1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

71 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 791,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, các đề tài chỉ dừng lại ở một số vấn đề cụ thể và nhìn nhận trên cơ sở các văn bản pháp luật đã lỗi thời, hết hiệu lực.Cho đến nay, nhằm đáp ứng tình hình thực tế hiện tại và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngành: LUẬT KINH TẾ

MSSV: 1511270880 Lớp: 15DLK10

TP Hồ Chí Minh, 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗtrợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp từ người khác Trong suốtthời gian từ khi bắt đầu học tập tại giảng đường đại học – Trường Đại học Côngnghệ Thành phố Hồ Chí Minh đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm,giúp đỡ từ quý thầy cô, bạn bè và gia đình Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xingửi lời cảm ơn đến quý thầy cô Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ ChíMinh, đặc biệt là Quý Thầy Cô khoa Luật đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thànhchương trình học tập tại trường

Em xin chân thành cảm ơn thầy Đoàn Trọng Chỉnh đã nhiệt tình hướng dẫn

em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Thầy đã cùng với tri thức và tâm huyết củamình để truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập tạitrường, đã tận tâm hướng dẫn em qua từng buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài em

đã chọn Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài báocáo của em rất khó hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỷ thươngViệt Nam – Techcombank Chi nhánh Nguyễn Duy Trinh đã tạo điều kiện cho emđược thực tập nghiên cứu thực tiễn Khóa luận này của em được thực hiện trongkhoảng thời gian hơn 10 tuần Bước đầu đi vào thực tế, tìm hiểu về đề tài, kiến thứccủa em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Đồng thời, do trình độ lý luận vũng nhưkinh nghiệm thực tiễn của em còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh khỏinhững thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp để em có thêm nhiều kinhnghiệm và để hoàn thiện tốt bài khóa luận tốt nghiệp này

Sau cùng, em xin kính chúc thầy Đoàn Trọng Chỉnh và Quý Thầy Cô trongKhoa Luật dồi dào sức khỏe, vững chắc niềm tin để tiếp tục sứ mệnh cao đẹp làtruyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau

Sinh viên

Diệp Tiểu Lam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên: DIỆP TIỂU LAM, MSSV: 1511270880

Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khóa luận tốt nghiệp

này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và

theo đúng quy định).

Nội dung trong khóa luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.

Nếu có sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo quy định của nhàtrường và pháp luật

Sinh viên

Diệp Tiểu Lam

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 1

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 2

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG 5

HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 5

1.1 Lịch sử hình thành pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 5

1.1.1 Trước khi có luật Các tổ chức tín dụng đến năm 1997 5

1.1.2 Từ năm 1997 đến năm 2010 6

1.1.3 Từ năm 2010 đến nay 8

1.2 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 9

1.2.1 Khái niệm giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 9

1.2.2 Đặc điểm của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 11

1.2.3 Rủi ro đối với giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 13

1.3 Vai trò và ý nghĩa của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 14

1.3.1 Vai trò giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 15

1.3.2 Ý nghĩa giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 18

Trang 5

Chương 2: CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG

HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 20

2.1 Chủ thể và đối tượng giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 20

2.1.1 Chủ thể giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 20

2.1.2 Đối tượng giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 22

2.2 Trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm và trình tự thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 25

2.2.1 Trường hợp phải đăng kí giao dịch bảo đảm 26

2.2.2 Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 28

2.2.3 Trình tự thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 37

2.3 Điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực và mối quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm với hợp đồng tín dụng 38

2.3.1 Điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực 39

2.3.2 Mối quan hệ giữa hợp đồng bảo đảm và hợp đồng tín dụng 40

Chương 3: THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 44

3.1 Thực tiễn thực hiện pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 44

3.1.1 Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 44

3.1.2 Hạn chế, bất cập còn tồn tại trong quá trình thực hiện pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 49

3.2 Kiến nghị hoàn thiện về việc thực hiện pháp luật giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 54

Trang 6

3.2.1 Phát huy kết quả đã đạt được trong quá trình thực hiện pháp luật đối với

giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 54

3.2.2 Giải pháp khắc phục hạn chế còn tồn tại khi thực hiện pháp luật đối với giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng 55

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

I VĂN BẢN PHÁP LUẬT 61

2 Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 61

3 Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự 2005, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 61

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với một đất nước được đánh giá là đang phát triển thì phải đi kèm với nềnkinh tế tăng trưởng cao Kinh tế phát triển thì đất nước mới lớn mạnh, xã hội mớikhông ngừng giàu đẹp Ngày nay, là thời kì hội nhập, do tính chất của xã hội và sựtăng trưởng không ngừng của thế giới, các hoạt động kinh tế luôn đóng vai trò hếtsức quan trọng trong sự phát triển của đất nước, đặc biệt là khi nước ta gia nhập vào

tổ chức thương mại thế giới – WTO

Hàng loạt các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính đã được thành lập

và đi vào hoạt động Hệ thống các ngân hàng thương mại và công ty tài chính ởnước ta đã có nhiều bước phát triển vượt bậc và không ngừng phát triển lớn mạnh

về quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động cũng như sự mở rộng các chi nhánh rảikhắp trên nhiều khu vực Đối tượng khách hàng của các ngân hàng thương mạikhông chỉ hướng tới các cá nhân mà còn có các doanh nghiệp, công ty, và các hộkinh doanh cá thể

Trong những năm qua, hoạt động ngân hàng đã góp phần tích cực cho các dịch

vụ huy động vốn, tài trợ vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút vốn đầu tư củanước ngoài Chính vì thế mà các ngân hàng thương mại đã trở thành kênh cung ứngvốn hiệu quả cho nền kinh tế Con người sẽ chú ý nhiều hơn nữa đến lĩnh vực ngânhàng, vì đây có thể được xem là một nơi an toàn, tiện dụng và nhanh chóng nhấttrong lĩnh vực tiền tệ Chúng ta đã và đang đến các ngân hàng thường xuyên hơn, sửdụng các dịch vụ tiện ích của ngân hàng thường xuyên hơn, đặc biệt là sử dụngnguồn vốn từ ngân hàng nhiều hơn và tham gia nhiều vào các hợp đồng tín dụng cóđảm bảo hoặc không đảm bảo

Xuất phát từ ý nghĩa của giao dịch đảm bảo trong hợp đồng tín dụng, em chọn

đề tài “Pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng” để làm đề tài cho

khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Thông qua đề tài này em muốn làm rõ hơn về các giao dịch đảm bảo trong hợpđồng tín dụng và đứng ở góc độ pháp luật Việt Nam nhìn nhận các vấn đề việc áp

Trang 9

dụng pháp luật vào các giao dịch đảm bảo trong hợp đồng tín dụng Từ đó đề xuất

ra một số kiến nghị khắc phục các vấn đề còn bất cập, nâng cao hiệu quả trong cácgiao dịch đảm bảo trong hợp đồng tín dụng cũng như góp phần hoàn thiện pháp luậtliên quan đến các vấn đề về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng hiện nay

Thứ nhất, đánh giá thực trạng của pháp luật liên quan đến các vấn đề về giao

dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng tại Việt Nam hiện nay

Thứ hai, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp

luật liên quan đến các vấn đề về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đối với các giao dịch đảm bảo trong hợp đồng tíndụng, thì đây là lĩnh vực rộng, cần phải nghiên cứu và quan sát từ nhiều khía cạnh,nhiều nguồn Chính vì thế, em đã tìm hiểu vấn đề này tại một số ngân hàng trongnước Hơn nữa, lĩnh vực này đã xuất hiện từ rất lâu đời tồn tại và phát triển đếnngày hôm nay Để đạt được mục đích nghiên cứu này, khóa luận đã chọn các vấn đề

về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng trong quá trình thực hiện dựa trên cơ

sở các quy định của pháp luật hiện hành

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định của pháp luật điều chỉnhcác vấn đề về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng Cụ thể như các vấn đề về

lý luận chung, chế định pháp luật đã điều chỉnh đến vấn đề đó và thực tiễn của việcthực hiện pháp luật, từ đó thấy được những hạn chế bất cập còn tồn đọng nhằm đưa

ra giải pháp khác phục

4 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đã có nhiều đề tài viết về các vấn đề liên quan đến giao dịch bảo đảm tronghợp đồng tín dụng, cụ thể như sau:

- Nguyễn Trí Đức (2008), Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam, khóa luận tốt nghiệp của Đại học

Luật Hà Nội Đề tài làm rõ về các vấn đề lý luận chung về giao dịch bảo đảm tiềnvay, hệ thống hóa các quy định về bảo đảm tiền vay Từ đó phân tích và đánh giá vềthực trạng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại

Trang 10

- Nguyễn Trung Dương (2014), Pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm trong hoạt động tín dụng ngân hàng, khóa luận tốt nghiệp của trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh Đề tài làm rõ về vấn đề lý luận chung về đăng ký giao dịch bảođảm và thực trạng áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề

- Đoàn Đức Lương, Viên Thế Giang, Võ Thị Mỹ Hương (2015), Pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hoạt động cấp tín dụng ở Việt Nam, tài liệu nghiên cứu của

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Tài liệu đề cập về các vấn đề liên quanđến các giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm và các vấn đề pháp lý khác xoayquanh vấn đề về giao dịch bảo đảm

Nhìn chung, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến giaodịch bảo đảm và hoạt động tín dụng Tuy nhiên, các đề tài chỉ dừng lại ở một số vấn

đề cụ thể và nhìn nhận trên cơ sở các văn bản pháp luật đã lỗi thời, hết hiệu lực.Cho đến nay, nhằm đáp ứng tình hình thực tế hiện tại và đưa ra cái nhìn khác hơn

dựa trên cơ sở áp dụng các văn bản pháp luật hiện hành, đề tài “Giao dịch bảo đảm

trong hợp đồng tín dụng theo quy định của pháp luật” sẽ là công trình đầu tiên được

nghiên cứu và không trùng lặp với bất kì công trình nghiên cứu khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, em đã áp dụng và tổng hợp các phươngpháp nghiên cứu là:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp đánh giá và nhận định các vấn đề liên quan

Có không ít tác giả đã đưa ra những quan điểm về các vấn đề liên quan đến đề tài.Thông qua đó giúp em nhìn nhận vấn đề từ nhiều khía cạnh nhằm đưa ra nhữngnhận định mang tính khách quan nhất

- Phương pháp so sánh, thống kê số liệu Từ những số liệu đã thu thập đượcqua việc nghiên cứu đề tài, em có thể nắm bắt được tình hình thực tế của đề tài vàđánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về vấn đề này Điều này có nghĩa làđánh giá được những điều đã làm được và những hạn chế bất cập còn tồn động, từ

đó mà đề ra những giải pháp phù hợp để khắc phục

- Phương pháp diễn dịch và quy nạp Đây là hai phương pháp trình bày khóa

luận tốt nghiệp được em sử dụng trong đề tài Giúp dễ dàng nhìn nhận được vấn đề

và nắm bắt được nội dung của từng mục

Trang 11

Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận về các vấn đề liên quan đến giao dịchbảo đảm trong hợp đồng tín dụng.

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung bàikhóa luận tốt nghiệp gồm có ba chương:

Chương 1: Khái quát chung về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng.Chương 2: Chế định pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng.Chương 3: Thực hiện pháp luật về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

và kiến nghị hoàn thiện

Trang 12

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG

Trước đây, đối với nền kinh tế hàng hóa giản đơn, phương thức trao đổi sơkhai là “hàng đổi hàng” được các bên áp dụng Tuy nhiên phương thức này, chỉ khảthi khi cả hai bên đều có nhu cầu về hàng hóa của nhau tương thích Do vậy, nhiềutrường hợp phương thức “hàng đổi hàng” trở nên không hữu hiệu khi nhu cầu traođổi của các bên vẫn có nhưng không tương thích với nhau Theo thời gian, hoạtđộng lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển thành một phương thức traođổi tiến bộ hơn đó là “hàng – vật ngang giá chung – hàng” Tuy nhiên, đặc trưngmỗi vùng miền, tập quán có vật ngang giá khác nhau Do đó, nhu cầu chuyển đổitiền tệ phù hợp với tùng vùng, nơi mà các thương nhân đến trao đổi đã nảy sinhnhằm thỏa mãn nhu cầu về lưu thông và trao đổi hàng hóa Để xác nhận dịch vụ traođổi tiền đã được thực hiện, các thương nhân nhận chuyển đổi tiền sẽ phát hànhchứng thư mang bản chất biên nhận về gửi giữ tài sản Chính vì sự phát triển đó đãnảy sinh những mâu thuẫn về cung, cầu liên quan đến việc sử dụng tiền tệ Ngânhàng hay nói khác hơn là tổ chức tín dụng và các loại hình tín dụng đã ra đời từ đó

và giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng cũng là một trong số đó.1

1.1.1 Trước khi có luật Các tổ chức tín dụng đến năm 1997

Trong quan hệ dân sự và kinh tế thông thường, các biện pháp bảo đảm nghĩa

vụ dân sự là do các bên liên quan hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận Riêng đối với tíndụng ngân hàng, thì đã từng có thời kì các biện pháp bảo đảm tiền vay được quy

1Phạm thị Như Bình (2017), Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại tòa án cấp sơ thẩm

theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học của Đại học Luật – Đại học Huế.

Trang 13

định như là một trong những điều kiện bắt buộc, thậm chí là nguyên tắc để ngânhàng cho vay vốn.

Vào năm 1989 (trước khi có Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989, Pháp lệnhhợp đồng dân sự năm 1991 và Bộ luật Dân sự năm 1995), sau khi đã chuyển đổisang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các ngân hàng đã chuyểnsang mô hình hai cấp (tách các ngân hàng thương mại ra khỏi Ngân hàng Nhà nước),pháp luật ngân hàng đã quy định: “Các hợp tác xã, tổ chức sản xuất kinh doanh, các

hộ tư doanh, cá thể và tổ chức liên doanh tập thể tư nhân sản xuất dịch vụ, cán bộcông nhân viên làm kinh tế gia đình (gọi tắt là bên vay) khi vay vốn ngân hàng phải

có tài sản làm thế chấp cho mỗi lần vay” theo Điều 1 “Quy định về thế chấp tài sảnvay vốn ngân hàng”, ban hành theo Quyết định số 156/NH-QĐ ngày 18-11-1989của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước việt Nam Hoặc quy định một trong nhữngđiều kiện để được vay vốn là “phải thế chấp tài sản hoặc được bảo lãnh của ngườithứ ba dủ thẩm quyền” theo điểm 4.1.5 khoản 4.1 Điều 4 “Thể lệ tín dụng ngắn hạnđối với các tổ chức kinh tế”, ban hành kèm theo Quyết định số 198-QĐ/NH ngày16-9-1994 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Vào ngày 23/5/1990 Hội đồng nhà nước ban hành “Pháp lệnh Ngân hàng Nhànước Việt Nam và Pháp lệnh Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính” có hiệu lực

từ ngày 01/10/1990, đã đánh dấu bước ngoặc đổi mới hệ thống ngân hàng và hoạtđộng tiền tệ tín dụng ngân hàng

Các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng nói chung lần đầu tiên được quyđịnh trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 Các biện pháp bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ dân sự lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật dân sự 1995 Bộ luật Dân

sự 1995 có 53 điều (từ Điều 324 đến Điều 376) quy định về biện pháp bảo đảm,kèm theo 70 điều của hai Nghị định hướng dẫn và 39 điều hướng dẫn riêng cho tổchức tín dụng

1.1.2 Từ năm 1997 đến năm 2010

Sau Bộ luật Dân sự 1995, việc ban hành các nghị định về giao dịch bảo đảm,đăng ký giao dịch bảo đảm là các mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, hoànthiện pháp luật về giao dịch bảo đảm Đến năm 1997 pháp luật về ngân hàng và các

tổ chức tín dụng vẫn còn quy định tổ chức tín dụng cho vay trên cơ sở có bảo đảmbằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và việc

Trang 14

cho vay có tài sản bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay và việc cho vaykhông có bảo đảm bằng tài sản đối với khách hàng được thực hiện theo quy địnhcủa Chính phủ (theo các khoản 2 và khoản 3 Điều 52 về “Bảo đảm tiền vay”, Luậtcác tổ chức tín dụng năm 1997 khi chưa được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004) Chođến năm 1999, bắt đầu có sự thay đổi bằng quy định tại Nghị định số 178/1999/NĐ-

CP ngày 29-12-1999 của Chính phủ về “Bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng”

Cụ thể, tại khoản 1 Điều 4 về “Nguyên tắc bảo đảm tiền vay” của nghị định này Tổchức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có bảo bảo đảm bằng tàisản hay cho vay không có bảo đảm và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.Trường hợp tổ chức tín dụng nhà nước cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theochỉ định của Chính phủ, thì tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản chovay này được Chính phủ xử lý Sau đó, năm 2000, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

đã quy định giới hạn, tỉ lệ cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các tổ chức tíndụng cùng với quy định “Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo quy định củaChính phủ và của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước”, theo khoản 3 Điều 6 về

