* Đất nông nghiệp khác NKH: là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; x
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
HOÀNG VĂN HÙNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN QUAN,
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên, 2016
Trang 2TỈNH LẠNG SƠN
Ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC NÔNG
Thái Nguyên, 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu sơ cấp và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Hoàng Văn Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo của các thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và người thân
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên người đã luôn theo sát, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong phòng đào tạo, Khoa Quản lý Tài nguyên, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn giúp
đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi trong thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ Uỷ ban nhân dân huyện Văn Quan, phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng Đất đai, Phòng Tài chính - Kế hoạch và UBND các xã trên địa bàn huyện Văn Quan, cùng tất cả các bạn bè đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện
về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này
Một lần nữa tôi xin chân trọng cảm ơn và cảm tạ !
Văn Quan, tháng 09 năm 2016
Tác giả
Hoàng Văn Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu tổng quát 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
2.3 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 4
1.1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp 4
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 4
1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp 5
1.1.1.3 Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp 6
1.1.1.4 Sử dụng đất nông nghiệp 8
1.1.1.5 Quan điểm sử dụng đất bền vững 9
1.1.1.6 Loại hình sử dụng đất 11
1.1.2 Khái niệm 12
1.1.2.1 Hiệu quả 12
1.1.2.2 Sử dụng đất 13
1.1.2.3 Hiệu quả sử dụng đất 13
1.1.3 Một số vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 14
1.1.3.1 Hiệu quả kinh tế 14
1.1.3.2 Hiệu quả xã hội 16
Trang 61.1.3.3 Hiệu quả môi trường 17
1.2 Cơ sở pháp lý 18
1.2.1 Văn bản pháp quy của Trung ương 18
1.2.2 Văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn 19
1.3 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 20
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 20
1.3.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 23
1.4 Bài học kinh nghiệm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 30
1.4.1 Bài học kinh nghiệm 30
1.4.2 Kết luận 32
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 33
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 33
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 33
2.2.2 Thời gian nghiên cứu 33
2.3 Nội dung nghiên cứu 33
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan 33
2.3.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp Văn Quan 33
2.3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Quan 34
2.3.3.1 Hiệu quả kinh tế 34
2.3.3.2 Hiệu quả xã hội 34
2.3.3.3 Hiệu quả môi trường 34
2.3.4 Định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 34
2.4 Phương pháp nghiên cứu 35
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 35
Trang 72.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 35
2.4.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 35
2.4.4 Phương pháp đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 36
2.4.4.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 36
2.4.4.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 37
2.4.4.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.1.1 Vị trí địa lý 40
3.1.1.2 Địa hình 41
3.1.1.3 Khí hậu 41
3.1.1.4 Thuỷ văn 42
3.1.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 42
3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 45
3.1.3 Đánh giá thuận lợi và hạn chế của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động tới sản xuất nông nghiệp 48
3.2 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Văn Quan 49
3.2.1 Hiện trạng sử dụng tài nguyên đất huyện Văn Quan 49
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Quan năm 2016 52
3.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Quan 52
3.2.2.2 Cơ cấu mùa vụ 53
3.2.2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng 55
3.2.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 57
3.3 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính của huyện
Văn Quan 59
3.3.1 Hiệu quả kinh tế 59
3.3.2 Hiệu quả xã hội 66
3.3.3 Hiệu quả môi trường 70
Trang 83.4 Định hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn 74
3.4.1 Quan điểm chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 74
3.4.2 Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng của huyện 74
3.4.2.1 Nguyên tắc lựa chọn 74
3.4.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 74
3.4.2.3 Lựa chọn các loại hình sử dụng đất 75
3.4.3 Đề xuất một số giải pháp thực hiện 75
3.4.3.1 Giải pháp về chính sách và quản lý 75
3.4.3.2 Giải pháp khoa học kỹ thuật (người dân, cá nhân thực hiện) 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
I Tài liệu tiếng Việt 79
II Tài liệu tiếng Anh 81
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 37
Bảng 2.2: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội 38
Bảng 2.3: Phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường 39
Bảng 3.1: Tình hình biến động dân số qua một số năm phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 47
Bảng 3.2: Phân theo khu vực và vùng miền của các đơn vị hành chính huyện Văn Quan năm 2015 50
Bảng 3.3: Thực trạng sử dụng đất đai của huyện Văn Quan năm 2015 51
Bảng 3.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Văn Quan năm 2015 52
Bảng 3.5: Diện tích, năng suất, sản lượng của một số cây trồng chính của huyện Văn Quan 55
Bảng 3.6: Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu huyện Văn Quan 58
Bảng 3.7: Tổng hợp số liệu điều tra các giống cây trồng trong 1 năm 60
Bảng 3.8: Năng suất trung bình, giá sản phẩm trên thị trường 61
Bảng 3.9: Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chủ yếu huyện Văn Quan (Tính cho 1ha trong năm 2015) 61
Bảng 3.10: Bảng phân cấp chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho 6 LUT nghiên cứu 65
Bảng 3.11: Một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế sử dụng đất 66
Bảng 3.12: Tình hình lao động và thu nhập trong nông nghiệp qua các năm 68
Bảng 3.13: Bảng phân cấp chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cho 6 LUT nghiên cứu 69
Bảng 3.14: Mức độ ảnh hưởng của cây trồng cho các kiểu sử dụng đất 73
