1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tổng quan về lao hạch ngoại biên

18 638 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 160,5 KB
File đính kèm CHUYEN DE LAO HACH.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan về lao hạch ngoại biên bao gồm các phần dịch tễ học lao hạch, sinh bệnh học lao hạch, phân loại lao hạch, triệu chứng lâm sàng, chẩn đoán, điều trị và tiên lượng lao hạch.Thích hợp cho sinh viên, học viên cao học y khoa làm tài liệu tham khảo chuyên đề

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Đặt vấn đề 2

2 Dịch tễ học lao hạch 2

3 Sinh bệnh học lao hạch 4

4 Phân loại lao hạch 5

5 Triệu chứng lâm sàng 6

6 Chẩn đoán 8

7 Điều trị lao hạch 13

8 Tiến triển và tiên lượng bệnh 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Trong các dạng lao ngoài phổi, lao hạch là thể lao phổ biến nhất Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ lao hạch chiếm gần 30% số ca lao ngoài phổi và khoảng 15-20% tổng số ca lao[8, 28] Dạng lao hạch thường gặp nhất là lao hạch ngoại biên như hạch cổ, hạch nách, hạch bẹn và các hạch ở nội tạng như hạch trung thất, hạch mạc treo

Mặc dù lao hạch là thể lao nhẹ, không gây nguy hiểm tính mạng cho bệnh nhân nhưng nó cũng có những vấn đề cần phải nghiên cứu Lao hạch có những đặc điểm dịch tễ học hoàn toàn khác biệt so với lao phổi, các biểu hiện lâm sàng cũng rất đa dạng và việc chẩn đoán cũng gặp rất nhiều khó khăn do dễ nhầm lẫn với các dạng bệnh khác liên quan đến hạch bạch huyết Ngoài ra, quá trình điều trị bệnh có thể kéo dài và xảy ra các phản ứng ngược, gây sưng các hạch mới nhất là ở người nhiễm HIV mắc lao hạch

Các nghiên cứu gần đây đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về dịch tễ học của bệnh Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cung cấp thêm ngày càng nhiều chứng cứ về các phương pháp truyền thống cũng như các phương pháp mới trong chẩn đoán lao hạch cũng như các cách thức kiểm soát biến chứng trong suốt quá trình điều trị bệnh Chính vì vậy, việc cập nhật các kiến thức mới này là điều cần thiết đối với cộng đồng y bác sĩ tại Việt Nam, một nước có tỷ

lệ lao nói chung và lao hạch nói riêng thuộc loại cao trong khu vực và thế giới Đó cũng

chính là mục đích chính của việc thực hiện chuyên đề “Lao hạch” này

2 Dịch tễ học lao hạch

2.1 Tình hình mắc bệnh trên thế giới

Từ giữa những năm 1980 cho đến những năm gần đây, các nhà khoa học đã ghi nhận

có sự gia tăng số mới mắc lao ngoài phổi tại các nước phát triển cũng như đang phát triển Tại Mỹ mặc dù tỷ lệ lao phổi tại Mỹ tiếp tục giảm nhưng tỷ lệ các thể lao ngoài phổi trong

đó có lao hạch lại tăng cao Một nghiên cứu khảo sát trên 12.904 ca lao tại Mỹ vào năm

2008 cho thấy có 8,5% số trường hợp là lao hạch[5] Còn tại Đức thì tỷ lệ lao hạch trên tổng

số ca lao ngoài phổi là 7,5% Tại Ấn Độ và các nước đang phát triển khác, lao hạch là thể lao ngoài phổi phổ biến nhất và chiếm đến 35% số trường hợp lao ngoài phổi[28]

Riêng tại Việt Nam, theo thống kê tại phòng khám Viện Lao – Bệnh phổi trung ương vào năm 1985 thì lao hạch ở người lớn chiếm 20% tổng số lao ngoài phổi Ở trẻ em lao hạch

Trang 3

chiếm 13% trong các thể lao và đứng thứ ba sau lao sơ nhiễm và lao màng não Còn theo số liệu của Trung Tâm Lao thành phố Hà Nội từ năm 1989 – 1990, lao hạch chiếm 83,58% và đứng đầu trong các thể lao ngoài phổi