“Nguyên tắc vay vốn”, “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”,ban hành kèm theo Quyết định số 284/2000/QĐ-NHNN ngày 25-8-2000 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước

Đến năm 2004, Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 mới được sửa đổi, bổ

sung một số điều và quy định về bảo đảm tiền vay được sửa thành: “Tổ chức tín

dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp, của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ

ba và chịu trách nhiệm về quyết định của mình” Luật này cũng quy định “Tổ chức tín dụng Nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ Tổn thất do nguyên nhân khách quan của các khoản vay này được Chính phủ xử lý”,

theo khoản 2 và 4 Điều 52 về “Bảo đảm tiền vay”, Luật Các tổ chức tín dụng năm

1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004)

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các văn bản này đã bộc lộ không ít bấtcập như: mâu thuẫn trong quy định về giao dịch bảo đảm giữa Bộ luật dân sự vàPháp lệnh Hợp đồng kinh tế, sự song hành tồn tại của hai quy chế về giao dịch bảođảm áp dụng đối với các chủ nợ nói chung và đối với các tổ chức tín dụng nói riênggây khó khăn khi lựa chọn luật áp dụng; các hạn chế đối với tổ chức tín dụng khinhận tài sản bảo đảm là động sản, tài sản hình thành trong tương lai; quyền tự dothỏa thuận của các bên trong giao dịch chưa thực sự được tôn trọng; thứ tự ưu tiên

Trang 15

thanh toán không rõ ràng… Để khắc phục phần nào các bất cập và hoàn thiện hơnpháp luật về giao dịch bảo đảm, Bộ luật dân sự 2005 có 70 điều quy định về bảođảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 318 đến Điều 387), Nghị định163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006 được ban hành.

1.1.3 Từ năm 2010 đến nay

Năm 2010, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 được ban hành và được sửa đổi, bổsung năm 2017 quy định, tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng không có bảođảm cho một số đối tượng như: tổ chức kiểm toán; Kiểm toán viên đang kiểm toán,thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng; kế toán trưởng của tổ chức tíndụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; cổ đông lớn (sở hữu trực tiếp, gián tiếp từ5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên), cổ đông sáng lập; người thẩm định,xét duyệt cấp tín dụng; các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặcdoanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát; tổ chức kiểm toán, kiểmtoán viên đang kiểm toán và thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng.2 Nhưvậy, ngoài các trường hợp này thì tổ chức tín dụng hoàn toàn có quyền quyết địnhcấp tín dụng có hoặc không có biện pháp bảo đảm

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước đã quy định, tổ chức tín dụng phải ban hànhquy định nội bộ về cho vay, quản lý tiền vay, trong đó phải tối thiểu có các nội dung

cụ thể về việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay, thẩm định tài sản bảo đảm tiềnvay, việc quản lý, giám sát, theo dõi tài sản bảo đảm tiền vay phù hợp với biện phápbảo đảm tiền vay, đặc điểm của tài sản bảo đảm tiền vay và khách hàng, theo điểm

d khoản 2 Điều 22 về “Quy định nội bộ”, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 12-2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước “Quy định về hoạt động cho vay củacác tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng”

30-Cho đến cuối năm 2010, các biện pháp bảo đảm vẫn đặc biệt quan trọng đốivới hoạt động của tổ chức tín dụng Với tư cách bên nhận bảo đảm thì tổ chức tíndụng áp dụng năm loại giao dịch bảo đảm là cầm cố, thế chấp, ký quỹ, bảo lãnh vàtín chấp để cấp tín dụng (gồm cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, chothuê tài chính và các hình thức cấp tín dụng khác) Với tư cách doanh nghiệp cungcấp dịch vụ ngân hàng thì tổ chức tín dụng áp dụng ba loại giao dịch bảo đảm có sựtham gia của người thứ ba là tổ chức tín dụng, đó là ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp

2 Theo khoản 1 Điều 127 về “Hạn chế cấp tín dụng”, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Trang 16

Trong giao dịch ký quỹ thì tổ chức tín dụng tham gia với tư cách là bên trung giangiữ tài sản ký quỹ và thực hiện thanh toán theo chỉ định của các bên Còn trong giaogiao dịch bảo lãnh thì tổ chức tín dụng là người cung cấp dịch vụ tín dụng bảo lãnh

và chịu trách nhiệm trả thay

Đến năm 2015, Bộ luật Dân sự 2015 được ban hành và có 59 điều quy định vềbảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 292 đến Điều 350), kèm theo là cácNghị định hướng dẫn sửa đổi bổ sung đã được ban hành và áp dụng Các văn bảnnày đã giải quyết các khúc mắt bởi các quy định tiến bộ vè trình tự thủ tục thiết lậpbảo đảm; quyền tự do thỏa thuận giữa các chủ thể được mở rộng;… Tuy nhiên, đếnnay trong quá trình áp dụng pháp luật vẫn còn gặp một số khó khăn, vướng mắtxoay quanh các vấn đề về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng từ nhiềunguyên nhân chủ quan lẫn khách quan

1.2 Khái niệm, đặc điểm của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Trong cuộc sống thường ngày không khó để nghe được người ta nhắc đến hợpđồng tín dụng và giao dịch bảo đảm Từ khi xuất hiện nền sản xuất hàng hóa thì nhucầu về vốn của các chủ thể là nhu cầu mang tính khách quan Tuy nhiên, xét trongcùng một thời điểm thì có những người thừa vốn tạm thời lại có những người thiếuvốn tạm thời Nếu không có sự luân chuyển vốn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốnthì nền sản xuất sẽ bị ngưng trệ Để giải quyết mâu thuẫn nội tại giữa người thừavốn và người thiếu vốn tạm thời thì hoạt động tín dụng đã ra đời và bắt đầu pháttriển đến ngày hôm này

Qua quá trình phát triển và thay đổi thì ngày nay hoạt động tín dụng ấy đã có

sự đảm bảo, được xã hội thừa nhận và được pháp luật bảo vệ bởi các quy định củapháp luật Nội dung phần này sẽ cho thấy được khái niệm cũng như đặc điểm củagiao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng, giao dịch bảo đảm đảm trong hợp đồngtín dụng và những điểm khác biệt so với giao dịch bảo đảm thông thường Giúphiểu rõ hơn về giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

1.2.1 Khái niệm giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Hợp đồng là một chế định pháp lý quan trọng và phổ biến nhất để mọi chủ thểthực hiện các hoạt dộng dân sự, kinh doanh, thương mại, hành chính Vì vậy, Bộluật Dân sự 2015 chỉ gọi là “hợp đồng”, thay vì “hợp đồng dân sự” như trước đây

Trang 17

Hợp đồng tín dụng về bản chất là hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộluật Dân sự 2015 Chương XVI, Mục 4 Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụngtrong trường hợp bên cho vay là tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngânhàng.

Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 có thể rút ra được, Hợp đồng

tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với

khách hàng là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), nhằm xác lậpquyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó bêncho vay chuyển giao một khoản tiền cho bên vay sử dụng vào mục đích xác địnhtrong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi

Việc bảo đảm nghĩa vụ dân sự luôn gắn với trách nhiệm dân sự về tiền, tài sản

và việc trả nợ, nên trong nhiều trường hợp còn gọi là bảo đảm nghĩa vụ tài chính,bảo đảm nghĩa vụ tài sản hay bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng Khái niệmgiao dịch bảo đảm ngoài việc bao hàm biện pháp bảo đảm mang tính chất truyềnthống còn rộng hơn cả những giao dịch khác có tính chất bảo đảm cho việc thựchiện nghĩa vụ như thuê tài chính, gửi bán thương mại, bảo lưu quyền sở hữu trong

mua trả chậm, trả dần, chuyển nhượng quyền đòi nợ v.v Như vậy, giao dịch bảo

đảm chính là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận

bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ xác định mà cácbên đã thiết lập trong các quan hệ kinh tế, dân sự cụ thể Trường hợp bên có nghĩa

vụ trong quan hệ kinh tế, dân sự không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thỏathuận, thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo phương thức màcác bên đã thỏa thuận để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ Giao dịch bảo đảm làhợp đồng dân sự do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định Giao dịch bảođảm là giao dịch phát sinh giữa tổ chức tín dụng với người vay hoặc giữa tổ chứctín dụng với người vay và người thứ ba trong trường hợp người thứ ba dùng tài sảncủa mình để đảm bảo nghĩa vụ cho người vay Thỏa thuận về biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dù được thành lập bằng văn bản riêng hoặc được ghi trong hợpđồng tín dụng thì nó vẫn là một thỏa thuận mang tính độc lập tương đối với hợpđồng tín dụng