Bảng 3.15: Bảng phân cấp chỉ tiêu môi trường cho các LUT nghiên cứu 73
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Vị trí tương đối của huyện Văn Quang, tỉnh Lạng Sơn 40
Hình 3.2: Diện tích một số loại đất huyện Văn Quan năm 2015 51
Hình 3.3: Diện tích các loại đất nông nghiệp huyện Văn Quan năm 2015 53
Hình 3.4: Giá trị sản xuất (GO) của 6 LUT chính trên địa bàn nghiên cứu 62
Hình 3.5: Chi phí trung gian sản xuất của 6 LUT nghiên cứu chính 62
Hình 3.6: Biểu đồ tỷ suất giá trị sản xuất theo chi phí trung gian 63
Hình 3.7: Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo chi phí trung gian (MI/IC) 64
Hình 3.8: Giá trị ngày công lao động trên một ngày của 6 LUT 64
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không
có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, Sử dụng đất nông nghiệp như thế nào để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu cùng với sức ép của sự gia tăng dân số, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang trở thành một vấn đề vấn đề bức thiết của các nước đang phát triển
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Việt Nam cũng vậy, đến nay vẫn cơ bản là một nước nông nghiệp Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam đã, đang và sẽ có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của đất nước Từ một nền kinh tế nông nghiệp tập trung mang nặng tính bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường, nước ta đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề về kinh tế, xã hội cũng như môi trường Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, Việt Nam cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, trên cơ sở đó nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện cảnh quan, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu
Trong những năm gần đây, hòa cùng với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển Cùng với sự vận động và phát triển này, con người ngày càng “vắt kiệt” nguồn tài nguyên đất để phục vụ cho lợi ích của mình, dẫn đến sự thoái hoá đất, giảm tính bền vững trong phát triển kinh tế nói chung và trong nông nghiệp nói riêng
Huyện Văn Quan nằm ở phía Tây Bắc của thành phố Lạng Sơn, Tổng diện tích tự nhiên của huyện Văn Quan là 55.028,23 ha, dân số 54.995 người Là huyện
Trang 13thuần nông, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
xã hội của huyện với diện tích đất nông nghiệp là 45.972,05 ha, chiếm 83,54% tổng
diện tích tự nhiên toàn huyện [1], [2] Với đặc thù là huyện miền núi nên lao động của huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp tuy vậy đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất và chất lượng nông sản hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm, trình độ lao động không cao Chính vì vậy thu nhập của người dân huyện Văn Quan không cao Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, và sự gia tăng dân số gây
áp lực lớn tới hiệu quả sử dụng đất Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự hướng dẫn
của PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực
trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn” Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp
2 Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp Văn Quan
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Quan
- Đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Văn Quan
2.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Tạo cơ sở khoa học và thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đối với quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài góp phần quan trọng trong việc khắc phục những bất cập tồn tại trong sử dụng đất nông nghiệp, Nâng cao nhận thức cho nhân dân
Trang 14nhất là nông dân huyện Văn Quan về tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp của huyện trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, nâng cao vai trò quản lý nhà nước về sử dụng đất nông nghiệp và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
a) Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối
và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [10]
b) Phân loại đất nông nghiệp
*) Đất sản xuất nông nghiệp (SXN): là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản
xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể cả đất
sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo sử dụng vào mục đích chăn nuôi Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác
+) Đất trồng lúa (LUA): là ruộng, nương rẫy trồng lúa từ một vụ trở lên
hoặc trồng lúa kết hợp với sử dụng vào các mục đích khác được pháp luật cho phép nhưng trồng lúa là chính; bao gồm đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước còn lại, đất trồng lúa nương
+) Đất cỏ dùng vào chăn nuôi (COC): là đất trồng cỏ hoặc đồng cỏ, đồi cỏ
tự nhiên có cải tạo để chăn nuôi gia súc; bao gồm đất trồng cỏ và đất cỏ tự nhiên có cải tạo
+) Đất trồng cây hàng năm khác (HNK): là đất trồng cây hàng năm không
phải đất trồng lúa và đất cỏ dùng vào chăn nuôi gồm chủ yếu để trồng mầu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tầm, cỏ không để chăn nuôi; gồm đất bằng trồng cây hàng năm khác và đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác
Trang 16- Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian sinh
trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây
ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác
*) Đất lâm nghiệp (LNP): là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng
trồng đạt tiêu chuẩn rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã có rừng bị khai thác, chặt phá, hoả hoạn nay được đầu tư để phục hồi rừng), đất để trồng rừng mới (đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng hoặc đất đã giao để trồng rừng mới); bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
*) Đất nuôi trồng thuỷ sản (NTS): là đất được sử dụng chuyên vào mục
đích nuôi, trồng thuỷ sản; bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
*) Đất làm muối (LMU): là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
*) Đất nông nghiệp khác (NKH): là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng
nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp [10]
1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là điều kiện cho sự sống của động - thực vật và con người trên trái đất Đất đai là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người Đất đai tham gia vào tất cả các ngành kinh tế của xã hội Tuy vậy, đối với từng ngành cụ thể đất đai có vị trí khác nhau
Trong nông nghiệp nói chung và ngành trồng trọt nói riêng, đất đai có vị trí đặc biệt Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế Đặc biệt
