TÓM TẮT LUẬN ÁNNghiên cứu này nhằm mục đích thu thập, phân tích những tácđộng của các nhân tố xã hội, nhân khẩu học của người vay vốnTDVM để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó
Trang 3TÓM TẮT LUẬN ÁN
Nghiên cứu này nhằm mục đích thu thập, phân tích những tácđộng của các nhân tố xã hội, nhân khẩu học của người vay vốnTDVM để đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến rủi
ro cho vay TDVM của các tổ chức có hoạt động cho vay TDVMtại khu vực ĐBSCL Đồng thời cũng xem xét đến sở thích rủi ro,vốn xã hội và các yếu tố khác của người vay vốn TDVM để đánhgiá mức độ ảnh hưởng của nó đến rủi ro cho vay TDVM của các tổchức TCVM
Trong nghiên cứu này, thông qua các thí nghiệm kinh tế vớicác chủ thể tham gia là những người vay vốn TDVM tại 6 tỉnhthuộc khu vực ĐBSCL nhằm xem xét tác động của sở thích rủi ro,vốn xã hội tới rủi ro cho vay TDVM Các kết quả nghiên cứu chothấy sở thích rủi ro và vốn xã hội đều có tác động đến rủi ro chovay TDVM Cụ thể, những người tìm kiếm rủi ro càng cao càng ít
có khả năng bị nợ xấu, trong khi những người càng e ngại rủi ro sẽ
có khả năng bị nợ xấu lớn hơn Đối với vốn xã hội thì tính tươngtrợ trong cộng đồng và lòng tin có tác động tích cực đến rủi ro chovay TDVM Đây cũng là những cơ sở quan trọng cho tác giả cónhững hàm ý về chính sách phù hợp có liên quan trực tiếp đến việccho vay TDVM của các tổ chức có hoạt động cho vay TDVM
Từ khóa: Tài chính vi mô, sở thích rủi ro, vốn xã hội, tìm kiếm rủi
ro, e ngại rủi ro
Chương 1 : GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
1.1 Đặt vấn đề.
TCVM đã hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới và đãchứng minh được vai trò, tác động của nó đối với phát triển kinh tếnói chung và cho công cuộc xóa đói giảm nghèo nói riêng TCVM
Trang 4tại Việt Nam mới chỉ phát triển gần đây và hoạt động của các tổchức TCVM chính thức còn rất hạn chế Thống kê của NHNN ViệtNam đến cuối năm 2018 có 16 công ty tài chính với 6 công ty làcông ty con của một số ngân hàng Hiện nay, sự ra đời của cáccông ty tài chính đang bùng nổ tại Việt Nam nhằm khai thác mảngcho vay tiêu dùng hiện còn tiềm năng rất lớn và chưa đáp ứng đượctheo nhu cầu của thị trường Theo báo cáo của NHNN Việt Nam1,tính đến cuối năm 2018 tổng dư nợ toàn nền kinh tế khoảng 7,2triệu tỷ đồng, trong đó tổng dư nợ tín dụng phi chính thức chiếmkhoảng hơn 20% Tuy nhiên, do nguồn cung tín dụng chính thứckhông đáp ứng được nhu cầu của người dân, đặc biệt là những mónvay nhỏ, lẻ hoặc không có tài sản đảm bảo dẫn đến tình trạng bùngphát "tín dụng đen" tại khắp nơi, làm ảnh hưởng xấu đến tình hìnhkinh tế-xã hội tại nhiều địa phương Do vậy, nghiên cứu vấn đề rủi
ro, tác động của rủi ro trong TDVM đối với hoạt động TCVM là
vấn đề cấp thiết và quan trọng đối với Việt Nam hiện nay
1.1.1 Sở thích rủi ro và rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM.
Thuật ngữ TDVM2 trong luận án này được hiểu là những món
vay nhỏ, lẻ (tối đa 100 triệu đồng) và TDVM là một trong nhữngdịch vụ của các tổ chức TCVM Trong luận án này có thể hiểuTDVM là một sản phẩm cho vay trong hoạt động TD của cácTCTD và là một dịch vụ chính của các tổ chức TCVM tại ViệtNam Tversky và Kahnerman đã đưa ra lý thuyết triển vọng, vớiđịnh nghĩa hàm giá trị của lý thuyết triển vọng xác định bởi điểmlời và điểm lỗ so với điểm tham chiếu Nghiên cứu của Wen vàcộng sự (2014) kết luận rằng sở thích rủi ro có liên quan đến thái
độ đối với rủi ro Như vậy, có thể thấy rằng sở thích rủi ro là việc
1 https://www.sbv.gov.vn/
2 https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/hdk/tcvm/.
