Trần Thị Thanh Tùng TÓM TẮT Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách ứng dụng phân tích mạng để khảo sát 16 điểm du lịch ở thành phố Đà Nẵng có thể được du kh
Trang 1PHÂN TÍCH MẠNG: ỨNG DỤNG NGHIÊN CỨU MẠNG LƯỚI CÁC ĐIỂM
DU LỊCH KHÁCH NỘI ĐỊA CHỦ ĐỘNG TRẢI NGHIỆM TẠI ĐÀ NẴNG
NETWORK ANALYSIS: APPLICATION OF NETWORK RESEARCH IN SURVEYING TRAVEL DESTINATIONS SELECTED BY DOMESTIC TOURISTS IN DA NANG
TS Nguyễn Thị Bích Thủy, PGS TS Nguyễn Phúc Nguyên, CN Trần Thị Thanh Tùng
TÓM TẮT
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng cách ứng dụng phân tích mạng để khảo sát 16 điểm du lịch ở thành phố Đà Nẵng có thể được du khách nội địa lựa chọn trải nghiệm khi đi du lịch chủ động đã tạo nên một mạng lưới với đặc điểm như thế nào Phương pháp này cung cấp kỹ thuật đo lường để có được những thông số biểu thị mức độ liên kết giữa các nút (các điểm du lịch) trong hệ thống mạng lưới 16điểm du lịch cũng như cấu trúc tổng thể mạng lưới của nó Kết quả nghiên cứu sẽ cho biết được mức độ gắn kết của toàn bộ những điểm
du lịch được khảo sát, các điểm du lịch có tính trung tâm, giữ vai trò quan trọng của mạng lưới Từ những kết quả đạt được, nghiên cứu này sẽ đưa ra những hàm ý quản lý về việc hoàn thiện, phát triển những gói sản phẩm, dịch vụ cung cấp phù hợp theo các vị trí trong mạng lưới và các tuyến
du lịch khác nhau cũng như ý tưởng cho việc thiết kế hệ thống công nghệ thông tin phục vụ du khách sử dụng công nghệ di động khi đi du lịch
Từ khóa: trải nghiệm du lịch, mạng lưới điểm đến, du lịch, Đà Nẵng
ABSTRACT
This research exploits the quantitative method by applying network analysis to examine 16 travel spots in Da Nang which are proactively chosen by domestic travelers in order to discover the characteristics of the network created by these places This method provides measurement techniques to collect data which decribes the connection level between 16 travel places and the overall network structure Research results will explore the linkage between these places and the essential points in this network In the light of this, this research will propose managerial solutions
to develop and improve product and service packages suitable for different locations in the network and different tours as well as provide ideas for mobile phone applications
Keywords: Tourism, destination network, Danang, tourism experience
1 Giới thiệu
Một điểm du lịch là được tạo nên từ tài
nguyên du lịch và những dịch vụ kèm theo
nhằm phục vụ khách du lịch trong hành trình
của họ tại một điểm đến Các tổ chức công
chịu trách nhiệm về quản lý cũng như khai
thác điểm đến du lịch và các tổ chức kinh
doanh du lịch trong điểm đến xác định có
nghĩa vụ phải thiết lập cơ sở vật chất và các
hoạt động để đảm bảo sự định vị tốt trong
một thị trường cạnh tranh khắc nghiệtvới
nhiều điểm du lịch hấp dẫn (Beerli &Martin,
2004) Trong các nghiên cứu du lịch, hầu hết
là tập trung vào nghiên cứu hình ảnh và đặc
điểm của điểm đến Lý thuyết mạng lưới gần
đây cũng được ứng dụng để nghiên cứu trong
du lịch, tuy nhiên chủ yếu là tập trung vào nghiên cứu liên kết giữa các bên liên quan
Có rất ít nghiên cứu quan tâm đến các đặc tính mạng lưới trong các tuyến đường du lịch khác nhau giữa các điểm du lịch trong một điểm đến
Du lịch chủ động gần đây đã được quan tâm và phát triển đáng kể do số người mong muốn thực hiện một cuộc trải nghiệm
du lịch độc lập và miễn phí về hướng dẫn ngày càng tăng và sự công nhận của cộng đồng địa phương về việc du lịch chủ động giúp thay đổi cơ cấu kinh tế, giảm tương đối
TS Nguyễn Thị Bích Thủy, PGS TS Nguyễn Phúc Nguyên, CN Trần Thị Thanh Tùng, Trường Đại học Kinh tế - ĐHĐN
Trang 2tỷ trọng ngành nông nghiệp (Hardy, 2003)
Một trong những đặc điểm quan trọng của du