vì đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng
Trang 17lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống, mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai Diện tích, chất lượng của đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và của cả vùng Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo
vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này
là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia [6]
1.1.1.3 Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp
Trên phương diện kinh tế, đất nông nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau:
*) Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
Nét đặc biệt của loại tư liệu sản xuất này chính là sự khác biệt với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng Các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian
sử dụng sẽ bị hao mòn và hỏng hóc, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý, khoa học sẽ lại càng tốt hơn Đặc điểm này có được là do đất đai có độ phì nhiêu Tùy theo mục đích khác nhau, người ta chia độ phì nhiêu thành các loại khác nhau Cụ thể là:
+) Độ phì tự nhiên: được tạo ra do quá trình phong hóa tự nhiên Độ phì loại
này gắn với thuộc tính lý - hóa - sinh học của đất và môi trường xung quanh
+) Độ phì nhân tạo: có được là do kết quả của sự tác động có ý thức của con
người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý, có căn cứ khoa học để thỏa mãn mục đích của con người (làm đất, chăm sóc, luân canh, xen canh cây trồng và tưới tiêu)
Trang 18+) Độ phì tiềm tàng: là hàm lượng các chất dinh dưỡng có trong đất ở một
thời điểm nhất định Độ phì nhiêu loại này là kết quả của sự tác động tổng hợp các nhân tố tự nhiên và nhân tạo
+) Độ phì kinh tế: là độ phì nhiêu mà con người đã khai thác sử dụng cho
mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyển hóa của cây trồng sau một quá trình sản xuất
Từ đặc điểm này, trong nông nghiệp cần phải quản lý đất đai một cách chặt chẽ, theo quy định của Luật đất đai; phân loại đất đai một cách chính xác; bố trí sản xuất, nông nghiệp một cách hợp lý; thực hiện chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất [6]
*) Diện tích đất là có hạn
Diện tích đất là có hạn do giới hạn của từng nông trại, từng hộ nông dân, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của từng quốc gia Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể Quỹ đất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng như đáp ứng nhu cầu đất ở khi dân số ngày một gia tăng Đặc điểm này ảnh hưởng đến khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp
Diện tích đất đai là có hạn không có nghĩa là mức cung về đất đai trên thị trường là cố định Tuy quỹ đất đai là có hạn nhưng đường cung về đất đai trên thị trường vẫn là một đường dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa giá đất và lượng cung về đất
Đặc điểm này cho thấy cần quy hoạch, và sử dụng đất đai hợp lý đồng thời quản lý chặt chẽ để vừa đảm bảo nâng cao thu nhập cho người nông dân vừa đảm bảo an ninh lương thực trong thời kỳ CNH - HĐH [6]
*) Vị trí đất đai là cố định
Các tư liệu sản xuất khác có thể được di chuyển trong quá trình sử dụng từ vị trí này sang vị trí khác thuận lợi hơn, nhưng với đất đai việc làm đó là không thể Chúng ta không thể di chuyển được đất đai theo ý muốn mà chỉ có thể canh tác trên những vị trí đất đai đã có sẵn Chính vị trí cố định đã quy định tính chất hóa - lý -
Trang 19sinh của đất đai đồng thời cũng góp phần hình thành nên những lợi thế so sánh nhất định về sản xuất nông nghiệp
Từ việc nghiên cứu đặc điểm này cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh và những hạn chế của vùng; thực hiện quy hoạch, phân bổ đất đai cho các mục tiêu sử dụng một cách thích hợp; xây dựng cơ
sở hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn [6]
*) Đất đai là sản phẩm của tự nhiên
Đất đai là sản phẩm mà tự nhiên ban tặng cho con người Song, thông qua lao động để thỏa mãn mong muốn của mình, con người làm thay đổi giá trị và độ phì nhiêu của đất đai Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người và thuộc sở hữu chung của toàn xã hội Tuy nhiên, Luật đất đai cũng khẳng định quyền sử dụng đất nông nghiệp sẽ thuộc người sản xuất Nông dân có quyền sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và thuê mướn đất [10]
1.1.1.4 Sử dụng đất nông nghiệp
a) Sử dụng đất nông nghiệp
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người
- đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường Quy luật phát triển kinh tế - xã hội cùng với yêu cầu bền vững về mặt môi trường cũng như
hệ sinh thái quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất hợp lý, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất
Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với vai trò là nhân tố cơ bản của sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện
Trang 20- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh
tế sử dụng đất
- Giữ mật độ sử dụng đất đai thích hợp, hình thành việc sử dụng đất đai một cách kinh tế, tập trung, thâm canh [11]
b) Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
*) Đất nông nghiệp cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý
Sử dụng đầy đủ và hợp lý đất nông nghiệp có nghĩa là đất nông nghiệp cần được sử dụng hết và mọi diện tích đất nông nghiệp đều được bố trí sử dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng loại đất để vừa nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi vừa duy trì được độ phì nhiêu của đất
*) Đất nông nghiệp cần được sử dụng có hiệu quả kinh tế cao
Đây là kết quả của nguyên tắc thứ nhất trong sử dụng đất nông nghiệp Nguyên tắc chung là đầu tư vào đất nông nghiệp đến khi mức sản phẩm thu thêm trên một đơn vị diện tích bằng mức chi phí tăng thêm trên một đơn vị diện tích đó
*) Đất nông nghiệp cần được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp có nghĩa là cả số lượng và chất lượng đất nông nghiệp phải được bảo tồn không những để đáp ứng mục đích trước mắt của thế hệ hiện tại mà còn phải đáp ứng được cả nhu cầu ngày càng tăng của các thế hệ mai sau Sự bền vững của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện sinh thái môi trường Vì vậy, cần áp dụng các phương thức sử dụng đất nông nghiệp kết hợp hài hòa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài [6]
1.1.1.5 Quan điểm sử dụng đất bền vững
Là một hệ sinh thái, một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con người Các tác động của con người, nhiều khi, đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vượt quá khả năng tự điều chỉnh của đất Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ra một lượng lương thực, thực phẩm ngày càng nhiều trong khi các hoạt động cải tạo đất chưa được quan tâm đúng mức và hậu quả là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi Ngày nay, nhiều vùng đất đai màu mỡ đã bị thoái hóa nghiêm trọng, kéo theo sự xói mòn đất và suy giảm nguồn nước đi kèm với hạn hán,