2.2 Các yếu tố nguy cơ của bệnh

Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện được một số yếu tố nguy cơ liên quan đến lao hạch Trước đây người ta nhận thấy rằng lao hạch thường xảy ra ở trẻ em[12] Tuy nhiên trong những năm gần đây khoảng tuổi dễ mắc bệnh nhất lại là 30-40 tuổi Bệnh cũng xảy ra

ở nữ nhiều hơn nam Trong nghiên cứu của Enarson vào năm 1980 tỷ lệ nữ : nam mắc lao hạch là 2:1[12] Còn trong nghiên cứu của Chen tỷ lệ này là 1,4: 1 Đặc điểm này khác hoàn toàn so với lao phổi trong đó nam lại mắc cao hơn nữ và chủ yếu xảy ra ở người già[7]

Chủng tộc cũng là một trong những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh Nhiều nghiên cứu cho thấy người Đông Nam Á, Ấn Độ và có thể là người Châu Phi là những sắc dân có tỷ lệ mắc bệnh lao hạch cao hơn các sắc dân khác Một nghiên cứu tại Texas cho thấy tỷ số số chênh (OR) mắc bệnh ở người Đông Nam Á là 11,3 và người Ấn Độ

là 12,7 nếu so với những sắc dân khác Còn một nghiên cứu tại Minnesota khảo sát trên đối tượng là người Somali định cư tại Mỹ thì có đến 30% số đối tượng tham gia nghiên cứu mắc lao hạch[4, 12, 22]

Hiện nay, các nhà khoa học vẫn chưa thể lý giải được rằng tại sao nữ giới và các sắc dân nói trên lại có tỷ lệ mắc lao hạch cao hơn các nhóm còn lại Một số giả thuyết đưa ra là một số yếu tố thuộc con người có thể góp phần làm tăng nguy cơ bệnh như nghề nghiệp,

thực hành văn hóa cộng đồng (uống sữa bò làm tăng khả năng tiếp xúc với Mycobacterium bovis hay Mycobacterium tuberculosis), ảnh hưởng của hocmon, tiêm ngừa BCG v.v.

Nhiễm HIV cũng được xem như là một yếu tố có mối liên quan chặt chẽ với lao phổi

và lao ngoài phổi đặc biệt là lao hạch[1, 14] Tuy nhiên các yếu tố nguy cơ khác đối với lao phổi như đái tháo đường, tình trạng vô gia cư, lạm dụng rượu lại không phải là yếu tố nguy

cơ của lao hạch khi mà các nghiên cứu đều chứng minh rằng các yếu tố này lại làm giảm nguy cơ tương đối mắc lao hạch ở bệnh nhân[16, 27]

Trang 4

3 Sinh bệnh học lao hạch

3.1 Nguyên nhân gây bệnh

Như chúng ta đã biết, hiện nay trực khuẩn lao gây bệnh ở người bao gồm ba loại là

Mycobacterium tuberculosis, Mycobacterirum bovis và Mycobacterium africanum Trước đây, M bovis là nguyên nhân chính gây lao hạch, tuy nhiên từ khi có sự ra đời của phương

pháp tiệt trùng sữa, tác nhân này đã không còn là nguồn gây lao hạch tại các nước phát triển

và hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới Do đó hiện nay M tuberculosis chính là

nguyên nhân phổ biến gây ra lao hạch Tuy nhiên, các tác nhân lây nhiễm khác chẳng hạn

như dòng vi khuẩn mycobacteria không gây lao (M scrofulaceum, M avium, và M haemophilum), một số chủng Toxoplasma, các chủng Bartonella, một số loại nấm cũng có

thể đưa đến tình trạng viêm hạch như trong lao hạch Ngoài ra còn có thể kể đến các tác nhân không lây nhiễm như u hạt, sarcoidosis, bệnh Castleman, phản ứng thuốc và tăng sản tái phát không đặc hiệu

