Xuất phát từ tình hình thực tế sản xuất, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản của nước ta nói chung và công tác nuôi trồng thuỷ sản của địa phương nói riêng tuy đã có những thành công về kinh
Trang 1PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trên thời kỳ đổi mới về phát triển kinh tế xã hội
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam nền kinh tế đất nước có
những bước phát triển vượt bậc, GDP tăng nhanh hạn chế nạm phát, tỷ lệ
người giàu người có thu nhập cao ngày càng nhiều, ảnh hưởng của khủng
hoảng kinh tế thế giới từng bước được ổn định và phát triển
Hội nhập WTO là một cơ hội cũng là một thách thức cho nền kinh tế còn non trẻ của chúng ta đã phải trải qua thời kỳ dài cơ chế quản lý bao cấp
Trong những năm qua sản phẩm thuỷ sản của nước ta đã từng bước vươn ra
thị trường thế giới song cũng từ đây cũng xuất hiện sự áp đặt về hàng rào
thuế quan cũng như hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu vì vậy sản
phẩm của chúng ta bị huỷ, bị trả lại rất nhiều làm ảnh hưởng đến uy tín cũng
như thiệt hại nhiều về kinh tế cho các tổ chức xuất khẩu và người sản xuât
sản phẩm thuỷ sản
Xuất phát từ tình hình thực tế sản xuất, khai thác, nuôi trồng thuỷ sản của nước ta nói chung và công tác nuôi trồng thuỷ sản của địa phương nói
riêng tuy đã có những thành công về kinh tế nhưng còn gặp rất nhiều khó
khăn do điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, do sự ô nhiễm môi trường, do
trình độ khoa học kỹ thuật áp dụng vào thâm canh của nông dân chưa đồng
bộ và sự quản lý thiếu đồng bộ của các cấp về công tác khai thác đánh bắt
cũng như công tác quản lý NTTS
Quá trình thực tập nghiên cứu xây dựng đề tài với mong muốn vận dụng kiến thức đã học vào thực tế địa phương giúp nông dân hạn chế được
Trang 2những rủi ro, áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật và sản xuất nuôi trồng
thuỷ hải sản đạt hiệu quả cao
Xã Đông Minh là một xã ven biển Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, nằm phía Đông huyện lỵ Tiền Hải nên xã Đông Minh có một vị trí rất quan
trọng cả về kinh tế và an ninh quốc phòng, dân cư được phân bố dọc theo
chiều dài bờ biển là hơn 7 km Là xã có diện tích bãi ngang lớn thuỷ triều
lên xuống rất thuận lợi cho khai thác đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản và
khai thác Du lịch dịch vụ thương mại Diện tích bãi triều ngập mặn cho nuôi
nuôi trồng thuỷ hải sản là 400ha Trong đó diện tích nuôi ngao là 235ha,
diện tích đầm ngoài đê nuôi tôm sú, cua xanh và rong câu là: 60ha Đặc biệt
có 105,2 ha diện tích đất làm muối kém hiệu quả của HTX DV Hải Châu
chuyển đổi thành các ao nuôi tôm sú, cua xanh, cá vược và rong câu đã thu
được nhiều thắng lợi về năng suất sản lượng và giá trị kinh tế trong những
năm qua
Xuất phát từ những lý do trên với sự mong muốn đẩy nhanh việc phát triển kinh tế địa phương khai thác lợi thế về địa lý mang lại nhằm phát triển
ngành NTTS nước măn, nước lợ bền vững mang lại hiệu quả kinh tế cao
Xây dựng vùng chuyển đổi của HTX DV Hải Châu ngày càng phát triển
mang lại giá trị thu nhập cho người lao động làm giàu cho quê hương Với
kiến thức đã học tại trường Đại Học Nộng Nghiệp Hà Nội và sự giúp đỡ của
thầy giáo Đặng Văn Tiến bộ môn Marketing khoa Kế Toán & QTKD kết
hợp thực tế địa phương tôi mạnh dạn phát triển đề tài: Thực trạng và giải
pháp nâng cao hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ của HTX
DV Hải Châu xã Đông Minh huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình
Trang 31.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.2.1 Mục tiêu chung
Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng và đề ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác nuôi trồng thuỷ hải sản ( Tôm sú và cua
xanh) thuộc vùng chuyển đổi từ làm muối của HTX DV Hải Châu xã Đông
Minh huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề có tính lý luận về phát triển ngành NTTS
- Đánh giá thực trạng tình hình phát triển kinh tế biển xã Đông Minh
và nghề NTTS vùng chuyển đổi từ làm muối sang NTTS HTX Hải Châu
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả NTTS ở các hộ nông dân của HTX DV Hải Châu xã Đông Minh
- Đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy nghề khai thác nuôi trồng thuỷ hải sản nước mặn, nước nợ ở HTX Hải Châu xã Đồn Minh
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Công tác nuôi trồng thuỷ hải sản, các con vật nuôi thuỷ sinh (Trọng tâm là Tôm sú, cua xanh) và các vấn đề về thuỷ lợi, môi trường, mức đầu tư,
trình độ khoa học kỹ thuật… có liên quan đến ngành NTTS, và công tác
nuôi tôm sú tại HTX Hải Châu
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại HTX và các Hộ NTTS HTX Hải Châu xã Đông Minh
Trang 4- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác phát triển kinh tế biển tại xã Đông Minh và công tác NTTS tại HTX Hải Châu
- Về thời gian: Nghiên cứu công tác phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thuỷ hải sản từ năm 2007 đến năm 2009, giải pháp phát triển 2010 –
2015 công tác nuôi thuỷ hải sản nước mặn, nước nợ tại HTX DV Hải Châu
xã Đông Minh
- Thời gian nghiên cứu đề tài: Đề tài được thực hiện từ ngày 10 tháng
11 năm 2009 đến ngày 05 tháng 4 năm 2010
Trang 5Phần II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Hiệu quả kinh tế của công tác NTTS tại địa phương
Nhìn một cách tổng quát nền sản xuất nông nghiệp của nước ta tuy đã đạt được những thành tựu về sản lượng gía trị thu nhập kinh tế nhưng nhìn
chung còn lạc hậu và phát triển chậm so với các nước trên thế giới Khai
thác tiềm năng về kinh tế biển và đặc biệt là công tác nuôi trồng thuỷ hải sản
trong những năm qua là thế mạnh của một số địa phương đã phát triển một
cách nhanh chóng về diện tích, năng suất và sản lượng cao giá trị thu nhập
lớn vì vậy các vùng có tiềm năng về nuôi trồng thuỷ sản nhất là thuỷ sản sản
nước mặn, nước nợ mang lại cho nhân dân địa phương một nguồn thu lớn
làm tăng giá trị thu nhập hộ gia đình và nâng cao mức sống toàn xã hội Để
so sanh hiệu quả kinh tế của công tác nuôi trồng thuỷ sản mang lại trên đơn
vị sản xuất ta phân tích một số chỉ tiêu sau:
- Hiệu quả kinh tế của thu nhập từ nuôi trồng thuỷ hải sản tại xã Đông Minh trong năm 2008
Tổng thu 72,4 tr.đ/ha HQKT Nuôi tôm sú = = 258,6%
Tổng chi phí 28,0 tr.đ/ha Tổng thu 28,7 tr.đ/ha HQKT Nuôi cua = = 205,0%
Tổng chi 14,0 tr.đ/ha
Trang 6- Lãi ròng (LR) nuôi trồng thuỷ sản của nhân dân HTX Hải Châu là toàn bộ lãi thu được trên một đơn vị diện tích sau khi đã trừ đi tất cả các
xanh, cá Bớp, cá Vược, cá song chấm nâu, rong câu… Và các sản phẩm
phụ thu được trong quá trình sẩn xuất như; Tôm gai, các loại cá tạp, cá rô
phi…