Trang 21lũ lụt, Vì vậy, để đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả
năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất Thuật ngữ "sử dụng
đất bền vững" ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên [19]
Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn
là mong muốn của con người trong mọi thời đại Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam Việc sử dụng đất bền vững nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước
(bảo vệ);
- Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)
Như vậy, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn
cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội Năm mục tiêu mang tính nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững Trong thực tiễn, việc sử dụng đất đạt được cả 5 mục tiêu trên thì sự bền vững sẽ thành công, nếu không sẽ chỉ đạt được sự bền vững ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện Tại Việt Nam, việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị
trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dư để lại) Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không
sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường
Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của
Trang 22hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường, ) Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân
Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ
- Bền vững về mặt môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu mỡ
của đất, ngăn chặn sự thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép
+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững
+ Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm )
Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét và đánh giá các loại hình
sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [12], [24]
1.1.1.6 Loại hình sử dụng đất
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa việc xác định loại hình sử dụng đất vào nội dung các bước đánh giá đất và
coi loại hình sử dụng đất là một đối tượng của quá trình đánh giá đất
Loại hình sử dụng đất (land use type - LUT) là bức tranh mô tả thực trạng
Trang 23sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định
Yêu cầu của các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững Đó là những yêu cầu sinh trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường
Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay, như:
- Chuyên trồng lúa: có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm;
- Chuyên trồng màu: thường được áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ;
- Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm, nhất là mùa khô
1.1.2 Khái niệm
1.1.2.1 Hiệu quả
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại [16]
Trang 24Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra là kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [16]
1.1.2.2 Sử dụng đất
Sử dụng đất là mục đích tác động vào đất đai nhằm đạt kết quả mong muốn Trên thực tế có nhiều kiểu sử dụng đất khác nhau trong đó có các kiểu sử dụng đất chủ yếu như cây trồng hàng năm, lâu năm, trồng rừng, đồng cỏ… Ngoài ra còn có
sử dụng đất đa mục đích với hai hay nhiều kiểu sử dụng đất chủ yếu trên cùng một diện tích đất Kiểu sử dụng đất có thể là hiện tại nhưng cũng có thể trong tương lai, nhất là khi các điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng, tiến bộ khoa học công nghệ thay đổi Trong mỗi kiểu sử dụng đất nông lâm nghiệp thường gắn với các cây trồng
cụ thể [28]
1.1.2.3 Hiệu quả sử dụng đất
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” [22]
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [26], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản
Trang 25xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả
1.1.3 Một số vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới
Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà kha học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia và quá trình sản xuất nông nghiệp [21]
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: Xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, tức là phải tiết kiệm thời gian, tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích xã hội và phải bảo vệ được môi trường Điều đó có nghĩa
là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
1.1.3.1 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá và với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là, mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”
- Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý luận
hệ thống
- Ba là, hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
Hiệu quả kinh tế phải được tính bằng tổng giá trị trong một giai đoạn, phải trên mức bình quân của vùng, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi xuất tiền cho vay vốn ngân hàng Chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ trong, ngoài nước,
hệ thống phải giảm mức thấp nhất thiệt hại (rủi ro) do thiên tai, sâu bệnh
Trang 26Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả nghiệp phân bổ mới có điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ thì khi đó mới đạt hiệu quả kinh tế
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là: với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động tiết kiệm nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội [3]
Theo quan điểm tính hiệu quả của C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ
sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Trên cơ sở thực hiện vấn đề “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động giữa các ngành” Theo quan điểm này thì đó là quy luật “Tiết kiệm”, là “Tăng năng suất lao động xã hội”, hay đó là “Tăng hiệu quả” Ông cho rằng: “Nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở của hết thảy mọi xã hội” Như vậy, theo quan điểm của Mác, tăng hiệu quả phải được hiểu rộng và nó bao hàm cả việc tăng hiệu quả kinh tế và xã hội
Theo các nhà khoa học kinh tế Simmerman - Nordthuas cho rằng: “Hiệu quả
có nghĩa là không lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng năng suất của nó” [10]
Trang 27Nếu xét trên phương diện so sánh thì hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu tư, chi phí
bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào
Như vậy, chúng ta thấy rằng, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh
tế nhưng đều thống nhất nhau ở bản chất của nó Người sản xuất muốn thu được kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn…
So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó, sẽ là hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả với một lượng chi phí định trước hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả nhất định
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện thông qua các chỉ tiêu
1.1.3.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất hiện nay là phải thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy; đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về ăn, mặc, và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc
sử dụng đó bền vững hơn, ngược lại sẽ không được người dân ủng hộ
Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp [27]
Trang 28Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra [21]
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [27], Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Từ những quan điểm trên cho thấy, hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, định canh, định
cư, xây dựng xã hội lành mạnh, nâng cao mức sống của toàn dân
1.1.3.3 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ mầu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [10]
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học hoá trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà không gây ô nhiễm môi trường đất
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Đây là loại hiệu quả môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm trong điều kiện hiện nay Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó không có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như đất, nước, không khí và hệ sinh học Hiệu quả đạt được khi quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra
Trang 29không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá trình sản xuất đó còn đem lại cho môi trường tốt hơn, làm cho môi trường xanh, sạch đẹp hơn trước [8]
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm: Hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường
Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng được quan tâm
Như vậy, sử dụng đất hợp lý hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả
ba loại hiệu quả: kinh tế, xã hội và môi trường
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Văn bản pháp quy của Trung ương
Luật đất đai năm 2013;
Luật Bảo vệ môi trường 2015;
Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường 2015;
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Nghị định số 64-CP ngày 27-9-1993 của Chính phủ về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp;
Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh;
Nghị định số 42/2012/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; Nghị định số 35/2015/NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng đất trồng lúa
có quy định về Chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa;
Thông tư 205/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa theo Nghị định 42/2012/NĐ-CP
ngày 11/05/2012 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;
Trang 30Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2012 Ban hành quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất;
Thông tư số 47/2013/TT-BNNPTNT ngày 08/11/2013 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn việc chuyển đổi từ trồng lúa sang trồng cây hàng năm, kết hợp nuôi trồng thủy sản trên đất trồng lúa;
Thông tư số 35/20014/ TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định về điều tra đánh giá đất đai
Nghị quyết Số 17/2011/QH13 ngày 22/11/2011 của Quốc hội về quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011- 2020) cấp quốc gia;
1.2.2 Văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn
Quyết định số 1543/ QĐ- UBND ngày 18/10/2013 của UBND tỉnh Lạng Sơn
Về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015) huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn;
- Quyết định số: 1524/QĐ-UBND Về việc công bố thủ tục hành chính chuẩn hóa lĩnh vực Đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Quyết định số 234/QĐ-STNMT Về việc công bố Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 đối với lĩnh vực tài nguyên đất, thanh tra tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lạng Sơn
- Quyết định số 404/QĐ-UBND Về việc giao đất cho UBND thành phố để giao đất có thu tiền sử dụng đất và giao đất để mở rộng đường ngõ đi chung
- Quyết định số 403/QĐ-UBND Về việc sửa đổi Quyết định số UBND ngày 30/11/2015 của UBND tỉnh Lạng Sơn
2190/QĐ Quyết định sô 394/QĐ2190/QĐ UBND Về việc thu hồi đất, giao cho UBND thị trấn Lộc Bình để sử dụng vào mục đích đất sinh hoạt cộng đồng
- Quyết định số 263/QĐ-UBND Về việc thu hồi, giao đất cho Công an huyện Bắc Sơn để sử dụng vào mục đích an ninh tại xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn
- Quyết định số 1840/QĐ-UBND Về việc công bố thủ tục hành chính lĩnh vực đất đai thay thế và bị thay thế thuộc phạm vi chức năng quản lý của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Lạng Sơn
Trang 31- Quyết định số 403/QĐ-UBND Về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành trong lĩnh vực Đăng ký giao dịch bảo đảm thuộc thẩm quyền giải quyết của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất UBND huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Quyết định số 681/QĐ-UBND Về việc công bố thủ tục hành chính ban hành mới về lĩnh vực Đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Quyết định số 895/QĐ-UBND Về việc công bố thủ tục hành chính ban hành mới, thủ tục hành chính bãi bỏ trong lĩnh vực Đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp tỉnh
- Quyết định số 680/QĐ-UBND v/v công bố thủ tục hành chính mới ban hành, đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định quản lý Nhà nước
về Giá trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
1.3 Cơ sở thực tiễn về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở các nước Đông Nam Á như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp phân tích chuyên gia… Bằng những phương pháp đó các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất, để từ đó có thể sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng
Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp các nước trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn trước Viện lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản
ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là của Nhật [6]
Trang 32Nhà khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế và xã hội [23]