3.2 Cơ chế sinh bệnh học

Hiện nay cơ chế sinh bệnh học của lao hạch vẫn chưa được tìm hiểu đầy đủ Các nhà khoa học vẫn còn tranh cãi về việc lao hạch là một bệnh có bản chất cục bộ của lao toàn thân hay là một bệnh riêng biệt Tuy nhiên, đa số nhà khoa học nghiêng về giả thuyết lao hạch là biểu hiện cục bộ của lao toàn thân với cơ chế sinh bệnh học như sau:

Lao hạch có thể xảy ra vào các giai đoạn khác nhau của quá trình nhiễm lao: bệnh có thể xảy ra trong giai đoạn sơ nhiễm lao, giai đoạn các u lao tại phổi vỡ ra và vi khuẩn đi vào

hệ bạch huyết hay giai đoạn tái phát các u lao Quá trình sơ nhiễm lao xảy ra từ khi bệnh nhân phơi nhiễm với vi trùng lao Mầm bệnh sẽ đi vào cơ thể thông qua các giọt tiết từ nước bọt hay đàm của bệnh nhân mà người lành hít phải, sau đó chúng sẽ vượt qua hàng rào lông mao – niêm mạc phế quản và sẽ cư trú tại các phế nang Tại đây, vi khuẩn lao sẽ sinh sôi và tạo thành các ổ lao với tên gọi là ổ lao Ghon Các vi khuẩn sau đó sẽ bị đại thực bào nuốt lấy

và đi vào hệ bạch huyết để đến các hạch bạch huyết mạch máu và trung thất tạo nên các nhóm hạch lao ban đầu Từ các nhóm hạch lao bị nhiễm này, vi khuẩn lao sẽ theo các ống bạch huyết lây lan sang các hạch bạch huyết ngoại biên cũng như các hạch toàn thân Từ các

Trang 5

hạch bạch huyết bị nhiễm này, vi khuẩn lao cũng có thể đi vào máu từ đó lây lan đến tất cả các bộ phận trong cơ thể[9, 20, 29]

Sau khi đến các hạch bạch huyết, vi khuẩn lao nhân lên liên tục tại các hạch bị nhiễm này Chúng sẽ cư trú tại các lỗ rò của hạch bị nhiễm là nơi mà sau này sẽ hình thành các u lao điển hình Khi đó phản ứng quá mẫn sẽ xảy ra tại các vị trí này, các cytokines và lymphokines được phóng thích bởi các đại thực bào sẽ kêu gọi các bạch cầu đơn nhân và các đại thực bào tập trung tại các lỗ rõ trên hạch bạch huyết Vào giai đoạn này, có rất ít tế bào

bị chết và các mô bị hoại tử Thay vào đó, các vi khuẩn lao lại tiếp tục sinh sôi ngay trong chính các đại thực bào Sau 2 đến 4 tuần, các đại thực bào sẽ phát triển khả năng tiêu diệt vi khuẩn lao, tuy nhiên cũng sẽ có nhiều đại thực bào bị vi khuẩn lao tiêu diệt Khi đó, các u lao hình thành với phần trung tâm nhão sệt chứa các mô bị hoại tử, còn phần xung quanh là các mô mềm chứa đại thực bào còn sống và các biến thể của chúng như tế bào lympho, tế bào biểu mô…Ban đầu các u lao này tách biệt với nhau, tuy nhiên việc các mô xung quanh u lao bị viêm dẫn đến các hạch bạch huyết dính lại với nhau và có thể bục ra do hình thành các vệt mủ sệt Hiện tượng này dẫn đến tình trạng áp xe gọi là áp xe dạng cổ thắt nút Lớp da phủ lên các hạch bị nhiễm cũng sẽ dính vào các hạch đồng thời trở nên chai cứng và tạo thành các lỗ rò Sau khi điều trị, các lỗ rò này sẽ bị vôi hóa và có thể tạo sẹo[3]

4 Phân loại lao hạch

Có thể phân lao hạch thành các dạng sau tùy thuộc vào tính chất hạch viêm nhiễm, số lượng cũng như ảnh hưởng đến các bộ phận khác:

1 Lao hạch bã đậu: là thể lao hạch điển hình, gặp nhiều nhất trong lâm sàng

2 Thể u hạch lao: Thường là một hạch lao đơn độc, to, mật độ chắc, không đau, ít khi nhuyễn hoá Do sự phát triển của tế bào xơ và mô liên kết trong hạch làm cho hạch trở nên xơ cứng Loại này chẩn đoán khó và dễ nhầm với bệnh lý hạch to do các nguyên nhân khác

3 Thể viêm nhiều hạch: Hay gặp ở những bệnh nhân HIV/AIDS với bệnh cảnh viêm nhiều nhóm hạch ở toàn thân, cơ thể gầy sút nhanh, phản ứng Mantoux thường âm tính

Trang 6

4 Lao hạch phối hợp với lao các bộ phận khác: Lao hạch có thể phối hợp với lao sơ nhiễm, lao phổi, lao các màng… Ngoài triệu chứng lao hạch, bệnh nhân còn biểu hiện các triệu chứng kèm theo ở những bộ phận khác trong cơ thể bị lao

5 Triệu chứng lâm sàng

5.1 Đặc điểm của hạch bạch huyết trong lao hạch

Lao hạch là thể bệnh có diễn tiến chậm, hạch sưng to dần, không đau Thường có nhiều hạch cùng bị sưng với kích thước không đều nhau và tập hợp thành một chuỗi Trong trường hợp nhiều nhóm hạch cổ cùng bị sưng sẽ tạo thành một loạt các lỗ rò dẫn đến để lại sẹo liên hoàn, vì vậy trước đây lao hạch còn gọi là bệnh tràng nhạc Trong một số trường hợp, chỉ có một hạch cổ duy nhất bị sưng to, không đau, nóng và gây đỏ da Khoảng thời gian từ lúc nhiễm lao cho đến biểu hiện lao hạch thường là từ 1 đến 2 tháng đôi khi dao động

từ 3 tuần đến 8 tháng[26, 31]

Đường kính trung bình của các hạch lao vào khoảng 3 cm tuy nhiên có một số hạch

có thể đạt kích thước 8 -10 cm Bệnh nhân khi được thăm khám đều không cảm thấy đau tại hạch, số hạch mềm chỉ phát hiện ở 10 – 35% số bệnh nhân Các lỗ rò trên da cũng được ghi nhận trên 4 - 11% số bệnh nhân[21, 23] 85% bệnh nhân có biểu hiện viêm từ 1-3 hạch

Đa số bệnh nhân đều nổi hạch ở cổ (chiếm đến 45 -70% số ca) trong đó 12 - 26% là nổi hạch dọc theo cơ ức đòn chũm, sau đó đến hạch thượng đòn, và hạch dưới hàm Nhóm hạch dưới hàm thường sưng to trong trường hợp trẻ em từ 2-5 tuổi[10, 11] Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy tỷ lệ lao hạch cổ bên phải cao gấp 2 lần so với lao hạch cổ bên trái Ngoài ra tỷ lệ lao hạch ở một bên cổ cao gấp 4 lần so với hai bên cổ (80% so với 20% số ca lao hạch)

Nhóm hạch ở cổ hay bị viêm nhiễm có liên quan đến sự phân bố giữa hệ bạch huyết trong cơ thể và hệ bạch huyết ở phổi Các hệ bạch huyết trong cơ thể đều đổ vào hai ống bạch huyết lớn nhất của cơ thể là ống ngực và ống bạch huyết lớn Ống ngực nhận bạch huyết của 3/4 cơ thể (trừ nửa phải của đầu, cổ, ngực và chi trên ở bên phải) sau đó đổ vào hội lưu tĩnh mạch ở bên trái Ống bạch huyết lớn nhận bạch huyết phần còn lại và đổ vào hội lưu tĩnh mạch ở bên phải Điều này cũng giải thích vì sao lao hạch cổ hay gặp ở nhóm hạch