- Thu nhập: Là tổng thu mà các hộ thu được trừ chi phí Thu nhập bao gồm tiền lãi và gia strị tiền công mà hộ gia đình bỏ ra
Thu nhập (Từ NTTS) = Tổng thu (Từ NTTS) – chi phí vật chất
- Gia strị sản xuất/1 đồng chi phí: cho biết giá trị sản xuất thu được khi bỏ ra một đồng chi phí
- Giá trị sản xuất/1 ngày công lao động: Cho biết gia strị sản xuất thu được tạo ra từ một ngày công lao động
- Thu nhập hỗn hợp/chi phí trung gian: Chỉ tiêu này phản ánh trình độ
tổ chức quản lý và sử dụng vốn trong sản xuất
HV=MI/IC - HV: Hiệu quả sử dụng vốn
- IC: Chi phí trung gian
Trang 7- Thu nhập hỗn hợp/công lao động: Chỉ tiêu này cho biết giá trị thu nhập hỗn hợp được tạo ra từ một ngày công lao động
GC= MI/TC - GC: Giá trị một ngày công lao động
- TC: Tổng số ngày công trên đơn vị diện tích + Những Chú ý khi nghiên cứu hiệu quả kinh tế ngành NTTS
Ngành NTTS nói chung và NTTS nói riêng cần có lượng vốn đầu tư lớn ngay từ ban đầu, diện tích mặt nước, xây dựng cống máng, đào đắp tư sửa bờ vùng…
Sản phẩm ngành NTTS là động vật bặc thấp do vậy kỹ thuật nuôi trồng rất quan trọng đòi hỏi người lao động phải am hiểu
kỹ thuật để đạt được hiệu nuôi trồng tốt, năng suất nuôi trồng cao
Ngành NTTS nước ta tuy đã có định hướng của Nhà nước nhưng nhìn chung còn mang tính tự phát, dựa vào điều kiện tự nhiên để nuôi trồng nên hiệu quả nuôi trồng còn thấp, điều này ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề nghiên cứu hiệu quả kinh tế của ngành
* Khái niệm về nuôi trồng thủy sản
Thuỷ sản là gì ? Thuỷ sản là những khai thác từ môi trường nước như
Tôm, Cá, Cua, rong câu… Môi trường rất đa dạng, nó gồm mặt nước ngọt,
nước mặn và nước nợ Với từng môi trường khác nhau thì có các sản phẩm
khác nhau Thuỷ sản được khai thác dưới nhiều hình thức nhưng chung lại
gồm hai hình thức là khai thác tự nhiên và nuôi trồng thuỷ sản
Môi trường thuỷ sản là sự lợi dụng tự nhiên là điều kiện sản xuất,
Trang 8thể tồn tại và phát triển Đó là diện tích như sông ngòi, ao hồ, diện tích mặt
nước ven biển và diện tích mặt nước khác mà sinh vật thuỷ sinh có thể sinh
sống Những điều kiện cần thiết để có thể khai thác và sinh lợi từ môi trường
thuỷ sản và sức lao động, vốn, kỹ thuật, khí hậu thuỷ văn
Như vậy NTTS là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong ngư nghiệp với mục đích chính là sản xuất ra sản phẩm thuỷ sản hàng hoá để bán
ra thị trường và phục vụ xuất khẩu, sử dụng mặt nước như là tư liệu sản xuất
chính ở một địa bàn nhất định Đối tượng nuôi trồng thuỷ sản là các động vật
thủy sinh có giá trị kinh tế cao như Tôm, cá, cua,…
* Nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước nợ
- Kinh tế biển là mũi nhọn trọng tâm trong phát triển kinh tế đất nước nói chung và kinh tế địa phương ven biển nói riêng, đặc biệt là các địa
phương có tiềm năng về du lịch, thương mại và khai thác đánh bắt NTTS
- NTTS là một mô hình tổ chức sản xuất cơ sở trong ngư nghiệp, với mục địch chủ yếu là sản phẩm thuỷ sản hàng hoá bán ra thị trường Diện tích
mặt nước là tư liệu sản xuất chính tại một địa bàn nhất định Những điều
kiện cần thiết để có thể khai thác và sinh lời từ nguồn tài nguyên này là: sức
lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, khí hậu thuỷ văn
bị huỷ diệt, đặc biệt chúng cung cáp cho con người các sản phẩm có giá trị
dinh dưỡng và kinh tế cao
Trang 9- Mặt nước NTTS ao gồm đất và nước nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động
- Quá trình NTTS là tác động nhân tạo xen kẽ với tác động tự nhiên nên thời gian sản xuất và thời gian lao động trùng nhau Tính thời vụ trong
NTTS rất cao và còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên từ những đặc
điểm này yeu cầu người NTTS phải có hiểu biết và khả năng ứng dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất
- NTTS đòi hỏi các dịch vụ phụ trợ lớn đặc biệt là con giống, thức ăn
hệ thống tín dụng ngân hàng, khuyến ngư Trong quá trình sản xuất nuôi thả
các loại thuỷ sản tỷ lệ sống cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào chất lượng con
giống
- Sản phẩm thuỷ sản khó bảo quản, dễ bị hư hỏng bới chúng có hàm lượng nước lớn và hàm lượng dinh dưỡng cao đó là môi trường thuận lợi
cho vi khuẩn xâm nhập, phá huỷ Vì vậy đi đôi với việc phát triển NTTS
phải giải quyết vấn đề chế biến và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản
2.1.3 Vai trò, ý nghĩa của kinh tế biển và NTTS
Kinh tế biển được Đại Hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ 17 xây dựng Nghị quyết phát triển và được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn trong
tổng thể nền kinh tế của tỉnh, nó có những đóng góp quan trọng đối với việc
đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Tỉnh Thái Bình nói chung và của Xã
Đông Minh nói riêng
NTTS là ngành sản xuất tạo ra các loại sản phẩm có dinh dưỡng cao được nhiều người sủ dụng nó có giá trị xuất khẩu cao mang lại nguồn thu
lớn cho đất nước và những người sản xuất
Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay phát triển kinh tế biển nói chung và NTTS nói riêng không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc cung
Trang 10cấp thực phẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu mà nó còn góp phần
tạo ra rất nhiều công ăn việc làm cho người lao động, xoá đói giảm nghèo,
tăng thu nhập cải thiện đời sống xã hội Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng hiệu quả sử dụng các tiềm năng sẵn
có của địa phương, đối với ngành NTTS nó còn góp phần quan trọng trong
việc xây dựng trật tự xã hội, an ninh quốc phòng vùng ven biển vì vậy NTTS
đang được coi là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp
nông thôn ở nước ta hiện nay, góp phần đẩy nhanh quá trình Công Nghiệp
Hoá - Hiện Đại Hoá đất nước
2.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế biển và công tác NTTS
2.1.4.1 Những yếu tố tự nhiên
a) Nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến các loại thuỷ sản nuôi Các loại thuỷ sản nuôi như Tôm, Cá, Cua…là động vật biến nhiệt
nên không có khả năng duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định Chúng thường phân
bổ khắp nơi trên thế giới và môi loài thích ứng với một ngưỡng nhiệt độ nhất
định nếu vướt quá giới hạn quy định vật nuôi có thể bị sốc và chết Thông
thường nhiệt độ thích hợp nhất cho công tác NTTS là từ 25 – 30 oC Ở nhiệt
độ này các loài tôm, cá … sử dụng thức ăn tốt, tăng trưởng nhanh và kháng
bệnh cao Khi nhiệt độ vướt quá ngưỡng chịu đựng trên sẽ dẫn đến các vật
nuôi bị sốc nhiệt, rối loạn hô hấp dẫn đến vật nuôi chậm lớn hoặc bị chết
Trang 11cao mang và mô của tôm.cua, cá bị phá huỷ , đồng thời làm tăng tính độc hại
khác trong môi trường nước làm cho các loại vật nuôi dễ bị nhiễm bệnh và
chết
c) Muối hoà tan