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường độ lao động, vốn đầu từ, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm [23]
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động của sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “Ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp [20]
Thái Lan 30 năm trước, có thời gian diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan
tăng “đột biến” Người Thái cần cù lao động, bám chặt đồng ruộng để mong thay đổi cuộc sống Còn các nhà hoạch định chính sách Thái Lan coi nông nghiệp là nội lực sống còn để phát triển kinh tế quốc dân Với lợi thế về nhân lực nông nghiệp (có đến 80% dân số Thái sinh sống vùng nông thôn), diện tích đất canh tác sẵn có, Thái Lan đã nhanh chóng hiện thực hóa được ước mơ trở thành “nồi cơm” của thế giới Chỉ tính trong năm 2007, nước này xuất khẩu 9 triệu tấn gạo, đạt 3,5 tỷ USD, giữ vững thế độc tôn
Thế nhưng Thái Lan, sau đó, rơi vào nguy cơ “đất không đủ cày” vì tốc độ công nghiệp hóa, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải trí; “trương nở” của những
đô thị lớn; kèm theo đó là hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuật canh tác mới theo phương châm phát triển bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi màu mỡ, xói mòn hoặc nhiễm mặn Sớm “bắt bệnh” để tìm thuốc chữa, việc đầu tiên là phải đổi mới chính sách Các nhà hoạch định chính sách Thái Lan lấy nông nghiệp là bệ phóng cho nền kinh tế quốc dân, và không chỉ có thế, mục tiêu cốt lõi là tạo ưu đãi
“tam nông” để ổn định chính trị xã hội
Trang 33Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ người nông dân nâng cao tính cạnh tranh của nông sản trên thị trường thế giới thì vấn đề liên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức người nông dân được coi trọng hướng đến Vì vậy, mặc dù bình quân diện tích đất canh tác nông nghiệp Thái Lan gấp 4 lần Việt Nam nhưng nhờ những hướng đi đúng đắn trong đào tạo nguồn nhân lực nên những vùng đất hoang, địa hình đồi núi dốc và cả những vùng khô cằn không chỉ dành cho cây ngô, lúa nương mà nhiều loại lúa cao sản đã được triển khai
và cho năng suất cao
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng đất và bảo vệ đất tố hơn [29] Một trong chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thuỵ (2000) [22], ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp
là 66,2 tỉ US, chiếm 28,3% tổng thu nhập của nông nghiệp; ở Canada tương ứng là 5,7 tỉ chiếm 39.1%; ở Ôxtrâylia 1,7 tỉ chiếm 14,5 %; Nhật Bản là 42,3 tỉ chiếm 68,9%; ở Áo là 1,6 tỉ chiếm 35,5%; cộng đồng châu Âu 67,2 tỉ chiếm 40,1% tổng thu nhập nông nghiệp
Tại Hà Lan: Tài nguyên thiên nhiên về nông nghiệp của Hà Lan thiếu hụt
Đất ít lại trũng, thường xuyên bị uy hiếp của ngập lụt, nhưng Hà Lan đã tìm tòi, tự khẳng định những lợi thế so sánh của chính mình để phát triển nền nông nghiệp theo chiến lược của một nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu
Do đó, Hà Lan đã dùng vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và chất lượng quốc tế, có hiệu quả cao Nhà nước coi trọng nhiệm vụ cải tạo đất, hàng năm đầu tư
140 triệu Euro, bình quân 4.000 euro/ha năm
Nhà nước còn tài trợ chỉnh lý đất đai, biến các thửa ruộng nhỏ liên kết thành thửa lớn liền nhau, xây dựng hệ thống kênh rạch, đảm bảo yêu cầu cơ giới hoá Bằng cách nhập khẩu các sản phẩm thuộc dạng “dựa vào quỹ đất lớn” như hạt cốc,
Trang 34đậu, hạt có dầu, nhất là thức ăn chăn nuôi để sản xuất hàng xuất khẩu, hàng năm,
Hà Lan tạo ra được 11,35 vạn việc làm về công nghiệp thực phẩm, đồ uống chưa
kể các ngành dịch vụ phù trợ có liên quan khác
Quỹ đất ít, “tấc đất, tấc vàng”, Hà Lan đã áp dụng công nghệ “dùng vốn thay đất” Để tạo ra hiệu suất cao của đất, ở Hà Lan, đã hình thành hệ thống nhà kính với công nghệ hiện đại bậc nhất thế giới Nhà kính đã tiết kiệm đất (thậm chí có nơi không dùng đất), lại có thể khống chế hoàn toàn điều kiện tự nhiên
Ngoài ra, với quỹ đất ít, Hà Lan áp dụng công nghệ “tăng diện tích đất”, tập trung áp dụng các biện pháp thâm canh cao, nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích, tạo ra năng suất cao gấp nhiều lần năng suất bình quân thế giới
Đài Loan: Vấn đề quan trọng nhất đối với Đài Loan trong chính sách đất đai
là làm thế nào để phối hợp với sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý và có hiệu quả, duy trì sự cân bằng, điều hoà giữa các lợi ích tổng thể và lợi ích cá nhân, bảo vệ lợi ích lâu dài cho các thế hệ tương lai Đài Loan chủ trương phải giữ một diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất lương thực, bảo tồn sinh thái tự nhiên và khoảng không cây xanh
Trong quan điểm phát triển hỗn hợp của Đài Loan, các kế hoạch tổng hợp cho sử dụng đất sẽ bao gồm thời gian biểu và lựa chọn các vùng đất vào các mục tiêu hợp lý, đồng thời cũng tính đến sự cân bằng khu vực, sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đai và giữ cân bằng sinh thái Đài Loan chủ trương duy trì chính sách trợ cấp sản xuất lúa gạo, nhưng để có sự tương đồng trong phát triển kinh tế cũng như việc phân bổ các nguồn lực, việc gieo trồng các loại lúa gạo có chất lượng cao sẽ được khuyến khích
Một chế độ gối vụ áp dụng với đất trồng lúa và màu sẽ được lập nên để sản xuất nông nghiệp nhằm quay vốn nhanh và liên tục Sẽ phát triển các sản phẩm nông nghiệp mang tính dân tộc có khả năng sinh lợi cao, đồng thời dựa vào công nghiệp mở rộng
các loại hình sản xuất nông nghiệp sử dụng vốn và kỹ thuật tập trung
1.3.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn đất có hạn, dân số lại đông, bình
Trang 35quân đất tự nhiên là 0,43 ha/người, chỉ bằng 1/3 mức bình quân của thế giới, xếp thứ 135/160 nước trên thế giới, xếp thứ 9/10 nước Đông Nam Á Mặt khác, dân số lại tăng nhanh làm cho bình quân diện tích đất trên người lại càng giảm [21] Vì thế nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là yêu cầu cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới
Đã có nhiều nghiên cứu về đất đai nói chung và đất nông nghiệp được thực hiện, nhiều công trình đã được công bố Từ những năm 60 của thế kỷ 20, nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã nghiên cứu và công bố nhiều loại bản đồ đất, nhiều tài liệu khác nhau về đặc điểm thổ nhưỡng của nhiều vùng trên toàn quốc Những công trình có đóng góp lớn, phải kể đến các nghiên cứu của các tác giả như: Trần Đình Đằng, Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình (1990); Cao Liêm, Quyền Đình Hà (1991); Quyền Đình
