1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Báo cáo " Thực thi pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại - một số vướng mắc pháp lí và đề xuất hoàn thiện " docx

7 875 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực thi pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng thương mại - một số vướng mắc pháp lí và đề xuất hoàn thiện
Tác giả Ts. Phạm Thị Giang Thu, Ths. Nguyễn Ngọc Lương
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật kinh tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 260,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo cơ sở pháp lí cho các chủ thể thực hiện giao dịch tín dụng, cả tổ chức tín dụng với tư cách là chủ thể hoạt động ngân hàng chuyên nghiệp và chủ thể thuộc diện “bất cân xứng” v

Trang 1

TS PHẠM THỊ GIANG THU * ThS NGUYỄN NGỌC LƯƠNG **

1 Về cơ sở pháp lí cho các giao dịch

bảo đảm

Hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức

tín dụng luôn đặt ra áp lực đảm bảo tính hiệu

quả đồng thời đảm bảo tính an toàn đối với

lượng tín dụng được cấp Có nhiều phương

án được pháp luật thừa nhận, các tổ chức tín

dụng dựa trên cơ sở đó để lựa chọn áp dụng

cho phù hợp như kí quỹ, cầm cố, thế chấp,

bảo lãnh Để đảm bảo cơ sở pháp lí cho các

chủ thể thực hiện giao dịch tín dụng, cả tổ

chức tín dụng với tư cách là chủ thể hoạt

động ngân hàng chuyên nghiệp và chủ thể

thuộc diện “bất cân xứng” về vị thế (chủ thể

đang có nhu cầu thiết lập quan hệ nhận tín

dụng từ tổ chức tín dụng) và về tính chuyên

nghiệp (tổ chức tín dụng luôn được xác định

là chủ thể có ưu thế hơn trong việc xem xét,

đánh giá và quyết định các giao dịch tín

dụng với các chủ thể không phải là tổ chức

tài chính), nhiều văn bản quy phạm pháp luật

đã được ban hành, điều chỉnh trực tiếp hoặc

gián tiếp các giao dịch bảo đảm Có thể chỉ

ra một số văn bản sau đây:

- Bộ luật dân sự;

- Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn

thi hành;

- Luật doanh nghiệp và các văn bản

hướng dẫn thi hành;

- Luật nhà ở và các văn bản hướng dẫn

thi hành;

- Nghị định của Chính phủ số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm (sau đây gọi tắt là Nghị định số 163);

- Luật thi hành án

Với các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, các tổ chức tín dụng đã có cơ sở đảm bảo cho giao dịch cấp tín dụng rất đa dạng: cấp tín dụng trên cơ sở tài sản của khách hàng hoặc trên cơ sở tài sản bảo đảm của bên thứ ba Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng

đã phát sinh nhiều vấn đề pháp lí, cần sớm được xem xét đánh giá và chỉnh sửa cho phù hợp Trong bài viết này, trọng tâm phân tích

là những bất cập phát sinh trong quá trình áp dụng Nghị định số 163 nêu trên và các vấn

đề liên quan được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác về cùng nội dung

điều chỉnh

2 Về tính thống nhất nội dung giữa các văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc góp vốn là quyền sử dụng đất

Một trong những nguyên tắc quan trọng trong việc ban hành và áp dụng pháp luật là đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản quy phạm pháp luật, sự thống nhất được thực hiện cả ở phương diện tổng thể và phương diện nội tại Điều này có nghĩa là giữa các

* Giảng viên chính Khoa pháp luật kinh tế

Trường Đại học Luật Hà Nội

* * Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương

Trang 2

văn bản đồng cấp quy định về cùng đối

tượng điều chỉnh cần phải có sự thống nhất

hoặc không được mâu thuẫn; văn bản hướng

dẫn thi hành văn bản pháp luật không được

mâu thuẫn hoặc không được trái với những

quy định của văn bản có hiệu lực pháp lí ở

cấp độ cao hơn Vấn đề này không chỉ dừng

lại ở các nguyên tắc được nghiên cứu trong

khoa học pháp lí mà đã được ghi nhận, trở

thành các nguyên tắc pháp lí, quy định tại

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Hiện nay, việc thực hiện đăng kí giao

dịch bảo đảm đối với những hợp đồng có

liên quan đến việc góp vốn vào tổ chức kinh

tế đang gặp nhiều khó khăn do Luật đất đai,

Luật doanh nghiệp và Bộ luật dân sự cũng

như các văn bản hướng dẫn còn có những

nội dung chưa thống nhất Các luật nêu trên

chưa đưa ra được hướng giải quyết, gây cản

trở, khó khăn lớn cho các tổ chức tín dụng

khi nhận tài sản bảo đảm là quyền sử dụng

đất mà quyền sử dụng đất này đã được sử

dụng để góp vốn vào doanh nghiệp Xin lấy

một ví dụ cụ thể như sau:

Luật doanh nghiệp quy định rõ góp vốn

là việc đưa tài sản vào công ti để trở thành

chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu chung của công

ti.(1) Tài sản góp vốn tạo thành vốn của công

ti Quy định này có nghĩa là khi tài sản đã

được góp vốn vào công ti, công ti sẽ sở hữu

tài sản đó và người góp vốn sẽ sở hữu công

ti, không phân biệt việc góp vốn được thực

hiện trong giai đoạn hình thành công ti hay

góp vốn khi công ti đã hình thành Để công

ti thực hiện quyền sở hữu đối với phần vốn

góp, người góp vốn (trong trường hợp này là

người có quyền sử dụng đất đem góp vốn)

phải làm thủ tục sang tên đối với phần tài

sản đã góp Thể hiện rõ nội dung này, khoản

1 Điều 29 Luật doanh nghiệp quy định rõ:

“Thành viên công ti trách nhiệm hữu hạn, công ti hợp danh, cổ đông của công ti cổ phần phải chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn cho công ti Đối với tài sản có đăng kí quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền”

Điều 106 Luật đất đai quy định: Người

sử dụng đất được thực hiện quyền góp vốn bằng quyền sử dụng đất, có nghĩa là người

sử dụng đất thực hiện hành vi nêu tại Điều 4 Luật doanh nghiệp Tuy nhiên, Điều 131 Luật đất đai khi quy định về trình tự, thủ tục đăng kí, xoá đăng kí góp vốn bằng quyền sử dụng đất lại có những nội dung không thể hiện việc góp vốn là chuyển quyền sở hữu tài sản (trong trường hợp này là quyền sử dụng đất) của người sử dụng đất ban đầu Cụ thể là: Mục b khoản 1 Điều 131 có quy định

về trường hợp “đủ điều kiện góp vốn thì thực

hiện đăng kí góp vốn vào hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất; trường hợp góp vốn phát sinh pháp nhân mới thì gửi hồ sơ đăng kí góp vốn đến

cơ quan quản lí đất đai thuộc uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và các tài sản khác gắn liền với đất cho pháp nhân mới đó” Như vậy, nếu góp vốn để hình

thành pháp nhân mới thì việc chuyển giao

quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đối với nhà và tài sản trên đất mới được thực hiện; trường hợp góp vốn vào pháp nhân nhưng là pháp nhân đã hình thành thì không thực hiện

Trang 3

chuyển giao quyền sử dụng đất và quyền sở

hữu tài sản trên đất cho doanh nghiệp nhận

góp vốn Các văn bản hướng dẫn Luật đất

đai lại quy định những quyền và nghĩa vụ rất

khác nhau đối với trường hợp góp vốn là

quyền sử dụng đất để thành lập doanh

nghiệp và trường hợp góp vốn đối với doanh

nghiệp đã hình thành Cụ thể Điều 107 Nghị

định của Chính phủ số 181/2004/NĐ-CP

ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai chỉ

quy định đối với “doanh nghiệp là pháp nhân

mới được hình thành do góp vốn bằng quyền

sử dụng đất” Điều 7 Nghị định của Chính phủ

số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

quy định: “Người sử dụng đất được chứng

nhận quyền sử dụng đất nếu thuộc một trong

các quy định tại các khoản Điều 49 Luật

đất đai”, trong khi đó khoản 4 Điều 49 Luật

đất đai quy định trường hợp được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất như sau: “Tổ

chức sử dụng đất là pháp nhân mới được

hình thành do các bên góp vốn bằng quyền

sử dụng đất” Như vậy, phải chăng doanh

nghiệp nhận phần vốn góp là quyền sử dụng

đất mà doanh nghiệp đã, đang tồn tại và hoạt

động thì không có quyền đối với tài sản đã

góp vốn vào công ti?

