1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm cho hoạt động cấp tín dụng và thực tế áp dụng trong 9 tháng đầu năm 2013

18 993 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 42,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định về cầm cố Khái niệm cầm cố tài sản được quy định trong Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005 như sau: “Cầm cố tài sản là việc một bên sau đây gọi là bên cầm cố giao tài sản thuộc quyền s

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2

1.Khái niệm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng 2

2.Đặc điểm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng 3

II CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÍ NHẰM BẢO ĐẢM AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CHO VAY 4

1.Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản 4

1.1 Quy định về cầm cố 4

1.2 Quy định về thế chấp 5

1.3.Quy định về bảo lãnh 8

1.4.Hình thức bảo đảm bằng tín chấp 10

2 Quy định về tài sản bảo đảm 12

2.1 Điều kiện của tài sản bảo đảm 12

2.2 Giá trị tài sản bảo đảm 13

3 Quy định về giao dịch bảo đảm 14

3.1 Hiệu lực của giao dịch bảo đảm 14

3.2 Quy định về đăng kí giao dịch bảo đảm 14

4 Quy định về xử lí tài sản bảo đảm 14

III.THỰC TẾ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM CHO HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG TRONG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2013 15

IV MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM TIỀN VAY TRONG HOẠT ĐỘNG CẤP TÍN DỤNG 16

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 7 tháng 11 năm

2006, lĩnh vực ngân hàng được coi là ngành dịch vụ đầy tìm năng và nhiều triển vọng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong ngành ngân hàng, hoạt động tín dụng cho vay được đẩy mạnh Do đó, bên cạnh các hợp đồng tín dụng luôn tồn tại các biện pháp bảo đảm tiền vay (bằng tài sản hoặc không bằng tài sản) Để tạo cơ sở pháp lí cho TCTD và khách hàng trong quá trình vay vốn, pháp luật về bảo đảm tiền vay không ngừng được hoàn thiện qua từng thời kì Hiện nay, các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản được ghi nhận tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ Luật dân sự, Bộ Luật hàng hải, Luật các TCTD, Luật đất đai, Nghị định

163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về bảo đảm tiền vay thay thế cho Nghị định 178/1999/NĐ-163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/1999 và Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002, Nghị định 08/2000/NĐ-CP ngày 10/03/2000 thay thế cho Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về đăng kí giao dịch bảo đảm

Khi nhìn lại quá trình phát triển của các quy định về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hợp đồng tín dụng ngân hàng ta sẽ dễ dàng nhận thấy nhà nước ta đã dành sự quan tâm đáng kể để đổi mới và hoàn thiện các chế định này Tuy nhiên, pháp luật về bảo đảm tiền vay bằng tài sản hiện vẫn còn những bất cập cần tiếp tục hoàn thiện Để góp phần vào việc tìm hiểu chế định này, trong khuôn khổ bài tập nhóm này người viết sẽ

tìm hiểu về: “Phân tích những nội dung cơ bản quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm cho hoạt động cấp tín dụng và thực tế áp dụng trong 9 tháng đầu năm 2013”

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG

1.Khái niệm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho vay của

tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều

Trang 3

kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng là một hoạt động cho vay dựa trên hình thức pháp lí của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng với khách hàng là hợp đồng tín dụng; tức là, một hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để

sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên chủ thể trong quan hệ cho vay, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tổ chức tín dụng có quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống Khi cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay

2.Đặc điểm hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn mang những yếu tố cấu thành cơ bản của quan hệ cho vay nói chung Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện ở những dấu hiệu có tính đặc thù sau:

Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh

mang tính chức năng Mặc dù theo luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp kinh mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng

Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh

mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định

Ba là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy định

chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồng

Trang 4

còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tập quán thương mại về ngân hàng

II CÁC BIỆN PHÁP PHÁP LÍ NHẰM BẢO ĐẢM AN TOÀN HOẠT ĐỘNG CHO VAY

1.Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản

1.1 Quy định về cầm cố

Khái niệm cầm cố tài sản được quy định trong Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005 như

sau: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.”