Nồng độ muối hoà tan ảnh hưởnh rất lớn đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm, cá, cua Nồng độ muối hoà tan thể hiện qua 3 đặc tính
+Độ cứng: ảnh hưởng đến khả năng thẩm thấu của tôm, cua, cá ảnh hưởng đến điều hoà Ca++ trong máu
+Độ kiềm giữ vai trò làm hệ đệm của môi trường, đây là yếu tố quan trọng làm cho môi trường nước ít biến động, hạn chế gây sốc cho vật nuôi
+ Độ mặn ảnh hưởng đến điều hoà áp xuất thẩm thấu, ảnh hưởng đến tốc độ lớn Sự thay đổi đột gột về độ mặn có thể gây sốc làm chết cho tôm,
cua, cá hoặc làm giảm khả năng kháng bệnh và quá trình lột xác của tôm,
cua Cần giữ độ mặn ổn định đặc biệt trong những ngày mưa bão
d) Chất khí hoà tan
Gồm 3 chất khí chính là: O2; Co2; N2 + Ôxi hoà tan thích hợp cho nuôi tôm, cá là từ 5 -6 mg/lít Diện tích đầm, ao nuôi càng thoáng, có nhiều sóng càng tạo nhiều điều kiện hoà trộn
tốt ôxi vào trong nước cung cấp cho tôm, cua, cá Khi khí ôxi trong nước
quá thấp sẽ ảnh hưởng đến sự sinh sản và khả năng kháng bệnh của tôm,
cua, cá
+ Cacbonic là sản phẩm của quá trình hô hấp, các loại thuỷ sản thường
bị sốc khi hàm lượng Cacbonic vượt quá 20 mg/lít Do đó đối với ao nuôi có
mật độ thả dày cần phảt được trang bị máy xục khí tạo ôxi
Trang 12+ N2 được hình thành do sự ôxi hoá của Amôniắc, khi hàm lượng khí này lớn hơn 0,6 mg/lít sẽ gây sốc cho tôm, cua, cá làm máu không vận
chuyển đến các mô của vật nuôi
e) Màu nước
Màu nước tốt nhất cho ao nuôi là màu nâu hay xanh nhạt, nước trong
ao đục do toả phát triển quá nhiều sẽ gây tình trạng thiếu dinh dưỡng Do đó
đảm bảo, duy trì màu nước trong ao nuôi trong suốt quá trình nuôi là vô
cùng quan trọng nó giúp ổn định ôxi, ổn định hiệt độ Độ trong của nước ao
nên duy trì ở mức 25 – 35 cm là tốt nhất
f)Quản lý đáy ao nuôi
Một trong những nguyên nhân làm tôm, cua, cá tăng trưởng chậm và
dễ bị bệnh là do ảnh hưởng của các mùn hữu cơ do tích tụ thức ăn dư thừa,
chất thải của các loại vật nuôi, do tảo tàn, đây chinhs là nơi nảy sinh mầm
bệnh và gây ra hiện tượng lão hoá ao nuôi Do đó để khắc phục tình trạng
này sau mỗi vụ nuôi phải nạo vét, cải tạo và xử lý đáy ao thật kỹ bằng vôi
không sản xuất những gì ta có Do đó việc tìm hiểu các thị trường khác
nhau, nắm bắt các thông tin cần thiết như giá cả để từ đó có kế hoạch, chiến
lược nuôi trồng phù hợp, có như thế mới mang lại hiệu quả inh tế cao Thị
trương tiêu thụ ngày càng được mở rộng trong và ngoài nước, giá cả ngày
càng có xu hướng tăng lên và ổn định thì ngành khai thác nuôi trồng thuỷ hải
sản có điều kiện phát triển, giá trị sản phẩm có điều kiện được nâng cao,
Trang 13đồng thời thu nhập của các hộ NTTS cũng có cơ hội được cải thiện Do đó
vấn đề tìm kiếm mở rộng thị trường tieu thụ sản phẩm thuỷ sản để làm sao
các sản phẩm thuỷ sản được bán với giá cao
b) Vốn đầu tư
Vốn trong quá trình đầu tư NTTS là một yếu tố đặc biệt quan trọng đặc biệt là trong quá trình sản xuất NTTS nước mặn, nước lợ là vô cùng
quan trọng vì trong quá trình đầu tư sản xuất mua trang thiết bị xây dựng cơ
bản, con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học là khá lớn Hơn nữa vốn đầu tư
còn quyết định đến hiẹu quả nuôi thả, do mức độ đầu tư trong công tác xây
dựng, mua sắm trang thiết bị, con giống, thức ăn có hợp lý Nếu thiếu vốn
đầu tư ao đầm không được đầu tư cải tạo đúng theo yêu cầu, máy móc trang
thiết bị thiếu, con giống không đảm bảo chất lượng, lượng thức ăn không đủ
sẽ dẫn đến tình trạng tôm, cua, cá chậm lớn làm ảnh hưởng đến hiệu quả
kinh tế, ảnh hưởng đến thu nhập trên diện tích nuôi thả Vì vậy người NTTS
cần có kế hoạch huy động vốn đầy đủ từ các nguồn khác nhau, từ các tổ
chức tín dụng, ngân hàng hay các tổ chức khác nhằm đảm bảo đầu tư đày đủ
kịp thời mang lại hiệu quả cao
c) Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ
Đây là yếu tố tác động trực tiếp đến NTTS Ngành NTTS càng phát triển càng đòi hỏi trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ cao hơn đảm bảo
tính cạnh tranh về chất lượng sản phẩm và an toàn vệ sinh thực phẩm trong
quá trình nuôi thả và chế biến Công ngheej chế biến phát triển cho phép
hàng thuỷ sản được đi đến nhiều thị trường hơn và chất lượng cũng được
nâng lên từ đó thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản và đẩy mạnh ngành
NTTS phát triển
d) Chính sách của Nhà nước
Trang 14Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có những chính sách ưu tiên cho việc đầu tư khai thác nuôi trồng thuỷ hải sản đặc biệt là các loại
thuỷ sản nước mặn, nước lợ có gía trị kinh tế cao Chính sách của Nhà nước
đã có tác động không nhỏ đến quy mô cũng như chất lượng phát triển của
ngành thủy sản đặc biệt là NTTS Chính sách Nhà nước thông qua các dự án
đâu tư, công tác Khuyến ngư, tạo nguồn vốn ưu đãi cho người NTTS đã tạo
điêu kiện không nhỏ cho quá trình thúc đẩy phát triển nuôi trổng thuỷ hải
sản
f) Công tác chế biến tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm thuỷ sản có giá trị, chất lượng cao vì vậy cùng các yếu tố đầu tư của Nhà nước về vốn, công nghệ khoa học kỹ thuật thì Nhà nước
cũng luôn quan tâm chú trọng trong công tác đầu tư chế biến tiêu thụ sản
phẩm ngành thuỷ sản nối chung và tôm sú nối riêng Nó có thể quyết định
rất lớn đến gía trị sản phẩm, hiệu quả kinh tế của ngành và thu nhập của
người sản xuất NTTS, vì vậy trong những năm qua yếu tố chế biến luôn
được các cấp các ngành quan tâm đầu tư Các cơ sở chế biến đang từng bước
thực hiện tốt việc chế biến sản phẩm ngành thuỷ sản có chất lượng nhằm
mục tiêu xây dựng thương hiệu cho sản phảm dành cho xuất khẩu mang lại
phát triển tăng trưởng bình quân hàng năm là 10% Nhìn chung tình trạng
khai thác đánh bắt thuỷ hải sản đang diễn ra một cách bừa bãi, không có kế
hoạch làm huỷ hoại môi trường dẫn đến nguồn lợi tự nhiên ngày càng khan
Trang 15hiếm và đi đến cạn kiệt Vì vậy nuôi trồng thuỷ hải sản trở thành ngành
quan trọng cung cấp thực phẩm có nguồn gốc động vật, là ngành sản xuất
không thể thiếu được ở mỗi quốc gia Do đó mà sản lượng và giá trị sản
lượng của ngành này trên toàn thế giới đã không ngừng tăng lên qua các
năm
Biểu 1: Giá trị sản lượng ngành NTTS trên thế giới qua các năm
Theo công bố của FAO, tổng sản lượng thuỷ sản trên thế giới năm
2008 đạt 196,8 triệu tấn, trong đó sản lượng NTTS đạt 65,2 triệu tấn (chiếm
33,1%) Sản lượng NTTS tăng theo các năm năm sau cao hơn năm trước,
năm 2000 đạt 39,6 triệu tấn; năm 2002 đạt 44,5 triệu tấn, và đến năm 2008
đã đạt 65,2 triệu tấn Như vậy năm 2008 tăng so với năm 2000 là 25,6 triệu
tấn bằng 64,6%
b Tình hình NTTS ở nước ta trong những năm gần đây
Việt nam nằm ở phía tây Biển Đông, có chiều dài bờ biển là 3.260
Km, với 112 cửa sông lạch và hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ Các vùng biển