Hà, Vũ Thị Bình (1991); Chu Hữu Quý, Cao Liêm, Quyền Đình Hà (1991); Quyền Đình Hà (1993); Quyền Đình Hà (1993; Phạm Vân Đình, Quyền Đình Hà (1994); Quyền Đình Hà (1995); Nguyễn Thị Minh Hiền, Ngô Thị Thuận (1996); Đỗ Văn Viện, Vũ Thị Phương Thụy (2000); Đỗ Kim Chung (2000); Vũ Thị Phương Thuỵ (2000); Đỗ Văn Viện (1998); Phạm Văn Hùng (2005); Đỗ Văn Viện (2005); Phạm Văn Hùng, T.Gordon MacAulay and Sally P Marsh (2006); Phạm Văn Hùng, T.Gordon MacAulay (2006); Quyền Đình Hà, Vũ Thị Bình (2006)
Trong đó có một số những công trình tiêu biểu, là kim chỉ nam cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tài đó là:
- Phan Sỹ Cường (2000) đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cây cam ở
huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ A Nghiên cứu dùng các chỉ tiêu NPV và IRR để tính hiệu quả kinh tế sản xuất cam cho các hộ nông dân và kết quả cho thấy NPV = 180.940,7 ở tỷ lệ chiết khấu là 9,5% và tỷ suất thu hồi vốn nội bộ là IRR = 0,398 Như vậy, sản xuất cam là có hiệu quả Việc tính toán theo thống chỉ tiêu này có ưu điểm là chính xác nhưng đòi hỏi số liệu về thu chi phải được ghi chép, lưu trữ chi tiết trong nhiều năm Yêu cầu này là rất khó được đáp ứng trong những nghiên cứu ở các hộ nông dân, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa và miền núi cao, nơi có trình độ dân trí thấp Do vậy, việc tính toán hiệu quả kinh tế theo phương pháp này ít được sử dụng
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông
Trang 36nghiệp (2005) đã thực hiện dự án nghiên cứu "Quy hoạch sử dụng hiệu quả 38 vạn ha đất nương rẫy vùng TDMNBB" Nghiên cứu khẳng định, canh tác nương rẫy là một
giai đoạn phát triển nông nghiệp mà mọi miền trên trái đất đều trải qua và hiện vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở nước ta, canh tác nương rẫy là phương thức sản xuất truyền thống lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao, mang nặng tính tự cung tự cấp Cả một thời gian dài, canh tác nương rẫy đã đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm của các cư dân vùng đồi núi Tình hình này vẫn sẽ còn tồn tại trong tương lai xa Tuy nhiên, canh tác nương rẫy là hệ luỵ của việc phá rừng, đốt nương làm rẫy Đa số đất nương rẫy có độ dốc cao; canh tác trên đất nương rẫy chủ yếu theo phương thức truyền thống, khai thác tự nhiên, thiếu các biện pháp chống xói mòn rửa trôi nên phá vỡ nghiêm trọng môi trường sinh thái, đất thoái hoá, năng suất cây trồng thấp Do sản xuất quảng canh nên sau một chu kỳ nhất định, người dân buộc phải bỏ nương rẫy cũ và khai phá vùng đất khác, lại đốt nương làm rẫy Hầu hết các diện tích đất trống đồi trọc hiện nay là hệ quả của canh tác nương rẫy Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, năm 2005, cả nước có khoảng 1 triệu
ha đất nương rẫy thì riêng vùng TD - MNPB đã có 45,2 vạn ha, chiếm trên 45% đất nương rẫy của cả nước Tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp của vùng là 30,6%, trong đất cây hàng năm 39,7%, cao hơn nhiều so với các vùng khác Đặc biệt
3 tỉnh Tây Bắc, tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp rất cao như tỉnh Điện Biên 55,2%, Sơn La 68,8%, Lai Châu 48% Nhiều huyện tỷ trọng này trên 60-70%
và sản xuất nông nghiệp ở đây gần như đồng nghĩa với canh tác nương rẫy Như vậy, đất nương rẫy vẫn giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trong vùng Việc sử dụng hiệu quả đất nương rẫy sẽ mang lại lợi ích thiết thực, nhất là trong hiện nay, trong vùng có nhiều dự án di dân tái định cư lớn, trong khi việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp trong vùng rất khó khăn Hiện nay, sản xuất đất nương rẫy đứng trước những tác động tích cực như: chuyển đổi mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ; các dự án tái định cư các công trình thuỷ điện trong vùng, các phương án quy hoạch ngành hàng
phương án rà soát quy hoạch nông nghiệp các tỉnh đã tác động tích cực đến việc
Trang 37chuyển đổi đất nương rẫy; nhiều chương trình, quyết định của chính phủ (đặc biệt là các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng TD - MNPB theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; góp phần hình thành các vùng chuyên canh hàng hoá tập trung)
- Đinh Duy Khánh, Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng mô hình bài toán tối
ưu đa mục tiêu để xác định phương án tổ chức sản xuất trên đất canh tác cho huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Bài toán tối ưu được giải bằng Modul Solver trong phần mềm Excel, theo phương pháp nhượng bộ từng bước Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt của huyện Gia Viễn tương đối đa dạng Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao nhất là dưa chuột, GTSX đạt 50,4 triệu đồng/ha; GTGT đạt 45,8 triệu đồng/ha LUT cho hiệu quả kinh tế cao nhất là lúa + cá cho GTSX là 93,350 triệu đồng và GTGT là 82,465 tiệu đồng đồng trên 1 ha Cá nuôi vụ mùa trên ruộng lúa cũng cho hiệu quả kinh tế rất cao (GTSX đạt 80,5 triệu đồng, GTGT đạt 73,25 triệu đồng/ha) Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, huyện cần chuyển đổi mạnh
cơ cấu cây trồng theo hướng tăng diện tích cây trồng cho hiệu quả cao, kiên quyết loại trừ những cây trồng cho hiệu quả thấp Thực hiện theo phương án này, mặc dù không phải đầu tư bổ sung nhưng GTSX sẽ tăng 97,814 tỷ đồng, GTGT sẽ tăng 93,825 tỷ đồng so với hiện trạng [22]
- Đoàn Công Quỳ (2006) đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá
trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động, giá trị gia tăng/lao động để
đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện Thạch
Thất, tỉnh Hà Tây" [22]
- Trần Đình Thao (2006), đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ngô hè
thu tại Sơn La Nghiên cứu sử dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas phản ánh năng suất tối đa để đánh giá hiệu quả kỹ thuật và tính toán mức kỹ thuật giao động từ 50% đến 90%, mức bình quân là 82,08% Nghiên cứu kết luận: trình độ giáo dục của chủ hộ, số lần tham gia tập huấn của chủ hộ về kỹ thuật canh tác ngô, cơ hội tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, các biện pháp chống xói mòn đất và chất lượng ngô giống có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật của hộ nông dân trồng ngô [24]
Trang 38- Nguyễn Văn Hoàn (2007) đã sử dụng các chỉ tiêu như: tổng giá trị sản phẩm,
thu nhập thuần để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai của vùng núi tỉnh Bắc Giang Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại vùng núi Bắc Giang: trên đất vàn thấp nơi thoát nước kém và hay có nguy cơ ngập úng vào mùa mưa chỉ sản xuất được 1 vụ lúa thì có thể áp dụng mô hình canh tác mới là: lúa - cá, hoặc chuyển hoàn toàn sang nuôi cá Ở những vùng đất vàn tưới tiêu chủ động chế độ canh tác ba hay bốn vụ đã đem lại thu nhập cao từ loại hình trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn với các công thức luân canh cải tiến Trên chân đất vàn cao nơi tưới tiêu không chủ động, loại hình trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn vẫn được áp