cổ bên phải

Trang 7

Sau khi nổi hạch cổ, bệnh nhân có thể nổi tiếp các hạch ở các vùng cơ thể khác như nhóm hạch trung thất, hạch nách, hạch màng treo ruột, hạch cổ gan và hạch vùng bẹn[3, 15, 31] Hạch trung thất sưng to thường gặp ở trẻ em nhiều hơn người lớn Các biểu hiện lâm sàng của viêm hạch trung thất bao gồm khó nuốt, rò rỉ dịch ở hạch trung thất thực quản và rò

rỉ dịch ở hạch khí phế quản Các hạch trung thất sưng to còn có thể gây ra tắc nghẽn các ống bạch huyết từ đó dẫn đến hiện tượng tràn dưỡng chấp màn phổi, ứ đọng bạch huyết hoặc dưỡng chấp niệu[17, 19, 25, 30] Một số biểu hiện lâm sàng khác của viêm hạch trung thất

có thể gặp ở bệnh nhân như vàng da do tắc mật, chèn ép tim cũng được ghi nhận

Jones và Campbell đã phân giai đoạn cho hiện tượng viêm hạch bạch huyết trong lao hạch thành 5 giai đoạn:

1 Giai đoạn 1: Hạch sưng to, chắc, di động cho thấy tăng sản liên tục của vi khuẩn

2 Giai đoạn 2: Hạch dai, lớn, dính vào các mô xung quanh vì có hiện tượng viêm quanh hạch

3 Giai đoạn 3: Trung tâm các hạch mềm dần do hiện tượng áp xe trong hạch

4 Giai đoạn 4: Hình thành các áp xe dạng cổ thắt nút và

5 Giai đoạn 5: Hình thành lỗ rò do hạch bị hoại tử và vỡ ra

5.2 Các triệu chứng toàn thân

Các triệu chứng toàn thân cũng rất đa dạng, mang tính không đặc hiệu và còn tùy vào khu vực địa lý, tình trạng ca bệnh có nhiễm HIV hay không Các triệu chứng toàn thân thường gặp bao gồm, sốt nhẹ, sụt cân, mệt mỏi, và đôi khi ra mồ hôi đêm[9, 13, 24] Một số bệnh nhân cũng có thể có ho khan nhưng đây thường không phải là dấu hiệu đặc trưng của lao hạch[9, 24] Các nghiên cứu cho thấy khoảng 57% bệnh nhân lao hạch không có các triệu chứng toàn thân[24] Ở bệnh nhân lao hạch không bị nhiễm HIV tại Carlifornia thì các triệu chứng sốt nhẹ chỉ gặp ở 19% số ca, sụt cân gặp ở 16% số ca trong khi đó tại Ấn Độ và Quatar tỷ lệ hai triệu chứng này có thể lên đến 40 -60% Tần suất các triệu chứng này ở người lao hạch không nhiễm HIV cũng thấp hơn ở những người nhiễm HIV Ngoài ra các nghiên cứu còn cho thấy bệnh nhân lao hạch không nhiễm HIV ít nhiễm lao phổi và các bệnh cơ hội so với bệnh nhân lao hạch có nhiễm HIV

Trang 8

Một số y văn còn ghi nhận bệnh nhân có thể gặp tình trạng lao da hạch do các hạch bị viêm nhiễm lây lan sang vùng da trên hạch

6 Chẩn đoán

Có nhiều phương pháp được áp dụng để chẩn đoán lao hạch Khám thực thể lâm sàng

và hỏi bệnh sử, test lẩy da, nhuộm soi trực tiếp, chụp X-quang, chọc hút hạch bằng kim nhỏ (FNAC) giúp chẩn đoán lao hạch từ đó cho phép tiến hành trị liệu sớm trước khi chẩn đoán cuối cùng được đưa ra dựa trên sinh thiết mô và nuôi cấy tế bào[2, 18] Việc lựa chọn phương pháp chẩn đoán nào tùy thuộc vào độ đặc hiệu và khả năng mang lại hiệu quả cao trong điều trị