Việt Nam nông và hoạt đông theo chế độ Thuỷ triều ở Miền Bắc và nhật
triều ở Miền Nam.Vì vậy vùng biển Việt Nam có rất nhiều loại tài nguyên
thuỷ hải sản và có khả năng tái sinh rất cao của vùng sinh thái nhiệt đới
Trong những năm qua ngành NTTS đã được Đảng, Nhà nước đầu tư
Trang 16Vào những năm 80 (của thế kỷ 20) sản xuất kinh doanh thuỷ sản còn ở mức
khiêm tốn các chế phẩm, thức ăn nuôi trồng và các hoá chất phục vụ cho
ngành NTTS còn phải phụ thuộc vào nhập khẩu từ các nước có ngành thuỷ
sản phát triển, nhưng đến nay ta đã chủ động được con giống, thức ăn, hoá
chất phục vụ chủ động cho công tác NTTS đa dạng hoá con vật nuôi Đến
nay Việt nam đã vươn lên đứng thú 19 về sản lượng, thứ 25 về giá trị kim
ngạch xuất khẩu, thứ 5 về kim ngạch xuất khẩu tôm trên thế giới Vì thế
ngành thuỷ sản của Việt Nam trên thị trường quốc tế không ngừng được
củng cố và mở rộng
Những năm gần đây do nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của ngành thuỷ sản trong nước và xuất khẩu tăng lên, trong khi sản lượng thuỷ sản khai thác
đánh bắt ngày càng giảm đi cho nên ngành NTTS phát triển mạnh cả về
diện tích cũng như sản lượng và chất lượng sản phẩm
Hiện nay sản phẩm thuỷ sản của nước ta đã có mặt trên 50 nước trên thế giới, được FAO xếp thứ 3 của vùng Đông Nam Á, thứ 25 trên thế giới
Tuy bị hạn chế áp đặt hàng rào thuế quan và hàng rào kỹ thuật của các nước
nhập khẩu nhưng sản phẩm thuỷ sản của nước ta vẫn có uy tín về chất
lượng, giá cả trên thị trường thế giới Xuất khẩu thuỷ sản thực sự trở thành
động lực to lớn cho ngành khai thác, nuôi trồng và chế biến sản phẩm thuỷ
sản, là tiền đề để ngành NTTS tiến lên Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá đầt
nước
Trang 17Biểu 2:Kết quả NTTS ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2008
2.564 ngàn tấn, trong đó NTTS đạt 1.154 ngàn tấn (chiếm 45,0%) tăng 504
ngàn tấn so với năm 2000 Như vậy tốc độ phát triển bình quân trong thời
gian đó của ngành NTTS là 6,4%.Trong đó tốc độ phát triển bình quân
chung của ngành là 2,6%/năm Qua bảng tổng hợp số liệu sản lượng ngành
thuỷ sản của nước ta trong những năm qua cho thấy sản lượng của việc khai
thác đánh bắt có xu thế ngày càng giảm đi do nguồn tài nguyên tự nhiên biển
đang bị khai thác triệt để không có quy hoạch đã làm cho nhiều loại thuỷ sản
khan hiếm và đi đến tuyệt chủng, trong khi đó sản lượng của nuôi trồng thuỷ
hải sản tăng lên nhờ đầu tư đúng mức về vồn, về trang bị máy móc thiết bị
Trang 18tiên tiến khoa học hiện đại đã làm cho năng suất lao động, giá trị sản lượng
ngày càng được nâng lên
c Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế biển và Nuôi trồng thuỷ hải sản
Công cuộc đổi mới trong những năm gần đây của Đảng đã chú ý coi trọng việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và kinh tế quốc dân
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích thúc đẩy kinh tế, ưu
tiên phát triển ngành nghề trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn nhằm
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hoá, công nghiệp hoá và
hiện đại hoá Chú trọng phát triển trọng điểm khai thác tài nguyên thiên
nhiên sãn có của từng vùng, từng địa phương, như chăn nuôi, khai thác du
lịch và nuôi trồng thuỷ hải sản ứng dụng các giống có năng suất chất lượng
cao, tạo lên sự cân đối hài hoà giữa ngành trông trọt – chăn nuôi – và khai
thác Chưng trình 773 về khai thác mặt nước hoang, bãi triều ven sông ven
biển Chưng trình 327 phủ xanh đất trống đòi trọc đã thực sự là cánh cửa mở
ra cho hàng loạt các mô hình kinh tế phát triển Ở khắp mọi nơi, mọi tổ chức
cá nhân đầu tìm cách khai thác tối đa khả năng của đất, lao động, tiền vốn
nhằm tăng quy mô sản xuất, tăng sản lượng và lợi nhuận Đã có nhiều hộ
nông dân, nhiều tổ chức thu lợi nhuận cao làm giàu cho gia đình tăng thu
nhập cho xã hội và nộp thuế cho ngân sách, nhiều vùng trù phú nhờ vào khai
thác hợp lý lợi thế sẵn có về tài nguyên của địa phương
Xác định được nguồn lợi kinh tế mà NTTS mang lại nên các trung tâm khuyến nông, khuyến ngư được thành lập và phát huy tác dụng ở các tỉnh,
Trang 19các huyện Các đợ vị đó có nhiệm vụ huớng dẫn kỹ thuật, chuyển giao khoa
học công nghệ cho người sản xuất với mục đích nâng cao hiệu quả kinh tế
của ngành Bên cạnh đó nguồn vốn để thực hiện quá trình sản xuất cũng
được Nhà nước quan tâm đầu tư bằng các dự án đầu tư, các tổ chức tín dụng
ngân hàng mở hướng đầu tư trực tiếp đến các hộ nông dân
Như vậy các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cùng sự quan tâm và sự lãnh đạo trực tiếp của các Bộ, ngành cùng cấp Uỷ chính
quyền địa phương trong cả nước đã và đang tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế
biển phát triển nói chung và NTTS nói riêng cùng chung sự phát triển kinh
tế đất nước
d Kết quả một số công trình nghiên cứu
Trong quá trình tham khảo cho thấy các công trình nghiên cứu cảu các tác giả đi trước đều phân tích khá đầy đủ về thực trạng NTTS ở một địa
phương nào đó Trên cơ sở phân tích thực trạng, các tác giả đều tìm ra
những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả NTTS Từ đó đưa ra
những giải pháp khắc phục những nguyên nhân cho ngành NTTS tại địa
phương mà họ nghiên cứu
Tuy nhiên ở phần phân tích thực trạng của các tác giả đi trước hầu như mới chỉ phân tích thực trạng một cách chung chung ở tầm vĩ mô mà chưa đi
đến từng chi tiết cụ thể Chúng đầu biết rằng đối với ngành NTTS nếu chỉ
phân tích chung chung ở góc độ vĩ mô thì những giải pháp, nhận xét đưa ra
sẽ không chính xác, bởi lẽ nếu 2 hộ cùng có năng suất NTTS như nhau song
kết quả thu đựơc hộ nào lớn hơn lại phụ thuộc vào giá trị sản phẩm thuỷ sản
họ có được Nên có một số tác giả chỉ dựa trên quá trình phân tích năng suất
các loại thuỷ sản, rồi đưa ra những kết luận làm không đúng thực chất của
vấn đề nghiên cứu
Trang 20Xuất phát từ thực tế đó, từ sự kế thừa phát huy những kết quả đi trước chúng tôi nghiên cứu đề tài bằng sự phân tích thàh nhóm cụ thể Năng suất,
giá cả của từng loại thuỷ sản cũng được chia thành các loại khác nhau Phân
tích ảnh hưởng của các nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến năng suất và kết
quả NTTS ở các nhóm hộ Từ đó đề ra những giải pháp cụ thể để phát triển
ngành nuôi trồng thuỷ hải sản ở địa phương
2.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
2.2.1 Phương pháp chung
+ Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu
Nuôi trồng thuỷ sản hiện nay là một ngành có triển vọng và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm khuyến khích phát triển Đông Minh là một xã
ven biển của Huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình có một vị trí rất quan trọng cả