Từ những khái niệm trên, có thể rút ra được giao dịch bảo đảm trong hợp

đồng tín dụng là sự thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và người vay hoặc giữa tổ chức tín dụng và người vay với người thứ ba dùng tài sản hoặc uy tín của mình để bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán số tiền mà tổ chức tín dụng đã giao cho người vay,

Trang 18

xác lập quyền xử lý tài sản bảo đảm hoặc quyền yêu cầu của người thứ ba phải thực hiện nghĩa vụ này thay cho người vay khi người vay không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng Giao dịch bảo

đảm trong hợp đồng tín dụng hay còn gọi là giao dịch bảo đảm trong hoạt động chovay thực chất là một loại hình cụ thể của giao dịch bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dânsự

1.2.2 Đặc điểm của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Từ khái niệm trên có thể phân biệt hợp đồng tín dụng với các hợp hồng kháctrong dân sự và thương mại qua một số đặc trưng cơ bản sau đây

- Về chủ thể: một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có

đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay Còn chủ thể bên kia là bên vay cóthể là tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định

- Về đối tượng: đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền (bao

gồm tiền mặt và bút tệ) Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờcũng là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bảnhợp đồng

- Về tính rủi ro: hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn đối

với quyền lợi của bên cho vay Sở dĩ như vậy là vì cam kết kết trong hợp dồng tíndụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định Nếuthời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro càng lớn Vì thế mà các tranh chấp phátsinh từ hợp đồng tín dụng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa sốcác loại hợp đồng khác

- Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong hợp dồng tín dụng, nghĩa vụ

chuyễn giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng được thựchiện trước, làm cơ sở, tiền đề, cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay

Do đó, chỉ khi nào bên có vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vaytheo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bênvay phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như sử dụngtiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…)

Qua những khái niệm đã nêu trên thì giao dịch bảo đảm có các đặc điểm riêngsau đây:

Trang 19

- Giao dịch bảo đảm được xác lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên và trên

cơ sở các quy định của pháp luật Về bản chất, giao dịch bảo đảm là giao dịch dân

sự, do đó phải dựa trên nguyên tắc tự do, tự nguyện và bình đẳng của Bộ luật Dân

sự, các giao dịch này phải được lập trên cơ sở sự thỏa thuận giữa các bên

- Giao dịch bảo đảm tạo ra nghĩa vụ bảo đảm là nâng cao trách nhiệm của bên

chủ thể có nghĩa vụ trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình Thông thường, các bêntham gia một quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ sẽ tự giác thực hiện nghĩa vụ nghĩa

vụ của mình đáp ứng yêu cầu của bên có quyền

- Đối tượng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là tài sản Biện

pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng một hoặc một số tài sản cụ thể bao gồm:Cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ,… Khi tham gia vào cácgiao dịch dân sự, bên có quyền quan tâm đến lợi ích vật chất của mình hướng tới sựbảo đảm an toàn các lợi ích đó, do vậy đối tượng của các biện pháp bảo đảm thường

là tài sản

Từ các đặc điểm trên có thể thấy rằng, giao dịch này có đầy đủ các thuộc tính

cơ bản của giao dịch bảo đảm nghĩa vụ dân sự Những dấu hiệu này phản ánh bảnchất của giao dịch bảo đảm nói chung và các giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tíndụng nói riêng Cụ thể như sau:

- Chủ thể trong quan hệ bảo đảm Giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

là loại giao dịch được thiết lập giữa bên nhận bảo đảm và bên bảo đảm Bên nhậnbảo đảm trong giao dịch này là các ngân hàng được cấp phép hoạt động, có chứcnăng cho vay theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, có giấy đăng kýkinh doanh hợp pháp, có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết cáchợp đồng Trong hoạt động cho vay của các ngân hàng, bên bảo đảm được xác địnhmột cách cụ thể là khách hàng vay vốn, bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đìnhđáp ứng các điều kiện như có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sựtheo luật định; có khả năng tài chính để trả nợ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng;khách hàng vay vốn phải có mục đích sử dụng vốn vay hợp lý, hợp pháp; có dự ánđầu tư hoặc phương thức kinh doanh khả thi với phương án trả nợ khả thi Điềuquan trọng là khách hàng vay vốn phải có tài sản bảo đảm cho khoản vay và làngười sở hữu tài sản đó hoặc phải có quyền quản lý, sử dụng tài sản

Trang 20

- Giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng được hiểu là cam kết của bên

bảo đảm với ngân hàng về việc dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản cấp tíndụng trong trường hợp nghĩa vụ trả nợ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ theo các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Với cách tiếp cận này, giao dịchbảo đảm đã cho thấy vai trò quan trọng của nó trong việc mở rộng cơ hội tiếp cậntín dụng cho nền kinh tế nước ta Tính chất bảo đảm thể hiện qua những điểm sau:

Một là, bên nhận bảo đảm có quyền trực tiếp đối với một hoặc một số tài sản

cụ thể của bên bảo đảm như quyền ưu tiên, quyền đeo đuổi v.v… Với quyền ưu tiên,bên nhận bảo đảm được ưu tiên thực hiện quyền của mình trên tài sản trước nhữngngười khác Trong trường hợp nhiều người cùng có quyền ưu tiên một tài sản, thìngười xác lập quyền trước được ưu tiên so với những người xác lập quyền sau, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác về thứ tự ưu tiên Do vậy, hệ thống đăng kýgiao dịch bảo đảm được xây dựng để thông tin cho người thứ ba về quyền đối vớitài sản bảo đảm, hỗ trợ bên nhận bảo đảm thực hiện quyền ưu tiên một cách có hiệuquả và an toàn

Hai là, quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm luôn hướng tới

giá trị tiền tệ của tài sản đó Do vậy, bên nhận bảo đảm luôn có quyền được yêu cầu

xử lý tài sản theo quy định của pháp luật hoặc theo thảo thuận để thanh toán nghĩa

vụ được bảo đảm

Bà là, bên nhận bảo đảm được thực thi các quyền của mình đối với tài sản bảo

đảm khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: hợp đồng bảo đảm đã có hiệu lực phápluật, bên nhận bảo đảm có quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm, nghĩa vụ được bảođảm đã xác lập và chưa chấm dứt

Như vậy, pháp luật quy định cho bên nhận bảo đảm luôn có quyền áp dụng cácbiện pháp cần thiết để bảo đảm quyền của mình khi bị vi phạm Vì đối tượng củanghĩa vụ là tài sản hoặc một công việc và khi vi phạm nghĩa vụ thực hiện công việchoặc không thực hiện công việc sẽ gây thiệt hại bằng tiền, nên đối tượng của nghĩa

vụ luôn thể hiện trị giá bằng một số tiền

1.2.3 Rủi ro đối với giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Thực tế hoạt động ngân hàng cho thấy, có muôn ngàn lý do làm cho quyền sởhữu nhà ở, quyền sử dụng đất vốn là tài sản bảo đảm lại trở thành không bảo đảm,

Trang 21

khiến khoản nợ xấu của ngân hàng tăng vọt Có rất nhiều vấn đề rủi ro xảy ra trongcác giao dịch bảo đảm, cụ thể như sau:

- Về nhân thân của người tham gia ký kết hợp đồng tín dụng Đã có rất nhiều

trường hợp xảy ra do cán bộ ngân hàng, công chứng viên không làm hết tráchnhiệm đã công chứng hợp đồng có chữ ký giả, bị đánh tráo người ký hợp đồng, dongười yêu cầu công chứng không có chứng minh thư (chỉ có đơn xác nhận mất giấy

tờ, đơn xin cấp chứng minh thư của công an địa phương); dùng chứng minh thưphoto; chứng minh thư bị sửa; chứng minh thư giả; người giống trong ảnh củachứng minh thư để thay thế người trong chứng minh thư đó; dùng hợp đồng ủyquyền giả để ký hợp đồng Hay những trường hợp người ký hợp đồng có đủ nănglực hành vi dân sự; người ký kết hợp đồng không đủ thẩm quyền

- Rủi ro khi ký hợp đồng với người được ủy quyền, như: một bên có thể yêu

cầu tòa án tuyên bố vô hiệu hợp đồng ủy quyền; người được ủy quyền bị tòa ántuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tíchhoặc đã chết; khi bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền có nghĩa vụ với bên thứ ba(nợ đối tác, cơ quan thuế,…) các chủ nợ có quyền yêu cầu phong tỏa, kê biên vàphát mãi các tài sản của bên ủy quyền; người ủy quyền vi phạm pháp luật và cơquan tố tụng đã xác định tài sản đó là tang vật hoặc do phạm tội mà có

- Rủi ro về tài sản bảo đảm: tài sản bảo đảm ảo hoặc tài sản có thật nhưng

không định giá đúng; tài sản bảo đảm bị rủi ro do những biến cố khách quan (thờitiết, khí hậu, môi trường,…); tài sản bảo đảm không đủ căn cứ xác lập quyền tài sảnchung hay riêng của vợ chồng; tài sản đang trong quá trình đấu giá nhưng lại mang

ra làm tài sản bảo đảm

- Rủi ro đến từ cán bộ ngân hàng và công chứng viên là việc cán bộ ngân hàng

và công chứng viên làm việc thiếu trách nhiệm, thiếu kiến thức kinh nghiệm, hay vìmục đích tư lợi trong quá trình thực hiện các giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tíndụng

1.3 Vai trò và ý nghĩa của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng đóng vai trò quan trọng và mang ýnghĩa to lớn không chỉ với từng chủ thể tham gia mà còn với nền kinh tế xã hội hiệnnay Là một phần không nhỏ và không thể thiếu của nền tài chính quốc gia Từ thuở

Trang 22

sơ khai thì giao dịch bảo đảm và hoạt động tín dụng đã xuất hiện với những thức sơđẳng nhất Đến ngày nay, chạy theo sự phát triển của xã hội, của nền kinh tế thì dầndần giao dịch bảo đảm cũng đã phát triển vượt bật Có thể nói, một quốc gia pháttriển thì phải có nền kinh tế phát triển Như vậy đủ nhận ra rằng giao dịch bảo đảmtrong hợp đồng tín dụng đóng vai trò và có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển mộtquốc gia.

1.3.1 Vai trò giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

- Giao dịch bảo đảm là cơ sở bảo đảm an toàn cho việc thực hiện hợp đồng tín

dụng

Trong cơ chế thị trường, sự ra đời và phát triển của các tổ chức tín dụng cùngvới sự đa dạng của các hoạt động và các hình thực tín dụng, đã tạo nên một thịtrường tín dụng sôi động Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều rủi ro có thể xảy rađối với các tổ chức tín dụng có khả năng ngăn ngừa, chống đỡ kém Hơn nữa,ngành ngân hàng là một ngành kinh tế nhạy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chấtcủa nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng Vì thếpháp luật của hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về an toàn trong hoạt độngtín dụng, theo đó các tổ chức tín dụng khi cấp tín dụng đều phải tuân thủ những điềukiện nhất định Bản chất của giao dịch bảo đảm là sử dụng những tài sản làm bảođảm để trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng Vì vậy, khi có rủi ro xảy rathì tổ chức tín dụng có thể thu hồi được vốn thông qua tài sản dùng làm tài sản bảođảm, đảm bảo an toàn trong việc thực hiện hợp đồng tín dụng

- Giao dịch bảo đảm kích thích các hoạt động liên quan đến giao dịch bảo đảm

của các tổ chức tín dụng

Theo quy định của pháp luật, hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sửdụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng Theo đó, các tổ chứctín dụng thực hiện hoạt động tín dụng dựa trên nguồn vốn huy động là chủ yếu Cácquy định về giao dịch bảo đảm có tác dụng rất quan trọng trong việc kích thích hoạtđộng liện quan đến giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng Khi đó, các bêntham gia vào quan hệ tín dụng tại các tổ chức tín dụng sẽ tuân thủ theo các quy địnhcủa pháp luật và rủi ro tín dụng sẽ được loại trừ

Trang 23

- Giao dịch bảo đảm có vai trò quan trọng trong việc hạn chế tranh chấp xảy ra,

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia trong hợp đồng tín dụng

Giao dịch bảo đảm được thể hiện bằng các hợp đồng cầm cố, thế chấp, bảolãnh,… mà các bên trong hợp đồng tín dụng có quyền thỏa thuận áp dụng biện phápbảo đảm cũng như thỏa thuận các điều khoản trong giao dịch bảo đảm Các giaodịch bảo đảm này là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp về quyền vànghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng Do đó, các tranh chấp được hạn chế,tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức tín dụng cũng như sự pháttriển kinh tế - xã hội

Về khía cạnh pháp luật, pháp luật có những vai trò đối với giao dịch bảo đảmtrong hợp đồng tín dụng như sau:

Một là, nhà nước cũng như pháp luật là công cụ và phương tiện đảm đương

vai trò dẫn dắt và chi phối xã hội bằng việc kiến tạo môi trường, cơ hội pháp lý nhưnhau đối với các thành viên trong xã hội thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhauphát huy khả năng của mình để khởi nghiệp và phát triển Pháp luật đảm đương vaitrò kiến tạo môi trường, cơ hội pháp lý bình đẳng cho mọi thành viên của xã hộiphát huy tài năng, trí tuệ, sức lực để hoàn thiện và phát triển bản thân mình, đồngthời phát triển xã hội Với vai trò này, xã hội nói chung và các thành viên của xã hộinói riêng sẽ có điều kiện để phát triển

Hai là, pháp luật là phương tiện có khả năng bảo đảm bình đẳng cho các giao

dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng Bởi pháp luật là những giá trị bình đẳng mà

xã hội có, xã hội cần và ủng hộ Nhà nước lại có một bộ máy hùng mạnh với các cơquan, tổ chức bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nên bình đẳng

và công bằng xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật có khả năng trởthành hiện thực Vì vậy, nhà nước có vai trò đối với phát triển xã hội và quản lýđược quá trình phát triển đó, để xã hội không rơi vào trạng thái rối loạn hoặc pháttriển tự phát, thiếu tổ chức và kỷ luật

Ba là, pháp luật là phương tiện để nhà nước điều hòa lợi ích giữa các giao dịch

bảo đảm trong hợp đồng tín dụng, giữa các tổ chức tín dụng bảo đảm cho xã hộiphát triển hài hòa và ổn định Xã hội luôn có xu hướng phân hóa giàu nghèo do sựtác động của nhiều yếu tố Đó có thể là sự phân hóa giàu nghèo do tác động tiêu cực

Trang 24

của nền kinh tế thị trường, do sự yếu thế của một bên nào đó khi tham gia vào hợpđồng tín dụng,…

Bốn là, pháp luật là phương tiện để nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và

bảo đảm quyền con người, quyền công dân, giữ gìn an ninh, an toàn cho xã hội vàcho các bên tham gia vào giao dịch bảo đảm Nó có nghĩa là an toàn khỏi các mối

đe dọa về đói nghèo, tội phạm, sự đàn áp, phân biệt Nó cũng có nghĩa là bảo vệkhỏi sự đổ vỡ có hại và bất ngờ trong quá trinh thực hiện giao dịch bảo đảm tronghợp đồng tín dụng Pháp luật là phương tiện đầy hiệu lực trong việc giữ gìn an ninh

và an toàn cho con người, cho các tổ chức tín dụng Nhờ đó, con người có điều kiệnphát triển mà không phải lo lắng, sợ hãi trước sự đe dọa từ bên trong cũng như bênngoài

Năm là, pháp luật là phương tiện để kiểm soát quyền lực nhà nước, buộc

những người có chức vụ, quyền hạn hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp vàpháp luật Bằng cách đó, pháp luật là phương tiện quan trọng hàng đầu trong việcphòng, chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước, bảo đảm cho thượng tầng kiếntrúc nhà nước giữ vai trò cho sự phát triển của giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tíndụng và cho sự phát triển của tổ chức tín dụng

Hầu hết các nhà kinh tế đều tin tưởng rằng, ổn định kinh tế vĩ mô là mộttrong những yêu cầu tiên quyết của tăng trưởng Mặc dù có tồn tại một số quanđiểm cho rằng mối liên hệ giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng là không thực

sự rõ nét, các nghiên cứu thống kê chỉ ra rằng một nền kinh tế chỉ duy trì được tốc

độ tăng trưởng cao trong dài hạn khi đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô1

Thật vậy, khi kinh tế tăng trưởng và ổn định thì đời sống người dân mới đượcnâng cao, làm gia tăng mọi nhu cầu trong đời sống xã hội trong đó có cả nhu cầutiêu dùng lẫn nhu cầu đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Ổn định kinh tế vĩ mô

là một trong những tiêu chí quan trọng để đưa ra quyết định đầu tư vì điều đầu tiên

mà doanh nghiệp quan tâm khi muốn thâm nhập vào một thị trường mới là môitrường kinh tế vĩ mô

Để đo lường ổn định kinh tế vĩ mô, người ta thường đề cập đến các biến độngngắn hạn của các biến số kinh tế vĩ mô như GDP, lạm phát, thâm hụt cán cân thanhtoán, thâm hụt ngân sách Theo các tiêu chí của Hiệp ước Maastricht, ổn định kinh

tế vĩ mô được đo lường bằng năm biến sau: Lạm phát thấp và ổn định; Lãi suất dài

Trang 25

hạn thấp; Nợ quốc gia/GDP thấp; Thâm hụt ngân sách thấp; Ổn định tiền tệ (đảm bảo tỷ giá không biến động quá lớn).

Như vậy, để ổn định kinh tế vĩ mô cần phải thực hiện các giải pháp, trong đó

hai giải pháp phải do Ngân hàng Trung ương thực hiện: Kiềm chế và giữ lạm phát

ở mức thấp và ổn định; Bình ổn thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối.

Ngân hàng Nhà nước với vai trò là cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ, thựchiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối;thực hiện chức năng của Ngân hàng Trung ương, có nhiệm vụ xây dựng và thựchiện chính sách tiền tệ Bản chất của chính sách tiền tệ là tổng thể các biện phápchính sách của Ngân hàng Trung ương tác động làm thay đổi cung tiền và lãi suất,qua đó mà tác động đến tăng trưởng, lạm phát và công ăn việc làm cao, do vậy,chính sách tiền tệ luôn là nhu cầu để ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn địnhtiền tệ, tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung

1.3.2 Ý nghĩa giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Trong những năm qua, công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàngNhà nước đã bám sát tinh thần Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 24/2/2011 củaChính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế

vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội Trên cơ sở các nhiệm vụ được xác định tại Nghịquyết, Ngân hàng Nhà nước đã triển khai mạnh mẽ công tác điều hành, đảm bảo cácchính sách, diễn biến tiền tệ phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước, quốc tế

và các nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế Kết quả, lạm phát được kiểm soát, hệ thốngcác tổ chức tín dụng được cơ cấu lại và đảm bảo thanh khoản cho nền kinh tế, khuvực sản xuất từng bước khôi phục và tiếp cận nguồn vốn ngân hàng với lãi suất hợp

lý, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng cao, đáp ứng các nhu cầu về ngoại tệ trongcác giao dịch kinh tế

Tiền tệ hay nói khác hơn là tài chính Tài chính có ý nghĩa vô cũng quan trọngđối với một quốc gia, càng quan trọng hơn đối với nước ta, khi đất nước đang trongquá trình đổi mới, cải tiến và phát triển Chúng ta có thể nhìn vào tài chính của quốcgia mà đánh giá rằng quốc gia đó có phát triển hay không và một khi nền tài chínhlung lay, yếu ớt thì quốc gia ấy sẽ có khả năng bị suy tàn Từ đó có thể thấy rằng,giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng là một phần của nền tài chính quốc gia,khi nhu cầu về tiền tệ của con người ngày càng cao Mỗi ngày trôi đi, thì tỉ lệ tương

Trang 26

tác của con người với các tổ chức tín dụng ngày càng cao để phục vụ các nhu cầu vềvốn của họ.

Từ các hoạt động đó cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro xuất phát từ nhiều nguyênnhân khác nhau Nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể xảy ra thì rấtcần thiết các quy định cụ thể của pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực tài chính tiền tệnày Như vậy có thể thấy được rằng ý nghĩa vo cùng to lớn của các quy định phápluật về lĩnh vực này Cụ thể như là: hạn chế rủi ro xảy ra, bảo vệ quyền lợi của cácbên tham gia vào giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng một cách cao nhất;tránh tình trạng lạm quyền nhằm trục lợi hay vì mục đích khác; hạn chế đến thấpnhất tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm trong hợpđồng tín dụng; góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội, tạo sự an toàn thoảimái cho các bên tham gia vào giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Trang 27

Chương 2: CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM TRONG HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

2.1 Chủ thể và đối tượng giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Để tham gia vào mối quan hệ pháp luật giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tíndụng thì nhất thiết phải có chủ thể tham gia và mối quan hệ ấy Chủ thể ấy có thể làbất kỳ ai trong xã hội khi đủ điều kiện theo pháp luật quy định, hay bất kỳ một tổchức là pháp nhân nào và một chủ thể vô cùng quan trọng trong mối quan hệ này đó

là tổ chức tín dụng Đối với mối quan hệ này, đối tượng mà các chủ thể trên hướngtới đó chính là tài sản, vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản

2.1.1 Chủ thể giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

- Chủ thể là tổ chức tín dụng Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động

kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụngtiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán Vai trò quan trọng của tổchức tín dụng là đảm bảo huy động vốn đầy đủ và kịp thời, đó là hình thức huyđộng mà các doanh nghiệp hiện nay thường lựa chọn do nó có chi phí huy độngthấp nhất Tổ chức tín dụng bao gồm hai loại: ngân hàng và tổ chức tín dụng phingân hàng

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt độngngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan Theo tính chất và mụctiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng pháttriển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hìnhngân hàng khác Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấptín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiệnmột hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng

2010 sửa đổi, bổ sung 2017, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cungứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phingân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín

Trang 28

dụng phi ngân hàng khác Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính

có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này

- Chủ thể là cá nhân Cá nhân tham gia vào giao dịch dân sự nói chung, giao

dịch bảo đảm nói riêng thì phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hàng vidân sự Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyềndân sự và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khingười đó chết, căn cứ theo Điều 16, Bộ luật Dân sự 2015 Các giao dịch bảo đảmvới bốn nhóm người, gồm người chưa thành niên; người bị mất năng lực hành vidân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự, thì phải thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc phải đượcngười giám hộ đồng ý, căn cứ theo Điều 21, 22, 23, 24, Bộ luật Dân sự 2015

- Chủ thể là tổ chức Ngoài việc tài sản thuộc sở hữu cá nhân, thì còn rất nhiều

trường hợp tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của pháp nhân hoặc của tổ chức không có

tư cách pháp nhân như hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác và các tổ chức kháckhông có tư cách pháp nhân Trong khi đó, chủ thể ký hợp đồng bảo đảm chỉ có thể

là pháp nhân hoặc cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 Như vậy, khôngcòn các chủ thể là tổ hợp tác, hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, vàcác tổ chức khác không có tư cách pháp nhân như quy định của các Bộ luật Dân sựtrước đây Theo đó, căn cứ theo Điều 101 Bộ luật dân sự 2015 về “Chủ thể trongquan hệ dân sự có sự tham gia của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tưcách pháp nhân” giao dịch bảo đảm với các chủ thể là thương nhân mà không phải

là pháp nhân; văn phòng luật sư; nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa; công đoàn cơsở; hộ gia đình sử dụng đất, cộng đồng dân cư; hộ kinh doanh, doanh nghiệp tưnhân; nhà trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; hộ gia đình, tổ hợp tác; cơ sở tôn giáo và các tổchức khác không có tư cách pháp nhân được xác định như sau:

Thứ nhất, các cá nhân là thành viên của các tổ chức, không có tư cách pháp

nhân nêu trên là chủ thể tham gia hoặc ủy quyền cho người tham gia xác lập, thựchiện giao dịch dân sự;

Thứ hai, việc ủy quyền phải được thành lập bằng văn bản, trừ trường hợp có

thỏa thuận khác Khi có sự thay đổi người đại diện thì phải thông báo cho bên thamgia quan hệ dân sự biết;

Trang 29

Thứ ba, trường hợp thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không

có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự không được các thành viên khác ủyquyền làm người đại diện thì thành viên đó là chủ thể quan hệ dân sự do mình xáclập, thực hiện

Như vậy, khi tham gia giao dịch với các tổ chức là pháp nhân thì cần xác định

tổ chức đó đủ điều kiện được công nhận là pháp nhân theo khoảng 2 Điều 76 Bộluật Dân sự 2015 về “Pháp nhân thương mại” hay không Tuy nhiên, không phải có

dủ tư cách pháp nhân là có quyền tham gia giao dịch nói chung và giao dịch bảođảm trong hợp đồng tín dụng nói riêng Kể cả pháp nhân là doanh nghiệp cũng cónhững hạn chế nhất định khi tham gia giao dịch bảo đảm, đặc biệt là giao dịch bảođảm do chủ thể không có thẩm quyền tham gia và ký kết sẽ có nguy cơ rất lớn là bị

vô hiệu toàn bộ

Tuy nhiên, các tổ chức không có tư cách pháp nhân, nhưng là một bộ phận phụthuộc pháp nhân như chi nhánh, van phòng đại diện, phòng giao dịch, của hàng, nhàmáy, trung tâm, đơn vị phụ thuộc khác của pháp nhân thì tham gia giao dịch bảođảm với tư cách của pháp nhân và giới hạn trong trách nhiệm của pháp nhân

