1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mạng lưới chợ vùng đông bắc

118 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, hoạt động mua bán hàng hóa lưu thông qua mạng lưới chợ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng khối lượng hàng hóa lưu thông và đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân.. Bên c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Vân Anh

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu trích dẫn

có nguồn gốc rõ ràng Kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015

Học viên

Phan Thị Trang

Xác nhận của khoa chuyên môn Nguời huớng dẫn khoa học

TS Vũ Vân Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Bộ Công Thương Việt Nam, Tổng Cục Thống kê Việt Nam, các thầy giáo,

cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng biết ơn sâu sắc tới:

1 TS.Vũ Vân Anh - Đại học Thái Nguyên, đã tận tình giúp đỡ tôi trong

quá trình hoàn thành Luận văn này

2 Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Địa lý và các thầy giáo, cô giáo giảng dạy chuyên ngành của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

3 Bộ Công Thương Việt Nam, Tổng Cục Thống kê Việt Nam, các cơ quan, cùng bạn bè đồng nghiệp và người thân đã quan tâm giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, bản thân tôi đã có nhiều cố gắng nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những

ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang bìa phụ

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn 6

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cúu 7

5 Những đóng góp của đề tài 9

6 Cấu trúc của luận văn 10

NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỢ 11

1.1 Cơ sở lí luận 11

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 11

1.1.2 Quan niệm về chợ 12

1.1.3 Chức năng và vai trò của chợ [15] 13

1.1.3.1 Chức năng của chợ 13

1.1.3.2 Vai trò của chợ 15

1.1.4 Các đặc điểm chính của chợ [15] 17

1.1.4.1 Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh ở chợ 17

1.1.4.2 Không gian họp chợ 18

1.1.4.3 Thời gian họp chợ 18

1.1.5 Phân loại chợ [15] 18

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mạng lưới chợ 20

1.1.6.1 Trình độ phát triển của nền kinh tế 20

Trang 6

1.1.6.2 Đặc điểm dân cư và văn hóa 21

1.1.6.3 Phân bố dân cư và mạng lưới các điểm quần cư 22

1.1.6.4 Khoa học, công nghệ 23

1.1.6.5 Đường lối chính sách 24

1.1.6.6 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 24

1.1.7 Một số tiêu chí đánh giá 25

1.1.7.1 Quy mô chợ 25

1.1.7.2 Mật độ chợ 26

1.1.7.3 Bán kính phục vụ trung bình của mạng lưới chợ 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Khái quát mạng lưới chợ ở Việt Nam 26

1.2.1.1 Số lượng và quy mô chợ 26

1.2.1.2 Mật độ và bán kính phục vụ của chợ 29

1.2.1.3 Đặc điểm của các loại hình chợ 31

1.2.1.4 Nội dung hoạt động các chợ 34

1.2.1.5 Thành phần tham gia kinh doanh 35

1.2.1.6 Vấn đề môi trường và an toàn thực phẩm tại chợ 35

1.2.2 Khái quát mạng lưới chợ ở vùng Trung du miền núi Bắc Bộ 35

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ PHÂN BỐ MẠNG LƯỚI CHỢ 39

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chợ vùng Đông Bắc 39

2.1.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 39

2.1.2.Trình độ phát triển của nền kinh tế vùng Đông Bắc………42

2.1.2.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP 42

2.1.2.2 Cơ cấu nền kinh tế 42

2.1.2.3 Thu nhập và chi tiêu cho đời sống dân cư 49

2.1.3 Đặc điểm dân cư và văn hóa 51

2.1.4 Phân bố dân cư và mạng lưới các điểm quần cư 53

2.1.5 Khoa học công nghệ 54

2.1.6 Cơ sở hạ tầng 55

2.1.7 Thị trường 56

Trang 7

2.1.8 Đường lối chính sách 56

2.1.9 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 56

2.1.9.1 Địa hình 56

2.1.9.2 Khí hậu 58

2.1.9.3 Tài nguyên đất 58

2.1.9.4 Tài nguyên sinh vật 59

2.1.9.5 Tài nguyên du lịch 60

2.1.10 Đánh giá chung 60

2.2 Thực trạng hoạt động và phân bố chợ vùng Đông Bắc giai đoạn 2005 – 2013 64

2.2.1 Quy mô và số lượng chợ 66

2.2.1.1 Tổng số chợ 66

2.2.1.2 Quy mô chợ 67

2.2.2 Mật độ và bán kính phục vụ của chợ 69

2.2.2.1 Mật độ chợ theo diện tích 69

2.2.2.2 Bán kính phục vụ của chợ 69

2.2.2.3 Chỉ tiêu về mạng lưới chợ theo dân số 70

2.2.2.4 Chỉ tiêu về mạng lưới chợ theo xã, phường 71

2.2.3 Cơ sở hạ tầng chợ 72

2.2.4 Phạm vi lan tỏa của hàng hóa theo không gian 74

2.2.5 Thời gian họp chợ 74

2.2.6 Nội dung hoạt động của các chợ 75

2.2.7 Lực lượng tham gia kinh doanh 76

2.2.7.1 Các thành phần tham gia kinh doanh trên chợ 76

2.2.7.2 Số điểm kinh doanh và lao động trên chợ 77

2.2.8 Môi trường và an toàn thực phẩm 77

2.2.9 Đánh giá chung 79

2.3 Một số chợ tiêu biểu 81

2.3.1 Chợ phiên Bắc Hà 81

2.3.2 Chợ Thái 82

2.3.3 Chợ cửa khẩu Tân Thanh 83

2.3.4 Chợ tình Khâu Vai 84

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 86

Trang 8

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MẠNG

LƯỚI CHỢ VÙNG ĐÔNG BẮC ĐẾN 2030 87

3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển mạng lưới chợ vùng Đông Bắc đến năm 2030 87

3.1.1 Quan điểm 87

3.1.1.2 Quan điểm về việc đầu tư cơ sở vật chất chợ 87

3.1.1.3 Quan điểm về bố trí không gian kiến trúc chợ 88

3.1.1.4 Quan điểm phát triển ngành hàng, lực lượng kinh doanh trên chợ 88

3.1.1.5 Quan điểm về tổ chức chợ trên địa bàn vùng Đông Bắc 89

3.1.2 Mục tiêu 89

3.1.2.1 Mục tiêu chung 89

3.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 90

3.1.3 Định hướng 92

3.1.3.1 Định hướng chung 92

3.1.3.2 Định hướng cụ thể 93

3.2 Giải pháp 95

3.2.1 Quy hoạch thương mại trên địa bàn vùng Đông Bắc 96

3.2.2 Công tác quản lý chợ 97

3.2.3 Về tổ chức, phân công các ngành hàng kinh doanh tại chợ và các loại hình thương nghiệp khác 98

3.2.4 Giải pháp khai thác các nguồn lực để đầu tư xây dựng chợ 98

3.2.5 Giải pháp bồi dưỡng, đào tạo cán bộ quản lý chợ 99

3.2.6 Giải pháp bảo vệ môi trường đối với mạng lưới chợ toàn vùng 99

3.2.7 Các giải pháp khác 100

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

PHỤ LỤC 104

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1: Tổng số chợ ở nước ta phân theo vùng kinh tế và theo quy mô chợ

năm 2014 27

Bảng 1.2: Mật độ chợ phân theo các vùng kinh tế năm 2013 29

Bảng 1.3: Mười tỉnh, thành phố có mật độ chợ lớn nhất cả nước năm 2013 30

Bảng 1.4 Tổng số chợ vùng Trung du miền núi Bắc Bộ phân theo các tỉnh và phân theo quy mô năm 2014 36

Bảng 2.1 Tổng GDP các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2005 và năm 2012 42

Bảng 2.2 Giá trị và cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng Đông Bắc giai đoạn 2005 – 2012 44

Bảng 2.3 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành của các tỉnh Đông Bắc năm 2005 – 2013 49

Bảng 2.4: Thu nhập bình quân đầu người một tháng của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2006 và năm 2012 50

Bảng 2.5 Mật độ dân số phân theo các tỉnh của vùng Đông Bắc năm 2013 53

Bảng 2.6: Số lượng chợ phân theo các tỉnh của vùng Đông Bắc năm 2008 - 2013 66

Bảng 2.7: Phân loại chợ vùng Đông Bắc theo quy mô năm 2014 68

Bảng 2.8: Một số chỉ tiêu cơ bản về mạng lưới chợ của vùng Đông Bắc năm 2005 và năm 2013 70

Bảng 2.9: Mật độ chợ theo xã, phường, thị trấn các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2005 và năm 2013 71

Bảng 2.10: Tình trạng cơ sở vật chất chợ trên địa bàn vùng Đông Bắc năm 2005 và năm 2014 73

Bảng 2.11: Tình hình đảm bảo vệ sinh môi trường của các chợ trên địa bànvùng Đông Bắc năm 2013 78

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 1.1: Mức thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GDP vùng

Đông Bắc giai đoạn 2005 – 2010 21

Hình 2.1 Bản đồ hành chính vùng Đông Bắc 41

Hình 2.2: Cơ cấu kinh tế phân theo ngành vùng Đông Bắc 2005– 2012 43

Hình 2.3: Cơ cấu dân tộc vùng Đông Bắc 51

Hình 2.4 Bản đồ nguồn lực ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chợ vùng Đông Bắc 63

Hình 2.5 Bản đồ thực trạng mạng lưới chợ vùng Đông Bắc 65

Hinh 2.6 Cơ cấu về cơ sở vật chất các chợ vùng Đông Bắc 72

Hình 2.7 Số chợ họp thường xuyên và chợ phiên phân theo các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2013 75

Hỉnh 2.8 Số hộ tham gia kinh doanh thường xuyên và không thường xuyên trên chợ của các tỉnh vùng Đông Bắc năm 2014 77