6.1 Chọc hút hạch bằng kim nhỏ (FANC)

Đây là phương pháp cận lâm sàng được lựa chọn hàng đầu trong chẩn đoán lao hạch, đặc biệt là tại các nước lưu hành bệnh lao Phương pháp FANC an toàn hơn, ít xâm lấn hơn

so với sinh thiết mô đặc biệt kinh tế hơn đối với những nước có nguồn lực hạn chế Tất cả những trường hợp hạch ngoại biên to cần phải chọc hút hạch bằng kim nhỏ để làm xét nghiệm tế bào học Trong các trường hợp lao hạch điển hình, trên tế bào đồ bao giờ cũng gặp các thành phần sau: chất hoại tử bã đậu, tế bào khổng lồ (Langhans) và tế bào bán liên Chẩn đoán tế bào học lao hạch ngoại biên qua chọc hút kim nhỏ cho kết quả chẩn đoán xác định cao từ 70 – 90% Ngoài ra có thể tìm vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp soi trực tiếp hoặc nuôi cấy Tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp soi trực tiếp thường thấp (17%), nhưng tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn lao trong bệnh phẩm chọc hút hạch bằng phương pháp nuôi cấy lại cao (tới 40%)

6.2 Soi lam trực tiếp

Soi trực tiếp có thể được thực hiện bằng phương pháp FNA Ngoài ra ở những trường hợp hạch nhuyễn hoá rò mủ, người ta lấy mủ rò ra đem soi tươi tìm vi khuẩn lao Nhuộm Ziehl-Neelsen lam soi có thể phát hiện vi khuẩn trên mẫu bệnh phẩm tươi Cơ hội phát hiện

vi khuẩn lao ở bệnh nhân có áp xe lạnh sẽ cao hơn Độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp FNAC trong chẩn đoán lao hạch là 88% và 96%[6] Việc kết hợp giữa FNA và nuôi cấy hay test Mantoux có thể làm tăng chẩn đoán lao hạch FNAC là một phương pháp chẩn đoán có độ nhạy, độ đặc hiệu và có chi phí hiệu quả cao trong chẩn đoán lao hạch, đặc biệt ở

Trang 9

trẻ em có hạch cổ sưng to nghi ngờ Nếu các kết quả tế bào học lặp lại vẫn không xác định

có nhiễm lao hạch hay không thì nên tiến hành sinh thiết mô

6.3 Nuôi cấy vi khuẩn

Nuôi cấy vi khuẩn hiện nay vẫn là được xem là “tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán lao hạch, tuy nhiên thời gian trả kết quả khá lâu, khoảng 2 - 4 tuần và điều này có thể làm kéo dài thời gian điều trị cho bệnh nhân Sau khi nuôi cấy, nếu phát hiện có 10 - 100 vi khuẩn/m3 mẫu bệnh phẩm thì kết quả nuôi cấy là dương tính Người ta có thể sử dụng nhiều môi trường nuôi cấy khác nhau để nuôi cấy vi khuẩn lao (L-J, Middlebrook , Bactec TB) Phương pháp nuôi cấy có độ nhạy vào khoảng 1- 69% và đặc biệt có độ đặc hiệu cao trong

việc phát hiện M tuberculosis ở người lớn Trong trường hợp nuôi cấy cho kết quả âm tính,

chúng ta vẫn chưa thể loại trừ khả năng bệnh nhân mắc bệnh Khi đó, cần phải dựa trên các đặc điểm về mô học của bệnh nhân như hiện tượng xâm nhiễm hạch bạch huyết, các u hạt không hoại tử, hoặc phát hiện các tế bào khổng lồ Langehans ở các khu vực có hoại tử lan rộng để chẩn đoán lao hạch

6.4 Test lẩy da

Test lẩy da (hay còn gọi là Mantoux test) được sử dụng để phát hiện phản ứng quá mẫn trễ của cơ thể với kháng nguyên vi khuẩn, trong đó thuốc thử chính là chiết xuất tinh chất protein (PPD) Xét nghiệm sẽ dương tính sau 2-10 tuần kể từ khi nhiễm vi khuẩn Trong lao hạch phản ứng Mantoux thường dương tính mạnh (> 80%) với nốt sần nổi lên > 10 mm

và thậm chí có cả phồng nước nơi tiêm Đây là một dấu hiệu quan trọng trong chẩn đoán lao hạch và là cơ sở để chẩn đoán phân biệt với các bệnh Hodgkin, bệnh sarcoid và ung thư hạch Phản ứng trung tính (nốt sần 5-9 mm) có thể xuất hiện sau khi tiêm BCG, nhiễm lao hoặc các trường hợp nhiễm vi khuẩn mycobacteria khác không gây lao Phản ứng âm tính (nốt sần < 4 mm) chứng tỏ bệnh nhân ít nhạy cảm với tuberculin Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong xét nghiệm lao hạch tỷ lệ xét nghiệm cho kết quả dương tính là 49,4%, trung tính

là 35,6% và âm tính là 15%

Phản ứng cho kết quả âm tính giả cũng có thể xảy ra trong 20% số bệnh nhân có lao hoạt tính Xét nghiệm cũng có thể cho kết quả dương tính giả trong những trường hợp như các loại nhiễm trùng khác, bệnh chuyển hóa, suy dinh dưỡng, tiêm vaccine virus sống, u ác

Trang 10

tính, sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, trẻ sơ sinh, người già, stress, u bướu, và cả việc thực hiện xét nghiệm không đúng quy cách

6.5 Xét nghiệm sinh học phân tử

Xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR) là một kỹ thuật nhanh chóng và hữu ích để phát hiện các mẫu AND của vi khuẩn lao ở bệnh nhân có nghi ngờ lao hạch Chỉ cần

có sự hiện diện của một vài vi khuẩn lao còn sống hoặc đã chết là đã đủ để xét nghiệm PCR cho kết quả dương tính PCR có thể áp dụng cho các mẫu bệnh phẩm thu được từ kỹ thuật FNAC hoặc mẫu bệnh phẩm sinh thiết mô Độ nhạy của nó dao động từ 43-84% và độ đặc hiệu là 75-100% PCR được sử dụng khi phương pháp soi trực tiếp và nuôi cấy đều cho kết quả âm tính Ngoài ra một công dụng khác của kỹ thuật PCR là giúp phân biệt được viêm hạch do lao và viêm hạch không do lao Bởi vì là một kỹ thuật xét nghiệm cao đòi hỏi nguồn kinh phí lớn do đó tại các nước có nguồn lực hạn chế, kỹ thuật PCR chỉ được sử dụng trong các ca khó

Hiện nay kỹ thuật khuếch đại acid nucleic (NAA) cũng được áp dụng trong chẩn đoán lao hạch Các nghiên cứu cho thấy độ nhạy của nó vào khoảng 2-100% và độ đặc hiệu từ 28 -100%

Ngoài ra kỹ thuật xét nghiệm dựa trên lượng interferon γ được phóng thích (IGRAs) cũng được sử dụng như là phương pháp hỗ trợ chẩn đoán bởi vì xét nghiệm này không bị ảnh hưởng bởi vaccine BCG, hoặc các dạng nhiễm trùng do mycobacteria không gây lao khác, vì vậy nó đặc hiệu hơn so với xét nghiệm lẩy da Một nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy, độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm lẩy da là 86% và 67% trong khi độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm IGRAs lần lượt là 86% và 87%

6.5 Sinh thiết mô

Sinh thiết mô là một thủ thuật cận lâm sàng xâm lấn nhất trong chẩn đoán lao hạch, tuy nhiên nó có độ đặc hiệu cao nhất và giúp chẩn đoán nhanh chóng trước các triệu chứng của bệnh nhân Sinh thiết mô có thể giúp phát hiện các u lao điển hình Thông qua sinh thiết

mô, có thể phát hiện các tế bào khổng lồ Langerhans, các hạch đang hoại tử, viêm nhiễm u hạt và tình trạng hóa vôi, nhờ đó hỗ trợ cho việc chẩn đoán chính xác lao hạch Sinh thiết mô cũng giúp phân biệt giữa viêm hạch do mycobacteria không gây lao và lao hạch bằng cách

Ngày đăng: 29/03/2017, 18:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w