Những vấn đề không thống nhất trong

quy định tại hai văn bản luật nêu trên dẫn

đến các tổ chức tín dụng gặp nhiều khó khăn

khi thực hiện đăng kí giao dịch bảo đảm vì

để được đăng kí giao dịch bảo đảm, hợp

đồng thế chấp tài sản liên quan đến quyền sử

dụng đất được góp vốn vào công ti cổ phần,

công ti trách nhiệm hữu hạn trước hết cần

phải được công chứng tại phòng công chứng

và bị từ chối công chứng vì không thực hiện đúng quy định của Điều 29 Luật doanh nghiệp

là chuyển quyền sử dụng đất sang doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong khi đó, nếu đây là tài sản góp vốn vào doanh nghiệp đã hình thành thì pháp luật đất đai không có quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với trường hợp này

Hệ quả thực tế phát sinh là các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng (thực hiện cho vay theo hợp đồng tín dụng hoặc bảo lãnh ngân hàng)

bị mất hoặc giảm sút cơ hội thực hiện hoạt động kinh doanh trong trường hợp khách hàng là doanh nghiệp nhận góp vốn là quyền

sử dụng đất nhưng không nằm trong giai đoạn hình thành doanh nghiệp Cụ thể là:

- Ngân hàng thương mại khi nhận hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng trên cơ sở tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất đều cần xác định chính xác ai là người có quyền

sử dụng đất hợp pháp? Tuy nhiên, trên cơ sở

hồ sơ xin cấp tín dụng của khách hàng thì rất khó xác định ai sẽ là người thực hiện giao dịch bảo đảm với ngân hàng: doanh nghiệp nhận góp vốn hay người góp vốn?

- Giả định ngân hàng thương mại chấp thuận thực hiện giao dịch bảo đảm với bên góp vốn nhưng khi thực hiện công chứng, văn phòng công chứng vẫn có thể từ chối công chứng với lí do việc chuyển quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp nhận góp vốn

và việc thực hiện giao dịch chỉ có thể thực hiện với công ti đã nhận phần vốn góp theo quy định của Điều 29 Luật doanh nghiệp Điều này có nghĩa là không thể thực hiện được các công việc tiếp theo của giao dịch bảo đảm, trong đó có vấn đề hiệu lực của hợp đồng bảo đảm và trật tự quyền ưu tiên

Trang 4

đối với giao dịch bảo đảm (đăng kí giao

dịch bảo đảm)

- Giả định nếu việc công chứng vẫn được

thực hiện với bên góp vốn, đăng kí giao dịch

vẫn được thực hiện mà tranh chấp xảy ra và

phải tiến hành xử lí đối với tài sản thì cơ

quan xét xử sẽ xác định ai là chủ thể có

quyền sử dụng đất hợp pháp khi tài sản đó đã

được góp vốn vào doanh nghiệp đang tồn tại

(không chuyển quyền sử dụng đất cho doanh

nghiệp theo Luật đất đai)? Luật nào sẽ là luật

áp dụng trong trường hợp này?

Với những phân tích và ví dụ nêu trên, rõ

ràng cần xem xét, rà soát tổng thể nhiều văn

bản quy phạm pháp luật khác nhau cùng quy

định, điều chỉnh về một nội dung, cụ thể trong

trường hợp này là quyền của người sử dụng

đất nói chung và quyền của người sử dụng đất

khi tham gia các giao dịch bảo đảm nói riêng

Về vấn đề này, quan điểm của chúng tôi

là Luật đất đai cần chỉnh sửa quy định về việc

góp vốn là quyền sử dụng đất cho phù hợp

với quy định của Luật doanh nghiệp Đề xuất

này xuất phát từ chính bản chất của hành vi

góp vốn là chuyển phần tài sản mà chủ thể đó

đang có quyền sở hữu (sử dụng đối với đất

đai) sang cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ

có quyền sở hữu (sử dụng) đối với phần tài

sản đó, không phụ thuộc vào việc góp vốn

được tiến hành trong giai đoạn nào Có ý kiến

cho rằng việc góp vốn nêu trên đương nhiên

sẽ làm chuyển giao quyền sở hữu, tuy nhiên

thực tế không phải như vậy Luật đất đai năm

2003 đã quy định về vấn đề này và đã được

hướng dẫn thực hiện tại nhiều văn bản dưới

luật Tuy nhiên, tại Luật sửa đổi, bổ sung

Điều 126 Luật nhà ở và Điều 121 Luật đất

đai, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các

luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản, quy định về việc góp vốn bằng quyền sử dụng đất lại không được sửa đổi, tức là vẫn quy định trường hợp góp vốn vào doanh nghiệp

đã và đang hoạt động thì không thực hiện chuyển quyền sử dụng đất sang cho doanh nghiệp được góp vốn

3 Về tài sản được sử dụng để tham gia vào giao dịch bảo đảm

3.1 Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản hình thành trong tương lai

Một trong những điểm được coi là mới, mang tính chất đột phá của Bộ luật dân sự năm 2005 và của Nghị định số 163 là việc ghi nhận hình thức tồn tại của loại tài sản có thể được hình thành trong tương lai Điều 4

Nghị định này quy định: “Tài sản bảo đảm

có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch” và

“Tài sản hình thành trong tương lai là tài

sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thành tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm mới thuộc sở hữu của bên bảo đảm” Như vậy, việc xác định vấn đề “trong

tương lai” được xem xét dưới góc độ sở hữu đối với tài sản mà không chỉ dừng lại ở việc xác định vấn đề tồn tại thực tế của tài sản đó Hoàn toàn có khả năng xảy ra trường hợp tại thời điểm thực hiện giao dịch bảo đảm, phát sinh nghĩa vụ phải xử lí tài sản bảo đảm, tài sản vẫn “đang hình thành” hoặc bên bảo đảm

“đang chuẩn bị sở hữu” tài sản Xuất phát từ việc đây là loại tài sản có nhiều đặc thù, mới, chưa có cách hiểu thống nhất, đặc biệt từ phía

Trang 5

các cơ quan quản lí nhà nước nên bên nhận

bảo đảm khó xử lí tài sản bảo đảm trong

trường hợp này, khi cá nhân có thẩm quyền

cho rằng vào thời điểm thực hiện giao dịch

bảo đảm bên bảo đảm chưa có quyền sở hữu

đối với tài sản nên không thể sử dụng tài sản

này vào giao dịch bảo đảm Do vậy, pháp luật

cần quy định cụ thể, hướng dẫn rõ ràng hơn

đối với việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng

tài sản hình thành trong tương lai Vấn đề này

thực tế đang gây cản trở cho các hoạt động

cấp tín dụng của ngân hàng thương mại khi

khách hàng không có đủ tài sản bảo đảm cho

khoản vay hoặc bảo lãnh nếu không sử dụng

tài sản hình thành trong tương lai

Một trong những tài sản bảo đảm được

các ngân hàng thương mại và khách hàng sử

dụng hiện nay là quyền phát sinh từ hợp đồng

mua hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở Khoản 2 Điều 61 Nghị

định của Chính phủ số 71/2010/NĐ-CP ngày

23/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi

hành Luật nhà ở quy định rõ: “Tổ chức, cá

nhân mua nhà ở hình thành trong tương lại

của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

được quyền thế chấp nhà ở tại tổ chức tín

dụng để vay vốn Thủ tục thế chấp nhà ở

hình thành trong tương lai được thực hiện

theo hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước”

Về mặt pháp lí, các quyền này sẽ được

chuyển hoá thành quyền sử dụng đất hoặc

quyền sở hữu nhà ở (tài sản hình thành trong

tương lai) Tuy nhiên, việc nhận thế chấp đối

với loại tài sản này có vướng mắc vì Luật đất

đai, Luật nhà ở quy định điều kiện để thực

hiện các giao dịch bảo đảm bằng quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là phải có giấy

chứng nhận quyền sử dụng hoặc quyền sở

hữu Tuy nhiên, quyền phát sinh từ hợp đồng mua hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở là loại tài sản có thể thế chấp theo Điều 322 Bộ luật dân sự Thiết nghĩ việc sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật theo hướng được phép nhận quyền sử dụng đất hoặc quyền sở hữu nhà ở trong tương lai làm tài sản bảo đảm nhằm khuyến khích các giao dịch bảo đảm phát triển, giúp các chủ thể dễ dàng tiếp cận nguồn tín dụng trong xã hội, khơi thông một nguồn lực rất lớn Đề xuất này của chúng tôi được xây dựng dựa trên cơ sở vừa đảm bảo tính tuân thủ pháp luật nhưng cũng nhằm mục đích đảm bảo cho pháp luật không xa rời thực tiễn đời sống pháp lí Nếu coi quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở là loại tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân sự(2) thì đề xuất này của chúng tôi thực chất nhằm làm rõ cơ sở để thực hiện nội dung đã quy định tại văn bản quy phạm pháp luật này Đồng thời, pháp luật cũng cần hướng dẫn rõ cách thức đăng kí giao dịch bảo đảm trong trường hợp này để bảo đảm quyền của bên nhận thế chấp, tránh các hành vi gian lận, lừa đảo trong quá trình thực hiện giao dịch thế chấp tài sản

3.2 Về quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

Theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân

sự thì quyền tài sản cũng có thể được dùng

để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Tuy nhiên, Nghị định số 163 mới chỉ quy định về thế chấp quyền đòi nợ (Điều 22) mà chưa có quy định về việc nhận bảo đảm đảm đối với quyền tài sản nói chung hay những quyền tài sản thông dụng khác nói riêng (như quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng)

Trang 6

Thực tế cho thấy nhiều giao dịch bảo đảm

được xác lập khi tài sản bảo đảm là quyền tài

sản hoặc quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng

Sau đó, các quyền tài sản này được “chuyển

hoá” thành tài sản theo thoả thuận của các

bên Ví dụ: Trường hợp thế chấp quyền tài

sản phát sinh từ các hợp đồng góp vốn để

nhận nhà ở hình thành trong tương lai

Trong trường hợp này quyền, nghĩa vụ của

các bên được xử lí như thế nào khi quyền tài

sản đã không còn, chẳng hạn như hợp đồng bị

vô hiệu, chấm dứt hợp đồng vì lí do bất khả

kháng Các bên có phải kí lại hợp đồng thế

chấp, đăng kí giao dịch bảo đảm hay

không? Bên nhận thế chấp có quyền đối với

tài sản phát sinh hoặc hình thành từ quyền tài

sản đã được thế chấp (trong ví dụ trên là nhà

ở) hay không? Vấn đề này đặt ra hoàn toàn

không mâu thuẫn với đề xuất nhận quyền sử

dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở trong tương

lai làm tài sản bảo đảm mà thực chất là đưa ra

đầy đủ các khả năng và đề xuất ý kiến pháp lí

để xử lí các vấn đề liên quan đến loại tài sản

hình thành trong tương lai đã được ghi nhận

tại Bộ luật dân sự

Để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên

nhận thế chấp, pháp luật cần hướng dẫn thủ

tục rõ ràng việc nhận thế chấp, đăng kí giao

dịch bảo đảm đối với các trường hợp này

Theo đó, tài sản được hình thành hoặc chuyển

hoá từ quyền tài sản đã được thế chấp đương

nhiên là tài sản thế chấp Các bên không cần

kí lại hợp đồng thế chấp và việc cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng hoặc sở hữu tài

sản phải ghi nhận nội dung thế chấp này mà

không cần kí hợp đồng, đăng kí giao dịch bảo

đảm mới hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng,

giao dịch bảo đảm đã kí hoặc đăng kí

Khoản 1 Điều 66 Nghị định số 163 quy

định: “Bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu

người thứ ba là người có nghĩa vụ trả nợ chuyển giao các khoản tiền hoặc tài sản khác cho mình hoặc cho người được uỷ quyền Trong trường hợp người có nghĩa vụ trả nợ yêu cầu thì bên nhận bảo đảm phải chứng minh quyền được đòi nợ”

Bên cạnh đó, cơ sở pháp lí để bảo đảm quyền lợi của bên nhận bảo đảm khi xử lí tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ chưa thật sự rõ ràng Việc quy định rõ hơn theo hướng bên

có nghĩa vụ trả nợ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp sẽ giảm thiểu vướng mắc cho các bên trong quá trình thực thi pháp luật Bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu hoặc kiện bên có nghĩa vụ trả

nợ theo quyền đòi nợ thực hiện nghĩa vụ trực tiếp với bên nhận thế chấp Ngoài ra, cũng cần nêu rõ, quyền đòi nợ đã được thế chấp sẽ không được miễn hoặc giảm, bù trừ, chuyển giao theo thoả thuận giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên có quyền (bên thế chấp quyền đòi nợ) để xử lí các trường hợp phát sinh liên quan đến quyền đòi nợ

4 Về xử lí tài sản bảo đảm

Một trong những vấn đề được tất cả các chủ thể quan tâm là nội dung quy định về xử lí tài sản bảo đảm Nghị định số 163 quy định về nội dung, cách thức, thời gian xử lí tài sản bảo đảm Tuy nhiên những quy định này còn chung chung và chưa đủ cơ sở để yêu cầu cơ quan thi hành án tham gia cưỡng chế thu hồi tài sản trong trường hợp người thế chấp không tự nguyện giao tài sản Thực tế, bên nhận thế chấp muốn thu hồi nợ vẫn tiến hành theo phương thức khởi kiện ra toà để yêu cầu thi hành án Khi đó, các bên lại tham gia vào

Trang 7

trình tự mới, rườm rà, phức tạp, mất thời

gian và công sức Thiết nghĩ, pháp luật cần

quy định theo hướng tạo điều kiện cho bên

nhận thế chấp, đặc biệt là các tổ chức tín

dụng, được quyền chủ động, linh hoạt trong

việc xử lí tài sản bảo đảm nhằm đảm bảo thu

hồi vốn, tránh tình trạng khách hàng, bên

bảo đảm chây ỳ trả nợ Kiến nghị này cũng

hoàn toàn phù hợp với bản chất của giao

dịch bảo đảm, đó là các giao dịch dân sự

Đối với việc thu giữ tài sản bảo đảm,

khoản 5 Điều 63 Nghị định số 163 quy định:

“Trong quá trình tiến hành thu giữ tài sản

bảo đảm, nếu bên giữ tài sản bảo đảm có

dấu hiệu chống đối, cản trở, gây mất an

ninh, trật tự nơi công cộng hoặc có hành vi

vi phạm pháp luật khác thì người xử lí tài

sản bảo đảm có quyền yêu cầu uỷ ban nhân

dân xã, phường, thị trấn và cơ quan công an

nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong

phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của

mình áp dụng các biện pháp theo quy định

của pháp luật để giữ gìn an ninh, trật tự, bảo

đảm cho người xử lí tài sản thực hiện quyền

thu giữ tài sản bảo đảm” Tuy nhiên, cách

thức thực hiện, cơ chế phối hợp trong việc

thu giữ tài sản bảo đảm để xử lí giữa người

xử lí tài sản và các cơ quan chức năng (ủy

ban nhân dân, công an) chưa được quy định

rõ ràng Chính sự thiếu rõ ràng làm cho bên

nhận bảo đảm khó yêu cầu các cơ quan này

tham gia khi thực hiện thu giữ tài sản Vì

vậy, pháp luật cần bổ sung quy định về trách

nhiệm của ủy ban nhân dân, công an trong

việc hỗ trợ bên nhận bảo đảm thu giữ tài sản

bảo đảm để xử lí trong Nghị định số 163

hoặc yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm

quyền ban hành văn bản hướng dẫn quy định

cụ thể vấn đề này để thống nhất thực hiện Ngoài ra, khi bên nhận thế chấp đưa tài sản ra đấu giá, các cơ quan công chứng, cơ quan đăng kí quyền sở hữu tài sản chỉ thực hiện thủ tục công chứng, sang tên tài sản nếu bên thế chấp có văn bản giao tài sản/uỷ quyền bán đấu giá cho bên nhận thế chấp Đồng thời, một số trường hợp đấu giá xong nhưng không giao được tài sản mặc dù người mua tài sản đã có quyền sở hữu vì bên thế chấp hoặc bên thứ ba giữ tài sản, không hợp tác Vì vậy, Nghị định số 163 cần có hướng dẫn, quy định cụ thể hơn để người mua hoặc người nhận tài sản bảo đảm có quyền đề nghị cơ quan nhà nước hỗ trợ trong việc yêu cầu bên thế chấp hoặc bên thứ ba giữ tài sản chuyển giao tài sản trong trường hợp tài sản bảo đảm đã được xử lí như là trường hợp chiếm hữu tài sản trái phép Có ý kiến cho rằng nếu bên thứ ba không tự nguyện chuyển giao thì phải cưỡng chế thi hành án mà không cần bổ sung, làm chi tiết thêm quy định pháp luật, tuy nhiên để tiến hành các thủ tục yêu cầu cưỡng chế thi hành án, yếu

tố thời gian và chi phí là vấn đề cần được xem xét Nếu đề xuất nêu trên của chúng tôi

có thể chấp nhận được, chi phí xã hội sẽ giảm mà không đơn thuần đặt ra cho tổ chức,

cá nhân cụ thể nào

5 Về kê biên tài sản đang được cầm

cố, thế chấp hợp pháp

Khoản 4 Điều 4 Nghị định 163 quy định:

(Xem tiếp trang 68)

(1).Xem: Khoản 4 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm

2005

(2).Xem: Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 quy

định: “Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các

quyền tài sản”

Ngày đăng: 17/02/2014, 02:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w