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vùng Đông Bắc là một vùng có vị trí địa lí và giao thông khá thuận lợi cho các hoạt động thương mại - dịch vụ và hoạt động kinh tế cửa khẩu phát triển Trong những năm qua hoạt động thương mại nói chung và hoạt động nội thương của vùng Đông Bắc nói riêng đã có những đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung Hoạt động mua bán hàng hóa trên thị trường diễn ra sôi động nhất là khu vực thành phố của các tỉnh trong vùng Ở trung tâm thành phố của các tỉnh với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; đã đáp ứng nhu cầu về vật tư nguyên liệu cho sản xuất hàng hóa tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng của các tầng lớp dân cư của từng tỉnh và của vùng Trong đó, hoạt động mua bán hàng hóa lưu thông qua mạng lưới chợ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng khối lượng hàng hóa lưu thông và đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân

Chợ đã trở thành một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong mạng lưới thương mại của từng tỉnh cũng như của vùng Đông Bắc Chợ là nơi bán và là nơi mua chủ yếu nhất đối với những hàng lương thực, thực phẩm, nông sản và nhiều hàng tiêu dùng thiết yếu khác của dân cư Đối với vùng sâu, vùng xa thì hầu như tất cả mọi nhu cầu mua bán tiêu dùng phải được thoả mãn thông qua chợ Ngoài ra chợ còn là nơi phản ánh trình độ kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng dân cư Tính văn hoá của chợ được thể hiện rõ nét qua các phiên chợ vùng cao của đồng bào dân tộc Tuy nhiên hệ thống chợ của vùng Đông Bắc còn nhiều chỗ chưa hợp lý, ít về số lượng, quy mô nhỏ, phân bố chưa phù hợp Các điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật của mạng lưới chợ trên địa bàn còn khá sơ sài, chưa đáp ứng tốt nhu cầu trao đổi hàng hoá của nhân dân Đặc biệt là các chợ ở vùng sâu vùng xa và mật độ chợ vùng biên giới vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng bộc lộ những hạn chế, vướng mắc Xuất phát từ vai trò quan trọng của mạng lưới chợ trong sự phát triển kinh tế -

xã hội của vùng Đông Bắc Hơn nữa việc nghiên cứu về hoạt động của mạng lưới chợ vùng Đông Bắc là một lĩnh vực khá mới mẻ hầu như chưa có đề tài nào nghiên cứu

Đông Bắc" làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình

Trang 13

Trong "Chợ chùa thế kỷ XVI - XVII " - Nguyễn Đức Nghinh Nghiên cứu lịch

sử số 4, tháng 7 - 8 năm 1979 tác giả nêu lên hoạt động buôn bán hàng hóa tại các chợ chùa vùng nông thôn Tuy nhiên nội dung mới chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp - chợ tại các đỉnh chùa của làng vào các thế kỷ XVI -XVII

"Mấy nét phác thảo về chợ làng"- Nguyễn Đức Nghinh Nghiên cứu lịch sử số

5, tháng 9.10 năm 1980 Tác giả đã đề cập đến loại hình chợ làng, tổ chức quản lí chợ

làng, các hoạt động chợ làng những ngày họp chợ, phiên chợ và nghiên cứu phạm vi thời gian là các thế kỷ XVII - XVIII

"Chợ làng trước cách mạng tháng tám 1945" - Nguyễn Đức Nghinh Trần Thị

Hạ Tạp chí Dân tộc học số 2 năm 1981 Bài viết trình bày khá sâu sắc về tên gọi

chợ, sự thành lập chợ, cấu trúc chợ làng, phương thức thanh toán, các hình thức thu thuế tại chợ làng Vấn đề được thử nghiệm nghiên cứu trên địa bàn các huyện đồng bằng Cụ thể là các huyện Binh Lục (Hà Nam Ninh) (Quỳnh Côi- Thái Bình) Cẩm

Giàng (Hải Dương) vào những năm 30 của thế kỷ XX

Và "Chợ quê trong quá trình chuyển đổi" (2004) NXB Thế giới của Lê Thị

Mai là một công trình khá toàn diện khi nhìn nhận chợ quê dưới góc độ xã hội học Công trình này đã đi sâu vào một số vấn đề như: Cơ sở kinh tế - xã hội hình thành chợ quê châu thổ sông Hồng Những chính sách tác động đến quá trình chuyển đổi chợ quê và vai trò của chợ quê trong đời sống kinh tế xã hội cộng đồng làng xã Nhìn chung, tất cả các công trình này đều khai thác chợ ở những mảng riêng lẻ hoặc nhìn nhận - đánh giá chúng chủ yếu ở các khía cạnh như: dân tộc học, xã hội học, lịch sử, văn học và chủ yếu là nghiên cứu chợ ở vùng đồng bằng Chưa có

Trang 14

công trình hoàn thiện nào đi sâu khai thác chợ dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội như một hệ thống luôn luôn vận động và biến đổi theo thời gian

Trước tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường; của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, trong bối cảnh khu vực hóa - toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay Những phát hiện, những kết quả đã nghiên cứu đã gợi ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục đi sâu tìm hiểu hơn nữa Đó không chỉ là những vấn đề, những hiện tượng mới mà cả những nhận định trước đây cần phải được nhìn nhận lại cùng với những cách tiếp cận và xử lý thông tin thu được để có cái nhìn tổng quan, đúng đắn phù hợp với xu thế mới về chợ nói riêng và các hình thức thương nghiệp hiện đại nói chung

Và trong thời gian gần đây, dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hội đã có rất nhiều

giáo trình, đề tài khoa học của nhiều tác giả nghiên cứu một cách tổng quan hơn,

hoàn thiện hơn về chợ Trong đó, phải kể đến giáo trình "Địa lý thương mại và du

lịch " (2012) NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội của Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), Lê

Thông (đồng chủ biên) Giáo trình đã đề cập một cách khá đầy đủ về các điều kiện hình thành, các nhân tố ảnh hưởng cũng như vai trò của chợ, phân loại chợ, thực trạng hoạt động và phân bố mạng lưới chợ ở nước ta Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ bàn về các hình thức phân phối của loại hình bán lẻ

trong đó có chợ đó là:

“Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ” năm 2007 của viện nghiên

cứu Thương mại “Nghiên cứu các hoạt động bán buôn bán lẻ của một số nước và

kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam” Đề tài khoa học cấp bộ năm 2007 của Nguyễn

Thị Nhiễu; “Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số

mặt hàng chủ yếu ở nước ta từ năm 2001 đến nay " Đề tài khoa học cấp bộ năm 2007

của Đinh Văn Thành Ngoài ra, cũng có nhiều luận văn, công trình dự thi giải thưởng

Sinh viên nghiên cứu khoa học nghiên cứu về chợ như: " Tổ chức không gian mạng

lưới chợ tỉnh Đồng Tháp", Luận văn Thạc sĩ năm 2006, Đại học Sư phạm Hà Nội của

Nguyễn Thành Nhân "Tìm hiểu hệ thống chợ ở tỉnh Nam Định ", khóa luận tốt nghiệp năm 2012, Đại học Sư phạm Hà Nội của Trần Thị Kim Yên “Nghiên cứu mạng lưới

chợ ở tỉnh Lạng sơn” luận văn Thạc sĩ năm 2013, Đại học Sư phạm Thái Nguyên của Vi

Văn Minh

Trang 15

2.2 Ở vùng Đông Bắc

Việc nghiên cứu vấn đề phát triển hoạt động thương mại nói chung và mạng lưới chợ ở vùng Đông Bắc tương đối nhiều Các công trình nghiên cứu về chợ, viết về

chợ ở khu vực Đông Bắc xuất hiện khá sớm Thế kỷ thứ XVIII, trong tác phẩm “Kiến

văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn (1878) đã cung cấp một số tên chợ ở Tuyên Quang và

Hưng Hóa Đến đầu thế kỷ XIX, công trình “Hoàng Việt nhất thống dư địa chí” của

Lê Quang Định (1806) đã miêu thuật về một số chợ ở Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang Đặc biệt, những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, một số sỹ quan Pháp và tòa

công sứ Lào Cai, Yên Bái có viết các loại tiểu chí như “Lược khảo về Lục An Châu” (1898), “Lược khảo về Bảo Hà” (1898), “Tiểu chí xứ Lào Cai” (1909), “Địa chí Lào

Cai” (1933)… Các công trình trên có ghi chép một số nét về các chợ ở Lào Cai, Bảo

Hà, chợ ở Phố Ràng… Báo cáo kinh tế hàng năm của tỉnh Lào Cai (1957 - 1959) cũng đề cập nhiều đến hệ thống các chợ, việc xây dựng mở rộng chợ, việc trao đổi, buôn bán, giá cả các mặt hàng ở chợ

Nghiên cứu về chợ, chợ phiên vùng cao trong những thập niên gần đây có

tác giả Lê Chí Quế (1986) “ Nghiên cứu về diễn xướng Sli, lượn và vấn đề văn hóa

hội chợ” Trần Hữu Sơn (1997) có tác phẩm “Văn hóa Dân gian Lào Cai” đã khẳng

định, chợ vùng cao không chỉ là nơi trao đổi kinh tế mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa, nơi gặp gỡ của các đôi trai gái, đồng thời là nơi bảo tồn các giá trị văn hóa văn hóa vật thể, phi vật thể Chợ là chiếc cầu giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, tăng cường mối đoàn kết giữa các tộc người anh em Chính vì vậy, chợ trở thành một tụ điểm văn hóa thông tin, một trung tâm văn hóa cho cả vùng, vai trò của chợ đối với việc xây dựng đời sống văn hóa vùng cao là quan trọng và cần được quan tâm Kể từ khi Việt Nam - Trung Quốc bình thường hóa quan hệ trở lại, việc nghiên cứu các chính sách phát triển vùng biên đã được đặt ra với sự ra đời của hàng loạt các công

trình nghiên cứu như: “Buôn bán qua biên giới Việt – Trung”; “ lịch sử, hiện trạng

triển vọng” của Nguyễn Minh Hằng (2001); “Phát triển kinh tế miền núi phía Bắc và tác động của nó đến tăng cường sức mạnh chủ quyền an ninh biên giới” của