về kinh tế và quốc phòng Xã có cơ cấu kinh tế đa dạng cả Nông - Ngư -
Diêm nghiệp - Du lịch Có những nét đặc thù và là thế mạnh riêng của xã
ven biển mà các địa phương khác không có được
Kinh tế biển của đại phương đã tồn tại từ nhiều năm bao gồm nhiều ngành nghề như đánh bắt khai thác NTTS các loại Tôm, cá, cua, rong câu và
khai thác du lịch vận tải biển… Những năm qua, kinh tế biển của xã Đông
Minh có những bước khởi sắc rõ nét, nhất là thời gian gần đây nghề nuôi
trồng thuỷ sản nước mặn, nước nợ thu được những thắng lợi nhát định và trở
thành ngành sản xuất quan trọng, mũi nhọn của địa phương nói chung và
HTX DV Hải Châu nói riêng Tuy nhiên trong quá trình khai thác phát triển
nuôi trồng còn bộc lộ nhiều hạn chế Kết quả sản xuất mang lại chưa tương
xứng với tiền vốn và công sức bỏ ra Lĩnh vực môi sinh môi trường bảo vệ
và phát triển nguồn lợi thuỷ sản nhiều vấn đề cần giải quyết Xuất phát từ đó
tôi chọn HTX DV Hải Châu xã Đông Minh làm dịa bàn nghiên cứu
Trang 21+ Phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu
Đông Minh là 1 trong 34 xã của Huyện Tiền Hải và là 1trong 8 xã ven biển của huyện Tiền Hải Toàn xã có hơn 8 nghìn khẩu trong đó có hơn 6
nghìn khẩu lao động khai thác về kinh tế biển có hơn 1500/2300 khẩu làm
công tác khai thác các linh vực kinh tế biển
Nuôi trồng thuỷ sản là vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tê hiện nay đối với các xã ven biển nối chung và của xã Đông Minh nói riêng từ
mục tiêu nghiên cứu đề tài mà đối tượng nghiên cứu chủ yếu là lý luận và
phương pháp đánh giá thực trạng NTTS tại HTX DV Hải Châu xã Đông
Minh Cụ thể là nghien cứu quá trình nuôi trồng, các kết quả và hiệu quả,
các quan hệ liên quan đến nuôi trồng các loại sản phẩm chính như Tôm sú,
cua xanh, cá vược, rong câu chỉ vàng…
Tiến hành thu thập số liệu ở UBND xã Đông minh và ở HTX DV Hải Châu, điều tra ở 20 hộ NTTS ở các thôn trong HTX
2.2.2 Phương pháp cụ thể
a) Phương pháp thu thập tài liệu
Để thực hiện được phần cơ sở lý luận của đề tài chúng tôi thu thập số liệu từ:
- Các sách lý luận có sẵn như: Kinh tế chính trị Mác – Lênin, lý thuyết kinh tế vi mô - vĩ mô, kinh tế nông nghiệp, thống kê nông nghiệp, Maketing
Trang 22Nguồn tài liệu đã được thu thập qua sách báo, các nghiên cứu trong nước, tư liêu khoa Kế toán&QTKD trường Đại học NN Hà Nội
Thu thập số liệu thông qua sổ sách, các báo cáo thường kỳ, các báo cáo tổng kết hoạt động của HTX, HĐND, UBND và của Đảng bộ Đông
Minh
- Thông tin và số liệu mới
Thu thập trong quá trình điều tra phỏng vấn dưới cơ sở là các hộ chủ đầm nuôi thuỷ sản dựa trên các điển điều tra được xây dựng trong phương án
điều tra
Phương pháp điều tra tiến hành phương pháp điều tra ngẫu nhiên bằng phương pháp truyền thống và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
(PRA)
- Phương pháp điều tra phỏng vấn:
Để tìm hiểu thực trạng NTTS ở HTX DV NN HẢi Châu xã Đông Minh chúng tôi tiến hành điều tra phỏng vấn ngẫu nhiên 30 hộ gía đình của
3 Thôn trong HTX Nội dung đã được chuẩn bị sẵn trong phiếu điều tra,
phiếu bao gồm các câu hỏi mở với nội dung chủ yếu bao gồm: Những đặc
trưng cơ bản về hộ gia đình, thông tin chung về hộ, tập quán canh tác của hộ,
các khoản chi phí, hình thức tiêu thụ, giá cả, chủng loại tôm, cua
Số liệu điều tra ở các hộ NTTS sau đó được tổng hợp để tính toán ra doanh thu bình quân trên một sào
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Đề tài sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích thống kê, phương pháp phân tích kinh tế Còn phương pháp xử lý số liệu được áp dụng:
* Phương pháp tính toán xử lý: Dựa vào số liệu điều tra thống kê tổng hợp các số liệu phân bố theo yêu cầu của đề tài nghiên cứu phân loại các
Trang 23thông tin để có những thông tin chính xác, tính toán các chỉ tiêu có liên quan
đến đề tài Sắp xếp chỉnh lý số liệu một cách phù hợp, đánh giá đưa số liệu
vào cùng một thời điẻm để tính toán
* Phương pháp phân tích số liệu: căn cứ vào số liệu đã được xử lý, tiến hành phân tích trước tình hình biến động của hiện tượng kinh tế xã hội Từ
đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đó rút ra kết luận và tìm ra giải
pháp
2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Các yêu cầu của chỉ tiêu là:
- Đảm bảo tính thống nhất với hệ thống chỉ tiêu nền kinh tế quốc dân
- Đảm bảo tính khoa học: Tức là đánh giá đúng đắn vấn đề nghiên cứu
dễ hiểu dễ áp dụng
- Đảm bảo tính toàn diện, tức là phải có chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu
bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu và chỉ tiêu bổ xung
- Chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm về trình độ phát triển kinh tế xã hội của địa phương
- Các chỉ tiêu cụ thể: Mức độ khai thác và sử dụng tài nguyên (đất đai, mặt nước)
- Mức độ khai thác và sử dụng hiệu qua nguồn lao động
- Giá trị thu nhập, mức độ chi phí và mức lợi nhuận đạt được của từng loại thuỷ sản nuôi trồng
- Mức độ sử dụng vốn, chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm
- Những chỉ tiêu về hiệu quả và kết quả sản xuất
- Chi phí cho sản xuất kinh doanh: Đây là toàn bộ giá trị các yếu tố đầu vào để sản xuất ra các sản phẩm bao gồm: Chi phí cố định(FC) là những
Trang 24chi không đổi khi sản lượng thay đổi Đây là những chi phí mà doanh nghiệp
hay cơ sở sản xuất phải thanh toán dù không sản xuất ra sản phẩm nào
- Chi phí biến đổi (VC) là những chi phí tăng giảm cùng với mức tăng giảm sản lượng như tiền mua nguyên vật liệu, tiền lương công nhân
- Chi phí trung gian (IC) là toànbộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ
khác trong một thời kỳ sản xuất
- Tổng chi phí (TC) bao gồm gía trị thị trường và toàn bộ các tài nguyên sử dụng để sản xuất ra sản phẩm đó
- Giá trị sản xuất (GO) là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo
ra trong một thời kỳ nhất định
- Giá trị gia tăng (VA) là hiệu số giữa giá trị sản xuất sản phẩm (GO)
và chi phí trung gian (IC), giá trị tăng thêm một đồng chi phí trung gian là
chỉ tiêu tương đối, nó chỉ hiệu quả sử dụng các chi phí trung gian khi sản
xuất để cạnh tranh thị trường thì chỉ tiêu này quyết định đến sự thành bại của
một sản phẩm nào đó
- Doanh thu (TR) là toàn bộ giá trị thu được trong quá trình tiêu thụ sản phẩm
TR = P x Q = Giá cả x Số lượng hàng hoá
- Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần người lao động được hưởng cùng phần lãi trong một chu kỳ sản xuất trên một đơn vị diện tích
MI = VA - Thuế(T) - Khấu hao (A) - Thuế lao động (nếu có) Lợi nhuận (Pr) là phần tiền hay giá trị dôi ra của một hoạt động sản xuất sau khi đã trừ mọi khoản chi phí cho hoạt động đó Vậy lợi nhuận là số
mà một đơn vị sản xuất thu được khi doanh thu vượt chi phí
Pr = TR - TC
Trang 25Phần III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3.1.Vài nét chung về xã Đông minh
a Đặc điểm tự nhiên
Xã Đông Minh là 1 trong 8 xã ven biển của huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình
- Phía Đông: Giáp Biển Đông
- Phía Tây: Giáp xã Đông Lâm và xã Đông Cơ
- Phía Nam: Giáp sông Lân
- Phía Bắc: Giáp xã Đông Hoàng
Địa hình của xã nằm dọc theo chiều dài của giải đất dài 7,2 km cũng là đường đê biển Cách trung tâm huyện lỵ Tiền Hải 10 km về phía Đông nằm
trên trục đường 39b Vị trí của xã vừa giáp biển vừa giáp sông lên thuận lợi
cho khai thác thuỷ sản ven bờ và xã bờ đồng thời diện tích bãi triều ngập
mặn cùng chế độ thuỷ triều đã tạo cho địa phương nhiều diện tích đầm hồ
ngập mặn rất thuận lợi cho việc quy hoạch đầu tư nuôi trồng thuỷ hải sản
nước mặn
Đông minh có tổng diện tích đất tự nhiên là 892,4 ha
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 321,7 ha + Đất Nuôi trồng thuỷ sản là: 400,2 ha
- Đất nuôi tôm sú, cua xanh, rong câu và cá là: 165,2 ha trong đó có 105,2 ha diện tích làm muối chuyển sang NTTS
- Đất quy hoạch nuôi ngao: 235 ha
+ Đất rừng: 17,6 ha
Trang 26+ Đất bãi cho du lịch + đất bãi triều ven đê chưa sử dụng là: 89,7 ha
- Lao động nông nghiệp: 1.356 người = 25,5%
- Lao động nuôi trồng thuỷ sản: 2.357 người = 44,2%
- Lao động kết hợp làm dịch vụ và khai thác hải sản ven bờ 1.616 người = 30,3%
c Đặc điểm kinh tế xã hội
+ Điều kiện cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng xã Đông Minh
Là một xã ven biển có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng vì vây trong những năm qua được sự quan tâm đầu tư của các cấp
cùng sự nỗ lực của địa phương Chính quyền Đông Minh đã quy hoạch đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh
tế xã hội
+ Tình hình kinh tế - Văn hoá – xã hội
Đảng bộ Đông Minh gồm 395 đảng viên sinh hoạt ở 7 chi bộ Năm
2006, 2007, 2008 Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh, chính quyền đạt vững
mạnh, các đoàn thể quần chúng tổ chức chính trị xã hội đạt từ khá trở lên
Đời sông nhân dân tương đối ổn đinh năm 2007 thu nhập bình quân nhân khẩu là 8,5 triệu đồng, Năm 2008 bình quân 11,2 triệu đồng, năm 2009
dự kiên thu nhập bình quân 12,0 triệu đồng
Trang 27Bảng 3: Phân bổ lao động Theo Ngành nghề xã Đông minh
năm 2009
Trong đó
Nông nghiệp
Khai thác NTTS
Trang 28Với đặc điểm tự nhiên, khí hậu đã mang lại cho việc sử dụng đất đai của xã Đông Minh rất đa dạng và khác biệt Với chiều dài hơn 7,2 km bờ
biển mặc dù đã có hệ thống đê bao kiên cố vững chặc nhưng vẫn không
tránh khỏi sự thẩm thấu rò rỉ của nước mặn làm ảnh hưởng nhiều đến sản
xuất nông nghiệp Sau thập kỷ 90 chính sách của Đảng và Nhà nước thay đổi
cùng chung sự vân động của cơ chế thị trường hàng hoá được thông thương
trên thị trường quốc tế, giá trị sản phẩm của nông sản nhất là thuỷ hải sản
được nâng cao đánh giá đúng thực chất của nó Với chủ trương đổi mới của
Đảng và chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước kết hợp sự cần cù
chịu khó của người nông dân sau hơn 2 năm đã biến toàn bộ diện tích nhiễm
chua măn, những bãi bồi ven sông, ven đê biển, những diện tích đầm hoang
trở thành những ao hồ nuôi trồng thuỷ hải sản mang lại giá trị thu nhập cao
cho người lao động
Bảng 5: Thu nhập kinh tế của xã Đông Minh năm 2009
ĐVT: 1.000đ
Cơ cấu kinh tế
Tổng giá trị kinh
tế đạt được
Nông nghiệp
Kinh tế biển
Du lịch, dịch vụ
Năm
2006
Năm
2009 Tổng giá
kết quả của sự phát triển vướt bậc của nền kinh tế địa phương
Với cơ cấu kinh tế 3-5-2 lấy nông nghiệp làm chủ đạo trong phát triển kinh tế mũi nhon kinh tế biển giải quyết công ăn việc làm dư thừa trong
Trang 29những lúc nông nhàn tăng thu nhập của nhân dân Việc đầu tư mở rông kinh
tế theo hướng phát triển ra biển đã và đang là hướng đi đúng đắn trong công
cuộc phát triển kinh tế xã hội theo định hướng Công nghiệp hoá - Hiện đại
hoá đất nước Để thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Đông Minh
lần thứ 25 năm 2006 đến nay tỷ trong về phát triển kinh tế là giữ vững mức
thu về nông nghiệp đồng thời nâng cao mức thu của kinh tế biển và du lịch
dịch vụ phấn đấu đến 2010 mức thu nhập bình quân đầu người của xã là trên
e.Thực trạng kinh tế biển xã Đông Minh
Kinh tế biển Đông minh được coi là một ngành kinh tế mũi nhọn hệ thống phát triển kinh tế của các địa phương ven biển Tiềm năng là rất lớn,
nhưng thực chất để khai thác hết và hợp lý nguồn tài nguyên này thì đòi hỏi
phải có những giải pháp đồng bộ của các cấp các ngành cùng những chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì mới mang lại hiệu quả kinh tế
cao mà không làm mất đi những cân bằng sinh thái sẵn có
- Nghề Nuôi trồng thuỷ hải sản
Diện tích bãi triều ngập mặn ngoài đê được quy hoạch thành các Đầm
ao nuôi Tôm sú, Cua xanh, cá và rong câu Diện tích bãi triều nhập mặn theo
chế độ thuỷ triều được quy hoạch thành diện tích nuôi ngao Sản phẩm thuỷ
sản trong những năm qua được chế biến tiêu thụ xuất khẩu sang các nước
phát triển phần còn lại được xuất khẩu trực tiếp sang Trung Quốc qua đường
Trang 30tham gia kinh doanh khai thác du lịch dịch vụ dọc theo chiều dài bờ biển
Trong đó Khai thác thuỷ
Chiếm
tỷ lệ (%)
Tổng số (tr.đ)
Chiếm
tỷ lệ (%)
Tổng
số (tr.đ)
Chiếm
tỷ lệ (%)
ngành nhất là công tác nuôi trồng thuỷ hải sản và du lịch dịch vụ
- Về khai thác thuỷ hải sản với số liệu 4 năm đã thể hiện mức độ giá trị tuy nhiên với tốc độ phát triển tăng lên không đáng kể là do việc khai thác
không có sự đầu tư đúng mức về máy móc trang thiết bị kỹ thuật và cùng với
sự thiếu ý thức của một số lao động dùng các phương tiện huỷ diệt hoặc khai
thác bằng những phương tiện cấm đã làm dần mất đi các loại hải sản quý
- Về du lịch dịch vụ: Cùng sự phát triển của Du lịch trong nước số lượng khách về tham quan tắm biển tại bãi biển ngày càng nhiều, tiềm năng
Trang 31là rất lớn nhưng ngành du lịch cũng chịu ảnh hưởng nhiều của thời tiết khí
hậu và tác động của sự ô nhiễm môi trường nước biển do nước thải của các
khu công nghiệp, do sản xuất nông nghiệp và đặc biệt do nguồn vốn còn hạn
hẹp nên việc đầu tư cơ sở vật chất chưa tương xứng với tiềm năng
Đánh giá chung về phát triển kinh tế biển xã Đông Minh
Tiềm năng thế mạnh từ vùng biển của Đông Minh là rất lớn, rất đa dạng phong phú, nhưng thực trạng để phát huy thế mạnh khai thác hiệu quả
những tiềm năng đó cần sự quan tâm đúng mức cả về chủ trương đường lối
của Đảng, Nhà nước cũng như sự đầu tư về vốn trang thiết bị khoa học kỹ
thuật của các cấp các ngành có liên quan Quá trình khai thác còn gặp nhiều
khó khăn cả chủ quan và khách quan mang lại vì vậy các giải pháp mang
tính đồng bộ trực tiếp sẽ phát huy khơi dậy những tiềm năng sẵn có mà thiên
nhiên ban tặng tạo ra sản phẩm có giá trị hàng cao mang lại thu nhập cho