Trang 5hướng tới các quyết định rủi ro của các cá nhân, các nhà đầu tưnhằm mục đích được mức sinh lợi cao nhất Handa (1971) cho rằng
sở thích rủi ro là việc lựa chọn giữa một tài sản có rủi ro cao so vớitài sản có rủi ro thấp để có thể nhận được lợi nhuận cao hơn.Charness và cộng sự (2013), Eckel, Dave và cộng sự (2010) đúckết rằng kinh tế học có thể xem xét, tập trung vào các phương phápgợi mở khi phân tích điều tra sở thích rủi ro và sở thích được gợi ra
có thể bị tác động và ảnh hưởng bởi thước đo được sử dụng TheoStiglitz và Weiss (1981) thì người vay vốn có động cơ và khuynhhướng đầu tư nhiều vào các dự án có nhiều rủi ro Có nghĩa làngười vay vốn có nợ xấu sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao Thínghiệm của Zeballos và cộng sự (2014) cho thấy những người vaykhông có nợ xấu tìm kiếm rủi ro nhiều hơn người vay có nợ xấu.Giả thuyết của Stiglitz và Weiss (1981): Những người đầu tư vàonhững dự án kém rủi ro hơn là những người có nợ xấu Ngườinghèo không trả được nợ vay của họ bởi vì họ không dám chấpnhận rủi ro nên hiệu quả thấp (Zeballos và cộng sự, 2014)
Tại Việt Nam, Vieider và cộng sự (2013) kết luận rằng nôngdân trung lập với rủi ro ở mức trung bình (average risk neutral) vàthu nhập có tương quan trái chiều với tính né tránh rủi ro Cácnghiên cứu của Nguyen và cộng sự (2016), Tanaka và cộng sự(2010) tại các làng quê miền Bắc và miền Nam nghiên cứu tácđộng của thái độ rủi ro và sở thích rủi ro về thời gian đối với sự tintưởng và sự tin cậy, e ngại rủi ro và tính kiên nhẫn Vậy thì nhữngyếu tố, đặc điểm hành vi nào của người vay vốn vi mô có tác độngđến rủi ro TDVM? Liệu có sự khác biệt về sở thích rủi ro tronghoạt động TDVM giữa khu vực thành thị và nông thôn? Đây làkhoảng trống và vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu
1.1.2 Vốn xã hội và rủi ro TDVM.
Trang 6Cho đến nay, vốn xã hội đã được thừa nhận như là một loạivốn và do vậy cũng ảnh hưởng lớn đến rủi ro TDVM Sự tin cậy vàniềm tin là hai vấn đề quan trọng nằm bên trong vốn xã hội cánhân Vốn xã hội có tác động rất lớn đến nhiều lãnh vực trong mộtnền kinh tế cũng như trong xã hội Vậy đối với vấn đề rủi ro trongTDVM thì nó thể hiện ra sao và đo lường nó như thế nào? Đâycũng là vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu trong luận án này.