Đinh Trọng Ngọc (2001); “Buôn bán qua biên giới Việt - Trung và một số nhận xét

về điều kiện để phát triển buôn bán qua biên giới” của Lê Tuấn Thanh (2004)

Trang 16

Một số chính sách và giải pháp chủ yếu cấp bách nhằm phát triển quan hệ thương mại khu vực biên giới Việt - Trung Đây là đề tài nghiên cứu cấp bộ, của

Bộ thương mại, hoàn thành năm 2000; đã tập trung đi sâu nghiên cứu thực trạng các hoạt động thương mại tại khu vực biên giới Việt – Trung, đánh giá hệ thống chính sách mậu dịch biên giới của Trung Quốc và ảnh hưởng của nó tới môi trường thương mại khu vực biên giới Việt –Trung; trên cơ sở đó đã đưa ra các quan điểm và đề xuất các giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự phát triển thương mại khu vực biên giới Việt - Trung

- Phương hướng phát triển kinh tế cửa khẩu biên giới Việt – Trung trong giai đoạn tới, trên Tạp chí Thông tin Kinh tế - Xã hội, số 1 năm 2003 Bài viết đã xác định

vị trí, vai trò của một số cửa khẩu quốc tế trên tuyến biên giới Việt - Trung và đưa ra một số ưu tiên trong định hướng phát triển KTCK trong thời gian tới

- Phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng của TS Nguyễn Văn Lịch, NXB Thống kê, Hà Nội năm 2005, đã đi

sâu phân tích và làm rõ những luận cứ khoa học của việc xây dựng hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; đánh giá thực trạng phát triển thương mại trên hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng; phân tích tác động của hành lang kinh tế đối với việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc và đưa ra các giải pháp thúc đẩy phát triển thương mại khu vực hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng

Các giải pháp thúc đẩy phát triển quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc); đề tài cấp Bộ do TS Nguyễn Văn

Lịch chủ nhiệm, Hà Nội năm 2005, đã phân tích và làm rõ được vai trò của việc phát triển thương mại giữa Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam; đánh giá được thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung Quốc; đề xuất quan điểm, dự báo và một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam với hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, Trung Quốc

Ngoài ra, còn nhiều bài viết đăng tải trên các kỷ yếu hội thảo như Kỷ yếu Hội

thảo quốc tế “Hợp tác phát triển hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội –

Hải Phòng” tại Lào Cai, tháng 11/2005; Kỷ yếu Hội thảo khoa học giữa Học viện

Trang 17

Tài chính (Việt Nam) và Học viện kinh tế tài chính Quảng Tây (Trung Quốc) “Kinh

tế biên mậu Việt Nam – Trung Quốc triển vọng và giải pháp thúc đẩy”, tổ chức tại

Hà Nội, 2006; Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Các giải pháp phát triển hai hành lang một

vành đai kinh tế Việt Nam – Trung Quốc trong bối cảnh mới” tổ chức tại Lào Cai

tháng 12/2007…

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề lý thuyết

về phát triển thương mại biên giới, mạng lưới chợ, chỉ ra vị trí, tầm quan trọng của các KKTCK, tình hình phát triển hoạt động thương mại tại các tỉnh biên giới Đông Bắc Tuy nhiên, một loạt vấn đề mà các công trình nghiên cứu đã công bố chưa được đề cập hoặc được đề cập nhưng chưa có hệ thống và là nhiệm vụ mà chủ đề luận văn này cần giải quyết là:

dung của phát triển mạng lưới; tiêu chí đánh giá hoạt động chợ

chế của phát triển thương mại trong thời gian qua

vùng Đông Bắc nói riêng và khu vực của Việt Nam tiếp giáp với Trung Quốc nói chung

3 Mục tiêu, nhiệm vụ và giới hạn

3.1 Mục tiêu

Vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn về nội thương nói chung và mạng lưới chợ nói riêng, đề tài tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của mạng lưới chợ, thực trạng hoạt động và phân bố mạng lưới chợ vùng Đông Bắc giai đoạn

2005 - 2013 Từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển mạng lưới chợ hợp lí và hiệu quả theo hướng văn minh, hiện đại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về chợ

- Phân tích các nhân tố ảnh hường đến sự phát triển mạng lưới chợ Đông Bắc

- Phân tích thực trạng hoạt động và phân bố chợ Đông Bắc giai đoạn 2005- 2013

- Đưa một số giải pháp phát triển chợ trong tương lai nằm phục vụ tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của dân cư

Trang 18

3.3 Giới hạn nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung vào việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chợ, đánh giá hoạt động và phân bố chợ vùng Đông Bắc giai

Về thời gian: Đề tài tập trung thu thập, phân tích thực trạng hoạt động của mạng

lưới chợ trong giai đoạn 2005 - 2013 và định hướng đến năm 2030

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cúu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

4.1.1 Quan điểm tổng hợp

Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu địa lí nói

chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng Quan điểm này đòi hỏi việc phân tích đối

tượng nghiên cứu trong sự vận động biến đổi Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu thành chúng và với hệ thống khác

Sự phát triển của mạng lưới chợ nằm trong sự phát triển của ngành thương mại nói chung Thương mại là một ngành kinh tế quan trọng có mối liên hệ mật thiết với các ngành kinh tế khác Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Sự phát triển của cả hai mặt sản xuất và tiêu dùng tạo điều kiện cho ngành thương mại phát triển Đặc biệt là sự phân phối, bán lẻ hàng hóa tới tay người tiêu dùng Vì vậy, khi nghiên cứu cần chú ý đến sự tác động ảnh hưởng giữa các ngành kinh tế và sự phát triển của mạng lưới chợ Bên cạnh đó còn chú ý tới yếu tố tự nhiên tác động đến quá trình xây dựng và quy hoạch phát triển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn vùng

4 1.2 Quan điểm hệ thống

Thương mại là một thành phần không thể thiếu trong cơ cấu nền kinh tế mỗi

quốc gia Hệ thống thương mại bao gồm nhiều thành phần khác nhau Trong đó mạng lưới chợ đóng một vai trò quan trọng Mạng lưới chợ trên phạm vi toàn vùng Đông

Trang 19

Bắc bao gồm nhiều hệ thống khác nhau và có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau và có mối liên hệ với mạng lưới các chợ của cả nước Vì vậy, khi nghiên cứu mạng lưới chợ của vùng cần chú ý tới các hệ thống phân phối khác trong vai trò là một nhân tố tác động và cần quan tâm tới sự liên hệ trong nội bộ ngành

4.1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh

Mọi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát sinh và phát triển Có nghĩa là nó luôn vận động, biến đổi không ngừng Đặc biệt là các vấn đề kinh tế - xã hội biến đổi rất nhanh chóng và mạnh mẽ Ngành nội thương cũng không tránh khỏi những tác động của nền kinh tế thế giới trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay vì vậy sự phát triển của mạng lưới chợ tại thị trường nội địa phải nhìn nhận trong sự phát triển theo thời gian gắn với quá khứ và định hướng tương lai

Nghiên cứu mạng lưới chợ cần xem xét sự phát triển của nó qua các thời kì để thấy rõ sự thay đổi trong từng giai đoạn đồng thời có những định hướng sự phát triển trong tương lai

4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Ngành thương mại nói chung và ngành nội thương của vùng Đông Bắc nói riêng đang trên đà phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người tiêu dùng Do vậy, cần có những chính sách phát triển mạng lưới chợ cho phù hợp, phát huy hết những lợi thế trong và ngoài nước Tuy nhiên, cần phải xem xét sự phát triển trong mối quan

hệ với các ngành kinh tế khác, các tác động tới vấn đề xã hội và môi trường

4.2 Phương pháp nghiên cứu chủ yếu

4.2.1 Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa

Vận dụng phương pháp này nhằm có được những kết quả sát thực tế Thu thập được những vấn đề liên quan đến hoạt động và phân bố mạng lưới chợ vùng Đông Bắc Kiểm chứng lại kết quả xử lí tư liệu, đánh giá tại chỗ của tác giả Phương pháp này bao gồm các hoạt động sau:

- Tiến hành khảo sát, điều tra thực địa tại một số tỉnh có mạng lưới chợ điển hình của vùng Đông Bắc để tìm hiểu về các hoạt động Tình trạng cơ sở hạ tầng các chợ vùng Đông Bắc

- Tiến hành gặp gỡ, trao đổi với các Sở ban ngành để thu được những thông tin

tư liệu hữu ích

Trang 20

4.2.2 Phương pháp thu thập, xử lí tài liệu

Để đánh giá đúng và đầy đủ thực trạng phát triển mạng lưới bán lẻ hàng hoá ở nước ta hiện nay cần phải thu thập, xử lí số liệu từ nhiều nguồn khác nhau như:

- Nguồn số liệu từ cơ quan chức năng là Bộ Công Thương, Viện nghiên cứu thương mại Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh vùng Đông Bắc

- Số liệu từ Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, Niên giám thống kê các tỉnh vùng Đông Bắc

- Các giáo trình, đề tài nghiên cứu về mạng lưới bán lẻ hàng hóa từ các bộ ngành liên quan

4.2.3 Phương pháp so sánh, phân tích, đánh giá tổng hợp

Từ tư liệu và số liệu thu thập được Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để đánh giá, phát hiện vấn đề

4.2.4 Phương pháp chuyên gia

Tác giả xin ý kiến các nhà khoa học, các chuyên viên ở Sở Công Thương Những người am hiểu sâu sắc về lĩnh vực thương mại nói chung, nội thương nói riêng

để đề tài được hoàn thiện và có giá trị khoa học

4.2.5 Phương pháp bản đồ

Trên cơ sở các bản đồ có sẵn liên quan đến đề tài như: Bản đồ tự nhiên, dân cư, kinh tế Để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố mạng lưới chợ Trên cơ sở dữ liệu, bằng công cụ GIS và phần mềm Mapinfo 9.0 Tác giả đã thành lập một số bản đồ thể hiện kết quả nghiên cứu của đề tài

+ Bản đồ Hành chính vùng Đông Bắc

+ Bản đồ Nguồn lực ảnh hưởng đến sự phát triển mạng lưới chợ vùng Đông Bắc

+ Bản đồ thực trạng mạng lưới chợ vùng Đông Bắc năm 2013

5 Những đóng góp của đề tài

- Đúc kết và khái quát được cơ sở lí luận và thực tiễn về chợ

- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển và hoạt động của mạng lưới chợ vùng Đông Bắc giai đoạn 2005 - 2013

- Đưa ra bức tranh hoạt động và phân bố của mạng lưới các chợ vùng Đông Bắc

Trang 21

- Đề xuất một số giải pháp cụ thể và định hướng phát triển mạng lưới chợ vùng Đông Bắc đến năm 2030

6 Cấu trúc của luận văn

Nội dung của luận văn gồm có 3 chương Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục :

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về chợ

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng hoạt động và phân bố mạng lưới

chợ vùng Đông Bắc giai đoạn 2005 - 2013

Chương 3: Định hướng và các giải pháp phát triển mạng lưới chợ vùng Đông

Bắc đến năm 2030

Trang 22

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỢ

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Một số khái niệm có liên quan

Thương mại

Thương mại tiếng Anh là “Trade” Vừa có nghĩa là kinh doanh, vừa có nghĩa

là trao đổi hàng hóa, dịch vụ Ngoài ra, tiếng Anh còn dùng 1 thuật ngữ nữa là

“business” hoặc “Commmerce” với nghĩa là buôn bán hàng hóa, kinh doanh hàng hóa hay mậu dịch Tiếng Pháp cũng có từ tương đương “Commerce” là sự buôn bán, mậu dịch hàng hóa dịch vụ Tiếng Latinh “thương mại” là “Commercium” vừa có nghĩa là mua bán hàng hóa vừa có nghĩa là hoạt động kinh doanh…Như vậy, khái niệm thương mại cần được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp [14]

Theo nghĩa rộng, thương mại là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường Thương mại đồng nghĩa với kinh doanh, được hiểu như là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh trên thị trường

Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua, bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường Là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi là ngoại thương (kinh doanh quốc tế)

- Thị trường và thị trường nội địa

Khái niệm “thị trường”: Trong kinh tế học và kinh doanh thị trường được hiểu

là người mua và người bán (hay người có nhu cầu và người cung cấp) tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ

Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ nhằm thỏa mãn nhu cầu hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định

Trang 23

“Thị trường nội địa” là nơi trao đổi mua bán hàng hóa dịch vụ trong phạm vi

một quốc gia

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng

Là chi tiêu phản ánh tổng hợp toàn bộ doanh thu hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng đã bán ra thị trường của các cơ sở sản xuất kinh doanh bao gồm: Doanh thu bán lẻ hàng hóa của các cơ sở kinh doanh thương nghiệp, doanh thu bán lẻ sản phẩm của cơ sở sản xuất và nông dân trực tiếp bán ra thị trường, doanh thu khách sạn, nhà hàng, doanh thu du lịch lữ hành, doanh thu dịch vụ phục vụ cá nhân, cộng đồng và các dịch vụ khác do các tổ chức và cá nhân kinh doanh, phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng [14]

1.1.2 Quan niệm về chợ

Chợ là hình thức thương mại truyền thống ở nước ta Chợ xuất hiện từ lâu đời nên nó có mặt ở hầu khắp các địa phương trên cả nước Mạng lưới chợ trải khắp mọi nơi, từ các chợ đầu mối như Đồng Xuân ở Hà Nội và Bến Thành ở Thành phố Hồ Chí Minh đến các chợ cóc nằm ở mọi ngõ ngách để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân Trong thời buổi kinh tế thị trường với sự xuất hiện của nhiều loại hình thương mại tiên tiến, hiện đại nhưng chợ vẫn tồn tại với tư cách là hình thức phổ biến nhất nước ta trong lĩnh vực trao đổi, buôn bán Đối với người dân, mua bán ở chợ thành thói quen khó thay đổi Tập quán ăn uống cầu kỳ, thực phẩm tươi sống lạm dụng nguyên thủy và tự chế biến theo kỹ thuật của mỗi người, các món ăn trong bữa ăn rất phong phú và đa dạng và nhu cầu này chỉ có thể đáp ứng thông qua mạng lưới chợ

Đi chợ được coi là nét văn hóa của người Việt Nam

Có nhiều cách hiểu khác nhau về chợ, nhưng theo cách hiểu thông thường thì

chợ là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán để trao đổ, mua bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ

Theo từ điển Tiếng Việt, chợ là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu các hàng hóa,

dịch vụ, chợ vốn là nơi tập trung các hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng [14]

Theo nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/3/2003 của Chính Phủ về phát

triển và quản lí chợ thì khái niệm chợ được điều chỉnh là “chợ mang tính truyền

thống, được tổ chức tại một địa điểm theo quy hoạch, đáp ứng các nhu cầu buôn bán,

Trang 24

trao đổi hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư” Khái niệm này đã đề

cập đến tính tổ chức của chợ và yêu cầu địa điểm tổ chức chợ phải được quy hoạch, mục tiêu của chợ là để đáp ứng nhu cầu hàng hóa và tiêu dùng của dân cư

Theo các nhà kinh tế, chợ là loại hình thương nghiệp có tính chất truyền

thống Là một bộ phận của thị trường xã hội, nơi tập trung diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ của dân cư thuộc các thành phần kinh tế ở những địa điểm quy định

Chợ tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam được hiểu là một môi trường kiến trúc

công cộng của một khu vực dân cư được chính quyền quy định, cho phép hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thương nghiệp

Như vậy, dù xét dưới góc độ nào thì khái niệm về chợ cũng bao hàm các nội dung chủ yếu về không gian họp chợ, thời gian họp chợ, chủ thể tham gia mua bán trao đổi trong chợ, đối tượng hàng hóa và dịch vụ trao đổi mua bán trong chợ

1.1.3 Chức năng và vai trò của chợ [15]

1.1.3.1 Chức năng của chợ

a Chức năng mua bán, trao đổi hàng hóa; thực hiện và thừa nhận giá trị hàng hóa

Chợ là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi, mua bán sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Thông qua chợ, hàng hóa sẽ được chuyển quyền sở hữu từ người bán sang người mua, tiền cũng được chuyển quyền sở hữu từ người mua sang người bán và khi đó kết thúc quá trình trao đổi mua bán hàng hóa Như vậy, chợ đã thực hiện chức năng làm thay đổi giá trị hàng hóa từ tiền sang hàng và ngược lại Nhờ

có chức năng này của chợ, người bán đạt được mục đích là giá trị và người mua có giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của họ

Chợ cũng là một dạng của thị trường Hàng hóa bán trên thị trường mới được

xã hội thừa nhận Thị trường chỉ thừa nhận hàng hóa và dịch vụ nếu nó phù hợp với những nhu cầu, đòi hỏi của người tiêu dùng Chợ là nơi thực hiện giá trị của hàng hóa

và dịch vụ thông qua các hoạt động mua bán Giá trị hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua giá cả thị trường trên cơ sở giá trị của chúng được thừa nhận

b Chức năng tạo giá trị gia tăng cho hàng hóa

Ngoài chức năng là nơi thực hiện giá trị của hàng hóa, chợ còn góp phần tạo ra giá trị gia tăng của hàng hóa Hàng hóa được bày bán ở chợ là hàng hóa đã được vận

Trang 25

chuyển từ nơi sản xuất đến với người tiêu dùng Nó được bảo quản, phân loại, đóng gói bao bì, chuẩn bị sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng…Như vậy, thông qua các công đoạn này, giá trị hàng hóa trao đổi được tăng thêm Hay nói cách khác, hàng hóa đã có thêm giá trị gia tăng trước khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng

c Chức năng tập trung hàng hóa

Chợ là nơi tập trung các sản phẩm được sản xuất ra từ các nguồn khác nhau (các địa phương, các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ) để đem ra tiêu thụ Chợ được xem như một kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm Người bán tập trung hàng hóa ở chợ để thực hiện việc trao đổi mua bán hàng hóa Chức năng này có ý nghĩa quan trọng đối với người mua và bán hàng hóa trong điều kiện nền sản xuất nhỏ, manh mún

d Chức năng phát tín hiệu thị trường

Chợ có khả năng phản ánh tổng hợp nhiều mối quan hệ kinh tế Mua bán, trao đổi hàng hóa chứa đựng thông tin đa dạng về nhiều mặt Chợ cung cấp các thông tin

về cung cầu đối với các loại hàng hóa (tổng cung, tổng cầu, cơ cấu); về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã hàng hóa; về khách hàng (khả năng thanh toán thu nhập, sở thích, thị hiếu, thói quen tiêu dùng…) Chợ cũng cung cấp các thông tin về đối thủ cạnh tranh về chi phí và giá cả Những thông tin này không chỉ cần thiết cho người sản xuất, người tiêu dùng mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức kinh tế Người sản xuất có được các thông tin về sản phẩm thị trường cần (về chủng loại, khối lượng, khi nào, cho ai, ở đâu, giá cả…) mà có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp Người tiêu dùng được cung cấp thông tin về nơi bán sản phẩm mà mình cần, về chất lượng, giá cả hàng hóa…Các cơ quan nhà nước căn cứ vào các thông tin thị trường để hoạch định và điều chỉnh các chính sách và cơ chế quản lý phù hợp

Tuy nhiên, những thông tin thị trường cung cấp luôn biến động và nhiều khi bị nhiễu bởi sự tác động của nhều nhân tố Vì vậy, cần thu thập, xử lí và chọn lọc thông tin đúng đắn, khoa học

e Chức năng nâng cao hiệu quả phân phối sản phẩm

Chợ được xem như một kênh phân phối hàng hóa quan trọng Đặc biệt đối với hàng hóa từ các nguồn sản xuất nhỏ, phi tập trung gồm nhiều người sản xuất nông sản, hàng thủ công, hàng tiêu dùng thông thường Chợ là thị trường dễ tính và dễ xâm

Trang 26

nhập, do vậy thu hút đông đảo người sản xuất và tiêu dùng tham gia Thông qua chợ, hàng hóa được phân phối đến mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, vùng sâu và xa

f Chức năng cung cấp các dịch vụ

Chợ là nơi cung cấp các loại hình dịch vụ hỗ trợ hoạt động trao đổi buôn bán tại chợ Tùy theo quy mô và trình độ phát triển của chợ mà các dịch vụ được cung ứng tại chợ cũng khác nhau về số lượng và chất lượng Chợ có quy mô càng lớn và hiện đại, tính chuyên môn hàng hóa càng cao thì các dịch vụ cung ứng tại chợ càng

đa dạng và chất lượng dịch vụ đòi hỏi cao Các dịch vụ được cung ứng tại chợ chủ yếu như: vệ sinh môi trường, trông coi phương tiện vận tải, giám định chất lượng hàng hóa, giao nhận hàng hóa, môi giới mua bán, tư vấn và cung cấp thông tin về giá

Chợ có ý nghĩa quan trọng trong đời sống dân cư Đó không chỉ là nơi người mua bán đến để trao đổi hàng hóa, mà bên cạnh các giá trị kinh tế; chợ còn là nơi giao lưu gặp gỡ mọi người, nơi thể hiện giữ gìn, phát huy văn hóa truyền thống, bản sắc dân tộc (nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa) Tính văn hóa của chợ được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau như văn hóa ẩm thực, văn hóa giao tiếp, thông tin cộng đồng Đồng thời chợ phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, là nơi thể hiện sự biến động của nền sản xuất xã hội như quan hệ

“cung – cầu” Phản ánh chất lượng cuộc sống, mức thu nhập, khả năng thanh toán của nền kinh tế

Thông qua chợ, nhiều nhu cầu của đời sống con người được thỏa mãn, kể cả nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, sinh hoạt vật chất tinh thần Góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư Đối với từng đối tượng dân cư, chợ cũng thể hiện vai trò khác nhau Đối với người tiêu dùng, chợ thỏa mãn các nhu cầu cá nhân về các loại

Trang 27

hàng hóa, từ các sản phẩm phục vụ đời sống sinh hoạt hàng ngày cho đến các phương tiện phục vụ sản xuất Đặc biệt đối với thị trường nông thôn, chợ là nơi cung ứng đại

bộ phận lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng dân cư…Đối với người sản xuất, chợ là nơi tiêu thụ các sản phẩm đầu ra của họ thông qua quá trình bán hàng Đặc biệt đối với những ngành hàng sản xuất nhỏ, sản xuất không tập trung thì chợ là nơi duy nhất

có thể tiêu thụ được sản phẩm của họ Điều đó khẳng định vai trò rất quan trọng của chợ đối với người sản xuất vừa và nhỏ Không có chợ (thị trường) sẽ không thể giải quyết các vấn đề đầu ra của sản xuất, dẫn đến sản xuất không phát triển được Chợ còn là nơi cung ứng các yếu tố đầu vài cho quá trình tái sản xuất, giúp cho người sản xuất duy trì và mở rộng quy mô sản xuất

Chợ hình thành và phát triển cũng góp phần củng cố và phát triển làng nghề truyền thống, ngành nghề dịch vụ ở nông thôn Từ đó thúc đẩy phân công lao động trong công nghiệp và nông nghiệp theo hướng tăng tỉ lệ lao động công nghiệp, dịch

vụ và giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp

Về mặt xã hội, chợ giúp gắn kết các bộ phận dân cư khác nhau đến nơi cư trú Qua đó góp phần điều chỉnh các hoạt động kinh tế, thương mại của các chủ thể kinh

tế Người sản xuất nhỏ và người tiêu dùng, đảm bảo sự phát triển tương xứng

Chợ đóng vai trò quan trọng trong giải quyết công ăn việc làm và tạo thu nhập cho nhiều người Chợ thu hút hoạt động của một số lượng lớn những người tham gia kinh doanh, tạo ra công ăn việc làm cho lực lượng lao động dôi dư, lao động mùa vụ đặc biệt là ở các vùng nông thôn Ngoài ra, chợ cũng tạo ra một bộ phận thương nhân

có tính chuyên nghiệp cao góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội Đồng thời sự phát triển mạng lưới chợ có vai trò quan trọng đối với cải thiện và nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo Xây dựng con người mới, xây dựng nông thôn, văn minh, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn

Chợ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của cấu trúc thị trường nội địa Trong nghị định số 02/2003/NĐ-CP, nội dung quy hoạch và phát triển chợ đã xác

định: Chợ là một bộ phận quan trọng trong tổng thể kết cấu hạ tầng kinh tế - xã

hội…quy hoạch và phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ của địa phương phải bao gồm quy hoạch phát triển chợ Cũng theo chỉ thị số 13/2004/CT-TTg của Thủ tướng

Chính phủ đã xác định rằng để khắc phục các yếu kém và bất cập của hoạt động

Trang 28

thương mại trên thị trường nội địa thì một trong những nhiệm vụ phải làm đó là hình

thành và phát triển kết cấu hạ tầng thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa bao gồm: Chợ, trung tâm thương mại (bán buôn, bán lẻ hàng hóa) Siêu thị và mạng lưới các cửa hàng phù hợp và đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất, tiêu dùng của nhân dân trên từng địa bàn Như vậy, chợ đã

được coi là một phần của kết cấu hạ rầng thương mại, là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc thị trường nội địa

1.1.4 Các đặc điểm chính của chợ [15]

1.1.4.1 Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh ở chợ

Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của chợ là sự tham gia đông đảo của đội ngũ bán hàng Trong các hình thức phân phối khác như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tự chọn… các chủ thể tham gia kinh doanh bán hàng không nhiều (thường là một chủ thể đứng ra đảm nhiệm) Nhưng trên địa bàn chợ có rất nhiều người tham gia bán hàng Người bán hàng có thể là người sản xuất (trực tiếp đem sản phẩm của mình

ra chợ để trao đổi) và thương nhân (mua và mang sản phẩm mua được đi trao đổi)

Những người tham gia bán hàng tại chợ không cần nhiều vốn (trừ bán buôn) Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể của chủ thể kinh doanh mà lượng vốn được sử dụng nhiều hay ít và lượng vốn được xem là mức tối thiểu để chủ thể có thể tham gia bán hàng tại chợ Nhìn chung, chi phí tham gia thị trường chợ thấp hơn so với các hình thức phân phối hiện đại khác

Chợ là nơi mọi người có thể tham gia một cách dễ dàng vào trao đổi, mua bán Điều kiện để các chủ thể tham gia kinh doanh ở chợ không quá khắt khe về trình độ chuyên môn Chỉ cần có nhu cầu và khả năng kinh doanh, khả năng tài chính thì đều

có thể tham gia hoạt động kinh doanh ở chợ Có hai loại chủ thể tham gia kinh doanh

là chủ thể tham gia kinh doanh thường xuyên và không thường xuyên

Chủ thể tham gia kinh doanh thường xuyên là các chủ thể kinh doanh nhằm mục đích kiếm lời và là nghề nghiệp chính của họ Những chủ thể này thường có diện tích kinh doanh trong nhà, mang tính chất ổn định và thường xuyên

Chủ thể tham gia kinh doanh không thường xuyên là chủ thể tham gia bán hàng tại chợ nhằm tận dụng thời gian dư thừa, chứ không phải là nghề nghiệp chính của họ Đây là bộ phận kinh doanh tự do và thường được bố trí bán hàng ở những khu vực riêng Tùy điều kiện của từng chợ có thể bố trí bộ phận này ở trong mái che hoặc ngoài trời và diện tích kinh doanh thường không phân chia cụ thể cho một chủ hàng nào

Trang 29

1.1.4.2 Không gian họp chợ

Chợ ở nước ta thường được hình thành ở những khu vực có vị trí địa lí thuận lợi cho việc trao đổi, vận chuyển và giao nhận hàng hóa, cũng như cho sự đi lại của dân cư như các bến sông, trục đường chính, đầu mối giao thông, khu dân cư tập trung…Quy mô không gian chợ cũng không đều, có chợ diện tích lớn như chợ đầu mối, chợ bán buôn Nhưng cũng có những chợ chỉ cần một không gian nhỏ như chợ làng, chợ tạm, chợ cóc…

1.1.4.3 Thời gian họp chợ

Khác với hình thức phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tự chọn ở đó thời gian hoạt động thường là tất cả các ngày trong tháng, tất cả các tháng trong năm; thời gian họp chợ có thể thường xuyên hoặc không thường xuyên và diễn ra theo một quy luật nhất định về thời gian, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa Có nhiều chợ chỉ họp những giờ nhất định trong ngày, những ngày nhất định trong tháng hoặc trong năm (như chợ phiên chỉ họp chợ vào một số ngày trong tháng, chợ đêm chỉ họp ban đêm, có chợ chỉ họp một phiên trong một năm như chợ Viềng - Nam Định, chợ

Âm Phủ - Bắc Ninh…)

1.1.5 Phân loại chợ [15]

Căn cứ nghị định của Chính phủ số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm

2003 về phát triển quản lý chợ và Nghị định sửa đổi Bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2003 về phát triển và quản lý chợ

Phân loại chợ dựa trên các khái niệm cơ bản sau:

Phạm vi chợ: Là khu vực được quy hoạch dành cho hoạt động chợ, bao gồm diện tích để bố trí các điểm kinh doanh, khu vực dịch vụ (như bãi đỗ xe, kho hàng, khu ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác) và đường bao quanh

Chợ đầu mối: Là chợ thu hút vai trò, tập trung lực lượng hàng hóa lớn từ các

nguồn sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế hay của ngành hàng để tiếp tục phân phối đến các chợ và các kênh lưu thông khác

Chợ kiên cố: Là chợ được xây dựng bằng các vật liệu có sức bền, đảm bảo thời

gian sử dụng trên 10 năm

Chợ bán kiên cố: Là chợ được xây dựng bằng các vật liệu có sức bền và thời

gian sử dụng từ 5 – 10 năm

Chợ tạm: Là chợ được xây dựng bằng các vật liệu như tre, nứa, lá, ô dù Hoặc

bằng các vật liệu đơn giản có thời gian sử dụng dưới 5 năm Là loại chợ nằm trong

Trang 30

quy hoạch nhưng không được xây dựng kiên cố hoặc bán kiên cố Điểm kinh doanh tại chợ bao gồm: Quầy hàng, sạp hàng, kiot, cửa hàng được bố trí cố định trong phạm

Chợ chuyên doanh: Là chợ kinh doanh chuyên biệt một ngành hàng hoặc một

số ngành hàng đặc thù và tính chất riêng

Chợ tổng hợp: Là chợ kinh doanh nhiều ngành hàng

Chợ dân sinh: Là chợ hạng III (do xã, phường quản lí) kinh doanh những mặt

hàng thông dụng và thiết yếu phục vụ đời sống hàng ngày của người dân

Chợ biên giới: Là chợ nằm trong khu vực biên giới đất liền (gồm xã, phường,

thị trấn) có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền hoặc khu vực biên giới trên biển (tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển, đảo và quần đảo)

Chợ nông thôn: Là chợ xã của các huyện và khu vực biên giới trên đất liền

hoặc trên biển gắn với các cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nhưng không thuộc khu kinh tế cửa khẩu

Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể chia chợ thành nhiều loại

* Phân loại chợ theo chức năng kinh doanh

Phân loại chợ theo hàng hóa chủ yếu được lưu thông qua chợ:

- Chợ chuyên kinh doanh nông sản thực phẩm

- Chợ chuyên kinh doanh hàng công nghiệp tiêu dùng

- Chợ chuyên kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi (chợ trâu, bò, chợ hoa.…)

- Chợ chuyên kinh doanh khác

- Chợ tổng hợp

* Phân loại chợ theo hoạt động mua bán hàng hóa

- Theo loại hàng hóa chủ yếu được lưu thông qua chợ: chợ chuyên kinh doanh nông sản thực phẩm, chợ chuyên kinh doanh hàng công nghiệp tiêu dùng, chợ chuyên kinh doanh giống cây trồng, vật nuôi ( chợ trâu, chợ bò, chợ hoa…), chợ chuyên kinh doanh tổng hợp

- Theo tính chuyên môn hóa: Chợ đầu mối (chuyên doanh hoặc kinh doanh tổng hợp), chợ bán buôn, chợ bán lẻ…

- Theo phương thức được giao dịch: Chợ truyền thống (giao ngay), chợ mua bán theo hợp đồng, chợ giao sau…

Trang 31

* Phân loại chợ theo không gian địa lí

- Theo địa giới hành chính hay phạm vi lưu thông của hàng hóa: Chợ phường,

xã, chợ huyện, liên xã, liên huyện, thị trấn, tỉnh, thành phố, chợ biên giới, cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu…

- Theo vùng lãnh thổ: Chợ miền núi, chợ đồng bằng, chợ nông thôn, chợ thành phố, chợ ở các vùng kinh tế hay trung tâm kinh tế, hải đảo, chợ trên sông…

* Phân loại chợ theo thời gian họp chợ

- Theo thời gian trong ngày: Chợ sáng, chợ chiều, chợ đêm, chợ họp cả ngày, chợ họp cả ngày và đêm…

- Theo khoảng cách thời gian giữa các lần họp chợ: Chợ hàng ngày, chợ phiên, chợ mùa vụ…

* Phân loại chợ theo điều kiện cơ sở vật chất

- Chợ kiên cố, chợ bán kiên cố, chợ tạm, chợ cóc.…

1.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của mạng lưới chợ

1.1.6.1 Trình độ phát triển của nền kinh tế

Sự hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hóa đã tạo ra một khối lượng vật chất khổng lồ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cả về vật chất và tinh thần của xã hội Mối quan hệ cung cầu về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường do cơ cấu sản xuất và cơ cấu nhu cầu quyết định Chính vì vậy, cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất có tác động tới cơ cấu hàng hóa được phân phối đến hệ thống chợ Quy mô và trình độ sản xuất có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của các hình thức trao đổi, mua bán, kinh doanh hàng hóa Khi sản xuất với quy mô nhỏ, trình độ khoa học công nghệ không cao, phương thức thanh toán chủ yếu là trực tiếp với khối lượng hàng hóa ít, chất lượng hàng hóa không đồng nhất thì chủ yếu là thích hợp với hình thức phân phối qua chợ truyền thống Ngược lại, khi sản xuất tập trung với quy mô lớn, trình độ

tổ chức sản xuất cao thì sẽ tạo điều kiện cho số lượng người phân phối sản phẩm tăng lên Giao dịch giữa người sản xuất và người phân phối chuyên nghiệp theo quy mô lớn với sự đảm bảo chất lượng hàng hóa đồng đều…Sự phát triển của trình độ sản xuất sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, quy mô và cơ cấu lượng hàng hóa phân phối tới mạng lưới chợ ở nước ta

Mạng lưới chợ chịu ảnh hưởng lớn của nguồn cung cấp sản phẩm cũng như tổ chức lãnh thổ sản xuất của các ngành kinh tế Nguồn cung cấp mặt hàng càng lớn và

Trang 32

càng gần nguồn tiêu thụ thì càng có điều kiện hình thành các chợ đầu mối và các trung tâm thương mại lớn Vì vậy không phải ngẫu nhiên các chợ đầu mối thường được hình thành ở các trung tâm kinh tế lớn của đất nước Sự phát triển kinh tế nói chung và các ngành nói riêng đều tạo cơ hội cho mạng lưới chợ phát triển

1.1.6.2 Đặc điểm dân cư và văn hóa

Dân cư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự hình thành, phát triển và phân bố của ngành nội thương Đặc biệt là các loại hình bán lẻ trong đó có loại hình bán lẻ chợ truyền thống với vai trò là lực lượng tiêu dùng Trong đó có một số đặc điểm quan trọng dân cư có ảnh hưởng tới các loại hình bán lẻ là quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, sức mua

Về quy mô dân số, thị trường Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường bán lẻ hấp dẫn trên thế giới Theo tổng cục thống kê, năm 2013 Việt Nam có 89.70 triệu dân, đứng thứ 3 ở Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới Với tốc độ tăng dân số ở mức khá cao so với trung bình thế giới (1,05%/năm) đã tạo cho nước ta có một cơ cấu dân số trẻ, trong đó có khoảng 35% dân số dưới 35 tuổi - đây là độ tuổi có mức tiêu dùng cao nhất trong cơ cấu người tiêu dùng

730

843

1064

1169 1052

642

9.8 15.48

24.8

16.09

1.14 13.71

30

%

Thu nhập bình quân (USD/người)

Tốc độ tăng (%)

Hình 1.1: Mức thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GDP vùng

Đông Bắc giai đoạn 2005 – 2010

(Nguồn: Tổng hợp và xử lý từ số liệu của Tổng cục thống kê 2010)

Trang 33

Mức độ thu nhập và chi tiêu của người dân ngày càng tăng lên được phản ánh qua quy mô và tốc độ tăng trưởng của tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ở nước ta trong những năm gần đây luôn ở mức trên 10% Chính điều này đã làm cơ sở xác định khả năng mua sắm, yêu cầu chất lượng hàng hóa, doanh số bán hàng, thời gian hoạt động của các loại hình bán lẻ

Chất lượng cuộc sống của người dân tăng lên cũng có tác dụng thay đổi thói quen tiêu dùng và xu hướng tiêu dùng của người dân Yêu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao về chất lượng và sự đa dạng về chủng loại hàng hóa đã tạo điều kiện cho nâng cao chất lượng các loại hình bán lẻ hiện đại, văn minh (siêu thị và trung tâm thương mại) Xu hướng phát triển tiêu dùng và điều kiện sống của người dân có tính chất quyết định tới cơ cấu và giá cả hàng hóa trong các cơ sở bán lẻ hàng hóa ở nước ta

Các loại hình bán lẻ nói chung và các loại hình chợ nói riêng muốn phát triển được thì phải hiểu được xu hướng và thói quen tiêu dùng của dân cư Với điểm xuất phát là một nước nông nghiệp, sự trao đổi hàng hóa chủ yếu diễn ra ở các chợ từ qui

mô nhỏ tới lớn và đây là hình thức bán lẻ phổ biến, có mặt ở hầu hết các địa phương Tuy nhiên, khi chất lượng cuộc sống và yêu cầu hàng hóa ngày càng cao cũng đòi hỏi nâng cao chất lượng loại hình bán lẻ này Thêm vào đó sự phát triển kinh tế cùng với

sự hội nhập quốc tế, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa đã ảnh hưởng tới nhận thức, hành vi thái độ của khách hàng trong việc lựa chọn, quyết định chất lượng hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng Hiện nay, tỉ lệ khách hàng đến siêu thị, trung tâm thương mại mua sắm của người tiêu dùng ngày càng cao do chất lượng hàng hóa và phương thức phục vụ ngày càng tốt Tuy nhiên, một số lượng lớn người tiêu dùng vẫn tới chợ mua sắm vì tính chất truyền thống và các giá trị văn hóa của nó

1.1.6.3 Phân bố dân cư và mạng lưới các điểm quần cư

Phân bố dân cư và mạng lưới các điểm quần cư có ảnh hưởng rõ rệt đến phân

bố mạng lưới chợ dưới vai trò là lực lượng tiêu dùng Mức độ tập trung dân cư ảnh hưởng rất lớn tới quy mô, hình thức tổ chức và thời gian hoạt động của các chợ Những nơi có mức độ tập trung dân cư lớn, mật độ dân số cao cũng là một sức hút với sự hình thành mạng lưới chợ, tiêu biểu các đô thị Ở những nơi này các chợ cũng

có điều kiện hoạt động thường xuyên hơn, các mặt hàng phục vụ đa dạng hơn do nhu cầu phong phú của người dân

Trang 34

Ở các thành phố thường có mạng lưới chợ với mật độ cao, buôn bán phức tạp,

đa dạng, hiện đại, quy mô lớn Đáp ứng nhu cầu đông đảo dân cư với mức sống cao, nhu cầu tiêu dùng lớn Bên cạnh đó, nét văn hóa của người tiêu dùng là văn hóa đô thị năng động, cởi mở, lịch thiệp, có yêu cầu đa dạng về chủng loại và chất lượng hàng hóa Đặc điểm văn hóa - xã hội ở thành thị đã ảnh hưởng lớn tới nhận thức, hành vi, thái độ của khách hàng trong việc lựa chọn, quyết định tiêu dùng với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định Người tiêu dùng ở thành thị luôn có nhu cầu cao hơn ở nông thôn về chất lượng hàng hóa và dịch vụ Đặc biệt với sự phát triển kinh tế hội nhập quốc tế ở thành thị ngày càng phổ biến thói quen mua sắm ở siêu thị hay trung tâm thương mại Điều này đã giải thích vì sao đồng bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ trở thành hai vùng có mạng lưới bán lẻ hàng hóa dày đặc nhất cả nước.Vùng nông thôn,

hệ thống chợ thường mang tính chất tự cấp tự túc, hoạt động một cách không thường xuyên và ít chuyên nghiệp trong phục vụ hàng hóa hơn Mỗi loại hình quần cư thường có những loại hình chợ đặc thù phù hợp với tập quán cư trú và sinh hoạt sản xuất và hàng hóa mang tính đặc sản địa phương

1.1.6.4 Khoa học, công nghệ

Yếu tố khoa học - công nghệ là yếu tố mang đầy kịch tính nhất, có ảnh hưởng quan trọng và trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Trong thời đại khoa học công nghệ mới phát sinh sẽ hủy diệt các công nghệ trước đó không nhiều thì ít Đây là yếu tố hủy diệt mang tính sáng tạo của công nghệ mới Việc chế tạo ra các sản phẩm mới, chất lượng cao, giá thành hạ, theo đời sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm và bán hàng Trong doanh nghiệp thương mại, việc cung ứng những sản phẩm mới, tiên tiến, phù hợp với xu thế và chiều hướng tiêu dùng ngày càng là một đòi hỏi cấp thiết

Mặt khác, việc ứng dụng những tiến bộ mới của khoa học - công nghệ trong hoạt động thương mại cũng làm thay đổi nhanh chóng phương thức và cung cách phục vụ khách hàng như giao nhận, thanh toán, mua bán, đặt hàng, kiểm tra, kiểm kê…Xu hướng tác động của nó là càng ngày việc tiêu dùng của người dân càng dễ dàng hơn, một mặt nó nâng cao tính chất chuyên nghiệp, hiện đại trong kinh doanh của hệ thống chợ, mặt khác nó dần biến các chợ thành hình thức kinh doanh mới

Trang 35

1.1.6.5 Đường lối chính sách

Trong kinh doanh hiện đại, các yếu tố chính trị và pháp luật ngày càng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh Nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước hiện nay là nên kinh tế phổ biến trên thế giới Sự khác nhau về điều tiết của Nhà nước chỉ là ở mức độ Trong thực tế không có nền kinh tế thị trường tự do với nghĩa

là không có sự can thiệp của Nhà nước Để đảm bảo sự vận hàng của nền kinh tế nhiều thành phần, hoạt động cạnh tranh, quốc gia nào cũng có hệ thống pháp luật và các chế độ chính sách của Chính phủ để điều tiết thị trường Để thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cũng như mỗi cá thể kinh doanh phải nghiên cứu, phân tích,

dự báo về chính trị và pháp luật, cùng với xu hướng vận động của nó bao gồm:

- Sự ổn định về chính trị, đường lối ngoại giao, chính sách ngoại thương

- Hệ thống pháp luật, chính sách, sự hoàn thiện, minh bạch và hiệu lực thi hành

- Các luật về thuế, về bảo vệ môi trường sinh thái, ô nhiễm

- Các chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển thương mại của Nhà nước, của địa phương

- Sự điều tiết và khuynh hướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội

- Các quy định của Chính phủ về cạnh tranh, chống độc quyền, về việc cho khách hàng vay tiêu dùng, về việc cho thuê, mướn và khuyến mại…

- Các quy định về bảo vệ quyền lợi của công ty, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, bảo vệ công chúng…

Trên thực tế, các yếu tố chính trị và pháp luật ổn định, rõ ràng, minh bạch có thể tạo ra thuận lợi cho kinh doanh Sự thay đổi và sự biến động đều có thể tạo ra những thay đổi liên tục, nhanh chóng, không thể dự báo trước được Ví dụ: Thay đổi

về thuế xuất nhập khẩu có thể tạo ra cơ hội cho ngành kinh doanh này, tạo ra nguy cơ cho ngành kinh doanh khác Chính sách đầu tư có quan hệ chặt chẽ và trực tiếp đối với việc thu hút đầu tư vào khu công nghiệp và sự phát triển các khu động lực hay chính sách tăng cường hiệu quả hoạt động của thị trường nội địa đã tạo điều kiện cho mạng lưới thương nghiệp nội địa nước ta phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây

1.1.6.6 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được các doanh nghiệp quan tâm từ khi bắt đầu hoạt động và trong một quá trình tồn tại và phát triển của mình Những sự biến động của tự nhiên như nắng, mưa, bão, lũ, hạn hán, dịch bệnh…Được người kinh

Trang 36

doanh chú ý theo kinh nghiệm để phòng ngừa vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc bán hàng Ngày nay, việc duy trì môi trường tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững được cả xã hội quan tâm Những vấn đề như ô nhiễm môi trường, bảo vệ cảnh quan, thắng cảnh, thiếu năng lượng, lãng phí tài nguyên thiên nhiên cùng với nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn lực có hạn khiến chính phủ, công chúng và người cung cấp hàng hóa phải thay đổi các quyết định và biện pháp liên quan đến môi trường Những yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh các chủ thể kinh doanh như:

- Sự thiếu hụt các nguồn nguyên liệu thô, vật liệu qua chế biến, nguyên liệu tái sinh và nguyên liệu không thể tái sinh được

- Sự gia tăng chi phí năng lượng

- Ô nhiễm môi trường và chi phí để xử lí ô nhiễm môi trường sinh thái bền vững, bảo vệ cảnh quan, thắng cảnh

- Sự thay đổi vai trò của Nhà nước trong bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên đất nước

+ Chợ hạng I: Là chợ có trên 400 thương nhân Chợ loại này là chợ thường xuyên, đặt ở trung tâm thương mại quan trọng của tỉnh, thành phố hoặc là chợ đầu mối của một chuỗi phân phối một loại hàng cụ thể Chợ loại này phải có diện tích đủ rộng cho tất cả các dịch vụ như đỗ xe, dỡ và chất hàng, kho, trạm cân.…

+ Chợ hạng II: Là chợ có hơn 200 thương nhân Chợ này phải có mái che hoặc một nửa diện tích có mái che và ở vị trí các trung tâm về trao đổi kinh tế Chúng có thể được sử dụng thường xuyên hoặc không thường xuyên Chợ phải có diện tích

Trang 37

thích hợp cho hoạt động và các dịch vụ tối thiểu như bãi đỗ xe, kho và bãi chất hàng,

- Mật độ chợ trung bình theo diện tích tự nhiên: Thường được tính bằng số

chợ phục vụ nhu cầu của người dân

- Mật độ chợ trung bình theo dân số: Thường được tính bằng số chợ/1 nghìn

dân hay số chợ/1 vạn dân Điều đó có nghĩa là trong phạm vi nhất định thì có bao nhiêu chợ phục vụ nhu cầu của 1 nghìn dân hay 1 vạn dân

Ngoài ra, người ta còn dùng mật độ chợ trung bình theo đơn vị hành chính: theo cấp huyện (quận/thành phố trực thuộc tỉnh) được tính bằng số chợ/huyện và theo cấp xã (phường) là số chợ/xã, để đánh giá mức độ tập trung của mạng lưới chợ

1.1.7.3 Bán kính phục vụ trung bình của mạng lưới chợ

Bán kính phục vụ trung bình của chợ là chỉ tiêu dùng để đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu hàng hóa của người dân, nó phản ánh khoảng cách giữa hai chợ và được tính bằng km/chợ Điều đó có nghĩa là cứ khoảng cách bao nhiêu ki-lô-mét lại có một chợ phục vụ nhu cầu mua sắm hàng hóa của người dân

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Khái quát mạng lưới chợ ở Việt Nam

Nhìn chung các chợ ở nước ta được thành lập từ năm 1975 tới năm 1995 Đây

là những chợ có phạm vi hoạt động hẹp, kinh doanh bán lẻ tổng hợp, cơ sở vật chất nghèo nàn Từ năm 1995 đến nay đã có sự hình thành các chợ đầu mối, chợ buôn bán, bán lẻ tổng hợp và cơ sở vật chất cũng được cải thiện

1.2.1.1 Số lượng và quy mô chợ

* Theo quy mô chợ

Trong khoảng 9 năm qua số lượng chợ gần như tăng gấp đôi, chủ yếu tập trung

ở những nơi có độ tăng trưởng cao Số lượng chợ phát triển nhanh về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng tại chỗ của người tiêu dùng Theo số liệu của Bộ Công

Trang 38

Thương tổng số lượng chợ năm 2005 là 7756 chợ thì con số này đến hết năm 2014 là

8583 chợ Như vậy chỉ trong 9 năm, tốc độ tăng số lượng chợ trung bình ở nước ta khoảng 92 chợ/năm Về quy mô chợ cũng có sự thay đổi theo thời gian Số lượng chợ hạng I ở nước ta chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong khi đó chủ yếu là chợ hạng II và hạng III

Quy mô chợ ở nước ta nói chung còn nhỏ Chợ hạng I chỉ chiếm 2,5% và tập trung ở các đô thị lớn Các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa hầu hết chưa có chợ hạng

I và các tiêu chuẩn về quy mô kinh doanh và cơ sở hạ tầng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng của người dân Chợ hạng II chỉ chiếm 10,7% tổng số chợ cả nước Trong đó chủ yếu tập trung ở các vùng đồng bằng, thành phố lớn, các tỉnh thành có nền kinh tế phát triển Các tỉnh tập trung nhiều trung tâm công nghiệp Chợ hạng III

tại các vùng nông thôn miền núi

Bảng 1.1: Tổng số chợ ở nước ta phân theo vùng kinh tế

và theo quy mô chợ năm 2014

nước (%) Hạng I Hạng II Hạng III

(Nguồn: Báo cáo thực trạng phát triển chợ của Sở Công Thương các tỉnh/ thành phố do Bộ

Công Thương công bố năm 2014)

Việc phát triển chợ trong những năm qua đã giúp nhu cầu hàng hóa sản xuất nội địa Các ban quản lí chợ ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chính sách của nhà nước về cung cấp đa dạng hóa chợ Ở hầu hết các tỉnh, ban quản lí

Trang 39

chợ đều chú trọng việc xây dựng và quy hoạch chợ Tuy nhiên cũng chưa có một chính sách thống nhất cho xây dựng chợ Số lượng các chợ mới được xây dựng có tăng lên nhưng vị trí của các chợ vẫn còn chưa khoa học và hầu hết đặt tại các vực kinh tế đang phát triển nhanh, chỉ có rất ít các chợ nhỏ được mở rộng ở các khu vực miền núi kém phát triển

Không chỉ có sự khác biệt lớn về quy mô mà số lượng chợ ở nước ra cũng có

sự phân bố không đồng đều theo vùng Mạng lưới chợ ở nước ta chủ yếu tập trung ở các vùng kinh tế phát triển, có lịch sử khai thác lâu đời đồng thời là vùng có mức độ tập trung dân cư lớn nhất cả nước Vùng Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long là hai vùng có tổng số chợ lớn nhất cả nước Trong khi đó Tây Bắc và Tây Nguyên là vùng cư trú của dân tộc ít người là chủ yếu, kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ tập trung chợ thưa thớt hơn Đặc biệt là hệ thống thương mại còn hạn chế, người dân chủ yếu tự sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho mình nên nhu cầu trao đổi, mua bán hàng hóa không cao Tính đến năm 2014, Tây Bắc mới có 275/8583 chợ của cả nước (chiếm 3,2%); Tây Nguyên 365 chợ (tương ứng với 4,3%) Đồng thời những vùng có số lượng chợ lớn cũng là những vùng chiếm tỉ lệ tương đương với mức trung bình cả nước (khoảng 2,5%) Ngược lại những vùng kinh tế kém phát triển hơn, giao thông đi lại khó khăn sẽ là một cản trở cho việc hình thành mạng lưới chợ ở khu vực này chủ yếu là chợ hạng II và III Trong đó nhiều tỉnh thậm chí không có chợ hạng I như Đăk Nông, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái

* Theo tính chất chuyên môn hóa của chợ

Trong tổng số chợ đang hoạt động ở nước ra thì chợ bán lẻ vẫn đóng vai trò chủ yếu khoảng 75% tổng số chợ, loại hình vừa bán buôn vừa bán lẻ chỉ chiếm khoảng 8 -10%, còn lại là chợ bán buôn với khoảng 1%

Phân theo các vùng kinh tế thì Đồng bằng sông Hồng là vùng có số lượng chợ bán buôn lớn nhất cả nước (chiếm trên 40% tổng số chợ bán buôn của cả nước), tiếp đến là vùng Đông Bắc và Đồng bằng Sông Cửu Long (với khoảng 20-25%) Đồng thời đây cũng là những vùng có số lượng chợ bán lẻ lớn nhất cả nước Ngược lại vùng có số lượng chợ bán buôn thấp nhất cả nước là vùng Tây Bắc và Tây Nguyên với số lượng rất ít (dưới 5 chợ) Hầu hết đây là những vùng kinh tế chậm phát triển, hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa và dịch vụ của người dân chưa nhiều, chủ yếu

Trang 40

là tự cung tự cấp và các hoạt động phân phối hàng hóa theo quy mô lớn vẫn chưa có điều kiện phát triển

1.2.1.2 Mật độ và bán kính phục vụ của chợ

Chợ được phân bố rải rác khắp các tỉnh thành trong cả nước Nhìn chung, ở các khu vực đông dân hoặc đầu mối giao thông thì mật độ chợ cao Trong cả nước, ở những vùng đông dân, có lịch sử phát triển lâu đời hoặc các trung tâm kinh tế phát triển thì mật độ chợ thường cao hơn nhiều so với các vùng khác

Bảng 1.2: Mật độ chợ phân theo các vùng kinh tế năm 2013

Tổng số chợ (chợ) Diện tích (km

2

) Mật độ (chợ/100km 2 )

(Nguồn: Xử lí theo số liệu của Bộ công thương năm 2013)

vi cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng có mật độ chợ lớn nhất cả nước với 8,6

vùng kinh tế phát triển với tốc độ cao, tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa đã tác động mạnh tới mức sống và mức tiêu dùng của người dân đã tạo điều kiện cho mạng lưới chợ ở khu vực này phát triển một cách dày đặc Ngược lại những vùng miền núi

trú của các dân tộc ít người, mật độ dân số thấp, chủ yếu phục vụ theo phương thức tự cung tự cấp

Ngày đăng: 21/03/2017, 11:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3]. Bộ Thương Mại (2005), Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới
Tác giả: Bộ Thương Mại
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
[4]. Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân (2003), Giáo trình kinh tế thương mại, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế thương mại
Tác giả: Đặng Đình Đào, Hoàng Đức Thân
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2003
[5]. Lê Thị Mai (2004), Chợ quê trong quá trình chuyển đổi, Nxb Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chợ quê trong quá trình chuyển đổi
Tác giả: Lê Thị Mai
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
[6]. Vi Văn Minh (2013), Nghiên cứu mạng lưới chợ ở tỉnh Lạng sơn, Luận văn Thạc sĩ, Đại học sƣ phạm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mạng lưới chợ ở tỉnh Lạng sơn
Tác giả: Vi Văn Minh
Năm: 2013
[7]. Nguyễn Thành Nhân (2006), Tổ chức không gian mạng lưới chợ tỉnh Đồng Tháp, Luận văn Thạc sĩ, Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức không gian mạng lưới chợ tỉnh Đồng Tháp
Tác giả: Nguyễn Thành Nhân
Năm: 2006
[8]. Nguyễn Thị Nhiễu (2007), Nghiên cứu các hoạt động bán buôn, bán lẻ của một số nước và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các hoạt động bán buôn, bán lẻ của một số nước và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Nhiễu
Nhà XB: Đề tài khoa học cấp Bộ
Năm: 2007
[10]. Đinh Văn Thành (2007), Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta từ năm 2001 đến nay, Đề tài khoa học cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và định hướng tổ chức các kênh phân phối một số mặt hàng chủ yếu ở nước ta từ năm 2001 đến nay
Tác giả: Đinh Văn Thành
Năm: 2007
[11]. Tổng cục thống kê Việt Nam (2011), Niên giám thống kê Việt Nam 2010, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Việt Nam 2010
Tác giả: Tổng cục thống kê Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2011
[12]. Tổng cục thống kê (2010), Tổng điều tra dân số nhà ở Việt Nam năm 2009, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số nhà ở Việt Nam năm 2009
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2010
[13]. PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Lê Thông (2007), Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế - xã hội đại cương
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Lê Thông
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2007
[14]. PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), GS.TS Lê Thông (2012), Địa lí thương mại và du lịch tập 1, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí thương mại và du lịch tập 1
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, GS.TS Lê Thông
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2012
[15]. PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), GS.TS Lê Thông (2012), Địa lí thương mại và du lịch tập 2, Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí thương mại và du lịch tập 2
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên), GS.TS Lê Thông
Nhà XB: Nxb Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2012
[16]. Nguyễn Văn Tùng (2011), Hoạt động của mạng lưới chợ huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ, Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của mạng lưới chợ huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang từ năm 1945 đến năm 2010
Tác giả: Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: Đại học sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2011
[17]. Viện nghiên cứu Thương mại – Bộ công thương (2007), Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ
Tác giả: Viện nghiên cứu Thương mại – Bộ công thương
Năm: 2007
[20]. Viện nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương (2007), Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ, Đề tài khoa học cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát triển các mô hình kinh doanh chợ
Tác giả: Viện nghiên cứu thương mại – Bộ Công Thương
Năm: 2007
[21]. Các trang web: - Bộ Công Thương: www.moit.gov.vn - Tổng Cục Thống kê: www.gso.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: www.moit.gov.vn
[1]. Bộ Công Thương (2007), Quy hoạch tổng thể mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Khác
[2]. Bộ Công Thương (2014), Báo cáo thực trạng phát triển mạng lưới chợ của Sở Công thương các tỉnh/ thành phố Khác
[9]. Niên giám thống kê của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ƣơng 2005-2014 Khác
[18]. Viện chiến lƣợc phát triển – Bộ kế hoạch và Đầu tƣ (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w