Hơn nữa, các làng nghề truyền thống tạo ra nhiều việc làm giải quyết thực trạng dư thừa lao động tại nông thôn Nông thôn Việt Nam chiếm tới 73% dân số của cả nước, thu nhập từ sản xuất n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Trang 2CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS Lưu Thanh Tâm
2 TS Nguyễn Văn Trãi Phản biện 1
3 TS Nguyễn Ngọc Dương Phản biện 1
4 TS Mai Thanh Loan Thư ký, ủy viên Hội đồng
5 TS Lê Bá Hùng Anh Ủy viên Hội đồng
Xác nhận của Chủ tịch Hội đồng đánh giá Luận sau khi Luận văn đã được
sửa chữa (nếu có)
NHIỆM VỤ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ tên học viên: ĐỖ ĐỨC HẠNH Giới tính: Nữ Ngày, tháng, năm sinh: 31/10/1983 Nơi sinh: Hà Nội Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh MSHV: 1184011054
I- TÊN ĐỀ TÀI:
Thực trạng sản xuất kinh doanh tại làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát Tràng tầm nhìn 2020
II- NHIỆM VỤ VÀ NỘI DUNG:
Xây dựng cơ sở lí luận về làng nghề, về các sản phẩm gốm sứ, lí luận về chiến lược và tầm nhìn cho làng nghề truyền thống Tìm hiểu thực trạng làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng, phân tích các điểm mạnh, điểm yếu Từ đó đưa ra chiến lược
và giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh cho làng nghề Nhằm phát triển và mở rộng làng nghề Bát Tràng trong nền kinh tế mở như hiện nay
III- NGÀY GIAO NHIỆM VỤ: 30/06/2012 IV- NGÀY HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ: 30/12/2012 V- CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
Tiến sỹ Lưu Thanh Tâm
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
(Họ tên và chữ ký)
KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,
kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã chỉ rõ nguồn
“Đặc biệt, em xin trân trọng cám ơn Thầy Lưu Thanh Tâm đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này”
Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các hộ sản xuất kinh doanh tại làng nghề Gốm sứ Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong việc thu thập dữ liệu cũng như những ý kiến đóng góp và phản biện trong việc xây dựng bảng câu hỏi
Xin cảm ơn tất cả bạn bè gần xa đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thiện luận văn này
Cuối cùng, tác giả xin dành tặng một lời cảm ơn sâu sắc nhất tới
bố mẹ, anh chị em và gia đình đã là chỗ dựa và nguồn động viên an ủi lớn nhất trên con đường tìm kiếm tri thức
Một lần nữa Tác giả trân trọng cám ơn tất cả mọi người đã giúp đỡ tác giả để hoàn thành Luận văn này
Trang 4TÓM TẮT
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như hiện nay, mỗi nền kinh tế đều
mang một sắc thái riêng dựa theo văn hóa mỗi quốc gia Vấn đề làm sao phát triển
được kinh tế nhưng vẫn phù hợp với văn hóa truyền thống chung, đó một kế hoạch
không dễ dàng Việt Nam là nước thuần nông nghiệp, tỷ lệ nông dân vẫn chiếm đa
số trong cơ cấu ngành nghề lao động của cả nước Muốn tận dụng và phát huy nội
lực cho lực lượng này, thì mô hình làng nghề truyền thống đang trở thành một điểm
sáng trong bức tranh kinh tế
Làng nghề truyền thống gốm sứ Bát Tràng có truyền thống từ hơn 600 năm
nay, các sản phẩm gốm sứ đã từng được thị trường trong nước và nước ngoài ưa
chuộng bởi ngoài vẻ đẹp truyền thống, các sản phẩm mang tính thực dụng cao, hơn
nữa, gốm sứ Bát Tràng còn có những sản phẩm nghệ thuật được người tiêu dùng
quan tâm và trân trọng
Sau khi được nhà nước quy hoạch để trở thành làng nghề điển hình của cả
nước vào năm 2001, làng nghề Bát Tràng càng chứng tỏ vai trò của mình dựa trên
những ưu điểm và lợi thế của riêng Tuy nhiên, khi bước vào cơ chế thị trường mở,
đặc biệt sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, mô hình làng nghề truyền
thống gốm sứ Bát Tràng thể hiện rõ sự thiếu bền vững, từ khâu sản xuất đến khâu
tiêu thụ Điểm yếu lớn nhất đó là làng nghề Bát Tràng không có một chiến lược
đồng bộ dẫn đến sự khủng hoảng và không bắt kịp với thị trường hiện tại thậm chí
bị lấn lướt trong chính thị trường nội địa
Đề tài sau khi phân tích thực trạng làng nghề Bát Tràng, rồi đưa ra các chiến
lược phát triển để góp một phần gìn giữ những sản phẩm mang tính truyền thống và
phát triển hơn nữa các sản phẩm này, cũng như mong muốn góp phần mở rộng mô
hình làng nghề truyền thống nói chung
ABSTRACT
In the context of global economic integration today, each economy will bring
a cultural character based on each country The question is that how economic development is but it is still suitable with common cultural traditions, that plan is not easy Vietnam is a purely agricultural country and the number of farmers is still the majorities of the laboring forces in the structure of the countrywide To take advantage and develop the internal resources for this force, the traditional model of this village has become a bright spot in the economic picture
600 years The ceramic products have been popular in both local as well as foreign markets because the products are not only traditionally beautiful but also highly practical What‘s more, Bat Trang also has highly artistic products that its consumers Traditional village of Bat Trang ceramics has a historical tradition for more than are very interested in and appreciated
After the state planed this village to become a typical one of the country in
2001, the village of Bat Trang has shown its roles based on its own strengths and advantages However, after entering the open market mechanism, especially after the global economic crisis in 2008, the model traditional village of Bat Trang ceramics has shows unsustainability from production to consumption The only weakness is that Bat Trang village does not have a uniform strategy led to the crisis and did not keep pace with the current market or even its product are dominated in the domestic market
This research is aimed to analyze the current situation of Bat Trang village in order to find out the development strategy, contributing a small part to develop increasingly and maintain its products as well as expending the traditional village model in general
Trang 5MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết quả dự kiến đạt được 4
6 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM 6
1.1 Cơ sở lí luận: 6
1.1.1 Một số khái niệm liên quan: 6
1.1.2 Đặc điểm chung về làng nghề truyền thống 14
1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển làng nghề truyền thống 18
1.3 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống của một số nước trên thế
giới (Trong khu vực Châu Á): 20
1.3.1 Phát triển làng nghề truyền thống ở Nhật Bản, 20
1.3.2 Phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc, 21
1.4 Một số nhận xét chung về tình hình phát triển làng nghề truyền thống
trong thời gian qua: 22
1.4.2 Vị trí các làng nghề truyền thống trong sự phát triển của nền
1.4.4 Vấn đề trang thiết bị, công nghệ và mẫu mã sản phẩm, 25
1.4.5 Vấn đề đào tạo kỹ thuật tay nghề cho người lao động, 25
1.4.6 Một số vấn đề về chính sách, 26 Kết luận chương 1: 26 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM SỨ BÁT TRÀNG – HUYỆN GIA LÂM – HÀ NỘI 28 2.1 Thực trạng phát triển làng nghề gốm sứ truyền thống của Việt Nam 28
2.1.2 Sơ lược quá trình phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền thống ở nước ta sau cách mạng tháng 8 – 1945, 29
2.1.3 Tình trạng làng nghề thời kỳ trước đổi mới năm 1986, 29
2.1.4 Thực trạng làng nghề từ năm 1986 cho đến nay 30 2.2 Đặc điểm địa bàn của làng nghề Gốm sứ Bát Tràng – Gia Lâm – Hà
2.2.1 Sự ra đời và phát triển làng gốm sứ Bát Tràng 31
2.2.3 Đặc điểm đất đai, dân số lao động 34
2.2.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng - kỹ thuật 35
2.4 Tình hình sản xuất - kinh doanh của Gốm sứ Bát Tràng 41
2.4.1 Sản xuất và tiêu thụ đồ gốm tại các hộ chuyên điều tra 42
2.4.2 Tình hình sản xuất tại các hộ điều tra 48
2.4.3 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các hộ điều tra 55
2.4.4 Đánh giá năng lực cạnh tranh của gốm sứ Bát Tràng 57
2.4.5 Tình hình ô nhiễm môi trường tại làng nghề gốm sứ Bát Tràng 64
2.4.6 Vấn đề du lịch làng nghề tại làng Gốm Bát Tràng 65
2.4.7 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) 66