- Số thôn trong HTX là 3 thôn
- Số khẩu tự nhiên là: 4.500 khẩu
- Số lao động: 2.925 khẩu
- Số Cán bộ quản lý HTX là 06 người
- Tổng số hộ trong HTX là: 1.118 hộ
Trang 32- Diện tích đất canh tác của HTX là: 152,6 ha
Trong đó: có 105,7 ha diện tích nước mặn
b Quá trình hình thành và phát triển HTX
HTX DV Hải Châu xã Đông Minh được thành lập từ những năm 60 khi Đảng Nhà nước có chính sách kêu gọi và khuyến khích nhân dân từ các
địa phương khác ra khai hoang lấn biển Trong thời kỳ này một số hộ từ các
xã lân cận của huyện Tiền Hải đã đi đầu ra khai hoang các vùng đất hoang
hoá cải tạo thành những diện tich sản xuất muối ăn Từ năm 1062 đến năm
1965 phong trào khai hoang lấn biển tại xã Đông Minh đã được nhân rộng ra
toàn tỉnh hình thức sản xuất của HTX luc này là quản lý sản xuất theo tính
chất chung, làm chung diện tích và cùng chung sản phẩm HTX quản lý sản
phẩm để bán ra thị trường theo giá quy định của Nhà nước
Đến năm 1965 đã hình thành lên cánh đồng muối có đê bao chống nước biển và lúc này đã hình thành 12 HTX nhỏ để điều hành và tổ chức sản
xuất Do điều kiện các HTX này quá nhỏ nên việc điều hành sản xuất và
quan hệ xã hội cũng như sự lãnh đạo của các cấp gặp nhiều khó khăn Việc
hợp nhất các HTX nhỏ thành 3 HTX theo địa dư hành chính là 3 thôn đã
được các cấp chính quyền phê duyệt và thực hiện, lúc này toàn bộ cánh đồng
sản xuất muối của xã Đông Minh còn lại 3 HTX đó là HTX Minh Châu;
HTX Thanh Lâm; HTX Ngải Châu
Đến năm 1979 do nhu cầu quản lý sản xuất nhất là công tác điều hành thuỷ lợi phục vụ sản xuất nên các cấp đã quyết định sát nhập 3 HTX thành
HTX Hải Châu như hiện nay nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo sản xuất muối và sản
xuất nông nghiệp, ngành nghề chính là sản xuất muối biển phục vụ cho nhu
cầu sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh Nhân dân chủ yếu là các xã lân cận về
khai hoang cải tạo từ những diện tích bãi triều hoang hoá thành những diện
Trang 33tích sản xuất muối Với cơ chế bao cấp đời sống nhân dân làm muối gặp vô
vàn khó khăn, người làm muối chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết khí hậu,
việc thiếu lương thực xảy ra thường xuyên từ tháng 11 năm trước đến tháng
4 năm sau do trong những tháng này không làm ra sản phẩm Trong cơ chế
quản lý bao cấp HTX làm nhiệm vụ chính là chỉ đạo sản xuất và quản lý thu
hồi sản phẩm Trong giai đoạn này HTX đã giao một số khâu đợn giản cho
các hộ gia đình xã viên nhưng vẫn đảm nhiệm 70% các khâu chính
Sau khi chính sách của nhà nước thay đổi người lao động được tự chủ sản xuất kinh doanh trên diện tích sản xuất, tự chủ về tiêu thụ sản phẩm thì
đời sống của người làm muối đã bớt đi những khó khăn Luật HTX ra đời
năm 1997 làm thay đổi cơ chế hoạt động của HTX lúc này HTX chỉ đảm
nhiệm các khâu chính như điều hành thuỷ lợi, Khoa học kỹ thuật, BVTV,
thú y, định hướng cơ cấu sản xuất và quản lý vùng sản xuất Chính sách mới
đã tạo điều kiện cho việc hoạt động kinh doanh dịch vụ được chủ động trong
hoạt động kinh doanh, đạt hiệu quả, có lãi tích luỹ đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng phục vụ cho tái sản xuất
Năm 2001 là năm đánh dấu bước ngoặt lớn của HTX Hải châu từ cái tên được đổi thành HTX DV đến việc sản xuất kinh doanh cũng thay đổi,
mở ra chính sách mới điều kiện sản xuất mới đó là luật HTX được áp dụng
vào HTX Cũng từ nhu cầu của thị trường cuối năm 2000 đầu năm 2001, kết
hợp nhu cầu của nhân dân làm muối sự chỉ đạo quan tâm giúp đỡ của UBND
Huyên Tiền hải, Đảng uỷ, UBND xã Đông minh BQT HTX Hải châu đã lập
tờ trình và được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt cho HTX tổ chức chuyển
đổi 19 ha ruộng muối sang đào ao nuôi trồng thuỷ hải sản nước mặn, nước
nợ
Trang 34Được sự đồng tình ủng hộ của các cấp có thẩm quyền đã tạo điều kiện
hỗ trợ về vật chất tinh thần cũng như khoa học kỹ thuật cho cán bộ và nhân
dân thực hiện thắng lợi dự án chuyển đổi 19 ha làm muối
Năm 2001 và năm 2002 vừa cải tạo chuyến đổi vừa đi vào sản xuất nuôi trồng cán bộ và nhân dân Hải châu đã thu được kết quả to lớn về giá trị
thu nhập trên diện tích sản xuất và được tổng kết giá trị gấp 10 đến 15 lần so
với làm muối Cũng năm 2002 BQT HTX được các cơ quan có thẩm quyền
giúp đỡ xây dựng đề án chuyển đổi hết diện tích làm muối của HTX sang
nuôi trồng thuỷ hải sản Năm 2003 cán bộ và nhân HTX Hải châu đã hoàn
thành việc chuyển đổi 105,2 ha làm muối sang đào ao NTTS với tổng chi phí
cho việc chuyển đổi là trên 30 tỷ đồng và được UBND tỉnh Thái bình hỗ trợ
kinh phí cải tạo hệ thống cầu cống nạo vét kênh mương phục vụ thuỷ lợi của
HTX trên 1,5 tỷ đồng Sau khi thực hiện thành công dự án chuyển đổi cán bộ
và nhân tập trung đi vào sản xuất tập trung học hỏi kinh nghiệm về nuôi
trồng thuỷ sản của các địa phương khác, của các hộ đã làm trước và nhờ sự
chuyển giao khoa học kỹ thuật của Trung tâm khuyến ngư Thái bình Từ sau
khi chuyến đổi đến nay việc sản xuất của HTX về NTTS ổn định mang lại
thu nhập cao là mức thu nhập được đánh giá là cao nhất so với các hình thức
sản xuất khác trong vùng và được tính gấp nhiều lần so với nghề làm muối
cũng như cấy lúa Giá trị sản lượng cũng như thu nhập của HTX được xét
cao nhất vào các năm 2004, 2005, 2006
Tóm lại: Quá trình hình thành và phát triển HTX DV Hải Châu gặp không ít khó khăn nhất là những năm thời kỳ bao cấp sản phẩm chủ yếu là
làm ra hạt muối vất vả quanh năm nhưng thu nhập lại thấp đời sống Diêm
dân gặp nhiều khó khăn Sau công cuộc đổi mới cơ chế quản lý xoá bỏ nền
kinh tế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 35đời sống người lao động đã phần nào bới khó khăn Người lao động được
làm chủ tư liệu sản xuất tựu chủ hình thức sản xuất và tựu chủ sản phẩm của
mình làm ra
3.2.2 Bộ máy tổ chức quản lý HTX
HTX DV Hải Châu là 1 trong 3 HTX của xã Đông minh huyện Tiền Hải tỉnh Thái bình với diện tích chiếm 1/2 diện tích cảu toàn xã, và dân số
chiếm 3/5 dân số của toàn xã
Bộ máy tổ chức Quản lý HTX gồm 06 người và các cán bộ hợp đồng làm nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo sản xuất ở các Thôn trong HTX Cán bộ Quản
lý HTX gồm:
- Ban Quản Trị HTX gồm 02 thành viên 1 người trực tiếp làm Chủ nhiệm và 1 người làm Phó Chủ nhiệm
- Ban Kiểm soát HTX gồm 01 thành viên
- Cán bộ Quản lý giúp việc cho BQT gồm 01 Kế toán trưởng, 01 Thủ kho, 01 Thủ quỹ
Đội ngũ cán bộ Quản lý HTX đã được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, Chính trị và có kiến thức kinh nghiệm thực tế qua nhiều năm
công tác tại địa phương Với lòng nhiệt tình trong công tác luôn phát huy
tinh thần đi đầu tiên phong của người Đảng viên cùng với kinh nghiệm thực
tế của bản thân trong những năm qua BQT và BKS HTX đã chỉ đạo sản xuất