1.2 Vấn đề nghiên cứu.
Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa có một nghiêncứu toàn diện và có hệ thống các yếu tố tác động về hành vi, sởthích rủi ro, vốn xã hội của người vay vốn đến rủi ro TDVM cũngnhư đối với sự phát triển hoạt động TCVM tại Việt Nam Rủi ro làphổ biến trong việc ra quyết định và sở thích rủi ro được đo lườngbởi mức độ chấp nhận rủi ro của một cá nhân Do vậy tôi quyết
định chọn đề tài: “Sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro cho vay
TDVM – Nghiên cứu thí nghiệm tại vùng đồng bằng sông Cửu Long” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu này là nhằm mục đích tìmhiểu, phân tích, đánh giá những tác động về hành vi của nhữngngười vay vốn vi mô tại khu vực ĐBSCL có ảnh hưởng như thếnào đến vấn đề rủi ro TDVM Từ đó, thông qua việc thu thập, phântích số liệu từ các thí nghiệm thực địa để phân tích những tác độngcủa các nhân tố hành vi bao gồm sở thích rủi ro, vốn xã hội cũngnhư các nhân tố xã hội, nhân khẩu học khác, trong đó có sự khácbiệt giữa nông thôn và thành thị, đến rủi ro TDVM Từ mục tiêu
đó, trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau đây: (1)- Sở thích rủi rocũng như các yếu tố xã hội-nhân khẩu học khác của người vay vốn
có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay
Trang 7TDVM của các tổ chức TCVM? (2)- Vốn xã hội cũng như các yếu
tố xã hội-nhân khẩu học khác của người vay vốn vi mô có ảnhhưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM củacác tổ chức TCVM?
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
Từ lược khảo các tài liệu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu,dựa vào khung lý thuyết có liên quan cũng như các kết quả củanhững nghiên cứu trước đó để đề xuất các giả thuyết nghiên cứu.Tác giả sử dụng phương pháp thí nghiệm trực tiếp tại hiện trường
để thu thập số liệu Tổng hợp, thống kê và xử lý số liệu, tác giả sửdụng phương pháp phân tích hồi quy với biến nhị phân BinaryLogistic và phân tích mô hình Probit nhằm kiểm định tính vữngchắc của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện Sàng lọc, thảo luận vàgiải thích các kết quả đã tính toán được để đề xuất các hàm ý chínhsách đối với các cơ quan có thẩm quyền có liên quan; nêu ra nhữnghạn chế của nghiên cứu để làm tiền đề cho các nghiên cứu trongtương lai
Tác giả chọn phương pháp của Eckel và Grossman (2002) thựchiện thí nghiệm khơi gợi sở thích rủi ro, về vỗn xã hội, tác giả sửdụng thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng, về lòng tin thì dựa theophương pháp thí nghiệm của Camerer và Fehr (2003)
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Bao gồm các khách hàng vay vốn TDVM của các tổchức TCTD có hoạt động cho vay TDVM, các tổ chức TCVMchính thức và bán chính thức
- Phạm vi nghiên cứu: Gồm 176 khách hàng vay vốn TDVM ở 6tỉnh thuộc vùng ĐBSCL gồm cả khu vực nông thôn và khu vựcthành thị Bao gồm: Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long, Tiền
Trang 8Giang, Bến Tre và Long An Thời gian triển khai tất cả 6 cuộckhảo sát, thí nghiệm được thực hiện từ tháng 05/2017 đến 10/2017.
1.6 Những đóng góp của luận án.
1.6.1 Về mặt học thuật.
Tác giả đã vận dụng phương pháp thí nghiệm sử dụng 3 tròchơi, có chọn lọc phù hợp với thực tế Việt Nam cũng như địa bànnghiên cứu để xem xét và đánh giá tác động của các nhân tố đếnrủi ro TDVM trong hoạt động TCVM ở ĐBSCL Từ đó bổ sungmột số cơ sở lý luận về TCHV liên quan đến tác động của sở thíchrủi ro, vốn xã hội giữa khu vực thành thị và nông thôn đối vớiTDVM ở khu vực ĐBSCL
1.6.2 Về mặt thực tiễn.
Tác giả đã đưa ra những kết luận về ảnh hưởng của sự ưa thíchrủi ro và vốn xã hội có tác động và ảnh hưởng đến hoạt độngTCVM Những người đóng góp cho cộng đồng nhiều, những ngườitin tưởng đưa tiền cho đối tác nhiều thì ít có nợ xấu và ngược lại.Khi quy mô món vay cao thì tỷ lệ nợ xấu giảm đi, không có sựkhác biệt về nợ xấu giữa khu vực thành thị và nông thôn Đồngthời, tác giả cũng đưa ra những hàm ý về chính sách có liên quanđến hoạt động TCVM cũng như đưa ra những kiến nghị để có thểgóp phần vào việc phát triển ngành TCVM ở Việt Nam
1.7 Kết cấu của luận án.
Luận án gồm 5 chương có kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan
Chương 2: Sở thích rủi ro, vốn xã hội và rủi ro cho vay TDVM.Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Phân tích tác động của các yếu tố đến rủi ro TDVM
- Các khảo sát và thí nghiệm kinh tế tại vùng ĐBSCL.Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu,các hàm ý chính sách
Trang 9Chương 2: SỞ THÍCH RỦI RO, VỐN XÃ HỘI VÀ RỦI RO
CHO VAY TÍN DỤNG VI MÔ 2.1 Sở thích rủi ro và rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM.
Trong xã hội loài người, rủi ro luôn tồn tại trong tất cả mọihoạt động Thái độ đối với rủi ro của mỗi người là khác nhau, dovậy nó có thể được sử dụng để suy đoán các quyết định và hành vikinh tế của người đó Nó có ảnh hưởng trực tiếp từ hành vi, hoạtđộng của người vay vốn đến rủi ro như đầu tư, sản xuất, tiêu dùng
và hành vi đối với rủi ro Ngoài ra cũng còn có các ảnh hưởng từcác yếu tố nhân khẩu học, tài chính, vật chất và vốn xã hội
2.1.1 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory).
Là nền tảng của khoa học hành vi, Tversky và Kahnerman(1979) với lý thuyết triển vọng cho rằng con người đôi khi thể hiện
sự e ngại rủi ro và đôi khi lại thể hiện sự tìm kiếm rủi ro phụ thuộcvào bản chất của triển vọng (Ackert và Deaves, 2013) Tversky vàKahneman đã đưa ra các nội dung chính của lý thuyết triển vọng
như sau: (i) Tùy thuộc vào bản chất của triển vọng là gì, hành vi
của con người đôi lúc thực hiện sự không thích rủi ro (né tránh rủi ro) song đôi lúc lại ưa thích rủi ro (tìm kiếm rủi ro) Con người lựa chọn dựa trên lời và lỗ; (ii) Con người đánh giá các khoản lời
và lỗ so với một mức tham khảo và thông thường mức tham khảo ứng với tình trạng hiện tại của người đó; (iii) Con người sẽ thua lỗ bởi cái mất tác động đến cảm xúc của họ mạnh mẽ hơn cái được.
2.1.2 Sở thích rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM
Thị trường tín dụng là một thị trường không hoàn hảo, luôn có
sự bất đối xứng giữa người vay và người cho vay Stiglitz và Weiss(1981): Người vay có nợ xấu sẵn sàng chấp nhận rủi ro để vaynhững món vay lãi suất cao Zeballos và cộng sự (2014): Ngườivay không có nợ xấu tìm kiếm rủi ro nhiều hơn là người có nợ xấu
Trang 10Eckel và Grossman (2008): Nữ sinh viên e ngại rủi ro hơn so vớinam Binswanger (1980): Không có sự khác biệt về rủi ro so vớiquy mô đầu tư, giữa người giàu và người nghèo Vieider và cộng
sự (2015): Người chưa lập gia đình ít e ngại rủi ro và phụ nữ,người già lớn tuổi e ngại rủi ro nhiều hơn
Tóm lại, các nghiên cứu về sở thích rủi ro liên quan đến nhiềuđối tượng và lĩnh vực Kết quả cũng cho thấy có nhiều sự khác biệtđối với các đối tượng, địa bàn cũng như các lĩnh vực khác nhau.Tuy nhiên, tác động của sở thích rủi ro đối với rủi ro cho vayTDVM và hoạt động TCVM tại Việt Nam thì chưa có nghiên cứunào đề cập và đánh giá một cách chi tiết và cụ thể Vậy sở thích rủi
ro cũng như các yếu tố xã hội-nhân khẩu học khác của người vayvốn vi mô có ảnh hưởng như thế nào đến rủi ro trong hoạt độngcho vay TDVM của các TCTD có hoạt động cho vay TDVM vàcác tổ chức TCVM?