Về đối tượng của cầm cố có thể là động sản hoặc bất động sản và cầm cố gắn với việc chuyển giao tài sản cho bên nhận cầm cố Theo quy định hiện hành thì đối tượng của cầm cố phong phú, đa dạng hơn gồm: các loại tài sản (cả động sản và bất động sản) tiền, trái phiếu, séc, cổ phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác, quyền tài sản Sự phân chia tài sản thành động sản và bất động sản được quy định tại

Điều 174 Bộ luật Dân sự 2005:“Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”

Như vậy, Bộ luật Dân sự 2005 đã có những cải tiến theo kịp các quy định của quốc tế, nhưng trong các văn bản luật chuyên ngành lại hạn chế quyền cầm cố bất động sản của người sở hữu các quyền này, điều này là một hạn chế cơ bản của pháp luật Việt Nam sau khi Bộ luật Dân sự 2005 đã có những quy định rất hợp lí về cầm cố và thế chấp

Tài sản cầm cố là quyền tài sản đang là vấn đề đặt ra của hai văn bản pháp luật có hiệu lực là Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định 163/2006/ NĐ – CP, cả hai quy định này đều không quy định rõ ràng việc sẽ sử dụng thế chấp hay cầm cố đối với một số tài sản đặc biệt, trong đó có các quyền tài sản Theo quy định tại Điều 322 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về quyền tài sản:

Trang 5

“1 Các quyền tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm bao gồm quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng và các quyền tài sản khác thuộc sở hữu của bên bảo đảm đều được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

2 Quyền sử dụng đất được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai.

3 Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về tài nguyên.”

Tài sản cầm cố có thể hình thành trong tương lai? Hiện nay, đây vẫn đang còn là vấn đề tranh cãi Tuy nhiên, do Nghị định 163/2006/ NĐ – CP đã quy định rõ ràng tài sản bảo đảm có thể là tài sản hình thành trong tương lai, do đó tài sản cầm cố vốn là một loại tài sản bảo đảm hoàn toàn có thể là tài sản hình thành trong tương lai

1.2 Quy định về thế chấp

Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 quy định “Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.”

Như vậy, theo Bộ luật Dân sự, khách hàng vay tiền không cần phải chuyển giao tài sản cho ngân hàng mà vẫn có thể được tiếp tục được sử dụng tài sản bảo đảm này trong khi nghĩa vị chưa được thanh toán hết Đồng thời, cũng không bó buộc tài sản thế chấp chỉ có thể là bất động sản, khách hàng vay tiền hoàn toàn có thể thế chấp bằng các động sản

Các tài sản có thể là đối tượng của hình thức thế chấp.

- Tài sản thế chấp là động sản

Trang 6

Tài sản thế chấp có thể là vật (một loại động sản): tài sản được đem thế chấp thỏa mãn điều kiện được phép giao dịch và thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp

Tài sản thế chấp có thể là quyền tài sản: điều này là hoàn toàn có thể và đã được pháp luật quy định từ khá lâu, quyền tài sản được đem thế chấp có thể là quyền đòi nợ, quyền tác giả, quyền sử dụng đất,

Tài sản thế chấp có thể là tài sản hình thành trong tương lai: điều này được pháp luật quy định rõ trong Nghị định số 163/NĐ – CP và Bộ luật Dân sự 2005

- Thế chấp quyền đối với bất động sản

 Thế chấp quyền sử dụng đất

Không phải trong mọi trường hợp người sử dụng đất hợp pháp đều đương nhiên

có quyền thế chấp quyền sử dụng đất Luật Đất đai năm 2003 quy định chỉ trong các trường hợp sau đây, người sử dụng đất mới có quyền thế chấp quyền sử dụng đất:

- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do đươc Nhà nước giao đất hoặc do nhận chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất do xử lí hợp đồng thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất hợp pháp của người khác hoặc đất không thu tiền sử dụng đất được chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất;

- Tổ chức kinh tế sử dụng đất do Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc

do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoặc đất không thu tiền sử dụng đất được chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất, tiền đã trả cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;

- Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất do được Nhà nước cho thuê trước ngày 1/7/2004 mà đã trả tiền cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn ít nhất là 5 năm;

- Tổ chức, cá nhân người nước ngoài đầu tư tại Việt Nam sử dụng đất do được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;

Trang 7

- Người Việt Nam định cư tại nước ngoài sử dụng đất do được Nhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê hoặc do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp

 Điều kiện thế chấp quyền sử dụng đất

Theo quy định tại Điều 106 Luật Đất đai 2003, người sử dụng đất được thực hiện quyền thế chấp quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người sử dụng đất phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một

trong các giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1,2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai 2003

Thứ

hai , tại thời điểm thế chấp quyền sử dụng đất, bên thế chấp vẫn đang trong

thời hạn sử dụng đất

Thứ ba, đất không có tranh chấp.

Thứ tư, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án.

 Thế chấp nhà ở

Theo quy định Luật Nhà ở năm 2005: “chủ sở hữu được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ” Với quy định trên, phần nào không phản ánh được tư duy đổi mới trong lĩnh

vực pháp luật dân sự là tôn trọng sự thỏa thuận các bên khi tham gia giao dịch dân sự Khi tham gia giao dịch dân sự, các bên được tự do, tự nguyện thể hiện ý chí trong việc cam kết, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp bên có nghĩa vụ dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì việc thỏa thuận về giá trị tài sản bảo đảm và tổng nghĩa vụ được bảo đảm là quyền của các bên, các bên có thể thỏa thuận tổng nghĩa vụ được bảo đảm lớn hơn, bằng hoặc thậm chí nhỏ hơn giá trị tài sản bảo đảm Thực tiễn cũng chỉ ra rằng trong nhiều trường hợp, khi xác lập giao dịch bảo đảm, tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm nhưng khi xử lí tài sản bảo đảm thì giá trị tài sản bảo đảm lại nhỏ hơn nghĩa vụ được bảo đảm, khi đó phần nghĩa vụ còn lại sau khi thanh toán từ tiền xử lí tài sản bảo đảm vẫn sẽ do bên có nghĩa vụ phải

Trang 8

thực hiện, nếu không thực hiện thì các tài sản khác của bên có nghĩa vụ vẫn có thể bị phát mại để bảo đảm lợi ích cho bên có quyền Việc nhà làm luật lo lắng thay cho các bên nhận bảo đảm là không cần thiết, không thể hiện tinh thần bình đẳng của các bên trước pháp luật

1 3.Quy định về bảo lãnh

Theo quy định tại Điều 361 Bộ luật dân sự 2005:“Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình”.

Bên thứ ba ở đây có thể là tổ chức hoặc cá nhân, mục đích của bảo lãnh là nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho các bên tham gia quan hệ nghĩa vụ ngay cả khi người có nghĩa

vụ không có tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ – CP, khi phát sinh căn cứ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh nói trên, bên nhận bảo lãnh phải thông báo cho bên bảo lãnh về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong một thời hạn hợp lí kể từ thời điểm được thông báo về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Thực tế, khi nhận thông báo của tổ chức tín dụng yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, hầu hết các bên bảo lãnh đều không muốn thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết Do đó, lúc gửi thông báo yêu cầu, tổ chức tín dụng khó có thể thỏa thuận được với bên bảo lãnh về thời hạn thực hiện bảo lãnh Hơn nữa, thời hạn hợp lí không được lượng hóa và quy định cụ thể trong Nghị định số 163/2006/NĐ – CP và các văn bản pháp luật có liên quan khác Do vậy, khi kí hợp đồng, tổ chức tín dụng cần phải thỏa thuận ngay với bên bảo lãnh về thời hạn cụ thể thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp phát sinh căn cứ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh

Trang 9

Mặt khác, kể từ thời điểm thông báo cho bên bảo lãnh theo quy định trên, bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với tài sản của bên bảo lãnh và yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật chấm dứt hành

vi đó Trên thực tế, tổ chức tín dụng không dễ dàng thực hiện được hai quyền này vì theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, khi Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời (như kê biên tài sản, phong tỏa tài sản ), người yêu cầu phải gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại thực tế có thể xảy ra cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba do việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây ra Quy định này của pháp luật tố tụng dân sự là nhằm phòng ngừa bên nhận bảo lãnh lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của mình để gây khó khăn, thiệt hại về kinh tế cho bên bảo lãnh Nhưng chính quy định trên vô hình dung hạn chế quyền của bên nhận bảo lãnh, đặc biệt là trong trường hợp bên nhận bảo lãnh đang gặp khó khăn về kinh doanh, cần thu hồi vốn từ bên được bảo lãnh để ổn định, phát triển sản xuất – kinh doanh Trong trường hợp đó, bên nhận bảo lãnh khó có thể thu xếp được một khoản tiền lớn để gửi tại một tài khoản ngân hàng theo quyết định của thẩm phán hoặc hội đồng xét xử

Mặc dù khi bảo lãnh cho bên được bảo lãnh vay vốn tại tổ chức tín dụng, bên bảo lãnh đã cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh trong trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bất kể bên được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đến hạn hay trước hạn do vi phạm hợp đồng, nhưng một sô bên bảo lãnh vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh như cam kết trong hợp đồng mà tìm cách né tránh, lẩn trốn và thông báo cho nhân thân của mình (anh em, họ hàng) tìm cách ngăn cản bên nhận bảo lãnh thực hiện các thủ tục xử lí tài sản bảo đảm để thu hồi nợ Do vậy, các tổ chức tín dụng cần có sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền, cơ quan công an địa phương nơi có tài sản bảo đảm để thực hiện các thủ tục xử lí tài sản bảo đảm cho phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật

Trang 10

Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu cảu mình cho bên nhận bảo lãnh xử lí để thanh toán nợ thay cho bên được bảo lãnh Các bên có quyền thỏa thuận về tài sản, thời gian, địa điểm và phương thức xử lí; nếu không thỏa thuận được thì bên nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện tại Tòa án Thực tế, hiếm có bên bảo lãnh nào tự nguyện đưa tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên nhận bảo lãnh xử lí để thanh toán nợ thay cho bên được bảo lãnh vì lúc đó bên bảo lãnh thường có tâm lí không muốn mất tài sản chỉ vì một khoản tiền nhỏ do bên được bảo lãnh trả hoặc một khoản lợi ích khác có giá trị nhỏ hơn tài sản bảo đảm Do vậy, khi kí hợp đồng bảo lãnh với bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh cần thỏa thuận rõ với bên bảo lãnh về tài sản xử lí, phương thức xử lí và giá tài sản bảo đảm cho bên bảo lãnh trong trường hợp bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh do bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ

1.4.Hình thức bảo đảm bằng tín chấp

Bảo đảm tiền vay bằng tín chấp là một biện pháp bảo đảm mới lần đầu xuất hiện trong Bộ luật Dân sự 2005, trước đó, Bộ luật dân sự 1995 vẫn chưa ghi nhận hình thức này Đây là một hình thức bảo đảm thể hiện sự hỗ trợ của nhà nước ta cho người dân nghèo với mục đích giúp họ thoát nghèo và thúc đẩy hoạt động sản xuất Tín chấp được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005 tại Điều 372 như sau:

“Tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân,

hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.”

Về mặt kinh tế, biện pháp này có điểm khá giống với biện pháp bảo lãnh tiền vay, tuy nhiên sự khác biệt của biện pháp bảo đảm này đối với các biện pháp bảo đảm khác chính là chủ thể tham gia nó

Tổ chức chính trị xã hội đóng tư cách là bên bảo đảm cho quá trình vay tiền của

cá nhân, hộ gia đình nghèo Theo Nghị định số 163/2006/NĐ – CP thì tổ chức chính trị

xã hội chỉ có thể là một trong số những tổ chức sau:

Ngày đăng: 27/05/2014, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w