vượt qua những khó khăn do điều kiện của thời tiết khí hậu mang đưa đến
dành lại những mùa vụ thắng lợi trên lĩnh vức sản xuất nuôi trồng thuỷ sản
Trang 36Trong những năm qua do điều kiện của thời tiết khí hậu mang lại cho khai thác, nuôi trồng thuỷ sản của cả nước nối chung và toàn bộ Miền Bắc
nối riêng, sự ô nhiễm của nước biển ngày càng lớn và có nguy cơ phát triển
mạnh vì vậy trong công tác chỉ đạo điều hành sản xuất nhất là với các loại
thuỷ sản lưỡng cư đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý trực tiếp với các hộ nông
dân phải có kiến thức khoa học kỹ thuật nghiệp vụ quản lý phù hợp với sự
chuyển hoá của nề kinh tế thị trường và kinh nghiệm thực tế Chính vì
những lý do trên trong những năm qua đội ngũ cán bộ Quản lý tại HTX luôn
tìm tòi học hỏi những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới áp dụng thực tế vào địa
phương nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh
3.2.3 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của HTX
Là một HTX làm nhiệm vụ sản xuất muối biển là chính và vậy diện tích đất nông nghiệp của HTX chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ
Bảng 7: Bảng phân tích tình hình biến động đất sản xuất
của HTX Hải Châu
Trang 37+ Đất giao thông, thuỷ lợi 25,2 24,5 24,2 97,2 98,7 97,95
Trong những năm qua do bị nhiễm chua mặm nên diện tích cấy lúa của HTX cho năng suất thấp vì vậy diện tích đất 2 lúa được khuyến khích
chuyển dịch thành các ao nuôi thuỷ sản nước ngọt Diện tích NTTS nước
mặn, nước nợ ổn định trong những năm qua là 105,2 ha mặc dù đã bàn giao
cho Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng đã bù đắp bằng diện tích là
muối chuyển sang
3.2.4 Tình hình xã viên của HTX
Phần lớn xã viên trong HTX là những hộ gia đình nghe theo tiếng gọi của Đảng, Nhà nước ra khai hoang lấn biển chịu bao những gian nan vất vả
tạo dựng thành HTX Hải Châu ngày nay Chính từ đặc điểm trên nên cuộc
sống của những người nông dân gắn liền với ruộng đồng họ luôn có tinh
thần đùm bọc lẫn nhau trong sự thịnh nộ của thiên nhiên bão lũ và cùng ,
luôn quý trọng những diện tích mà họ đã phải bỏ bao mồ hôi nước mắt
chống trọi lại với thiên nhiên để giữ lại từng mảnh đất Ngày nay với trình
độ khoa học kỹ thuật phát triển không ngừng đời sống của người lao động
cũng được nâng lên, cuộc sống đã bớt đi những khó khăn nhưng sự đùm bọc
giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất sinh hoạt hàng ngày vẫn là những nghĩa cử
cao đẹp của xã viên trong HTX Hải Châu
Bảng 8: Bảng Tình hình nhân khẩu và xã viên HTX
09/08 (%)
Bình quân + Tổng nhân khẩu Khẩu 5.230 5.235 5.156 100,1 98,5 99,3
+ Tổng lao động Người 3.202 3.256 3.152 101,6 96,8 99,2
Trang 38- Lao động là nam Người 1.622 1.678 1.598 103,4 95,2 99,3
- Lao động là nữ Người 1.580 1.578 1.554 106,6 98,4 102,5
+ Tổng số hộ hộ 1.182 1.182 1.185 100,0 100,2 100,1
- Hộ NTTS hộ 945 950 952 100,5 100,2 100,3
3.2.5 Vốn và nguồn vốn kinh doanh của HTX
Sự phát triển lớn mạnh của các HTX hiện nay đặc biệt là các HTX làm công tác dịch vụ trong sản xuất nông nghiệp luôn gặp rất nhiều khó
khăn về nguồn vốn cũng như vốn trong sản xuất và kinh doanh Trước sự
thay đổi về hình thức quản lý vân dụng theo nền kinh tế thị trường dưới sự
quản lý của Nhà nước các HTX hầu như chưa đựoc tự chủ trong việc vay
vốn và kinh doanh trên đồng vốn của mình Sự gò ép về hình thức sản xuất
kinh doanh đã làm ảnh hưỏng rất nhiều đến việc kinh doanh các mặt hàng là
thế mạnh của địa phương HTX Hải Châu tuy đã được thành lập khá lâu tuy
nhiên vốn và Nguồn vốn của HTX còn rất hạn chế chưa phù hợp với mô
hình kinh doanh các mặt hàng phục vụ nuôi trồng thuỷ hải sản của địa
phương Nguồn vốn của HTX được chuyển giao từ HTX cũ sang và tích luỹ
từ các hoạt động kinh doanh số vốn tăng chậm đã làm ảnh hưởng khá nhiều
đến việc đầu tư sản xuất mở rộng trong những năm sau Các tổ chức tín dụng
ngân hàng chưa thực sự là cầu nối cho các HTX trong việc vay vốn đầu tư
Bảng 9: Bảng tổng hợp giá trị tài sản - Nguồn vốn sản xuất
kinh doanh của HTX năm 2007 - 2009
ĐVT:1.000 đồng
Diễn Giải
Tổng tài sản
nguồn vốn
Trong đó
Tài sản cố định
Tài sản lưu động
Nguồn vốn chủ
sở hữu
Nợ phải trả Năm 2007 781.806,1 522.459,7 259.346,4 781.806,1 648.726,8 133.079,3
Trang 39dưới tài sản cố định là cầu cống Nguồn vốn cũng như khả năng tài chính
của HTX hàng năm đều tăng do hàng năm tài sản được mua sắm và xây
dựng thêm, vốn vay mượn giảm dần và nguồn vốn chủ sử hữu tăng do được
tích luỹ từ hiệu quả của các công tác sản xuất kinh doanh HTX là đơn vị
hạch toán kinh doanh theo luật HTX nhưng sự bó hẹp kinh doanh trong lĩnh
vực nông nghiệp đã làm cho hầu hết các HTX trong cả nước nói chung và ở
tỉnh Thái bình nói riêng đều chưa phát huy hết khả năng của vai trò mà chỉ
phát huy được phần nào vai trò tập thể trong lĩnh vực chỉ đạo sản xuất Các
HTX hiện nay ngoài việc bị bó hẹp trong lĩnh vực kinh doanh ra còn bị bó
hẹp trong việc vay vốn kinh doanh, các ngân hàng không cho vay vì các
HTX không có tài sản thế chấp
Trong những năm qua công tác hoạt động của các hợp tác xã hoạt động làm dịch vụ nông nghiệp theo luật HTX tuy gặp rất nhiều khó khăn về
vốn, về cơ sở vật chất nhưng với sự cố gắng của cán bộ và xã viên trong
HTX vì vậy bước đầu đã đảm bảo được công tác tài chính Hoạt động dịch
vụ hàng năm được BQT HTX xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trình Đại
hội đại biểu xã viên đồng thời trong quá trình tổ chức thực hiện luôn tiết
kiệm chi phí nhằm tích luỹ nguồn vốn cho HTX Về tài sản của HTX năm
2009 so với năm 2007 tăng 6,7% trong đó chủ yếu tập trung vào tài sản lưu
Trang 40động của HTX giảm dần số nợ phải trả tằng nguồn vốn chủ sở hữu cho tập
thể
3.2.6 Kết quả hoạt động của HTX
Trong những năm qua đời sống nhân dân được cải thiện mức thu nhập năm sau cao hơn năm trước và mức độ thu nhập bình quân đầu người được
xếp cao hơn các địa phương khác trong vùng Kết quả trên được đánh giá
nhờ việc phát huy và nâng cao mức thu nhập từ phát triển kinh tế biển và đặc
biệt là nguồn thu từ nuôi Tôm sú và cua xanh của địa phương Là ngành
chiếm phần lớn dân cư và lao động của địa phương nên khi mức thu nhập
của các hộ gia đình tham gia khai thác nuôi trồng thuỷ hải sản từ kinh tế biển
đã kéo theo mức thu nhập binh quân nhân khẩu của toàn xã
Sản lượng (tấn)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ
lệ (%)
Sản lượng (tấn)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ
lệ (%)
Sản lượng (tấn)
Giá trị (tr.đ)
Tỷ
lệ (%)
Qua bảng số liệu tổng hợp kết quả sản xuất của HTX Hải Châu trong
3 năm cho ta thấy thu nhập chủ yếu của các hộ gia đình xã viên là từ nghề
nuôi trồng thuỷ sản Từ việc diện tích cho sản xuất nông nghiệp ít kết hợp