lịch chủ động là khách du lịch có thể tự phát
triển hành trình du lịch của riêng họ.Trên cơ
sở đó, những con đường mà du khách thường
đi theo hình thức chủ động có thể phát triển
thành các tuyến đường du lịch Tiếp theo là
các điểm du lịch trong điểm đến này cần
được định hình với các cơ sở vật chất du lịch
thích hợp theo các đặc tính mạng lưới liên
quan đến vị trí của nó trên các tuyến đường
du lịch khác nhau Sau đó các cơ quan quản
lý du lịch, chính quyền địa phương, các hiệp
hội du lịch có thể hoạch định những điểm du
lịch mà tại đó họ nên xác định vị trí các cơ sở
du lịch mới, chọn loại cơ sở nào nên được đặt
ở đó và loại tuyến đường du lịch nào được
xúc tiến, quảng bá rộng rãi Để có những
thông tin về các hành trình du lịch chủ động
và đưa ra những quyết định quản lý hiệu quả
tại một điểm đến như vậy chúng ta có thể
thực hiện một cuộc điều tra để xác định các
đặc tính của mạng lưới các điểm du khách
chủ động lựa chọn trải nghiệm bằng việc áp
dụng '' phân tích mạng '', là phương pháp
được phát triển nghiên cứu cấu trúc mối quan
hệ xã hội Mặc dù được phát triển chủ yếu
cho các nghiên cứu về xã hội học nhưng các
chỉ số và kỹ thuật phân tích mạng lại rất phù
hợp ứng dụng để nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc của một điểm đến có nhiều điểm du lịch
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật và
các chỉ số của phân tích mạng để thực hiện
nghiên cứu đối với trường hợp thành phố Đà
Nẵng, một điểm đến du lịch có nhiều điểm
thăm quan mà du khách khi đi du lịch chủ
động có thể tự do lựa chọn trải nghiệm để
nghiên cứu Với kết quả có được sẽ giúp đưa
ra các giải pháp phát triển mạng lưới các điểm
du lịch cả về gói sản phẩm, tour du lịch và hệ
thống công nghệ di động hỗ trợ du khách Các
câu hỏi nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mười sáu điểm du lịch tại Đà Nẵng
đã được du khách nội địa chủ động lập kế
hoạch lựa chọn cho hành trình trải nghiệm của họ như thế nào?
- Mạng lưới các điểm du lịch du khách trải nghiệm nói trên có cấu trúc và đặc điểm như thế nào (về mật độ, tính trung tâm, sự phân nhóm)?
2 Du lịch chủ động
Du lịch chủ động được hiểu là những người đi du lịch không thông qua các đại lý trung gian (công ty lữ hành), các công ty vận tải, hoặc các tổ chức khác mà tự chọn chuyến hành trình, thời gian đi…theo ý riêng của mình (Queensland Government, 2012) Loại hình du lịch này cũng được hiểu như là du lịch tự lái (drive travel/automobile travel) Theo Olsen (2002), du lịch chủ động được định nghĩa là các cá nhân ''đi du lịch
xa nhà trong ít nhất một đêm, đi nghỉ dưỡng hoặc thăm bạn bè và người thân bằng một chiếc xe thuê hoặc mượn làm phương tiện vận tải chính''
Du lịch chủ động ngày càng được lựa chọn của nhiều du khách vì những lý do
sau: Thứ nhất, các chuyến du lịch chủ động
sẽ mang đến cho du khách sự thoải mái và
tự do để trải nghiệm bất kỳ hay toàn bộ các hoạt động mà họ muốn trong suốt chuyến
đi Thứ hai, họ sẽ là người tự đưa ra các
quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch
và thực hiện chuyến đi của mình về thời gian, tài chính và cả những dịch vụ kèm
theo trong suốt chuyến hành trình Thứ ba,
sự tồn tại của nhiều điểm du lịch trong hành trình của họ sẽ làm giảm rủi ro; nếu một số điểm du lịch làm họ thất vọng, họ
có thể tiếp tục di chuyển và đạt được một trải nghiệm tích cực hơn tại điểm du lịch
tiếp theo Thứ tư, tính linh động trong việc
tự lựa chọn điểm du lịch sẽ giúp du khách
sử dụng chi phí và thời gian hiệu quả nhất Bansal và Eiselt (2004) cho rằng quyết định trong du lịch của du khách đi theo hình
Trang 3thức chủ động được chia làm hai giai đoạn
Giai đoạn 1 là giai đoạn lập kế hoạch, trong
đó du khách tốn khoảng thời gian đáng kể
trước chuyến đi để quyết định các thông số
cơ bản liên quan đến chuyến đi của họ.Giai
đoạn 2 là giai đoạn trong suốt chuyến đi, với
thời gian này họ hoàn toàn có thể thay đổi
các chi tiết đã được quyết định trong giai
đoạn lập kế hoạch Vì thế, thông tin dành cho
du khách tham khảo trong giai đoạn 2 cũng
không kém phần quan trọng trong việc quyết
định những điểm du lịch trải nghiệm của thị
trường du lịch chủ động
3 Trải nghiệm du lịch
Trải nghiệm của du khách hay trải
nghiệm du lịch là yếu tố đóng góp quan trọng
cho sự thành công của ngành du lịch
(Zakrisson và Zillinger, 2012) Người tiêu
dùng sẵn sàng trả giá cao cho trải nghiệm
chất lượng đáng nhớ vì thế việc hiểu rõ về
bản chất của trải nghiệm du lịch là rất quan
trọng cho việc thiết kế, cung cấp sản phẩm,
đưa đến những trải nghiệm tuyệt vời dành
cho du khách và mang lại sự thành công cho
ngành du lịch
Theo Fesenmaier và Tussyadiah
(2007): Trải nghiệm của khách du lịch trong
một điểm đến là kết quả của sự tương tác
giữa du khách với cơ sở hạ tầng dịch vụ và
môi trường điểm đến.Cutler và Carmichel
(2010) đã thiết lập một mô hình trải nghiệm
du lịch trên cơ sở những yếu tố tác động đến
sự trải nghiệm và kết quả đạt được Trong
mô hình này, các trải nghiệm của du khách là
tất cả những gì xảy ra trong suốt một chuyến
du lịch, bao gồm: vị trí thăm viếng, các hoạt
động tại vị trí đó và trở lại Qua nghiên cứu
này cho thấy rằng: việc tạo nên trải nghiệm
du lịch thú vị cho du khách cần phải có sự
kết hợp của tài nguyên du lịch, không gian tại
điểm du lịch, cơ sở vật chất, sản phẩm dịch
vụ, các hoạt động giải trí…Đối với khách du
lịch chủ động thì họ có thể quyết định tự đưa
ra kế hoạch về hành trình du lịch của mình nhằm tạo nên những trải nghiệm độc đáo theo ý định của mình (Anderson, 2007).Vì thế, để mang đến những trải nghiệm tích cực cho khách thì điều quan trọng là phải biết du khách đến những đâu và khi nào trong chuyến hành trình của mình Khách du lịch di chuyển đến và giữa các địa điểm khác nhau sẽ tạo ra một mạng lưới giúp kết nối những điểm trải nghiệm khác nhau tại các địa điểm đó.Từ đó, các cơ quan chức năng sẽ có cơ sở để cung cấp những yếu tố góp phần tạo nên những trải nghiệm đáng nhớ cho khách
4 Phân tích mạng lưới
Theo Haythornthwaite (1996) phương pháp phân tích mạng lướ i (hoặc phân tích mạng xã hội) là một cách tiếp cận và thiết lập các kỹ thuật được sử dụng để nghiên cứu sự trao đổi các nguồn lực giữa các tác nhân trong mạng lưới như các cá nhân con người, nhóm, tổ chức, thông tin Như đã đề cập ở trên, gần đây phân tích mạng lưới cũng được
mở rộng ứng dụng trong nghiên cứu về trải nghiệm của du khách Nội dung chính của phân tích ma ̣ng lưới thường là nghiên cứu về các mối quan hệ hay hình thức liên kết giữa các tác nhân, điểm nút.Phân tích mạng lưới là một cách tiếp cận mới để mô tả cấu trúc của liên kết giữa các thực thể nhất định (cụ thể là các nút), áp dụng các tiến trình định lượng để tính toán các chỉ số khác nhau nhằm đánh giá các tính năng của toàn bộ mạng lưới và vị trí của các cá nhân trong cấu trúc mạng Do đó phân tích mạng sử dụng một tập hợp các kỹ thuật tích hợp để rút ra những mô hình quan
hệ giữa các đơn vị hoa ̣t đô ̣ng và phân tích cấu trúc của chúng Các phân tích được tiến hành bằng cách thu thập dữ liệu liên quan và
tổ chức nó thành các ma trận để tính toán các thông số khác nhau như mật độ, vai trò trung tâm và sự phân cu ̣m
Như đã nêu, trọng tâm của phân tích mạng lưới là nghiên cứu mô hình của các mối
Trang 4quan hệ Đo lường tính trung tâm là rất cần
thiết khi phân tích mạng lướ i để trả lời các câu
hỏi như: Những nút nào trong mạng là quan
tro ̣ng để đảm bảo rằng một thông điệp hoặc
thông tin có thể lan truyền đến tất cả hoặc hầu
hết các nút trong mạng lướ i? Một điểm du lịch
nào là trung tâm trong một cụm điểm du lịch?
Những điểm du lịch nào là trung tâm trong
một điểm đến du lịch? Những điểm nào được
coi là điểm lân cận hay ở vùng ven? Phân tích
tính trung tâm sẽ tính toán mô ̣t số thông số
chính bao gồm: kích thước (size), mâ ̣t đô ̣
(density), tính trung tâm (centrality), và sự
phân cu ̣m (clustering) cho thấy mức đô ̣ liên
kết giữa các nút trong ma ̣ng lưới (Rowley,
1997; Burt, 1980; Galaskiewicz, 1979; Scott,
2000; Krackhardt, 1990)
4.1 Kích thước mạng (Network Size)
Lý thuyết mạng lưới xác định kích
thước của một mạng lưới là bao gồm nhiều
tác nhân khác nhau (Burt 1980) Kích thước
của một mạng có thể xem xét là số lươ ̣ng các
nút hay tác nhân trong mô ̣t ma ̣ng lưới Nó
cũng có thể được xác đi ̣nh (nhưng ít phổ biến
hơn) bởi số cạnh của ma ̣ng lưới, thường là
dao động từ một đến số lươ ̣ng tối đa các ca ̣nh
có thể có trong một đồ thị hoàn chỉnh (từ 1
đến n)
4.2 Mật độ (Density - Cc)
Là một đặc tính của tổng thể mạng
lưới để đo lường mức độ mà tất cả các tác
nhân trong mạng được kết nối Nó mô tả mức
độ gắn kết toàn thể các tác nhân trong mạng
Mật độ được tính bằng tỷ lệ của số
lượng các mối quan hệ thực tế của mô ̣t tác
nhân trên tổng số các mối quan hệ có thể có
nếu mỗi tác nhân này được gắn với toàn bô ̣
các thành viên khác (số liên kết tối đa).Một
hệ thống hoàn chỉnh là một hệ thống trong đó
tất cả các mối quan hệ có thể tồn tại (Rowley
1997) và mật độ của mạng lưới là bằng 1 (De
Benedictis và Tajoli, 2008).Ngoài ra, mật độ
có thể phân biệt giữa mật độ bên trong
(in-closeness) và mật độ bên ngoài (out-closeness) tương ứng với các kết nối bên trong và bên ngoài Khái niệm về mật độ phản ánh ý tưởng rằng một nút là trung tâm, nếu nó có thể nhanh chóng tương tác với tất
cả các các nút khác
Lý thuyết mạng cho rằng mật độ của một mạng lưới cung cấp một ý tưởng về sự gần gũi của các mối quan hệ và tầm quan trọng của nó đối với những người tham gia mạng lưới Hệ quả của cấu trúc mạng lưới dày đặc sẽ đem la ̣i sự phổ biến hơn về các giá trị, chuẩn mực và chia sẻ thông tin.Khi các mạng trở nên dày đặc hơn (tiến đến gần 1), các thông tin liên lạc (trao đổi thông tin) qua mạng trở nên thông suốt và hiệu quả hơn Ngoài ra, khi mật độ mạng tăng lên, tiềm năng cho sự liên minh/hợp tác hình thành cũng tăng lên, đảm bảo cho việc đa ̣t đươ ̣c những kỳ vọng chung về trao đổi các nguồn lực phu ̣c vu ̣ cho các hoa ̣t đô ̣ng của các tổ chức
4.3 Ti ́nh trung tâm (Centrality):
Tính trung tâm của mạng lưới đề cập đến vị trí tương đối của một tác nhân trong mạng lưới so với những người khác Tính trung tâm ta ̣o điều kiê ̣n cho mô ̣t tác nhân có
lơ ̣i thế thu hút các nguồn lực trong mối liên kết với các tác nhân khác (Freeman 1979)
Nó đo lường mức độ giao tiếp của một tác nhân trong mạng lướ i (John & Cole 1998) Tính trung tâm đề cập đến nguồn lực thu được thông qua cấu trúc của mạng lưới (Rowley 1997; Barley et al 1992)
Tính trung tâm được thể hiê ̣n qua các thông số chính sau:
- Mức độ trung tâm (degree centrality - Cd): là tổng số lượng các liên kết thực tế của đỉnh đó với các đỉnh khác trong ma ̣ng lưới
- Trong một đồ thi ̣ có hướng ta thường định nghĩa để phân loa ̣i số lươ ̣ng liên kết của
mô ̣t đỉnh về bâ ̣c trung tâm, cụ thể là in-degree và out-in-degree Theo đó, in-in-degree là
Trang 5tổng số lượng các liên kết xuất phát từ các
đỉnh khác tới đỉnh đang xem xét (tổng các
liên kết đi vào mô ̣t đỉnh) và out-degree là số
lượng các liên kết trực tiếp mà hướng từ đỉnh
đó đến những đỉnh khác trong ma ̣ng lưới
(tổng các liên kết đi ra từ mô ̣t đỉnh) Nếu tại
một đỉnh có số liên kết đi vào lớn hơn số liên
kết đi ra thì điểm đó có thể được kết luận là
điểm cuối cùng của mạng lưới và ngược lại
thì có thể được kết luận là điểm bắt đầu của
mạng lưới.Ngoài ra khi số lượng 2 liên kết tại
một đỉnh tương đương thì điểm này là điểm
trung chuyển của mạng lưới
Hình 1: Các liên kết đi vào và đi ra của một đỉnh
- Khoảng cách trung tâm (Closeness
centrality-Cb): Thể hiê ̣n khoảng cách giữa
mô ̣t điểm nút với các nút khác trong ma ̣ng
lưới Các biện pháp đo lường tập trung vào
khoảng cách giữa một nút với tất cả các nút
khác trong tập hợp các nút (Wasserman và
Faust, 1994) Nó là nghịch đảo của tổng các
đô ̣ dài đường đi ngắn nhất từ mô ̣t đỉnh i đang
xem xét tới các đỉnh còn la ̣i (n-1) trong ma ̣ng
lưới
Đây là một phép đo trên tổng thể toàn
bô ̣ ma ̣ng lưới để tính toán khoảng cách gần
gũi với tất cả các nút còn la ̣i trong ma ̣ng lưới
(Degenne &Force 1999), có ý nghĩa đo lường
tốc đô ̣ lan truyền thông tin từ mô ̣t đỉnh đến
những nút khác bằng viê ̣c sử du ̣ng các đường
đi ngắn nhất trong ma ̣ng lưới (Noh và
Rieger, 2004) Một đỉnh là trung tâm trên
tổng thể ma ̣ng lưới nếu khoảng cách của nó
đến các đỉnh khác là nhỏ hay khoảng cách
giữa nút i và các nút khác là ngắn hơn Các
nút có vai trò trung tâm cao có tầm quan
tro ̣ng về pha ̣m vi và mức đô ̣ ảnh hưởng trong viê ̣c khuếch tán thông tin trong ma ̣ng lưới
Hình 2: Khoảng cách trung tâm
- Vị trí trung tâm (Between centrality -Cb): Đo lường mức độ trung tâm mà một nút nằm giữa các nút khác trong tập hợp các nút của ma ̣ng lưới (Scott, 2000) Nó định lượng
số lần một nút (i) hoạt động như một cầu nối dọc theo đường đi ngắn nhất kết nối giữa hai nút khác trong ma ̣ng lưới Hay nói cách khác là xác định tầm quan trọng tương đối của một nút bằng cách đo lưu lượng các liên kết chảy qua nút đó đến các nút khác trong mạng
Vị trí trung tâm củ a mô ̣t đỉnh là cao khi có một xác suất xảy ra lớ n về sự lựa chọn ngẫu nhiên con đường ngắn nhất giữa hai đỉnh bất kỳ, do đó nó ta ̣o ra sự kiểm soát nguồn thông tin liên la ̣c giữa các nhân tố khác trong ma ̣ng lưới (Linton Freeman) Trong thực tế, các tác nhân bên ngoài mạng lưới có thể giao tiếp hoặc trao đổi nguồn lực với các bộ phận khác của hệ thống chỉ bằng cách đi qua các tổ chức đầu mối hay các đỉnh trung tâm, trong đó các tổ chức đầu mối có thể kiểm soát dòng chảy tất cả các tài nguyên trong đó
Hình 3 Between centrality của mạng
Trang 6Tác nhân có vị trí trung tâm cao trong
mạng là những người có vai trò quan trọng
trong việc đưa ra quyết định và thẩm định và
là những tác nhân chủ chốt để hiểu dòng lưu
thông của các ý tưởng, thông tin và các quyết
định hoa ̣t động chung của mạng (John &
Cole 1998) Các lý thuyết mạng cũng cho
thấy rằng tác nhân là trung tâm hơn trong
một mạng có nhiều ảnh hưởng hơn (liên quan
đến tính hợp pháp tăng) so với những tác
nhân ở vùng ngoại vi của ma ̣ng lưới
Scott (2000) xác định các tác nhân có
tính trung tâm cao có thể được coi là những
tác nhân “trung gian” ('brokers') hoă ̣c “người
gác cổng” ('gatekeepers') có khả năng để
kiểm soát người khác Những tác nhân 'trung
gian' hoặc "người gác cổng" nghĩa là, họ là
người tạo điều kiện để giúp liên kết với các
tác nhân khác ít trung tâm hơn Tính trung
tâm xem xét mức độ mà một tổ chứ c hoa ̣t
đô ̣ng có quyền kiểm soát khả năng truy cập
của mô ̣t nút đến các nút khác trong mạng
lưới (Borgatti và Everett 2006) Tính trung
tâm cũng đề cập đến sức mạnh một điểm du
lịch có được thông qua cấu trúc mạng lưới
của một điểm đến (Rowley,1997)
Đôi khi có sự tồn tại của một "lỗ hổng
cấu trúc" (structural hole) trong mạng lưới
Nó cho phép các tác nhân hoạt động như một
nhà trung gian Burt (1992) mô tả một lỗ
hỗng cấu trúc như là sự vắng mặt của một
liên kết giữa hai tác nhân Khi hai tác nhân
không trực tiếp liên kết và phụ thuộc vào một
tác nhân thứ ba để có được liên kết, các tác
nhân thứ ba đóng vai trò như một nhà trung
gian
Hình 4: Between centrality và structural hole của
mạng lưới
Trong hình trên, điểm M, G nằm giữa rất nhiều că ̣p điểm trong đồ thi ̣ Do đó, G có thể được hiểu như là một trung gian thiết lâ ̣p liên kết giữa đỉnh A tới B, còn điểm M đóng vai trò tương tự cho hai điểm B và C
5 Ứng dụng cho điểm đến du lịch Đà Nẵng
5.1 Các điểm du lịch du khách có thể trải nghiệm ở Đà Nẵng
Theo kết quả phân tích dữ liệu thứ cấp
và sử dụng phương pháp chuyên gia chúng tôi đã xác định được16 điểm du lịch chính ở điểm đến du lịch Đà Nẵng đang được phát triển nhằm thu hút du khách và do đó du khách có thể trải nghiệm trong hành trình du lịch của mình Mười sáu điểm du lịch tại Đà Nẵng được xác định và ký hiệu như sau:
Điểm tham quan Ký hiệu
Ngũ Hành Sơn/ Làng đá Non Nước P1
Công viên Châu Á/Khu giải trí
Bảo tàng Đà Nẵng/ Thành Điện Hải P9
Siêu thị Big C/ Chợ Cồn P11
Khu du lịch Ngầm đôi/ Suối Hoa P14 Khu du lịch suối khoáng Phước
Trang 75.2 Khảo sát nghiên cứu về mạng lưới các
điểm du lịch du khách đi chủ động trải
nghiệm tại Đà Nẵng
Để mô tả cấu trúc và xác định đặc
điểm mạng lưới các điểm du lịch theo hành
trình trải nghiệm của du khách khi đi du lịch
chủ động tại Đà Nẵng, nghiên cứu đã thực
hiện khảo sát bằng bảng câu hỏi Mỗi du
khách khảo sát được đề nghị nhớ lại chuyến
trải nghiệmvừa kết thúc của họ khi du lịch ở
Đà Nẵng và ghi lại lịch trình của họ trong 16
điểm du lịch tại đây Tổng số 250 du khách
đi theo hình thức chủ động đã được khảo sát
từ ngày 15-4 đến hết ngày 15-5- 2016 tại nhà
xe, ga tàu, sân bay hoặc tại khách sạn (khách
đi bằng phương tiện cá nhân)… nơi khách rời
khỏi Đà Nẵng sau khi viếng thăm Sau khi
loại trừ 50 phiếu trả lời không đáp ứng yêu
cầu (trả lời thiếu câu hỏi, chỉ có 1 điểm du
lịch trong hành trình của mình, không đánh
theo thứ tự các điểm trong hành trình…), số
phiếu trả lời hợp lệ là 200 phiếu
5.3 Kết quả
Để xử lý dữ liệu của phân tích mạng
chúng tôi đã sử dụng phần mềm Ucinet
6.614 Kết quả về chỉ số mật độ và số điểm
du lịch trung bình có được như bảng 1 sau
đây:
Bảng 1: Số điểm du lịch trung bình/ khách và mật
độ của mạng lưới 16 điểm du lịch tại Đà Nẵng
Thông số Mạng lưới 16 điểm
du lịch
Số điểm du lịch trung
Qua kết quả bảng 1 cho thấy:
- Số lượng điểm đến trung bình tính
trên mỗi người là 5.25 là tương đối thấp
- Mạng lưới 16 điểm du lịch của điểm
đến Đà Nẵng có thông số mật độ (density) là
0.328 Con số này phản ánh mức độ 16 điểm
du lịch được kết nối tổng thể trong mạng lưới
là yếu Qua đó cho thấy các điểm du lịch trong thành phố chưa thật sự liên kết, gắn bó trong quá trình cung cấp dịch vụ cho khách
du lịch Hình 1 cho thấy trực quan hình dạng cấu trúc mạng lưới các điểm du lịch lựa chọn trên tuyến đường du khách đi du lịch chủ động ở Đà Nẵng Nó thể hiện một tập hợp 16 nút đại diện cho 16 điểm du lịch ở Đà Nẵng
và một tập hợp các dây cung xác định phương hướng giữa các cặp nút đại diện cho các tuyến đường đến các điểm du lịch Với hình ảnh trực quan chúng ta dễ dàng nhận ra các liên kết đi vào, đi ra của các nút, tính trung tâm, tính phân cụm… của các điểm du lịch
Hình 5: Sơ đồ cấu trúc mạng lưới của 16 điểm du
lịch ở Đà Nẵng du khách nội địa trải nghiệm khi
đi du lịch chủ động
Các chỉ số phân tích mạng lưới nói trên của khách du lịch chủ động tại Đà Nẵng được tính bằng phần mềm phân tích mạng lưới được sử dụng rộng rãi nhất, là UCINET 6.614 Kết quả về các thông số của mạng lưới 16 điểm du lịch ở Đà Nẵng được thể hiện ở bảng 2
Trang 8Bảng 2: Các thông số của mạng lưới 16 điểm du lịch tại điểm đến Đà Nẵng
TT Điểm
Dl
Degree centrality Closeness centrality Betweennes
centrality Effective
size Efficiency Constraint
In – degree
Out- degree
In – closeness Out - closeness
5 P5 164 142 0.833 0.938 15.444 10.015 0.668 0.36
16 P16 124 144 0.833 0.833 12.299 8.63 0.664 0.384
17 Sum (S) 1008 1008 11.353 11.491 105 110.762 9.925 7.562
18 Min 8 10 0.0517 0.0484 0.125 4.106 0.534 0.36
19 Max 164 144 0.0833 0.0938 15.444 10.015 0.684 0.688
Từ kết quả mức độ trung tâm (degree
centrality) ở bảng 2 cho thấy Đà Nẵng có 4
điểm du lịch trung tâm: điểm du lịch Ngũ
Hành Sơn/ Làng đá Non Nước (P1); cầu rồng
(P5); bãi biển Mỹ Khê (P6) và Bà Nà núi
chúa (P16) Các điểm du lịch này có các
thông số về liên kết đi vào và đi ra rất cao
Do đó, những điểm du lịch này được xem là
tiêu biểu của Đà Nẵng mang những ý nghĩa
và có giá trị khai thác khác nhau và có một
vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
du lịch của thành phố Đà Nẵng Các điểm du
lịch này rất dễ tiếp cận với những điểm du
lịch khác và những điểm du lịch khác nên để
phát triển tốt du lịch ở đây thì việc liên kết
với 4 điểm du lịch kể trên là rất cần thiết
Bên cạnh đó, điểm du lịch Làng Cổ Túy
Loan (P12), Đình làng Đại Nam (P13) và
Làng chiếu Cẩm Nê (P2) có tính trung tâm
rất thấp, điều này chứng tỏ 2 điểm du lịch
này rất ít khách du lịch đến đây cũng như từ
đây đi các điểm khác Trong lộ trình của
khách du lịch đến Đà Nẵng thì dường như không có 2 điểm du lịch này
Ngoài ra, căn cứ vào việc so sánh thông số tổng liên kết đi vào và liên kết đi ra
có thể chúng ta có thể xác định những điểm
du lịch nào đó có thể đó là điểm bắt đầu, điểm kết thúc hay là điểm trung chuyển trong hành trình du lịch của du khách hay không Qua bảng 3, có thể thấy tại điểm đến
du lịch Đà Nẵng thì điểm bắt đầu và điểm kết thúc không thể hiện một cách rõ ràng Tuy nhiên, các điểm như: (P16), (P10), (P14) và (P2) là những điểm bắt đầu hoặc là những điểm mà tại đó cuộc hành trình của khách du lịch chủ động vẫn còn tiếp tục đến những điểm khác còn lại trong mạng lưới Bên cạnh
đó, các điểm như: (P1), (P5), (P6) là những điểm kết thúc trong hành trình du lịch trải nghiệm tại Đà Nẵng Ngoài ra các điểm như: (P7), (P8), (P13), (P3), (P4), (P12), (P15) chỉ
là điểm dừng chân (trung chuyển) của du khách
Trang 9Bảng 3: So sánh số liên kết đi vào và đi ra tại các
điểm du lịch tại Đà Nẵng
Điểm
Dl
(2)
Degree centrality
Đặc điểm (3)-(4)
In –
degree
(3)
Out- degree
(4)
Cũng từ kết quả của bảng 2 cho thấy
Đà Nẵng tính vị trí trung tâm (betweenness
centrality) của các điểm du lịch không tập
trung cao tại một vài điểm như các địa
phương khác Các điểm (P1), (P5), (P8) có vị
trí trung tâm cao thể hiện tính trung gian cho
lộ trình trải nghiệm của du khách Thông tin
trong mạng lưới muốn kết nối và truyền tải
đến những điểm du lịch khác đều thông qua
những điểm du lịch này Bên cạnh đó, các
điểm (P3), (P9), (P16) thể hiện tính vị trí
trung tâm tương đối cao nên chúng cũng dễ
dàng tương tác với các điểm khác trong
mạng.Trong những điểm có vị trí trung tâm
cao thì các điểm như (P3) (P8), (P9) có số
liên kết đi ra và số liên kết đi vào không cao
nhưng nó lại là những điểm du lịch dễ dàng
tương tác với tất cả các điểm khác trong
mạng lưới Ngoài những điểm du lịch có vị
trí trung tâm cao thì các điểm (P2), (P4),
(P12), (P13),(P7) có chỉ số vị trí trung tâm rất
thấp cho thấy những điểm du lịch này tương
tác với toàn bộ mạng lưới rất yếu và thông
tin truyền tải trong mạng lưới rất khó đến được với các điểm này
Phân tích sâu hơn chỉ số này ta xét đến 2 chỉ số phụ là in- closeness và out- closeness.Với các điểm du lịch (P1), (P5), (P8) có vị trí trung tâm cao và đều có chỉ số out- closeness cao hơn in- closeness chứng tỏ khả năng liên kết với những điểm du lịch bên ngoài mạng lưới của các điểm này tương đối cao, vì thế trong tương lai nó có tiềm năng lớn trong việc quảng bá du lịch của mạng lưới với những điểm nằm ngoài
Ngoài các chỉ số về vị trí trung tâm thì các chỉ số khác đo lường lỗ hổng cấu trúc cũng cho thấy rằng (P5), (P8), (P9),(P16) giữ
vị trí quan trọng trong mạng lưới, các điểm này có thể kết nối với các điểm đến khác và làm trung gian của dòng dịch chuyển du khách Những điểm du lịch này có vị trí không thể thay thế và tại đây có thể gây ra hiện tượng thắt nút cổ chai đối với dòng dịch chuyển của khách du lịch từ các điểm khác qua và đến những điểm khác nữa
Với kết quả phân tích được, đặc tính các điểm du lịch tại Đà Nẵng có thể xác định như bảng sau:
Bảng 4: Kết luận đặc điểm của 16 điểm du lịch
tại Đà Nẵng trong mạng lưới
Điểm
P1 Điểm kết thúc
Điểm trung tâm quan trọng P2
Điểm bắt đầu Điểm phụ thuộc Điểm ngoại vi P3 Điểm trung tâm
Điểm trung chuyển P4 Điểm phụ thuộc
Điểm trung chuyển P5
Điểm trung tâm quan trọng Điểm kết thúc
Điểm trung gian quan trọng P6
Điểm trung tâm quan trọng Điểm kết thúc
Điểm trung gian quan trọng
Trang 10P7 Điểm trung tâm
Điểm phụ thuộc
P8 Điểm phụ thuộc
Điểm trung chuyển
P9 Điểm phụ thuộc
Điểm trung gian quan trọng
P10 Điểm bắt đầu
P11 Điểm kết thúc
P12 Điểm ngoại vi
P13 Điểm ngoại vi
P14 Điểm bắt đầu
P15 Điểm phu thuộc
P16
Điểm bắt đầu
Điểm trung tâm quan trọng
Điểm trung gian quan trọng
6 Kết luận và hàm ý chính sách
Khi du lịch chủ động ở thế giới và Việt
Nam ngày càng trở nên phổ biến và sự phát
triển du lịch được xem là một chiến lược
kinh tế mũi nhọn của Đà Nẵng thì việc tìm
hiểu những đặc điểm của mạng lưới về các
điểm du lịch tại Đà Nẵng là quan trọng cho
việc định hình việc quy hoạch nhằm xác định
tổng quan du lịch của thành phố, cơ sở vật
chất phục vụ du lịch, loại dịch vụ, và các
tuyến đường du lịch… Nghiên cứu về mạng
lưới các điểm du lịch mà du khách nội địa
lựa chọn trải nghiệm tại điểm đến thành phố
Đà Nẵng sẽ minh họa một trường hợp cụ thể
minh chứng cho việc nghiên cứu mạng lưới
các điểm du lịch là quan trọng bằng cuộc
điều tra định tính với sự giúp đỡ của các
phương pháp phân tích mạng lưới Nghiên
cứu này cho thấy các thông số và kỹ thuật
phân tích mạng lưới thích hợp để điều tra về
các đặc trưng cấu trúc của mạng lưới điểm
đến, thử nghiệm các chỉ số và kỹ thuật bằng
cách kiểm tra một mạng lưới của 16 điểm du
lịch ở Đà Nẵng Từ nghiên cứu này, có thể
đưa ra những hàm ý cho quản lý điểm đến tại
Đà Nẵng như sau:
- Phát triển các điểm du lịch
Các điểm du lịch như: P2, P12, P13 là những điểm liên kết rất yếu trong mạng lưới
và được xem là những điểm ngoại vi Từ hình 5 thì điểm P2 có các liên kết đi vào từ P3, P9, P1 và P5; điểm P12 chỉ có liên kết đi vào từ P9; điểm P13 chỉ có liên kết đi vào từ P16 Vậy để phát triển 3 điểm du lịch này trong hành trình trải nghiệm của du khách thì
từ các điểm P1, P3, P5, P9, P16 phải cung cấp những thông tin liên quan quảng bá đến 3 điểm này để khách có thể dễ dàng có được thông tin và lựa chọn chúng cho điểm trải nghiệm tiếp theo Đặc biệt, tại P1, P5 và P16
là những điểm trung tâm quan trọng thì cần phải chú trọng cung cấp thông tin bằng cách phát tờ rơi, đặt bảng giới thiệu hoặc đặt mô hình…vì những điểm này lượng khách đến rất đông Bên cạnh việc thông tin, quảng bá tại các điểm như trên thì chính những điểm
du lịch như P2, p12, P13 cần có nổ lực phát triển cho xứng tầm: Đối với P2 thì cần tổ chức làng nghề tập trung, bố trí không gian, đào tạo nghệ nhân, đầu tư cơ sở vật chất …
để tiến hành phục vụ khách viếng thăm làng nghề; Đối với P12 cần trùng tu, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa riêng có của làng, phát động người dân cũng chung tay tái hiện lại nét đẹp văn hóa của làng bằng cách mô hình hóa hình ảnh cuộc sống làng quê với cây đa bến nước con đò, đầu tư phát triển nghề bánh tráng truyền thống nơi đây trở thành làng nghề, nghiên cứu phát triển món bánh tráng,
mỳ quảng nơi đây trở thành nét riêng có của làng…; Đối với P13 nên bảo tồn, gìn giữ nét độc đáo trong kiến trúc đình làng để thu hút khách có đam mê khám phá về kiến trúc Tại những điểm du trung tâm trong hành trình trải nghiệm của du khách P1, P5, P6, P16 thì cần phải đầu tư mở rộng, tập trung các điều kiện để phục vụ khách với số lượng lớn, hạn chế tình trạng thắt nút cổ chai cho dòng khách trải nghiệm
- Phát triển các sản phẩm, dịch vụ phục vụ du lịch thích hợp