2.2 Vốn xã hội và rủi ro trong hoạt động cho vay TDVM 2.2.1 Vai trò của vốn xã hội.
Vốn xã hội cũng được người ta xem như là một loại vốn Vốn
xã hội là mạng lưới xã hội tương đối bền vững, sự thông cảm, mức
độ thông cảm, tương tác lẫn nhau giữa các thành viên (Bourdieu,1986; Fukuyama, 2001-2002; Coleman, 1988; Portes, 1998).Karlan (2005): Vốn xã hội của cá nhân là khả năng nắm bắt thôngtin, sự giao tiếp và các mối quan hệ xã hội của cá nhân đó để giảiquyết và khắc phục các vấn đề liên quan đến những thông tinkhông hoàn hảo Các nhà nghiên cứu cho rằng lòng tin được xem
là một thành tố quan trọng của vốn xã hội Karlan (2005) đã chothấy, càng tin người khác thì khả năng tiết kiệm cao hơn; càngđáng tin thì càng ít bị xảy ra rủi ro tín dụng hơn; và càng đóng gópcho cộng đồng thì cũng sẽ càng ít gặp rủi ro tín dụng hơn Knack
Trang 11và Keefer (1997), Karlan (2005): Các quốc gia, các nền văn hóa xãhội có nhiều sự tin cậy lẫn nhau hơn sẽ có tỷ lệ phát triển và tăngtrưởng tốt và cao hơn về kinh tế Glaeser và cộng sự (2000):Những người được tin tưởng nhiều hơn thì họ sẽ đáng tin cậy hơn
2.2.2 Vốn xã hội và hoạt động cho vay TDVM
Feigenberg và Field (2010): Cho vay nhóm tỷ lệ nợ xấu thấp
mà không cần thế chấp Akram và Routray (2013): Chỉ số vốn xãhội có ảnh hưởng không đáng kể đến sự tham gia TCVM Lòng tinnhư một sự đo lường tạo sự dễ dàng vay vốn từ nhóm dựa trênchương trình TCVM Các hộ nghèo có thể sử dụng nguồn vốn xãhội của họ làm tài sản thế chấp vay vốn Karlan (2005): Càng cóvốn xã hội cao thì khả năng trả nợ tốt và có tiết kiệm càng cao.Greiner và Wang (2009) cho thấy có sự không đối xứng thông tingiữa các bên cho vay và bên đi vay
2.2.3 Nghiên cứu vốn xã hội tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Anh và Thomése (2007) chothấy vốn xã hội giải quyết tốt vấn đề khó khăn, rắc rối trong việcdồn điền đổi thửa trong nông nghiệp Nguyen Van Ha và Kant(2004): Vốn xã hội có đóng góp mạnh mẽ và tích cực đối với thunhập hộ gia đình Trần Hữu Dũng (2003) chỉ ra mối quan hệ giữavốn xã hội và chính sách kinh tế; giữa vốn xã hội và việc phát triểnkinh tế; vốn xã hội có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tốc độ tíchlũy vốn con người Đinh Hồng Hải (2013) lưu ý đến mặt trái củavốn xã hội Ngô Thị Phương Lan (2011): Vốn xã hội giúp giảmthiểu rủi ro trong quá trình chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm ởĐBSCL Nguyễn Hồng Thu (2018) kết luận TDVM có tác độngđến thu nhập của các hộ nghèo Mai Thị Hồng Đào (2016) kết luậncác yếu tố độ tuổi, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, tổng tài sản, TDVM
và khu vực có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo Phan Đình
Trang 12Khôi (2013) kết luận làm việc cho chính quyền địa phương, thànhviên tổ vay vốn, trình độ học vấn, lao động có tay nghề và đườnggiao thông liên xã có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận TDVM.Đinh Phi Hổ và Đồng Đức (2015) khẳng định các yếu tố đặc điểm
hộ gia đình, vị trí khu vực sống, các cú sốc do rủi ro môi trường cótác động đến thu nhập và chi tiêu của nông hộ
Như vậy, có thể nói vốn xã hội có tác động rất lớn đến nhiềulĩnh vực trong một nền kinh tế cũng như trong xã hội Vậy vấn đềrủi ro trong cho vay TDVM của các tổ chức TCVM thì vốn xã hộithể hiện ra sao và đo lường nó như thế nào? Đây cũng là vấn để màtôi quan tâm nghiên cứu trong luận án này
2.3 Đo lường hiệu quả và rủi ro hoạt động TCVM.