dụng, nhưng công thức luân canh mới có hiệu quả cao nhất là: Lúa xuân - đậu tương
hè - khoai tây Trên địa hình đồi thấp có thể chuyển đổi từ trồng thuần cây sắn sang
trồng xen cây lạc trong nương sắn để không ảnh hưởng đến đất và thu nhập cũng cao hơn Trên địa hình đồi cao có thể chuyển một số diện tích trồng các cây lâm nghiệp như địa phương thường làm sang trồng cây vải và xen cây dứa trong vườn vải ở giai đoạn đầu khi cây vải chưa khép tán để nâng cao hiệu quả kinh tế
- Marsh và các cộng sự (2007) trong một nghiên cứu về vấn đề phát triển nông
nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam trong khuôn khổ dự án ACIAR được tiến hành tại Hà Tây, Yên Bái đã chỉ rõ: Các hộ nông dân đã đa dạng hoá trong việc sử dụng đất nông nghiệp (trong 200 hộ thuộc tỉnh Hà Tây và Yên Bái có đến 63 LUT khác nhau) Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng linh hoạt đất đai cũng có thay đổi đáng kể
và lợi ích từ trồng cây lâu năm cao hơn cây hàng năm Đối với cây hàng năm, việc luân canh giữa lúa và rau (cây thực phẩm) sẽ đem lại thu nhập cao hơn là luân canh giữa lúa với các loại cây khác như ngô, sắn Thu nhập từ việc trồng hoa hay các loại cây cảnh cũng cao hơn
- Trương Văn Tuấn (2007) sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của người dân (PRA) và các phương pháp xác định lượng đất bị xói mòn, rửa trôi để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp canh tác trên đất dốc của các cộng đồng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy trong thực tế, các cộng đồng đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ đất dốc nhưng hiệu quả của các biện pháp này như thế nào thì chưa có nghiên cứu nào xác định cụ thể Do đó, tác
Trang 39giả tiến hành nghiên cứu, đánh giá các biện pháp canh tác trên đất dốc đang được sử dụng, từ đó đề xuất các giải pháp giúp bảo vệ, phục hồi đất dốc nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên đất dốc tại địa bàn Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đã xác định được biện pháp canh tác xen canh cho hiệu quả cao nhất (cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường) Kết quả bố trí thí nghiệm cho thấy LUT điều xen sắn có hiệu quả cao hơn các LUT khác trong hạn chế xói mòn rửa trôi Quá trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá các biện pháp canh tác trên địa bàn, vì vậy cần có những nghiên cứu về các biện pháp canh tác mới có hiệu quả hơn nhằm phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững [31]
- Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Châu (2008) sử dụng một số chỉ tiêu như diện
tích, năng suất cây trồng, hệ số sử dụng ruộng đất để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông, nghiệp tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 - 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình quản lý đất đai của địa phương ngày càng chặt chẽ hơn, hiệu quả sử dụng đất cao hơn thể hiện ở diện tích, năng suất của hầu hết cây trồng gia tăng đặc biệt là lúa, ngô và các cây trồng hàng hoá như rau, sắn Hệ số sử dụng ruộng đất đều tăng nhanh Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại A Lưới việc cấp thẻ giao đất cho các hộ dân vẫn còn rất hạn chế; cơ cấu cây trồng vẫn nặng về sản xuất tự cấp, tự túc, chưa phát
nghiên cứu, một số giải pháp phù hợp với địa phương cũng đã được đề xuất [28]
- Phạm Văn Dư (2009) đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Theo kết quả nghiên cứu, tính
đất nông nghiệp là 855 ngàn hecta, bằng 57% tổng diện tích Tổng dân số là 17,6 triệu người, trong đó 13,4 triệu là dân số nông nghiệp và nông thôn Tuy nhiên, trong những năm qua, do các thửa ruộng manh mún, cách làm ăn cá thể, nhỏ lẻ đã đẩy chi phí sản xuất lên rất cao, thậm chí bằng với giá bán Trung bình mỗi hộ chỉ có 0,2 hecta đất nông nghiệp với từ 3-7 mảnh Theo kết quả điều tra năm 2006, bình quân thu nhập của nông dân chỉ là 506 nghìn đồng/tháng Một trong những nguyên nhân cơ bản là quy mô đất đai của các nông hộ hiện nay quá nhỏ và manh mún đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp, không áp dụng được cơ giới hoá đồng bộ, không áp dụng được
Trang 40nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí Để khắc phục tình trạng này, đã có nhiều giải pháp đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất như dồn điển đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tích tụ ruộng đất Mỗi giải pháp đều gặp nhiều khó khăn và có mặt trái của nó, như năng suất, điều kiện tự nhiên giữa các đồng đất không đều, đầu ra sản phẩm
pháp xây dựng Tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp trên cơ sở tự nguyện của các hộ, bỏ
bờ thửa, cùng canh tác, đưa máy móc thiết bị vào sản xuất đã giảm được đến 50% chi phí, được bà con nông dân đồng tình hưởng ứng
- Nguyễn Khắc Quỳnh (2010) sử dụng các phương pháp như: Thống kê mô tả,
Phân tích tài chính từng phần (Partial Budget Analysis - PBA), Phân tích chỉ số VCR gia tăng (Incremental Value Cost Ratio - IVCR), Phân tích điểm hòa vốn (Break-even
Analysis - BA) để đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa lai thương phẩm ở các hộ
nông dân vùng đồng bằng Sông Hồng Bên cạnh các phương pháp đó, tác giả còn sử dụng mô hình hồi quy tương quan với hàm sản xuất và một số công cụ của PRA để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới năng suất lúa lai thương phẩm Kết quả nghiên cứu cho thấy,
ở cả 2 vụ sản xuất và các tỉnh nghiên cứu, với năng suất, giá bán hiện tại, sản xuất lúa lai thương phẩm tại các hộ nông dân vùng ĐBSH đã có hiệu quả kinh tế Với các hạch toán như hiện nay, để hòa vốn, nông dân vùng ĐBSH chỉ cầm đạt năng suất lúa lai ở vụ xuân là 51,65 tạ/ha, vụ mùa là 43,82 tạ/ha và giá bán là 148,05 ngàn đồng/tạ ở vụ xuân và 159,75 ngàn đồng/tạ ở vụ mùa Nếu giá bán thóc tăng và tăng nhanh hơn giá vật tư nông nghiệp, chắc chắn các hộ sản xuất lúa lai thương phẩm vẫn có lãi
Như vậy, có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng
và bảo vệ đất cũng như xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hàng hoá trong điều kiện cụ thể của từng vùng
Tuy nhiên, ở Việt Nam việc nghiên cứu về đất và sử dụng đất mới được thực hiện trên phạm vi vùng không gian rộng, cho nên tính thực tiễn của nó chưa cao Do vậy, trong thời gian tới cần phải có những nghiên cứu về đất và sử dụng đất mang tính cụ thể hơn, thực tiễn hơn cho từng địa phương (cấp xã, cụm xã, cấp huyện), có như vậy thì mới nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững