có các hoạt động nuôi gia cầm công nghiệp
Trang 351.2.2.2 Dân số, dân tộc và lao động
Dân số: Theo số liệu điều tra dân sinh kinh tế của các xã vùng đệmVQG Bù Gia Mập đến (tháng 12/2018), tổng dân số vùng đệm hiện có 8.860 hộ với 35.520 người
Tổng dân số trên toàn xã ĐăK Ơ hiện có 4.373 hộ 18.779 khẩu, trong đó có hộ khẩu thường trú 3.924 hộ 16.774 khẩu Dân tộc thiểu số là 1.584 hộ, 6.270 khẩu
Tổng dân số toàn xã Quảng Trực 2.905 hộ, 10.009 khẩu; trong đó, dân tộc Kinh 1.733 hộ, 5.708 khẩu, chiếm 57,02%, dân tộc M’nông 746 hộ, 2.734 khẩu, chiếm 27,31%, dân tộc thiểu số khác 395 hộ, 1.422 khẩu, chiếm 14,20%
Tổng số hộ là 1.582 hộ với 6.732 nhân khẩu Trên địa bàn xã có 17 dân tộc anh
em cùng chung sống, gồm: Kinh: 445 hộ, S’tiêng: 464 hộ, M’nông: 289 hộ, Tày:
170 hộ, Nùng: 81 hộ, Cao Lan: 23 hộ, Hoa: 30 hộ, Mường: 13 hộ, Thái: 7 hộ, Êđê: 1 hộ, Chăm: 03 hộ, Sán Dìu: 02 hộ, Khơme: 02 hộ, Mông 1 hộ, Cơ ho 03
hộ, Khơ mú 01 hộ
Lao động: Nguồn lao động trong khu vực rất dồi dào Đây là các xã thuần nông còn nhiều khó khăn, phần lớn lao động tập trung trong các ngành nghề nông nghiệp, các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng cũng như trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có tỉ lệ lao động rất thấp Hầu hết lao động trong khu vực đều là lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề, công việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp (trồng cà phê), làm thuê, đánh ắt cá, tham gia tổ giao khoán BVR, nguồn lao động mang tính thời vụ
Trình độ văn hoá:
Hộ nghèo có tỷ lệ 70% số người biết đọc biết viết và 30% mù chữ
Hộ trung bình có 87% biết đọc biết viết và 13% mù chữ
Trang 3622
Về nhóm dân tộc thiểu số, người Tày và người Nùng có tỷ lệ biết đọc biết viết cao hơn (90%) trong khi người S’tiêng và người M’nông có tỷ lệ biết đọc biết viết là 70% Dân tộc Kinh có tỷ lệ người biết đọc biết viết đạt tới 99%
Thu nhập: Bình quân thu nhập đầu người 2.400.000 đồng/người/năm
Tập quán canh tác của cư dân sống trong vùng: Phương thức sản xuất độc canh, lạc hậu, sản phẩm thô, bấp bênh về giá cả, công cụ lao động thô sơ, vốn đầu tư hạn chế Hoạt động kinh tế:
Hộ gia đình nghèo: Chủ yếu là làm nông nghiệp, diện tích đất bình quân của mỗi
hộ khoảng 1,7 ha, loài cây được trồng là lúa và khoai mì Lúa gạo được sử dụng trong gia đình còn khoai mì (năng suất khoảng 20 tấn/ha/năm) thường dùng để bán Có rất ít vật nuôi và có xu hướng gặp phải tình trạng thiếu đói từ tháng 12 tới tháng 3 Bên cạnh việc làm nông nghiệp, các hộ gia đình này còn làm thêm các công việc khác như đánh ắt thủy sản hoặc làm thuê
Hộ gia đình trung ình: Chủ yếu là làm nông nghiệp, diện tích đất bình quân của mỗi hộ khoảng 4,5 ha Loài cây được trồng là khoai mì, cao su, cà phê và điều
Có nhiều vật nuôi và không phải chịu cảnh thiếu đói Bên cạnh việc làm nông nghiệp họ còn tham gia đánh ắt thủy sản
Hộ gia đình khá: Tập trung canh tác các loại cây mang lại lợi nhuận cao: cao su,
cà phê và điều Năng suất canh tác của các hộ gia đình này cao hơn một cách đáng kể so với hộ gia đình nghèo và hộ trung bình, diện tích đất bình quân của mỗi hộ khoảng 11 ha
Tổng số nhóm dân tộc thiểu số trong cả ba xã là 16 nhóm (không tính nhóm dân tộc Kinh), bao gồm: Tày, Nùng, S’tiêng, M’nông, Dao, Cao Lan, Thái, Mường, Hoa, Chăm, Khơ me, Sán Dìu, Khơ mú, Châu Mạ, Thổ, H’Re Nhóm dân tộc S’tiêng, M’nông, Tày và Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất với 51,87% trong tổng số hộ gia đình Người S’tiêng và M’nông thuộc nhóm dân tộc nghèo nhất trong tổng số các nhóm dân tộc nói trên do họ phải chịu cảnh thiếu đói từ tháng 4 tới tháng 11
Trang 3723
vì trong mùa mưa thường thiếu việc làm Trong thời gian này họ vào rừng để kiếm thức ăn và các lâm sản khác
1.2.3 Tổng quan đối tượng nghiên cứu
Trên địa bàn nghiên cứu thì có 2 dân tộc thiểu số chủ yếu: S’tiêng chiếm 27,3% và M’Nông chiếm 15,9% còn 44% dân tộc kinh
1.2.3.1 Văn hóa truyền thống của người S’tiêng
Sinh hoạt kinh tế: Trồng trọt: Ăn rừng rồi để hoang – vừa là một triết lý nhân sinh vừa là một phương thức canh tác nông nghiệp của người S’tiêng Canh tác nông nghiệp của người S’tiêng phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, năng xuất không
ổn định do đó họ phải tiến hành thêm nhiều hoạt động kinh tế chiếm đoạt sơ khai như đánh ắt cá, săn ắt, hái lượm Ngoài ra còn có các nghề thủ công truyền thống Tín ngưỡng, phong tục - tập quán, lễ hội: Người S’tiêng trước đây theo tín ngưỡng
cổ truyền đã tiến hành cả 3 lễ cúng trong năm, gồm lễ chuẩn bị chọn đất làm rẫy (Pôl- nong), lễ cầu mùa (Brohba), lễ cúng cơm mới (Pư a khiêu) Lễ cúng lúa được người S’tiêng vùng cao (Bù lơ) gọi là Lớp Prăkpa, vùng thấp (Budek) gọi là Nktao Rhe Tuy nhiên kể từ năm 1990 trở lại đây, hầu hết người S’tiêng ở các huyện Bù Đăng, Bình Long, Phước Long chỉ còn cúng một lần trong năm, lễ cúng vào ngày thu hoạch được gùi lúa đầu tiên Cuộc sống của đồng ào S’tiêng gắn bó với núi rừng, nương rẫy nên có những nét văn hóa ẩm thực độc đáo, giàu ản sắc Trong những món ăn, thức uống “đậm chất núi rừng” nhưng không kém phần cầu kỳ ấy, không thể không nhắc đến rượu cần, canh thụt, đọt mây nướng và cơm lam…
Tổ chức cộng đồng:
Ngày nay người S’tiêng ở nhiều nơi đã định canh định cư, từng gia đình làm nhà
ở riêng Họ Điểu là họ phổ biến của đồng ào S’tiêng Làng S’tiêng có truyền thống tự quản, đứng đầu là một già làng am hiểu tập tục, có uy tín lớn, tháo vát
và thường là người giàu có ở làng Mức giàu được tính bằng tài sản như: trâu, ò, chiêng, cồng, ché, vòng, trang sức và còn rất nhiều thứ khác nữa
Người S’tiêng ưa thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 6 cái
Trang 3824
1.2.3.2 Văn hóa truyền thống của người M’nông
Sinh hoạt kinh tế:
Nền kinh tế truyền thống của người M’nông tự cung tự cấp, dựa hoàn toàn vào thiên nhiên Họ đốt rừng làm rẫy, làm ruộng khô là chủ yếu với hình thức luân canh trên một khoảng rừng khá rộng đủ để đất phục hồi.Trước đây, cây trồng chủ yếu của người M’nông là lúa Ngoài ra, trên nương rẫy còn trồng nhiều loại cây khác như ngô, đậu, cà, ớt,…để cải thiện bữa ăn hàng ngày Bên cạnh đó, người M’nông còn săn ắt, hái lượm hoa quả, rau rừng phục vụ cho bữa ăn của gia đình
Nghề thủ công từ trước đến nay vẫn chậm phát triển, gắn chặt với nông nghiệp, các nghề thủ công chủ yếu là thủ công gia đình như đan lát, dệt thổ cẩm, phục vụ nhu cầu bản thân do phụ nữ đảm nhiệm