Khi giao dịch với pháp nhân thì phải thông qua người đại diện theo pháp luậthoặc người đại diện hợp pháp theo ủy quyền

2.1.2 Đối tượng giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Theo quy định tại Điều 105 “Tài sản” và Điều 295 “Tài sản bảo đảm” Bộ luậtDân sự 2015 thì có rất nhiều tài sản có thể làm vật bảo đảm trong các hoạt động tíndụng, như: bất động sản (nhà, đất,…), động sản (ô tô, tàu thủy, tàu bay,…), các giấy

tờ có giá (cổ phiếu, cổ phần, trái phiếu, hối phiếu,…) và rất nhiều loại tài sản khác.Tất cả chúng đều được gọi là tài sản bảo đảm và được chia thành hai nhóm: nhómtài sản hiện có và nhóm tài sản hình thành trong tương lai

Đối tượng của giao dịch bảo đảm là những tài sản mà bên bảo đảm dùng làmvật bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của mình Tài sản bảo đảm cũng chính là tài sảnnói chung theo quy định của Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 về “Tài sản”, gồm 4loại là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tài sản bao gồm bất động sản vàđộng sản Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thànhtrong tương lai Khi xác định tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình

Trang 30

thành trong tương lai, thì cần áp dụng Điều 108 Bộ luật dân sự 2015 về “Tài sảnhiện có và tài sản hình thành trong tương lai”, theo đó tài sản hiện có là tài sản đãhình thành và bên bảo đảm đã có quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản hoặc tạithời điểm xác lập biện pháp bảo đảm Trong pháp luật kế toán, bất động sản vàđộng sản có thể được phân chia thành tài sản cố định và tài sản lưu động Tài sản cốđịnh gồm tài sản cố định hữu hình và vô hình Tài sản cố định hữu hình có thời hạn

sử dụng trên một năm và nguyên giá tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên.3Theoquy định của Bộ luật Dân sự 2015 thì tài sản bảo đảm đòi hỏi một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất đối với tài sản bảo đảm là

“phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưuquyền sở hữu” theo khoản 1 Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015 Quyền sở hữu bao gồmquyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo Điều 158, 186,

192 Bộ luật Dân sự 2015 Trong trường hợp bên bảo đảm không dùng tài sản thuộc

sở hữu của mình đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì chủ sở hữu có quyền đòilại tài sản;4

Thứ hai, chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện

giao dịch bảo đảm;

Thứ ba, Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong

tương lai căn cứ khoản 3 Điều 295 Bộ luật Dân sự 2015 Tài sản hình thành trongtương lai gồm các động sản và bất động sản, trừ quyền sử dụng đất;5

Thứ tư, Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được,

điều này có nghĩa là phải được xác định một cách rõ ràng, cụ thể và có cơ sở Riêngđối với tài sản hình thành trong tương lai thì nhiều khi không xác định được mộtcách rõ ràng, hay nói cách khác chỉ là tương đối;

Thứ năm, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị

nghĩa vụ được bảo đảm căn cứ vào khoản 4 Điều 295 Bộ luật dân sự 2015

1 Các Điều 2 và Điều 3 Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25-4-2013 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Hướng dẫn chế dộ quản lý, sử dụng và trrichs khấu hao tài sản cố định” (sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 147/2016/TT-BTC ngày 13-10-2016 và Thông tư số 28/2017/TT-BTC ngày 12-4-2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính).

4 Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

5 Khoản 2.5 Điều 4 về “Tài sản bảo đảm”, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23-7-2010 của Chính phủ về “Đăng ký giao dịch bảo đảm” và Nghị định 11/2012/NĐ/CP ngày 22-02-2012 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-

CP về “Giao dịch bảo đảm”.

Trang 31

Tài sản bảo đảm là vật Đây là loại tài sản tồn tại ở dạng vật thể, con người có

thể nhìn thấy, sờ được, nắm được, quản lý được và có thể đang tồn tại hoặc sẽ hìnhthành trong tương lai mà con người có thể khai thác công dụng của nó để thỏa mãncác nhu cầu của mình Vật gồm bất động sản và động sản Cả ba Bộ luật Dân sự

1995, 2005 và 2015 đều giải thích bất động sản bao gồm đất đai; nhà, công trìnhxây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xâydựng; các tài sản khác theo quy định của pháp luật

Theo Khoản 2 Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015 về “Bất động sản và động sản”thì cũng chỉ quy định động sản là những tài sản không phải là bất động sản Nhưvậy, động sản bao gồm tiền; giấy tờ có giá; quyền tài sản; các vật là vàng, bạc, kimkhí quý, đá quý, hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu, vật tư, máy móc, thiết bị, phươngtiện vận tải, đồ gia dụng và mọi tài sản khác không phải là bất động sản

Tài sản bảo đảm là tiền Tiền là phương tiện thanh toán đa năng do Nhà nước

phát hành có giá trị lưu hành đối với ít nhất tại quốc gia đã phát hành Tiền bao giờcũng được xác định theo mệnh giá và được thể hiện trên một chất liệu nhất định Vìvậy, tiền cũng là một loại tài sản Tiền gồm tiền Việt Nam (nội tệ) và tiền nướcngoài (ngoại tệ) Các đồng tiền ảo như Bitcoine, onecoine, Octa chưa được phápluật Việt Nam thừa nhận là tiền, thậm chí còn chưa rõ là loại tài sản gì Tiền là tàisản có thể được sử dụng trong nhiều loại bảo đảm nghĩa vụ dân sự nhất (6 trên tổng

số 7 loại giao dịch bảo đảm) Khi có sự tham gia của các tổ chức tín dụng thì đều cóthể sử dụng tiền dể thực hiện giao dịch ký quỹ Khi thuê động sản thì có thể sử dụngtiền để thực hiện giao dịch ký cược Khi giao kết và thực hiện mọi hợp đồng thì đều

có thể sử dụng tiền để thực hiện giao dịch đặt cọc hoặc cầm cố Và trường hợp nào

có thể sử dụng tiền để thực hiện giao dịch cầm cố, thì cũng có thể sử dụng tiền đểthực hiện giao dịch thế chấp Khi giao dịch bảo lãnh bằng đối vật thì có thể sử dụngtiền làm tài sản bảo đảm giao dịch bảo lãnh Riêng bảo đảm đối với việc vay vốnbằng tín chấp thì hoàn toàn không sử dụng đến tiền cũng như mọi tài sản khác đểthực hiện giao dịch tín chấp

Ngoại tệ là đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu vàđồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực.6 Vềnguyên tắc cũng theo Pháp lệnh này, ngoại tệ bị hạn chế giao dịch nói chung và

6 Điểm a khoản 1 Điều 4 “Giải thích từ ngữ”, Pháp lệnh ngoại hối 2005 sửa đổi, bổ sung 2013.

Trang 32

giao dịch bảo đảm nói riêng.7 Như vậy, người sở hữu ngoại tệ tiền mặt cũng đượccầm cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ tại tổ chức tín dụng và các tổ chức khác được phépgiao dịch ngoại tệ Tuy nhiên, lại không được cầm cố, đặt cọc, ký cược, ký quỹ cho

cá nhân hay pháp nhân khác, ví dụ như tại công ty chứng khoán

Tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá Một giấy tờ có giá muốn được xem là tài

sản thì cần phải có các thuộc tính sau đây: Xác định quyền tài sản của một chủ thểxác định; Trị giá được thành tiền; Có thể chuyển giao sở hữu cho chủ thể khác tronggiao dịch dân sự như mua bán, cầm cố, thế chấp, chiết khấu Giấy tờ có giá bao gồmcông cụ chuyển nhượng, chứng khoán và các giấy tờ có giá khác như cổ phiếu, tráiphiếu (chính phủ và doanh nghiệp), kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ

có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giaodịch.8 Giấy tờ có giá không bao gồm giấy nhận nợ thông thường, giấy xác nhận(chứng nhận) phần vốn góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn hay công ty hợp danh

Tài sản bảo đảm là quyền tài sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng

tiền, không bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sửdụng đất, quyền sử dụng khu vực biển và các quyền tài sản khác.9Quyền tài sản baogồm quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; quyền đối với giống cây trồng;quyền đòi nợ Trong đó, việc nhận tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ không nhất thiếtphải có sự đồng ý của người có nghĩa vụ trả nợ, vì trách nhiệm về tài sản vẫn khôngthay đổi, mà chỉ thay đổi về địa chỉ trả nợ.10

2.2 Trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm, biện pháp bảo đảm và trình tự thủ tục thực hiện giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Trong quá trình thực hiện giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng thì việcđăng ký giao dịch bảo đảm là một giai đoạn không thể bỏ qua Việc đăng ký giaodịch bảo đảm mang lại nhiều ý nghĩa như: là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanhtoán trong trường hợp dùng một tài sản để bảo đảm nhiều nghĩa vụ, góp phần bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong khi giao dịch

7 Điều 22 “Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối”, Pháp lệnh ngoại hối 2005 (sửa đổi, bổ sung 2013) và Điều

3 “Nguyên tắc hạn chế sử dụng ngoại hối”, Thông tư số 32/2013/TT-NHNN.

8 Điểm c khoản 2 Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 2010; Điều 1, khoản 2 Điều 98, Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi , bổ sung 2017); khoản 9 Điều 3, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

9 Điều 115 về “Quyền tài sản”, Bộ luật Dân sự 2015; Điều 46 về “Quyền của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản”, Luật Thủy sản 2017.

10 Điều 22 “Thế chấp quyền đòi nợ”, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.

Trang 33

Đối với những trường hợp pháp luật quy định phải đăng ký giao dịch bảo đảmthì đây là một trong số các điều kiện để giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

có hiệu lực Ngoài ra, để một giao dịch bảo đảm có hiệu lực thì còn có các điều kiện

về đối tượng, về chủ thể được áp dụng trong từng trường hợp cụ thể

Khi nhắc đến giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụng thì không thể nàokhông nói đến các biện pháp bảo đảm, có thể nói đây là phần quan trọng không kémtrong một giao dịch bảo đảm Đới với giao dịch bảo đảm trong hợp đồng tín dụngthì các biện pháp bảo đảm sẽ cụ thể hơn so với các biện pháp bảo đảm trong dân sự.Nếu trong dân sự, số biện pháp bảo đảm là 9 thì trong hợp đồng tín dụng số biệnpháp bảo đảm là 3 mà thôi

2.2.1 Trường hợp phải đăng kí giao dịch bảo đảm

Theo quy định tại Điều 4 về “Các trường hợp đăng ký”, Nghị định số102/2017/NĐ-CP, các biện pháp bảo đảm phải đăng ký bao gồm: thế chấp quyền sửdụng đất; thế chấp tài sản gắn liền với đất trong trường hợp tài sản đó đã đượcchúng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụngnhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất; cầm cố tàu bay; thế chấp tàu bay; thếchấp tàu biển Đồng thời, Nghị định này cũng quy định rõ các biện pháp bảo đảmđược đăng ký khi có yêu cầu, bao gồm: thể chấp tài sản là động sản khác; bảo lưuquyền sở hữu trong trường hợp mua bán tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền vớiđất hình thành trong tương lai; mua bán tàu bay, tàu biển; mua bán tài sản là độngsản khác có bảo lưu quyền sở hữu

Điều kiện đối với tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các tổ chức tíndụng:

Thứ nhất, tài sản bảo đảm tiền vay bao gồm tất cả các loại tài sản đã được quy

định trong Bộ luật Dân sự, không phân biệt động sản hay bất động sản, tài sản cósẵn hay tài sản hình thành trong tương lai Vật hình thành trong tương lai có thể làđộng sản, bất động sản chưa hình thành vào thời điểm giao dịch bảo đảm được xáclập, có thể là động sản, bất động sản đã có nhưng chưa thuộc sở hữu của bên bảođảm vào thời điểm giao dịch bảo đảm được giao kết

Thứ hai, tài sản được đưa vào bảo đảm tiền vay là hoàn toàn do các bên thỏa

thuận nhưng phải thược sở hữu của của bên bảo đảm tiền vay (có thể là bên có

Trang 34

nghĩa vụ trong trường hợp bên vay đồng thời là bên bảo đảm, có thể là người thứ batrong trường hợp người thứ ba cam kết dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụtrả nợ của bên vay đối với bên cho vay) Để bảo đảm quyền chủ động trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà nước, pháp luật cho phép cácdoanh nghiệp này được dùng tài sản do Nhà nước giao để bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ Quyền tài sản tài có thể được dùng để bảo đảm tiền vay là các quyền tài sảnthược sở hữu của bên bảo đảm, bao gồm:” quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữutrí tuệ, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyềnđối với phần vốn góp trong doanh nghiệp và các quyền tài sản khác phát sinh từ hợpđồng Trong trường hợp một bên nào bị áp đặt, cấm doán, cưỡng ép, đe dọa để thựchiện giao dịch thì tất nhiên giao dịch đó bị coi như vô hiệu Hoặc nếu có bất kỳ thỏathuận nào, cho dù dựa trên sự đồng tình của các bên nhưng trái với quy định củapháp luật thì cũng bị coi là vô hiệu

Ý nghĩa của việc đăng ký giao dịch bảo đảm là:

- Đối với các trường hợp pháp luật quy định phải đăng ký giáo dịch bảo đảmthì đây là điều kiện để hợp đồng có hiệu lực

- Là căn cứ để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp dùng mộttài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, góp phần bảo về quyền và lợi ích hợppjaps của các bên tham gia giao dịch

- Là căn cứ giải quyết tranh chấp phát sinh về giao dịch bảo đảm

- Trường hợp bắt buộc phải đăng ký, nhưng không đăng ký thì giao dịch bảođảm đó có thể bị vô hiệu và không có giá trị với người thứ ba, có nghãi là nếu ngườithứ ba mua tài sản đang được dùng để thế chấp (bảo lãnh) ngân hàng, thì quyền sởhữu của người này vẫn được pháp luật bảo vệ, vì họ mua bán ngay tình và khôngbiết tài sản này đàn được cầm cố

Việc cầm cố, thế chấp tàu bay được đăng ký tại Cực hàng không Việt Nam,được ghi vào Sổ đăng bạ tàu bay Việt nam và cấp văn bản chứng nhận đăng ký biệnpháp bảo đảm bằng tàu bay cho người yêu cầu đăng ký

Việc thế chấp tàu biển được đăng ký tại Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam,được ghi vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam và cấp văn bản chứng nhậnđăng ký biện pháp bảo đảm bằng tàu biển cho người đăng ký

Trang 35

Việc thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được đăng kýtại Văn phòng đăng ký đất đai (trước 2017 là Văn phòng đăng ký quyền sử dụngđất), được ghi vào Sổ địa chính, giấy chứng nhận và chứng nhận nội dung đăng kývào phiếu yêu cầu đăng ký.

Trong trường hợp tài sản cầm cố là các loại chứng khoán thuộc đối tượng phảiđăng ký, lưu ký chứng khoán thì việc đăng ký cầm cố tại cơ quan đăng ký giao dịchbảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm

và việc đăng ký, lưu ký chứng khoán tại Trung tâm lưu ký chứng khoán được thựchiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán

Việc thế chấp tìa sản khác, như thế chấp hàng hóa, phương tiện giao thông vậntải, quyền tài sản được đăng ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản thuộc CụcĐăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp và được ghi vào phiếu yêu cầuđăng ký, sổ tiếp nhận, nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm

Như vậy, mặc dù đã có Cực Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm, nhưng việcquy định và thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm nói riêng, đăng ký biện pháp bảođảm nói chung còn rất phân tán và thiếu thống nhất trong nhiều đạo luật như Bộ luậtDân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hàng Không dân dụng, Bộ luật Hàng hảiViệt Nam Việc thống nhất, chỉ có thể được giải quyết bằng một đạo luật thống nhất

về đăng ký giao dịch bảo đảm

2.2.2 Biện pháp bảo đảm trong hợp đồng tín dụng

Trên thực tế như chúng ta đã thấy có rất nhiều biện pháp để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ Dễ thấy nhất là thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, tín chấp,… Căn cứ điều

292 Bộ luật Dân sự 2015 về “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” thì có chínbiện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là: cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc;

ký cược; ký quỹ; bảo lưu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản căn cứĐiều 292 Bộ luật Dân sự 2015

Bộ luật Dân sự 2015 có một số điểm quan trọng và khác so với Bộ luật Dân sự

2005 về các biện pháp bảo đảm như sau:

Thứ nhất, trong số các biện pháp bảo đảm nêu trên, có bảy biện pháp bảo đảm

bằng tài sản, một biện pháp bảo đảm không bằng tài sản là tín chấp và một biệnpháp có thể bằng hoặc không bằng tài sản đó là bão lãnh;

Ngày đăng: 29/11/2019, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w