2.3.1 Khái niệm về TCVM:
Cụm từ “tài chính vi mô” được hiểu như là các mô hình cung
cấp DVTC cho người nghèo giúp cho họ có điều kiện phát triểnsản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống
2.3.2 Đo lường và đánh giá rủi ro hoạt động TCVM.
2.3.2.1 Đo lường hiệu quả hoạt động TCVM
Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả, sự bền vững của tổ chứcTCVM tương đối đa dạng, tập trung vào ba chỉ tiêu sau: (Ackert &
Deaves, 2013) (1) Tự bền vững về thể chế (Institutional Sustainability-ISS) (2) Tự bền vững về hoạt động (Operational
Self-Self-Sustainability-OSS) (3)Tự.bền.vững.về.tài.chính(FinancialSelf-Sustainability-FSS)
2.3.2.2 Rủi ro trong hoạt động cho vay TCVM.
Rủi ro do nguyên nhân khách quan: Môi trường thiên
nhiên, môi trường kinh tế-xã hội, môi trường pháp lý
Rủi ro do nguyên nhân chủ quan:
Trang 13Về phía các tổ chức TCVM: Năng lực quản trị, điều hành.
sản xuất kinh doanh Vấn đề đạo đức
2.3.3 Đo lường rủi ro cho vay TDVM trong nghiên cứu này 2.3.3.1 Khái niệm về nợ xấu và các quan điểm về nợ xấu.
Có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu và thường được đềcập đến với các thuật ngữ như "doubtful debt", "bad debt" hay
"non-performing loan" Theo WB3 thì "nợ xấu là các khoản nợ
dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản" Theo quan
điểm của IMF 4 thì "một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn
thanh toán gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ về việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ"
Rủi ro hoạt động cho vay TCVM
3 khong-qua-xau/329380.html
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-vn/61/43/kinh-te-xa-hoi/no-xau-4https://www.imf.org/external/np/sta/fsi/eng/2004/guide/index.htm[4.84-4.85]
Lý thuyết Triển
vọng.
- Sở thích rủi ro
- Hành vi cá nhân
- E ngại rủi ro
- Tìm kiếm rủi ro
- Trung lập rủi ro
Vốn xã hội.
- Đặc điểm nhân khẩu học
- Niềm tin
- Sự tin cậy
- Đóng góp cho cộng đồng
- Quan hệ xã hội
- Mạng lưới xã hội
Nợ
Xấu
Trang 14Hình 2.2: Khung phân tích nghiên cứu.
(Nguồn: Tác giả đề xuất từ cơ sở lý thuyết và nghiên cứu tổng quan)
2.3.3.2 Quan điểm về nợ xấu của Việt Nam.
Căn cứ theo thông tư 02 (2013) của NHNN, nợ xấu là nợ từ
nhóm 3 (nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên) đến nhóm 5
2.4 Khung lý thuyết nghiên cứu (Hình 2.2)
Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
3.1.1 Phương pháp định tính.
Trực tiếp phỏng vấn 176 khách hàng vay vốn vi mô tại hiệntrường, đồng thời cũng tham khảo ý kiến các chuyên gia, các lãnhđạo cấp cao của NHNN và các TCTD khác trong địa bàn
3.1.2 Phương pháp định lượng.
Với số liệu thu thập từ thí nghiệm, tác giả sử dụng phươngpháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy với biến nhị phân BinaryLogistic, thực hiện phương pháp phân tích mô hình Probit nhằmkiểm định tính vững của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện để xử
lý và phân tích đánh giá mô hình đưa ra
3.1.3 Cơ sở chọn địa bàn và chọn mẫu thí nghiệm.
Đây là khu vực trọng điểm của miền Nam Việt Nam, có đầy đủđặc trưng của các hệ sinh thái, ngành nghề, dân tộc Bản thân tácgiả có hơn 20 năm làm trong ngành ngân hàng là điều kiện tốt đểchọn lựa khách hàng Về số lượng 176 khách hàng được chọn từNHCSXH chiếm 33,5%, còn lại 66,5% từ các NHTMCP ở địaphương
3.2 Lựa chọn phương pháp thí nghiệm kinh tế.
3.2.1 Các phương pháp gợi mở - khơi gợi sở thích rủi ro.
Trang 15Các nhà kinh tế và tâm lý học đã phát triển nhiều phương phápthí nghiệm để khơi gợi và đánh giá thái độ đối với rủi ro cá nhân.
(i) Mô hình BART: Đo lường sở thích rủi ro với việc bơm bóng
bay (ii) Gợi mở thông qua việc sử dụng bảng câu hỏi (iii) Phương pháp của Gneezy và Potters (iv) Phương pháp của Eckel và Grossman (v) Phương pháp lựa chọn theo danh sách giá.
3.2.2 Các phương pháp đo lường vốn xã hội.
(i) Trò chơi tin tưởng (ii) Trò chơi đóng góp cho cộng đồng.
3.2.3 Đánh giá lựa chọn phương pháp.
Phương pháp của Eckel và Grossman (2002), đo lường vốn xãhội, tác giả chọn thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng (PublicGoods Game) và thí nghiệm về lòng tin (Trust Game)
3.2.4 Cách tổ chức và phân bổ người tham gia thí nghiệm.
Thu thập thông tin về nhân khẩu học, sau đó sẽ chia khu vực tổchức chơi Risk Game Tiếp tục đến Game 2 và Game 3 mỗi nhómđiều khiển gồm 3 người: Một trưởng nhóm, một thư ký và mộtngười phụ giúp
3.2.5 Về căn cứ xác định các mức tiền thưởng trong Game Bảng 3.2: Bình quân thu nhập và chi tiêu 1 ngày/người
ĐVT: Đồng
Cả nước Thành thị Nông thôn
(Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam, 2016 và tính toán của tác giả).
3.3 Cách thức và các bước thực hiện các thí nghiệm.
Thí nghiệm 1: Khơi gợi sở thích rủi ro
Mỗi người tham gia sẽ được nhận 100 ngàn đồng và họ sẽ tựlựa chọn 1 trong số 6 lựa chọn bất kỳ được liệt kê như trong bảng
Trang 163.3 Sau đó, người tham gia sẽ được hướng dẫn rút 01 trong 02thăm giấy (thắng hoặc thua)
Bảng 3.3: Các lựa chọn của trò chơi (ĐVT: Đồng) Tình
huống
Số tiền bị
mất
Số tiền được
Thí nghiệm 3: Sự tin tưởng đối với người khác.
Người điều khiển sẽ hỏi người số 1 xem họ quyết định có đưatiền cho người số 2 hay không Nếu như người số 1 không đưa tiềnthì trò chơi sẽ kết thúc Nếu người số 1 có đưa tiền thì họ sẽ đưacho người điều khiển trò chơi Người điều khiển sẽ nhân đôi sốtiền đó và đưa cho người số 2 Tiếp đó, người điều khiển sẽ hỏingười số 2 xem họ có đưa tiền lại cho người số 1 hay không
3.4 Mô hình nghiên cứu.
3.4.1 Mô hình hồi quy phân tích thí nghiệm về Risk game:
Y 1= β0+ β1 X1+ β2 X2+ β3 X3+ β4 X4+ γ Z
Trang 17Trong đó: Y 1i là biến phụ thuộc, nhận giá trị bằng 1 và 0 tương
ứng người đó có hay không có nợ xấu Các biến độc lập: X1 thể
hiện đặc điểm lựa chọn, X2 thể hiện đặc điểm tuổi, X3 thể hiện
giới tinh, X4 chỉ trình độ học vấn
- Z là biến kiểm soát thể hiện đặc điểm về khu vực sống
3.4.2 Mô hình hồi quy phân tích thí nghiệm về đóng góp cho cộng đồng:
Trong đó: Y 3i là biến phụ thuộc, X1 là biến độc lập thể hiện phần
trăm về số tiền mà người tham gia đưa cho đối tác của mình
3.4.4 Mô hình hồi quy phân tích tổng hợp cả ba thí nghiệm (Robustness check):
Trong đó: Y 4i là biến phụ thuộc, X1 là biến thể hiện lựa chọn, X2
thể hiện sự lựa chọn đóng góp, X3 thể hiện phần trăm về số tiền
đưa cho đối tác, X4 thể hiện đặc điểm tuổi, X5 thể hiện giới tinh,
X6 thể hiện trình độ học vấn, Z là biến kiểm soát thể hiện đặc điểm
về khu vực sống của người tham gia
3.5 Các giả thuyết trong mô hình phân tích.
3.5.1 Giả thuyết về hành vi trong khơi gợi sở thích rủi ro:
H 1 : Những người tìm kiếm rủi ro càng cao càng ít có khả năng bị
nợ xấu, trong khi những người càng e ngại rủi ro sẽ có khả năng
bị nợ xấu lớn hơn.
3.5.2 Giả thuyết về hành vi trong đóng góp cho cộng đồng:
Trang 18H 2 : Những người đóng góp cho cộng đồng ít có khả năng bị nợ xấu, trong khi những người không đóng góp cho cộng đồng sẽ có khả năng bị nợ xấu cao hơn.
3.5.3 Giả thuyết về hành vi trong sự tin tưởng:
H 3 : Phần trăm số tiền người tham gia đưa cho đối tác của mình càng lớn thì người đó càng ít có khả năng bị nợ xấu, ngược lại, phần trăm số tiền người tham gia đưa cho đối tác càng nhỏ thì khả năng người đó bị nợ xấu càng cao.
3.6 Phương pháp hồi quy.
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong phân tích hồi quyvới biến nhị phân là phương pháp Binary Logistic Ngoài ra, tácgiả sẽ thực hiện thêm phương pháp phân tích mô hình Probit nhằmkiểm định tính vững của kết quả hồi quy Logit đã thực hiện
Chương 4 : PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ ĐẾN RỦI RO TDVM – KẾT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ VÀ THÍ NGHIỆM TẠI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 4.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu.
4.1.1 Thống kê mô tả chung các đặc điểm của người trả lời.
4.1.1.3 Thống kê về nơi sinh sống.
Nông thôn có 63,1%, 36,9% sống ở khu vực thành thị
4.1.1.4 Thống kê về việc thế chấp tài sản.
Trang 19Có 37,5% số hộ gia đình có sử dụng tài sản để thế chấp chokhoản vay, 62,5% các khoản vay tín chấp.
4.1.1.5 Thống kê về nơi vay vốn.
NHCSXH chiếm 33,5%, còn lại là các NHTMCP khác
4.1.1.6 Thống kê về đặc điểm nguồn thu nhập chính.
Kết quả thống kê cho thấy có sự phân bố khá đồng đều vềnguồn thu nhập của các hộ gia đình trong mẫu khảo sát (tỷ lệ daođộng từ 23,3% đến 29,5%)
4.1.1.7 Thống kê về các chỉ tiêu định lượng.
Số tuổi trung bình là 46,9 tuổi; lớn tuổi nhất là 85 tuổi và ngườinhỏ nhất là 20 tuổi Độ lệch chuẩn trung bình là 12,4 Quy mô hộgia đình trung bình là 4,5 người, nhiều nhất là 12 người và ít nhất
là 1 người Trung bình tỷ lệ người có việc làm là 68,7% Trungbình các khoản vay khoảng 23,58 triệu đồng/hộ Thời hạn trả nợtrung bình là gần 15,8 tháng, kỳ hạn trả nợ dao động trung bình từ
1 tháng đến 60 tháng
4.1.2 Thống kê chung về các đặc điểm lựa chọn.
4.1.2.1 Thống kê lựa chọn trong thí nghiệm sở thích rủi ro.
Lựa chọn 1 có 6,3%, lựa chọn 2 là 24,4%, lựa chọn 3 là 19,3%,lựa chọn 4 là 15,9% (tổng số người trong 4 lựa chọn này là 65,9%),lựa chọn 5 có 6,3% và lựa chọn 6 là 27,8% Theo quan điểm chung
về rủi ro, những người e ngại rủi ro sẽ có lựa chọn từ 1 đến 4 vớitổng số là 65,9% Có khá ít người trung lập với rủi ro (lựa chọn 5với 6,3%), những người tìm kiếm rủi ro (lựa chọn 6) chiếm sốlượng đáng kể với 27,8% Mẫu dữ liệu có sự phân chia khá rõ về 2
xu hướng: Một là e ngại với rủi ro và hai là tìm kiếm rủi ro
4.1.2.2 Thống kê về lựa chọn trong thí nghiệm đóng góp cho cộng đồng.
Có 81,8% đồng ý đóng góp, 18,2% không đóng góp