Tín ngưỡng, phong tục - tập quán, lễ hội: Là cư dân ản địa, sống gần gũi với thiên nhiên, cho đến nay, người M’Nông vẫn tồn tại niềm tin vào tín ngưỡng đa thần Theo phong tục, cứ sau một mùa rẫy là các on làng người M’Nông lại tổ chức các nghi lễ - lễ hội, nhằm tạ ơn các vị thần linh, trời đất, tạ ơn tổ tiên ông à đã phù hộ cho mọi người lúa thóc đầy bồ, heo ò đầy sân, chật bãi Những lễ hội như: lễ hội rượu cần, mừng lúa mới, lễ cưới hỏi, lễ trưởng thành, lễ cúng voi mang bản sắc của một cộng đồng sinh sống bằng nông nghiệp trồng lúa nước, săn ắn, hái lượm…
Tổ chức cộng đồng:
Bon là đơn vị xã hội cơ ản của người M’nông Mỗi on M’nông truyền thống là một đơn vị tổ chức xã hội hoàn chỉnh độc lập về kinh tế, văn hóa, xã hội và tự quản theo các nguyên tắc của luật tục
Trong bon, ngoài dân làng còn một số người khá đặc biệt như: Chủ làng; người
xử kiện; thầy cúng; tôi tớ.Ngày nay trong bon còn có thêm một số cán bộ và tổ chức đoàn thể, ban ngành khác
Trang 3925
CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Điều tra thực trạng sử dụng tài nguyên đa dạng sinh học của dân cư vùng đệm VQG Bù Gia Mập
Thu thập và tổng hợp các thông tin về vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, các nguồn tài nguyên sinh học và thực trạng phát triển kinh tế xã hội VQG Bù Gia Mập
Mức độ phụ thuộc của người dân vào rừng:
Diện tích đất canh tác
Chăn thả gia súc
Săn ắt, uôn án động vật rừng
Khai thác gỗ
Thu hái lâm sản ngoài gỗ
Thu nhập và chi tiêu
Mức độ tác động của cộng đồng lên vườn quốc gia
Các đối tượng tác động lên vườn quốc gia
2.1.2 Đánh giá ảnh hưởng của cộng đồng dân cư vùng đệm đến đa dạng sinh học VQG Bù Gia Mập
Mức độ tham gia của cộng đồng trong hoạt động bảo tồn ĐDSH
Các hình thức tham gia
Đánh giá của cộng đồng về các hoạt động
Những lợi ích mà cộng đồng nhận được từ sự tham gia: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích được học hỏi, nâng cao nhận thức
Việc giao đất lâm nghiệp
Giao khoán bảo vệ rừng tự nhiên
Nhận thức của cộng đồng trong việc bảo tồn ĐDSH
Trang 4026
Ảnh hưởng của các ên liên quan đến quản lý và bảo tồn ĐDSH
2.1.3 Đề xuất nâng cao vai trò của cộng đồng dân cư vùng đệm trong công tác quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học
Tồn tại, xu hướng tích cực của công tác quản lý và bảo tồn hiện tại
Thách thức
Giải pháp trước mắt
Giải pháp lâu dài
2.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp luận
Đánh giá mức độ tham gia các hoạt động bảo tồn của cộng đồng và đề xuất giải pháp dựa trên cách tiếp cận văn hóa đa dạng sinh học (CB), để người dân giảm bớt vào rừng khai thác tài nguyên thiên nhiên từ đó tác động ít hơn đến ĐDSH và công tác bảo tồn sẽ tốt hơn
Đa dạng văn hóa là một nền tảng cho bảo tồn đa dạng sinh học (Maolan Biosphere Reserve, 2007), được thể hiện Công ước ĐDSH tại nguyên tắc 2 và nguyên tắc 11, trong đó:
Nguyên tắc 2: công tác quản lý phải được thực hiện từ cấp cao nhất cho tới cấp thấp nhất
Nguyên tắc 11: tiếp cận hệ sinh thái phải xem xét tất cả các dạng thông tin tương ứng, bao gồm kiến thức, các đổi mới và các thực tiễn của khoa học của cư dân bản địa và cư dân địa phương [3]
Bảo vệ và phục hồi văn hóa đa dạng sinh học là rất quan trọng Phương pháp để thúc đẩy văn hóa đa dạng sinh học bao gồm việc học tập giữa các thế hệ và các cuộc đối thoại cộng đồng để hồi phục kiến thức và phong tục tập quán gắn trong các nền văn hóa của người dân tộc thiểu số S’tiêng, M’nông nhằm tăng cường và bảo vệ
đa dạng sinh học Quá trình hội nhập đã làm cho kiến thức bản địa bị xói mòn Cần