2.4.8 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) 67
Trang 62.4.9 Phương pháp phân tích SWOT 70
Kết luận chương 2: 73
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
KINH DOANH CHO LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM SỨ BÁT
3.5 Một số kiến nghị và đề xuất đối với các cấp ban ngành địa phương
và các cơ quan vĩ mô cấp nhà nước 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO I
Tài liệu tham khảo từ sách: I
Tài liệu tham khảo từ luận án, luận văn, đề án, hội thảo: II
Tài liệu báo chí: II
Trang thông tin điện tử: II
SL : Số lượng
CC : Cơ cấu
BQ : Bình quân
NN : Nông nghiệp TCN : Thủ công nghiệp
ĐVT : Đơn vị tính Tr.đ : Triệu đồng TSCĐ : Tài sản cố định
GT : Giá trị Ng.đ : Nghìn đồng
DN : Doanh nghiệp
KT – XH : Kinh tế - Xã hội EFE : External Factor Evaluation
IFE : Internal Factor Evaluation
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay 16
Bảng 2.1 Đặc trưng về sản phẩm Gốm Bát Tràng 36
Bảng 2.2 Kết quả phát triển kinh tế xã Bát Tràng năm 2008 – 2011 38
Bảng 2.3 Quy mô sản xuất của các hộ sản xuất tại làng Bát Tràng 40
Bảng 2.4 Tình hình cơ bản của chủ hộ sản xuất năm 2011 43
Bảng 2.5 Tình hình sử dụng vốn của các hộ điều tra năm 2011 47
Bảng 2.6 Kết quả sản xuất của các nhóm hộ điều tra 51
Bảng 2.7 Chi phí sản xuất gốm của các nhóm hộ điều tra năm 2011 53
Bảng 2.8 Kết quả & hiệu quả sản xuất gốm của các nhóm hộ điều tra 54
Bảng 2.9 Thị trường tiêu thụ trong nước của gốm Bát Tràng và Trung Quốc 58
Bảng 2.10 Thị trường xuất khẩu của gốm Bát Tràng và Trung Quốc 59
Bảng 2.11 Giá một số sản phẩm cạnh tranh trên thị trường 60
Bảng 2.12 Giá thành sản xuất một số sản phẩm của Bát Tràng và Trung Quốc 61 Bảng 2.13 Phân biệt cơ bản giữa gốm Bát Tràng và Trung Quốc 62
Bảng 2.14 Đánh giá các yếu tố bên ngoài 67
Bảng 2.15 Đánh giá các yếu tố bên trong 68
Bảng 2.16 Phân tích SWOT 69
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Chuỗi giá trị sản xuất 13
Biểu đồ 1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực 15
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế của xã Bát Tràng 38
Biểu đồ 2.2 Mức thu nhập bình quân tại làng Gốm Bát Tràng 42
Biểu đồ 2.3 Cơ cấu vốn của các hộ sản xuất 48
Sơ đồ 2.1 Quy trình làm gốm sứ Bát Tràng 48
Sơ đồ 2.2 Kênh tiêu thụ sản phẩm gốm của các hộ sản xuất 55
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình ảnh 1 Sản phẩm trang trí Bát Tràng VI Hình ảnh 2 Sản phẩm ấm chén Bát Tràng VI Hình ảnh 3 Sản phẩm tượng mỹ thuật Bát Tràng VII Hình ảnh 4 Lọ lục bình Bát Tràng VII Hình ảnh 5 Tranh nghệ thuật Bát Tràng VIII Hình ảnh 6 Bức chiếu thư bằng gốm lớn nhất Việt nam VIII
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau một thời gian dài, Việt Nam chuyển đồi từ nền kinh tế bao cấp sang nền
kinh tế thị trường, tự do thương mại với các nước trên thế giới Quá trình phát triển
và bắt kịp với xu hướng toàn cầu hóa của Việt Nam tạo ra một môi trường cạnh
tranh khốc liệt cho các mô hình kinh doanh của nước ta đặc biệt đối với các làng
nghề truyền thống
Nhìn vào thực trạng phát triển ngành nghề của nước ta hiện nay, chúng ta có
thể thấy một số ngành nghề đã rất phát triển, đem lại thu nhập cao cho người lao
động (chủ yếu là những người nông dân), nhưng bên cạnh đó cũng không ít những
ngành nghề dã dần bị mai một Giải pháp cho vấn đề này, đơn giản là chúng ta cần
xây dựng một kế hoạch đồng bộ để phát triển các làng nghề truyền thống Bởi lẽ
những làng nghề này đã có quá trình phát triển lâu đời, tay nghề lao động cao, có
kinh nghiệm truyền từ đời này qua đời khác Hơn nữa, các làng nghề truyền thống
tạo ra nhiều việc làm giải quyết thực trạng dư thừa lao động tại nông thôn (Nông
thôn Việt Nam chiếm tới 73% dân số của cả nước, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp
còn thấp – Theo tổng cục thống kê, 2007), góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm
nghèo, tránh được luồng di cư ồ ạt từ nông thôn vào thành phố, tạo ra đoàn kết thôn
xóm, giảm các tệ nạn xã hội, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí…
Nghị quyết đại hội Đảng Toàn Quốc lần thứ X đã chỉ rõ “… Khuyến khích để
các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn…, phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và
vừa, phát triển bền vững các làng nghề… Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có
việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tại chỗ và ngoài
nông thôn…” Do đó, trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã quan tâm đến
việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống Cụ thể: Một khoản đầu tư
trên 11.000 tỷ đồng dự kiến sẽ được rót cho lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề
ở Việt Nam từ 2010 đến 2020
Làng nghề Bát Tràng thuộc xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội nổi tiếng với sản phẩm gốm sứ đã hơn 600 năm tuổi Trong quá trình phát triển nghề truyền thống, Gốm sứ Bát Tràng đã trải qua những bước thăng trầm, nhiều lúc tưởng như không thể phát triển, song nó vẫn tồn tại duy trì và đã có những chuyển biến tích cực trong sản xuất – kinh doanh như: Sản phẩm Bát Tràng đã nhận được nhiều giải thương cao về Hàng chất lượng cao, mẫu mã đẹp tại các cuộc bình chọn trong và ngoài nước; xây dựng một thương hiệu đặc thù; với hơn 60 đơn vị kinh tế và khoảng 1.000 hộ sản xuất gốm sứ, tổng doanh thu những năm gần đây khoảng 300 tỷ; hàng hóa được xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường… Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nêu trên, còn rất nhiều nhược điểm mà làng nghề Gốm sứ Bát Tràng chưa khắc phục được, như việc các hộ gia đình vẫn sản xuất nhỏ lẻ, chưa liên kết được với nhau để hình thành những cơ sở sản xuất chuyên nghiệp, sản phẩm Gốm sứ Bát Tràng chưa cạnh tranh
được so với các sản phẩm tương tự trong nước và nước ngoài, hoặc quan trọng hơn
là việc xử lý các ảnh hưởng tới môi trường trong quá trình sản xuất…
Nhằm phát huy tối đa nội lực sẵn có của làng nghề Gốm sứ Bát Tràng, đẩy mạnh mô hình làng nghề truyền thống, phát triển nhưng vẫn giữ được những giá trị
văn hóa tinh túy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài THỰC TRẠNG SẢN XUẤT
KINH DOANH CỦA LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM SỨ BÁT TRÀNG – TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Nghiên cứu đề tài này sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học cho việc đề ra giải pháp nhằm giữ gìn và phát triển làng nghề, giữ gìn các văn hóa cổ truyền và nâng cao đời sống cho nhân dân địa phương góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Qua nghiên cứu đề tài này, người viết mong muốn tìm hiểu thực trạng phát triển làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát Tràng, từ đó thấy được những vấn đề còn hạn chế, nguyên nhân của vấn đề đó và đưa ra những giải pháp cụ thể:
Trang 9• Hệ thống hóa cơ sở lý luận làng nghề truyền thống, vị trí, vai trò của làng nghề
truyền thống đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và đối với kinh tế xã hội
của làng nghề nói riêng
• Tìm hiểu thực trạng làng nghề Gốm sứ Bát Tràng trong những năm gần đây và
những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục
• Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển những lợi thế về sản xuất kinh doanh
của làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát Tràng
• Đối tượng nghiên cứu là: Hoạt động sản xuất kinh doanh của làng nghề Gốm
sứ Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội
• Đối tượng khảo sát là: Các hộ gia đình trực tiếp tham gia sản xuất tại làng
nghề Gốm sứ Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội
• Phạm vi nội dung: Tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển làng
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận giải quyết vấn đề của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu điển hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tác động
của nhiều yếu tố môi trường đến làng nghề gốm sứ Bát Tràng, tác giả phân tích và
đề xuất các nhóm giải pháp chiến lược nâng cao hiệu quả của làng nghề truyền
thống nông thôn Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp luận Luận văn vận dụng cách tiếp cận theo duy vật biện chứng, vận dụng quan
điểm đường lối của Đảng về phát triển mô hình làng nghề truyền thống và cách tiếp
cận theo hệ thống để phân tích và làm rõ thực trạng Từ đó đưa ra những nhận định
và đồng thời phát triển các ý tưởng, các quan điểm để cùng vận dụng chúng trong việc xây dựng các chiến lược, chính sách phát triển ngành nghề truyền thống Gốm
sứ Bát Tràng Cơ sở lý thuyết của đề tài dựa vào các lý thuyết liên quan đến làng nghề truyền thống và phát triển kinh tế, các phương thức tăng trưởng kinh tế có đề cao vai trò của làng nghề truyền thống
b Phương pháp kỹ thuật Luận văn kết hợp các phương pháp mô tả thống kê – khảo sát, phân tích – tổng hợp – so sánh đối chứng, phân tích định lượng qua mô hình kinh tế lượng
5 Kết quả dự kiến đạt được
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi của đề tài nghiên cứu, kết quả dự kiến đạt
được của luận văn bao gồm:
• Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về làng nghề truyền thống như: Các khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống, đặc trưng của làng nghề truyền thống… để làm cơ sở nhận dạng thực trạng phát triển của làng nghề truyền thống nói chung và làng nghề Gốm sứ Bát Tràng nói riêng
• Phân tích, đánh giá các tác động của nền kinh tế đổi mới đối với mô hình làng nghề truyền thống để tìm ra các giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trong thời gian tới
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống ở Việt Nam
Trang 10Chương 2: Thực trạng làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát Tràng – Huyện Gia
Lâm – Hà Nội
Chương 3: Chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh cho làng nghề Gốm sứ Bát
Tràng tầm nhìn 2020
Trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn, không thể tránh khỏi
những sai sót Em rất mong nhận được sự góp ý và sửa chữa của Quý Thầy/ Cô để
luận văn của em hoàn thiện Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lí luận:
1.1.1 Một số khái niệm liên quan:
1.1.1.1 Khái niệm chung về sản phẩm gốm
Sản phẩm gốm cơ bản được hiểu là những sản phẩm được làm từ những loại
đất sét khác nhau, do những người thợ thủ công làm ra và nung trong lò với nhiệt độ
trên 1100o
C
Hầu hết các đồ gốm đều được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ tài năng sáng tạo của người thợ được lưu truyền qua nhiều thế hệ Mỗi một làng nghề có những đặc trưng riêng cho sản phẩm tiêu biểu là màu men của mỗi một vùng đều không giống nhau
Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia các loại hình gốm sứ như sau [16]:
• Gốm mỹ nghệ: Tranh gốm, gạch trang trí, lọ hoa, tượng, đèn ngủ, chậu cây cảnh…
• Gốm gia dụng: Chum, vại, chậu, bát, đĩa, âu, lọ, vò, ấm, chén…
• Gốm tín ngưỡng: Bát hương, bình hương, tiêu quách…
• Gốm xây dựng: Ống nước, gạch men, ngói…
1.1.1.2 Khái niệm làng nghề truyền thống
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một số nghề
được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Có số hộ từ 35% trở
lên trong làng tham gia hoạt động sản xuất trong các ngành nghề Thu nhập của họ
từ các ngành nghề này chiếm trên 50% tổng thu nhập của họ và thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng trên 50% trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng
Trang 11Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với
nghề nông”[8]
Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 của Bộ Tài nguyên và môi
trường, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau:
• Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề
nông thôn
• Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận
• Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước
1.1.1.3 Khái niệm ngành nghề truyền thống,
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiêu thủ công nghiệp đã xuất
hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế nước ta, có tuổi đời trên 100 năm, còn tồn
tại đến ngày nay, bao gồm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến
hoặc sử dụng máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ
truyền thống Vì thế, những ngành nghề được gọi là ngành nghề truyền thống khi
bao gồm những yếu tố sau [13]:
• Đã hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta (trên 100 năm)
• Sản xuất tập trung tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề đông đảo
• Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định
• Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nước
• Sản phẩm mang tính truyển thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị và chất
lượng cao, vừa là hàng hóa, vừa là sản phẩm văn hóa, nghệ thuật thậm chí là di sản
văn hóa Việt Nam
• Là nghề nghiệp nuôi sống một bộ phận dân của cộng đồng, đóng góp đáng kể
1.1.1.4 Khái niệm về làng nghề truyền thống,
Khái niệm làng nghề truyền thống bao gồm hai khái niệm làng nghề và ngành nghề truyền thống nêu trên Làng nghề truyền thống là một thực thể kinh tế - văn hóa - xã hội, tồn tại và phát triển tương đối bền vững về một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống lâu đời
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền, mà ở đó có các hộ nghề, tộc nghề chuyên sản xuất, chế tác, sinh sống bằng nghề và sản phẩm thủ công truyền thống lâu đời Đấy là nơi có những thế hệ nghệ nhân, thợ thủ công tài năng của địa phương và dân tộc, đã và đang tạo ra những sản phẩm tinh xảo, độc đáo, đậm nét bản sắc văn hóa, có giá trị kinh tế, tư tưởng và thẩm mỹ cao, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước
Tiến trình lịch sử hình thành và phát triển làng nghề truyền thống đã cho thấy các làng nghề ra đời xuất phát từ nhu cầu cần việc làm lúc nông nhàn của người dân
ở nông thôn và làm ra sản phẩm đáp ứng yêu cầu tại chỗ (tự cấp tự túc) và sau đó là
nhu cầu xã hội (sản phẩm hàng hóa), phục vụ đời sống hàng ngày và yêu cầu thờ cúng, thưởng ngoạn nghệ thuật, xây dựng nhà cửa, vũ khí và phương tiện quân sự
để bảo vệ đất nước… đã dần dần xuất hiện
Làng nghề truyền thống thường cần có đặc trưng tiêu biểu:
• Lâu đời;
• Có vị Tổ nghề;
• Có nghệ nhân, đội ngũ thợ lành nghề;
• Có công nghệ truyền thống lâu đời ổn định;
• Có khả năng duy trì và phát triển bằng việc truyền nghề, lan tỏa nghề ;
• Sản phẩm ổn định, độc đáo có ý nghĩa kinh tế, văn hóa, xã hội, có thị trường tiêu thụ (trong nước và xuất khẩu)
Trang 12Đến nay, trong các làng nghề đã hình thành nhiều loại hình doanh nghiệp (từ
hộ gia đình, tổ sản xuất, hợp tác xã, đến các loại công ty) có đăng ký kinh doanh
theo luật định Sản phẩm thủ công mỹ nghệ trở thành một trong các ngành hàng
xuất khẩu chủ lực Việc phát triển làng nghề còn có ý nghĩa như là giải pháp để giải
quyết các vấn đề an sinh xã hội và bảo tồn văn hóa dân tộc, có tính lâu dài, tính
nhân văn cao và góp phần quan trọng cho sự phát triển bền vững [13]
1.1.1.5 Khái niệm về chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh
“Chiến lược là phương hướng và quy mô của một tổ chức trong dài hạn: chiến
lược sẽ mang lại lợi thế cho tổ chức thông qua việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực
trong một môi trường cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và kỳ vọng của
các nhà góp vốn” [24]
Chiến lược được triển khai tại các cấp độ khác nhau: Trong bất kỳ tổ chức
nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau - trải dài từ toàn bộ doanh
nghiệp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng các nhân làm việc trong đó
Chiến lược doanh nghiệp – liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của
doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn Đây là một cấp
độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và
đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ
doanh nghiệp Chiến lược doanh nghiệp thường được trình bày rõ ràng trong “tuyên
bố sứ mệnh”
nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể Nó liên quan đến
các quyến định chiến lược về việc lựa chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng,
giành lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ, khai thác và tạo ra được các cơ hội mới
Chiến lược tác nghiệp - liên quan tới việc từng bộ phận trong doanh nghiệp sẽ
được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ
công ty và từng bộ phận trong doanh nghiệp Bởi vậy, chiến lược tác nghiệp tập
Vai trò của chiến lược: Chiến lược có vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế Các quốc gia trên thế giới từ lâu đã biết vận dụng chiến lược vào việc phát triển kinh tế và đã có những bước nhảy thần kỳ Điển hình như Nhật Bản sử dụng chiến lược quản lý, kết hợp với yêu tố hiện đại và yếu tố truyền thống, kết hợp sức mạnh dân tộc để CNH – HĐH tầm vĩ mô và tạo ra kỳ tích vực dậy sau khi thua cuộc
ở thế giới chiến thứ hai Hay như Hàn Quốc, sau chiến tranh 1950-1953, đã thực
hiện thành công chiến lược HĐH nông thôn, chiến lược khuyến khích các công ty trong nước mở rộng sản xuất kinh doanh, nhờ vậy Hàn Quốc trở thành quốc gia vững mạnh như ngày nay Đối với Việt Nam, sau chiến tranh chống Pháp và chống
Mỹ, thành công mà đất nước chúng ta đạt được đó là thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, và hơn hết đó là chúng ta thể hiện đường lối đúng đắn mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
1.1.1.6 Khái niệm chiến lược phát triển làng nghề truyền thống,
Chiến lược phát triển có thể hiểu là một kế hoạch bao gồm quá trình tăng lên
cả về lượng lẫn về chất trong một thời kỳ nhất định, hay chính là bao gồm cả sự tăng lên về quy mô, sản lượng và sự tiến bộ về cả cơ cấu kinh tế - xã hội Với sự phát triển làng nghề truyền thống thì được hiểu là sự tăng lên về quy
mô của các loại hình tham gia sản xuất ngành nghề truyền thống, sự tăng lên về số lượng các cơ sở sản xuất, các hộ sản xuất nghề, đồng thời là sự tăng lên về giá trị sản lượng, về thu nhập của người lao động, sự tăng lên về thu nhập của địa phương cũng như sự tăng lên về tổng thu nhập của các cơ sở và hộ sản xuất ngành nghề truyền thống Hay cũng là chính sự thay đổi GDP của địa phương theo hướng tiến
bộ là tăng dần tỷ trọng Công nghiệp và Dịch vụ, biểu hiện thông qua sự tăng trưởng kinh tế địa phương [14]
1.1.1.7 Khái niệm về tầm nhìn
• Khái niệm: Tầm nhìn xác định những giá trị và mục đích cốt lõi nhất của doanh nghiệp, đồng thời định huớng phát triển trong tuơng lai của doanh nghiệp, nêu bật được khát vọng mà doanh nghiệp muốn đạt tới
Trang 13• Các yếu tố tạo nên tầm nhìn doanh nghiệp
Tầm nhìn bao gồm ba thành tố chính: giá trị cốt lõi, mục đích cốt lõi và tương
lai rõ nét Giá trị cốt lõi, mục đích cốt lõi tạo nên hệ tư tưởng cốt lõi của doanh
nghiệp Đây là tính chất căn bản nhất, lâu bền nhất của một doanh nghiệp, là chất
kết dính toàn bộ doanh nghiệp Tương lai rõ nét xác định những mục tiêu lớn đạt
được trong tương lai, phải hướng tới giá trị và mục đích cốt lõi
Giá trị cốt lõi: thể hiện niềm tin, khả năng hoặc khát vọng vươn tới của doanh
nghiệp
Mục đích cốt lõi: phản ánh được động lực lý tưởng để mọi người trong doanh
nghiệp làm việc và mong muốn đạt được Mục đích cốt lõi lâu dài, gắn với doanh
nghiệp trong suốt quá trình tồn tại và phát triển
Tương lai rõ nét: phải xác định được những mục tiêu lớn, táo bạo có thể đạt được
trong vòng 10-30 năm và những bước thực hiện cụ thể để đạt được các mục tiêu đó
• Vai trò của tầm nhìn đối với doanh nghiệp
Tầm nhìn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Tầm
nhìn gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp với nhau, tạo động lực làm việc cho
doanh nghiệp, giúp các hoạt động của doanh nghiệp đi vào những khuôn khổ định
sẵn và hướng tới mục tiêu phát triển của doanh nghiệp
Gắn kết các thành viên trong doanh nghiệp: Như một sợi dây vô hình, tầm
nhìn kết nối tất cả mọi người trong doanh nghiệp với nhau Họ cùng có niềm tin vào
những giá trị cốt lõi và cùng hướng tới mục đích lâu dài của doanh nghiệp
Tạo và truyền động lực làm việc: Khi thể hiện được giá trị và mục đích hoạt
động của doanh nghiệp, tầm nhìn giúp nhân viên trong doanh nghiệp hiểu và cảm
nhận được ý nghĩa công việc của họ Với một tương lai rõ nét, tầm nhìn mang lại
niềm tin vào tương lai cho mọi người Tầm nhìn cũng chính là con đường chuyển
ước mơ của mỗi cá nhân thành hiện thực Khi ước muốn, tham vọng và những giá
trị cá nhân được đề cao thì tất cả mọi người đều muốn làm việc hết khả năng của
mình
Giúp các hoạt động của doanh nghiệp đi vào những khuôn khổ định sẵn và hướng tới mục tiêu phát triển của doanh nghiệp: Mọi hoạt động của doanh nghiệp
đều dựa trên các giá trị cốt lõi và hướng tới mục đích cốt lõi của doanh nghiệp Vì
vậy, tầm nhìn được coi là chuẩn mực để đánh giá hiệu quả công việc của doanh nghiệp, là thước đo điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp Các doanh nghiệp thành công đều xem xét rất kỹ liệu kế hoạch kinh doanh đó, kế hoạch sản xuất đó có phục vụ cho mục đích cốt lõi của họ không? Nếu các kế hoạch chỉ đơn thuần để lại lợi nhuận mà phá vỡ những giá trị hay mục đích cốt lõi của họ, thì chúng sẽ không bao giờ được thực thi
• Tầm nhìn cho làng nghề truyền thống Cũng giống như tầm nhìn của một doanh nghiệp, nhưng tầm nhìn cho làng nghề truyền thống có đặc tính ở một phạm vi rộng hơn Tầm nhìn cho làng nghề cũng xác định những điều cốt lõi cho tương lai nhưng mang tính đồng bộ giữa các chính sách thực thi [21]
1.1.1.8 Khái niệm chuỗi giá trị sản xuất
Chuỗi giá trị (do Michael Porter đưa vào năm 1985) là một chuỗi các hoạt
động Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản phẩm sẽ nhận thêm một số giá trị tăng thêm Tùy theo mức độ chi tiết hóa
cho mỗi quá trình, chuỗi giá trị được phân thành chuỗi hai loại: giá trị giản đơn
hoặc chuỗi giá trị mở rộng
Vậy có thể hiểu: Chuỗi giá trị là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có
quan hệ với nhau, từ việc cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng
Trong chuỗi giá trị có “chức năng” của chuỗi và cũng được gọi là các “khâu” trong chuỗi Bên cạnh các chức năng chuỗi giá trị chúng ta có “tác nhân” Tác nhân
là những người thực hiện các chức năng trong chuỗi Bên cạnh các tác nhân chuỗi
giá trị chúng ta còn có các “nhà hỗ trợ chuỗi giá trị” Nhiệm vụ của các nhà hỗ trợ
Trang 14Sơ đồ thể hiện các hoạt động sản xuất/kinh doanh (khâu), các tác nhân chính
trong chuỗi và những mối liên kết của họ Thể hiện qua sơ đồ chuỗi giá trị dưới đây:
Sơ đồ 1.1: Chuỗi giá trị sản xuất Hoạt động
Chọn đất Tạo dáng gốm Thu gom Bán sỉ Thị trường
Người bán sỉ, người bán lẻ
Nhà hỗ trợ các chuỗi giá trị
Công cụ phân tích chuỗi giá trị giúp chúng ta nhắm đến thị trường tiêu thụ sản
phẩm trước khi sản xuất Qua đó, xác định nhu cầu và yêu cầu của thị trường, tiếp
đến là quản lý được sản xuất kinh doanh, xác định nhu cầu đầu tư hỗ trợ để nâng
Chính quyền địa phương, ngân hàng,
các Sở/ngành liên quan,…
cấp chuỗi Chuỗi giá trị chỉ mang lại lợi nhuận cho các tác nhân nếu người tiêu dùng sẵn sàng chi trả giá sản phẩm cuối cùng
Giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị: Giá trị gia tăng là mức đo độ thịnh
vượng được tạo ra trong chuỗi giá trị Để tính được giá trị gia tăng trong một chuỗi giá trị, chúng ta tính như sau: [Giá trị gia tăng] = [tổng giá bán sản phẩm] – [giá trị hàng hóa trung gian] (ví dụ chi phí đầu vào: mua nguyên vật liệu, dịch vụ v.v.) Giá trị gia tăng được tạo ra bởi tác nhân của từng khâu trong chuỗi giá trị Hàng hóa trung gian, đầu vào và dịch vụ vận hành được cung cấp bởi các nhà cung cấp mà họ không phải là tác nhân của khâu
1.1.2 Đặc điểm chung về làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống của nước ta đã có từ lâu đời, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, làng nghề truyền thống bao gồm các đặc điểm chính sau:
1.1.2.1 Đặc điểm về phân bố làng nghề trong cả nước
Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến giữa năm 2009, cả nước ta có khoảng 2.790 làng nghề, thuộc 11 nhóm ngành nghề khác nhau, trong đó gồm 1,4 triệu hộ tham gia sản xuất , thu hút hơn 11 triệu lao động Nhiều tỉnh có số lượng các làng nghề lớn như Hà Nội (bao gồm Hà Tây cũ) với 450 làng nghề, Khánh Hòa có 201 làng nghề, Ninh Bình 88 làng nghề… với hàng trăm ngành nghề khác nhau, phương thức sản xuất đa dạng
Tuy nhiên, sự phân bố và phát triển các làng nghề lại không đồng đều trong cả nước Các làng nghề ở miền Bắc phát triển hơn ở miền Trung và miền Nam, chiếm gần 70% số lượng các làng nghề trong cả nước (1594 làng nghề), trong đó tập trung nhiều nhất và mạnh nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng Miền Trung có khoảng 111
làng nghề, còn lại ở miền Nam hơn 300 làng nghề [3] Biểu đồ 1.1 cho ta thấy sự
phân bổ làng nghề truyền thống theo bảy vùng kinh tế Việt Nam
Trang 15Biểu đồ 1.1 Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực
1.1.2.2 Đặc điểm về nguyên liệu cho sản xuất
Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa phương
trong nước Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông sản và thực
vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có các loại vật liệu
xây dựng Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực tiếp từ tự nhiên
Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các nguyên
liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế Ví dụ, theo thống
kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng 70.000 tấn than,
gần 100.000 tấn đất nguyên liệu [2]; Các làng nghề chế biến gỗ, mây tre đan trong
những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu rất lớn, đặc biệt là các
loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ gia dụng và gỗ mỹ nghệ Nhiều nguyên liệu
chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác
1.1.2.3 Đặc điểm về công nghệ, thiết bị và cơ sở hạ tầng sản xuất
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân
vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần
Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã cũ, sử
dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ
thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí vẫn chiếm tỷ lệ hơn 60% ở các làng nghề
Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều làng nghề đã áp dụng công nghệ mới, thay thế máy móc mới, hiện đại Ví dụ, làng gốm Bát Tràng đã dần dần đưa công nghệ nung gốm sứ bằng lò tuy nen (dùng gas và điện) thay cho lò hộp và lò bầu (dùng than và củi), nhào luyện đất bằng máy thay cho bằng tay thủ công, dùng bàn xoay bằng mô tơ điện thay cho bàn xoay bằng tay ; làng gỗ mỹ nghệ
Đồng Kỵ Bắc Ninh hiện nay đã đầu tư 11 máy xẻ ngang, 300 máy cắt dọc, 100 máy
vanh, 500 máy khoan bàn, 500 máy phun sơn… phục vụ cho sản xuất, nhờ đó mà năng suất và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao rõ rệt…
Bảng 1.1 Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay
Nguồn: Niên giám thống kê năm 2009
Nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh
1.1.2.4 Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất
Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất của làng nghề đang có nhiều bước tiến mới, nhất là trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
Trình độ kỹ thuật Chế biến
nông – lâm – thủy sản
Thủ công
mỹ nghệ và vật liệu xây dựng
Các ngành dịch vụ
Các ngành khác
Thủ công bán cơ khí (%) 61.51 70.69 43.90 59.44
Cơ khí (%) 38.49 29.31 56.10 40.56
Tự động hóa (%) 0 0 0 0
Trang 16hơn 11 triệu lao động làm việc thường xuyên trong các hộ sản xuất kinh doanh
Nhiều làng thu hút tới 70% lao động của làng, điển hình là làng gốm sứ Bát Tràng
Hiện nay, mỗi cơ sở chuyên làm nghề bình quân tạo việc làm ổn định cho 27
lao động thường xuyên, 8 – 10 lao động thời vụ Mỗi hộ chuyên nghề tạo việc làm
cho 4 – 6 lao động thường xuyên, 2 – 5 lao động thời vụ Đặc biệt ở nghề dệt, thêu
ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử dụng
chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những công đoạn
nặng nhọc và độc hại nhất Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ
thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là ở các làng nghề truyền
thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Trong các làng nghề truyền thống,
vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất
và sáng tạo ra nghệ thuật
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở các làng nghề nhìn chung còn
thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ
Trong lịch sử phát triển làng nghề các giai đoạn qua thì hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh phổ biến nhất là hình thức hộ gia đình Cho đến nay, cùng với đó,
một số hình thức sản xuất khác đã ra đời và phát triển phù hợp với xu hướng kinh tế
mới Các hình thức tổ chức sản xuất của các làng nghề chủ yếu gồm: Tổ chức sản
xuất Hợp tác xã; doanh nghiệp tư nhân; hộ gia đình; công ty trách nhiệm hữu hạn;
công ty cổ phần Các hình thức này cùng tồn tại, tác động lẫn nhau trong điều kiện
kinh tế mới của nền kinh tế thị trường
1.1.2.5 Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng nông
thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng thấp Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ
chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ hệ sản xuất ở nông thôn cũng dần thay đổi,
điều này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng
hộ gia đình được khuyến khích và chiếm ưu thế đã tạo điều điều cho việc sử dụng lao động, tự do chọn nguyên liệu và sản phẩm, tăng gia sản xuất, lựa chọn thị trường và tiêu thụ sản phẩm Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị trường trong nước chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ…
1.2 Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển làng nghề truyền thống
Với hơn 2790 làng nghề trong cả nước, gồm 11 nhóm ngành nghề, sử dụng hơn 11 triệu lao động, đóng góp hơn 40 ngàn tỷ đồng cho thu nhập quốc gia… các làng nghề truyền thống đã và đang đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt là khu vực kinh tế nông thôn Vai trò của việc phát triển làng nghề truyền thống được thể hiện qua những đặc điểm sau:
• Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tận dụng nguồn nguyên liệu phong phú với giá thành rẻ Các nghề truyền thống chủ yếu sử dụng các nguyên liệu sẵn có trong nước, vốn là các tài nguyên thiên nhiên điển hình của miền nhiệt đới: tre nứa, gỗ, tơ tằm, các sản phẩm của nông nghiệp nhiệt đới (lúa gạo, hoa quả, ngô, khoai, sắn…), các loại vật liệu xây dựng…
• Quá trình phát triển các nghề truyền thống đang góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hơn 11 triệu lao động Theo hiệp hội Làng nghề Việt Nam, trong khoảng 2790 làng nghề ở nước ta thu hút 1,42 triệu hộ gia đình tham gia sản xuất với khoảng 1,35 triệu lao động chính, và hàng triệu lao động phụ, với mức thu nhập cao gấp 3 đến 4 lần so với thu nhập của người thuần nông
• Người nông dân sản xuất nông nghiệp thường theo mùa vụ, nên có những lúc nhàn rỗi, dư thừa lao động Khi tham gia sản xuất các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người nông dân, tiến tới tăng thu nhập cho hộ gia đình, ổn định mức sống Hơn nữa, một số làng nghề truyền thống còn sử dụng lao động là người già, người khuyết tật…
Trang 17• Mặt khác, sản phẩm từ các làng nghề không chỉ đáp ứng các thị trường trong
nước với các mức độ nhu cầu khác nhau mà còn xuất khẩu sang các thị trường nước
bạn với nhiều mặt hàng phong phú, có giá trị cao Trong đó, điển hình nhất là các
mặt hàng thủ công mỹ nghệ (hiện nay, mặt hàng này xuất khẩu đạt giá trị gần 1 tỷ
USD/năm) Giá trị hàng hóa từ các làng nghề hàng năm đóng góp cho nền kinh tế
quốc dân từ 40 – 50 ngàn tỷ đồng Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh
quá trình CNH - HĐH nông thôn Tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để
người nông dân “ly nông nhưng không ly hương” và làm giàu trên quê hương mình
Giảm bớt làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn dễ ảnh hưởng đến trật tự
xã hội
• Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra là sản
phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sản xuất, đặc
biệt là khâu tiêu thụ Họ sẽ không còn tư tưởng sản xuất tự cung tự cấp, nhờ đó,
người dân sẽ trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn trong việc bố trí sản xuất Do
vậy, làng nghề truyền thống đóng vai trò thay đổi tập quán tư duy sản xuất rất lớn
• Mở rộng hơn, nhiều làng nghề hiện nay có xu hướng phát triển theo hướng
phục vụ các dịch vụ du lịch Đây là hướng đi mới nhưng phù hợp với thời đại
hiện nay và mang lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời có thể giảm thiểu tình trạng
ô nhiễm môi trường, nâng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, phục vụ
mục tiêu phát triển bền vững
• Xét trên bình diện nền kinh tế vĩ mô, phát triển sản xuất các mô hình làng nghề
truyền thống, ngoài việc tăng thu nhập cho các hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập
quốc dân, tăng thu cho ngân sách địa phương Hơn nữa, còn góp phần bảo tồn và
phát huy bản sắc dân tộc Vì làng nghề cổ truyền tạo nên những sản phẩm truyền
thông với trình độ kỹ, mỹ thuật cao, kết tinh tài hoa của các nghệ nhân qua nhiều
thế hệ, nhiều sản phẩm không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn phản ánh một cách
sinh động lối sống và ước vọng của người lao động, thấm đẫm tâm hồn người Việt
và được truyền từ đời này sang đời khác
1.3 Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống của một số nước trên thế giới (Trong khu vực Châu Á):
Mỗi một đất nước có một nền Kinh tế – Văn hóa – Xã hội khác nhau, điều đó tạo nên sự khác biệt trong từng làng nghề của mỗi quốc gia Việt Nam là đất nước giàu truyền thống văn hóa, các sản phẩm thủ công từ các làng nghề hết sức phong phú và đa dạng Nhưng trước sự thay đổi nhu cầu của thế giới, các sản phẩm truyền thống của chúng ta chưa đáp ứng được nhu cầu đó, trong khi các nước trong khu vực lại phát triển tốt và ngày càng ảnh hưởng đến làng nghề của Việt Nam Chính vì thế, việc tìm hiểu thực trạng làng nghề của các quốc gia có cùng điều kiện như Việt Nam là vô cùng cần thiết Thông qua đó, chúng ta sẽ học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm cần thiết để kịp thời đưa ra những giải pháp phát triển đồng bộ cho các làng nghề hiện nay
1.3.1 Phát triển làng nghề truyền thống ở Nhật Bản,
Nhật Bản là một trong những nước có nghệ thuật gốm sứ phát triển nhất Điều
đó không chỉ được thể hiện ở số lượng người làm nghề gốm mà còn thể hiện ở nhiệt
huyết của họ trong việc bảo tồn phát huy làng nghề Cuối những năm 70 của thế kỷ
20, khi Nhật Bản đã cơ bản thực hiện xong công cuộc Công nghiệp hóa đất nước, các ngành công nghiệp đã được hình thành và phát triển ở khu vực thành phố tạo nên sự thu hút mạnh mẽ về lao động từ các vùng nông thôn Nhưng điều đó lại tạo
ra một hiện tượng các làng nghề truyền thống bị mai một Năm 1979, tỉnh trưởng
tỉnh Ooita – Miền Tây Nam – Nhật Bản phát động và tổ chức phong trào “mỗi thôn
làng một sản phẩm”, gọi tắt là OVOP - One Village One Product Kết quả cho
thấy ngay những năm đầu tiên Trong 20 năm kể từ năm 1979-1999, phong trào mỗi làng một sản phẩm đã tạo ra được 329 sản phẩm với tổng doanh thu là 141 tỷ yên/năm (trên 1.1 tỷ USD hay 19.000 tỷ đồng Việt Nam)
Qua thống kê cho thấy ngành nghề thủ công truyền thống của Nhật Bản rất đa dạng, bao gồm: Chế biến lương thực, thực phẩm; đan lát; dệt chiếu; dệt lụa…Tính
đến nay, Nhật Bản có 867 nghề thủ công truyền thống vẫn còn được duy trì và phát
Trang 18triển Năm 1992, Nhật Bản tiếp đón gần 3000 lượt khách của 62 quốc gia trên thế
giới tới thăm mô hình các làng nghề truyền thống
Đi đôi với việc phát triển làng nghề truyền thống, Nhật Bản còn nghiên cứu
các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập các hiệp hội, các văn
phòng cố vắn Tất cả đều đồng bộ và phục vụ một mục đích duy nhất là phát triển
mạnh mẽ mô hình làng nghề Chính vì vậy, thống kê cho thấy thu nhập ngoài nông
nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập mỗi hộ dân Năm 1993 nghề thủ công và làng
nghề đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ đô la [4]
1.3.2 Phát triển làng nghề truyền thống ở Trung Quốc,
Trung Quốc là đất nước liền kề Việt Nam, trong quá trình vận động và phát
triển, quốc gia láng giềng này cũng có các ngành nghề truyền thống phát triển tương
tự như đất nước chúng ta như: Gốm sứ; dệt vải; dệt tơ lụa; nghề giấy…Nghề gốm
sứ Trung Quốc thường được gọi là nghề “đốt lò”, cái lõi làm gốm phần lớn là hình
vòng, các sản phẩm gốm thường là chum, hũ, chõ đồ cơm…Sản phẩm gốm sứ nổi
tiếng của Trung Quốc như: Gốm sứ Sơn Đông, Gốm sứ Thanh Hoa…
Với sự phát triển đi trước của lịch sử, Trung Quốc đã tạo dựng cho mình
những quá khứ huy hoàng của việc phát triển các con đường giao thương giữa các
làng nghề truyền thống với các đất nước xunh quanh Mậu dịch đóng vai trò không
thể thiếu được đối với sự phát triển của sản phẩm truyền thống Trung Quốc đặc biệt
là gốm sứ bởi mậu dịch chính là động lực thúc đẩy sự tiến bộ về ý tưởng sáng tạo và
kỹ thuật gốm sứ Ngay từ giai đoạn rất sớm, thời Đường (618-906), các thương
nhân người Ba Tư và Ả Rập đã theo những tuyến đường hành hương tiến vào đại
lục, nơi có nhiều lò gốm sứ nằm rải rác ở khắp các tỉnh miền Bắc Trung Quốc cho
tới tận vùng Trung Đông và Ấn Độ
Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì
Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 – 30 % đã giải quyết được 12
triệu lao động dư thừa ở nông thôn Hiện nay Trung Quốc có khoảng 50.000 làng
nghề đã áp dụng mô hình OVOP - Mô hình mỗi làng một sản phẩm được khởi xướng tại Nhật Bản [4]
1.4 Một số nhận xét chung về tình hình phát triển làng nghề truyền thống trong thời gian qua:
1.4.1 Về thị trường,
Đối với các sản phẩm của ngành nghề truyền thống, thị trường bao gồm thị
trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ sản phẩm
• Thị trường các yếu tố đầu vào
Thị trường này gồm có thị trường cung ứng nguyên vật liệu, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ và cả thị trường bất động sản Trong các thị trường này thì thị trường cung ứng nguyên vật liệu là phát triển mạnh nhất Nguyên vật liệu cung cứng cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các
địa phương trong tỉnh Tuy nhiên, do việc khai thác bừa bãi, không có kế hoạch đã
làm nguồn nguyên vật liệu nhanh chóng trở nên cạn kiệt Dẫn đến việc không chủ
động được nguồn nguyên liệu Các làng nghề rơi vào tình trạng bị động và tương lai
phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài Một trong những mối đe dọa làm ảnh hưởng
đến bản sắc và chất lượng sản phẩm truyền thống
Về thị trường lao động, hầu hết các lao động trong làng nghề là lao động phổ thong, lao động chưa được qua trường lớp đào tạo, trình độ thấp Một phần lớn các lao động mang tính chất thời vụ nên không được hưởng quyền lợi người lao động, không chế độ bảo hiểm, không có bảo đảm an toàn trong lao động Hoạt động thị trường lao động tại các làng nghề mang tính chất tự phát
• Thị trường các yếu tố đầu ra - tiêu thụ sản phẩm
Đây là thị trường được quan tâm nhiều nhất vì hàng hóa sản xuất ra phải được
tiêu thụ, hạn chế tối đa lượng tồn kho
Trang 19Thị trường xuất khẩu: Trước đây, sản phẩm của các làng nghề truyền thống
chủ yếu được xuất sang các nước xã hội chủa nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ (chiếm
80% - 90% khối lượng xuất khẩu) Nhưng sau thời gian các nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu và Liên Xô cũ tan rã, thị trường xuất khẩu về cơ bản bị thu nhỏ hẹp Từ
khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, điều này đã tác động mạnh mẽ đến
tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp ứng
các nhu cầu của một nền kinh tế mới Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được đã
được chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể
cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre đan,
hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ… Hiện nay, thị trường
xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam mở rộng sang khoảng hơn 100
quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước như Trung Quốc, Hồng Kông, Singapo,
thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, EU… Năm
2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 562 triệu USD, trong đó cao nhất là các mặt hàng gỗ
gia dụng và gỗ mỹ nghệ
Thị trường tiêu thụ nội địa: Một mặt do công nghiệp phát triển sản xuất ra
nhiều mặt hàng tiêu dung có thể thay thế được một số mặt hàng truyền thống với
chất lượng cao giá thành thấp hơn, dẫn tới tình trạng hàng hóa truyền thống không
thể cạnh tranh nổi Mặc khác, do hàng ngoại được nhập vào một cách tràn lan gây
ra sự cạnh tranh và ép giá các mặt hàng của nhóm ngành nghề truyền thống, làm
cho các sản phẩm làng nghề truyền thống không tiêu thụ được Một yếu tố khác
không kém phần quan trọng, đó là thị hiếu người tiêu dùng trong nước, thích đồ
ngoại hơn đồ nội Từ những nhuyên nhân đó, dẫn đến việc tiêu thụ hàng truyền
thống thua ngay trên thị trường trong nước
1.4.2 Vị trí các làng nghề truyền thống trong sự phát triển của nền kinh tế
xã hội của đất nước,
Những năm qua, các làng nghề truyền thống của Việt Nam có tốc độ phát triển
khá mạnh mẽ Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, năm 2008, ước tính đạt xấp xỉ 1 tỉ USD Các mặt hàng được bán trên 100 nước và vùng lãnh thổ, chưa kể hai ngành gỗ, da giày xuất khẩu mỗi năm đạt giá trị hàng tỉ USD đều có
đóng góp rất lớn của các làng nghề Ước tính các làng nghề Việt Nam đang sử dụng
trên dưới 1,5 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và từ 4 - 5 triệu lao động thời vụ Rõ ràng làng nghề có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, trực tiếp giải quyết việc làm ở nông thôn Các làng nghề còn góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống, tạo ra diện mạo đô thị hóa mới cho nông thôn, để nông dân "ly nông nhưng không
ly hương" và làm giàu trên quê hương mình
Hiện nay, thu nhập của người lao động hưởng lương mỗi tháng ở các làng nghề phổ biến khoảng 2 trđ đến 2,5 trđ, nói chung cao hơn nhiều so với những người làm ruộng lúa Đặc biệt, khu vực kinh tế làng nghề còn có thể sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà khác khu vực kinh tế khác không nhận Tuy nhiên, sự quan tâm đầu tư cho các ngành nghề truyền thống chưa thật tương xứng với lợi ích mà làng nghề đem lại Các làng nghề đang dần bị mai một
mà chưa có nhiều các biện pháp khôi phục và phát triển
1.4.3 Vấn đề vốn đầu tư cho sản xuất,
Các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công ở nước ta chủ yếu phát triển theo hộ gia đình với phương thức tự cung tự cấp nên đa số các hộ ở đây đều thiếu vốn đầu tư trang thiết bị sản xuất dẫn tới tình trạng công nghệ chắp vá, không đồng
bộ, chủ yếu dựa vào lào động thủ công
Những năm gần đây, có một số loại vốn đầu tư của các hiệp hội về phát triển kinh tế và giải quyết việc làm như: Vốn vay từ quỹ quốc gia về xóa đói giảm nghèo, nhưng số lượng và tỷ lệ các hộ được vay vốn trong các làng nghề còn quá ít ỏi Trong khi đó, nhu cầu về vay vốn của các hộ sản xuất lại rất lớn Mặc khác, các loại thủ tục vay vốn quá phiền hà, chậm trễ nên khi đồng vốn tới tay người sản xuất thì thời cơ sử dụng vốn không mang hiệu quả cao, không bảo đảm được đúng kế hoạch
Trang 20Theo số liệu của Cục chế biến và ngành nghề nông thôn - Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn thì có 70% số hộ và cơ sở sản xuất kinh doanh mong muốn vay
vốn để phát triển sản xuất, nhưng mới chỉ có 12 – 15% số hộ và khoảng 32,4% cơ
sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề được vay vốn ngân hàng, 1,8 – 4,7% số hộ
được vay vốn tù nguồn hỗ trợ của Chính phủ và các tổ chức quốc tế
1.4.4 Vấn đề trang thiết bị, công nghệ và mẫu mã sản phẩm,
Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực các hộ tư nhân
vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc cải tiến một phần
Trình độ công nghệ còn lạc hậu, cơ khí hóa thấp, các thiết bị phần lớn đã cũ, sử
dụng lại của các cơ sở sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ
thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí
vẫn chiếm tỷ lệ hơn 70% ở các làng nghề (số liệu Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn)
Nhìn chung, phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các
làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa
học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được
nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh
1.4.5 Vấn đề đào tạo kỹ thuật tay nghề cho người lao động,
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử dụng
chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những công đoạn
nặng nhọc và độc hại nhất Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ
thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là ở các làng nghề truyền
thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Trong các làng nghề truyền thống,
vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất
và sáng tạo ra nghệ thuật
Chất lượng lao động và trình độ chuyên môn ở các làng nghề nhìn chung còn
thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, lao động nghề chiếm tỷ lệ rất nhỏ Một đặc thù
cũng sẽ dẫn đến những vấn đề trở ngại trong đào tạo và truyền đạt đối với các lao
động bên ngoài
1.4.6 Một số vấn đề về chính sách,
• Chính sách vay vốn: Thời gian qua, chính sách vay vốn mới áp dụng cho các Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã và một số hộ nông nghiệp Đối với các hộ sản xuất kinh doanh tại các làng nghề thủ công thì chưa được chú tâm đến vấn đề này Riêng đối với nghề gốm sứ, việc có vốn để đầu tư mở rộng công nghệ sản xuất, lò nung là việc rất cần thiết, và đa số các cá nhân không tự giải quyết được
• Chính sách khuyến khích sản xuất và cung cấp nguyên vật liệu cho các cơ sở sản xuất ngành nghề truyền thống như: Trợ giá nguyên nhiên vật liệu, miễn giảm thuế, chính sách khuyến khích hoàn thiện hay hội nhập công nghệ mới trong sản xuất kinh doanh… cũng chưa được chú ý…
Kết luận chương 1:
Qua nghiên cứu chương 1, tác giả muốn tập trung vào những vấn đề sau:
• Nêu các khái niệm về làng nghề, khái niệm về phát triển làng nghề, các khái niệm về chiến lược và tầm nhìn, thống nhất về chuỗi giá trị sản xuất để từ đó xác
định được vấn đề cần tập trung nghiên cứu
• Nội dung chiến lược được xây dựng đa dạng với các loại hình khác nhau, phù hợp với từng ngành nghề riêng biệt Vì vậy ở chương 2, tác giả tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng để có được một chiến lược và giải pháp mang tính tổng quan
• Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển làng nghề truyền thống trong mô hình kinh tế thị trường như hiện nay
• Kinh nghiệm từ một số nước có ngành nghề truyền thống phát triển trong khu vực Đó là điều kiện giúp chúng ta học hỏi và vận dụng phù hợp với tình hình thực tiễn
Trang 21Trong các chương 2 và chương 3 tiếp theo, tác giả tập trung phân tích thực
trạng sản xuất - kinh doanh tại các làng nghề truyền thống chung trong cả nước và
đặc biệt là thực trạng sản xuất – kinh doanh tại làng nghề truyền thống Gốm sứ Bát
Tràng – Gia Lâm – Hà Nội Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp nhằm
phát triển hơn nữa thương hiệu cũng như đẩy mạnh việc đưa sản phẩm ra thị trường
trong và ngoài nước của Gốm sứ Bát Tràng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG GỐM SỨ BÁT TRÀNG – HUYỆN GIA LÂM – HÀ NỘI
2.1 Thực trạng phát triển làng nghề gốm sứ truyền thống của Việt Nam
Sự phát triển của gốm sứ Việt Nam đã trải qua những giai đoạn khác nhau, gắn với những cung bậc thăng trầm của lịch sử Đặc biệt, từ giai đoạn đổi mới nền kinh tế đến nay, dưới tác động to lớn của sự biến đổi nền kinh tế trong nước cũng như trên toàn thế giới, sự phát triển của các làng nghề cũng có những thay đổi lớn,
có những thành công mới nhưng cũng có không ít những vấn đề còn vướng mắc Xuất hiện từ rất lâu đời (điển hình như các làng nghề ở Hà Tây (cũ), Bắc Ninh, Hưng Yên, có từ thời nhà Lê, Nhà Lý) Các làng nghề nông thôn đã có những bước
đánh dấu khá rõ nét trong lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam Vượt lên các nhu cầu về
nông nghiệp, các sản phẩm như: đồ sành sứ, đồ gốm, vải vóc, đồ ăn, đồ thờ cúng, hàng mỹ nghệ, giấy… đã được sản xuất phục vụ cho nhu cầu đời sống hàng ngày, phục vụ cho đời sống tâm linh, cho việc học tập, cho đời sống văn hóa và cho cả xuất khẩu
2.1.1 Thời kỳ phong kiến,
Năm 1010, nhà Lý dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, đánh dấu một thời kỳ phát triển rực rỡ của dân tộc Kinh đô Thăng Long với ba mươi sáu phố phường là nơi tập trung nhiều ngành nghề tinh hoa Các cửa khẩu bắt đầu được mở rộng, quan
hệ buôn bán với nước ngoài được ưu tiên Các làng nghề được chú trọng và phát triển đến mức tối đa Đồ gốm sứ đặc biệt được trọng dụng và các sản phẩm gốm đã trở thành những sản phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong các lễ vật cống biếu [27]
Trang 222.1.2 Sơ lược quá trình phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền
thống ở nước ta sau cách mạng tháng 8 – 1945,
Làng nghề trước Cách mạng tháng Tám đã khá phong phú, đa dạng, nó được
hình thành từ các nghề cũ và một số nghề mới được phát triển nhằm đáp ứng thị
trường luôn thay đổi phức tạp
Từ những năm 1930, Thực sân Pháp đã chú trọng đầu tư phát triển sản xuất
trong các làng nghề, nhằm mục đích khai thác vơ vét của nước ta và ngăn cản sự di
dân ra thành phố làm công nghiệp và cách mạng vô sản Theo tài liệu của các học
giả Pháp, năm 1935 ở nước ta đã có tới 108 nghề thủ công khác nhau, đến năm
1943 các nghề thủ công nghiệp ở các địa phương đã thu hút 277.400 thợ vào làm
việc và giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp đạt tới 45 triệu đồng (tiền Đông
Dương)
2.1.3 Tình trạng làng nghề thời kỳ trước đổi mới năm 1986,
Giai đoạn 1954 – 1978: Do chính sách Công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng, khuyến khích các thợ thủ công tham gia vào các Hợp tác xã Tại
một số làng nghề đã xuất hiện những HTX tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu sản xuất
các mặt hàng xuất khẩu sang các nước XHCN, với các hàng hóa chính là hàng thủ
công mỹ nghệ Do đó, chủng loại, số lượng và giá trị hàng hóa được quyết định bởi
đường lối, chính sách của Nhà nước Tuy nhiên, cũng chính trong giai đoạn này,
nhiều làng nghề đã bị mai một, do nhu cầu, thị hiếu của xã hội thay đổi, ít được ưa
chuộng (chõng tre, khăn xếp)
Giai đoạn 1978 – 1985: Kinh tế chính trị thế giới có nhiều biến động, cùng với
sức ép về dân số và sự cấm vận của Mỹ kinh tế Việt Nam đã lâm vào giai đoạn
khủng hoảng, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Sự suy sụp của hệ
thống bao cấp đã khiến các hộ nông dân và tiểu thủ công nghiệp buộc phải tìm
đường cải thiện cuộc sống theo con đường tự phát Nhiều làng nghề đã được khôi
phục lại nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của nhân dân
Qua điều tra hàng năm của Tổng Cục thống kê ta thấy, trong giai đoạn này, giá trị sản lượng ngành tiểu thủ công nghiệp ở nước ta tăng nhanh, năm 1981 chỉ đạt 27.713 triệu đồng, tới năm 1986 đã đạt tới 48.530 triệu đồng, tăng 1,75 lần so với năm 1981 Năng suất lao động bình quân một lao động tiểu thủ công nghiệp cũng
được tăng dần từ 17.270 đồng lên 26.890 đồng Giá trị hàng tiểu thủ công nghiệp
xuất khẩu cũng đã tăng một cách đáng kể, luôn chiếm 30%-40% trong tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu của nước ta
2.1.4 Thực trạng làng nghề từ năm 1986 cho đến nay
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1986 tạo ra một bước
ngoặt mới cho nền Kinh tế Việt Nam Do vậy giai đoạn năm 1986 đến năm 1988 là giai đoạn quan trọng đối với sự phát triển của làng nghề, nó được đánh dấu bằng sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường Các chính sách kinh
tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng Trong giai đoạn này, nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư vốn,
kỹ thuật, hình thành nhiều cơ sở kinh doanh mới, thu hút ngày càng nhiều lao động, tăng dần sản lượng và kim ngạch xuất khẩu… Điển hình như làng gốm sứ Bát Tràng, gốm Đồng Nai, chạm khắc Hà Tây, thêu ren Thái Bình…
Các sản phẩm truyền thống của làng nghề Việt Nam đã được tiêu thụ khá ổn
định ở các thị trường Đông Âu và Liên Xô, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ
nghệ đạt trên 246 triệu rúp [8] Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ và thành tựu nhất của các ngành nghề truyền thống
Giai đoạn 1990 – 1992, do biến động của nền kinh tế thế giới, mà xuất phát từ
sự sụp đổ của mô hình CNXH của Liên Xô và Đông Âu, sản xuất của các làng nghề
bị đình trệ do thị trường tiêu thụ không còn như trước nữa, số lao động trong các làng nghề giảm nhanh chóng
Trang 23Giai đoạn từ năm 1993 đến nay: Do tìm được hướng đi mới cho các sản phẩm
của làng nghề và cho nền kinh tế Việt Nam nói chung mà nền kinh tế Việt Nam
bước sang một giai đoạn mới Sự hội nhập nền kinh tế thế giới, cùng với thời kỳ dỡ
bỏ sự cấm vận của Mỹ, sự hợp tác kinh tế và thị trường của Việt Nam không ngừng
được mở rộng Nhiều làng nghề đã khôi phục nhanh chóng, trong đó nhiều làng vẫn
duy trì được cả nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống (như làng Chạm bạc Đồng
Xâm, làng nghề thêu Quất Động, làng gốm Bát Tràng…) Hơn nữa nhiều làng nghề
mới đã được hình thành (Làng gỗ Đồng Kỵ, gạch ngói Hương Canh…)
Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách nhằm khuyến khích làng nghề phát
triển, đặc biệt từ khi Hiệp hội làng nghề Việt Nam được thành lập (2005), đã có
nhiều chương trình, chính sách nhằm bảo tồn, thúc đẩy sự phát triển làng nghề Tuy
nhiên, nhiều làng nghề có nguy cơ lâm vào tình trạng suy thoái do nhiều nguyên
nhân khác nhau (do bế tắc về thị trường, do bị cạnh tranh, do thiếu vốn để cải tiến
sản xuất, gây ô nhiễm môi trường…) Để giải quyết những khó khăn này, cần có cái
nhìn tổng quan về làng nghề và gắn với thực trạng kinh tế xã hội trong nước và thế
giới nói chung
2.2 Đặc điểm địa bàn của làng nghề Gốm sứ Bát Tràng – Gia Lâm – Hà Nội:
Xã Bát Tràng là một trong 31 xã thuộc huyện Gia Lâm – Hà Nội từ trước năm
1945 Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang
Cao như hiện nay
2.2.1 Sự ra đời và phát triển làng gốm sứ Bát Tràng
Năm 1958 khi đào kênh Bắc Hưng Hải cắt qua phía nam làng Bát Tràng người
ta đã tìm thấy dấu vết của làng Bát Tràng xưa nằm sâu dưới lòng đất đến 12-13m
Đó là những di tích nhà ở, sân gạch, và nhiều phế vật bằng gốm Những công trình
khai quật khảo cổ học trong tương lai có thể cho thấy rõ hơn bề dày lịch sử và
những di tích của làng gốm Bát Tràng xưa đang bị chôn vùi trong lòng đất
Theo sử biên niên có thể xem thế kỷ 14-15 là thời gian hình thành làng gốm
Bắc, và tài liệu “Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng”, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ Thuật năm 1964, cho biết: Vào thời nhà Lý, có ba vị Thái học sinh là Hứa Vinh Kiều (người làng Bồ Bát – Thanh Hóa), Đào Trí Tiến (người làng Thổ Hà – Hà Bắc) và Lưu Phương Tú (người làng Kẻ Sặt – Hải Dương) được cử đi sứ Bắc Tống Sau khi hoàn tất sứ mệnh, trên đường trở về nước qua Thiều Châu (Quảng Đông) (hiện nay là Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) gặp bão, phải nghỉ lại Ở
đây có lò gốm nổi tiếng, ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về
truyền bá cho dân chúng quê hương Và:
Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát Tràng nước men rạn trắng
Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà (huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) nước men
đời và phát triển của Thăng Long đã tác động mạnh đến hoạt động kinh tế của các
làng xung quanh, trong đó có làng Bát Tràng Đặc biệt vùng này lại có nhiều đất sét trắng, một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm Một số thợ gốm Bồ Bát đã di
cư ra đây cùng họ Nguyễn Ninh Tràng lập lò gốm, gọi là Bạch Thổ phường (phường Đất Trắng) Những đợt di cư tiếp theo đã biến Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho nhà Minh
Từ cuối TK XVII, nhất là từ TK XVIII, việc xuất khẩu và buôn bán đồ gốm Việt Nam ở Đông Nam Á bị giảm sút, nguyên do là vì gốm sứ chất lượng cao của Trung Quốc tràn xuống thị trường Đông Nam Á Gốm Bát Tràng tuy có bị ảnh hưởng, nhưng vẫn giữ được sức sống bền bỉ nhờ có được thị trường tiêu thụ rộng rãi trong nước với những đồ gia dụng, đồ thờ, đồ trang trí và gạch xây dựng rất cần thiết cho mọi tầng lớp xã hội thời bấy giờ
Trang 24Sau Chiến tranh Đông Dương (1945–1954), Bát Tràng thành lập Xí nghiệp
gốm Bát Tràng (1958), Xí nghiệp X51, X54 (1988) cùng một số hợp tác xã như
Hợp Thành (1962), Hưng Hà (1977), Hợp Lực (1978), Thống Nhất (1982), Ánh
Hồng (1984) và Liên hiệp ngành gốm sứ (1984) Các cơ sở sản xuất trên cung cấp
hàng tiêu dùng trong nước, một số hàng mỹ nghệ và một số hàng xuất khẩu
Sau năm 1986 làng gốm Bát Tràng có sự chuyển biến lớn theo hướng kinh tế
thị trường Các hợp tác xã lần lượt giải thể hoặc chuyển thành công ty cổ phần,
những công ty lớn được thành lập nhưng vẫn còn tồn tại nhiều tổ sản xuất và phổ
biến là những đơn vị sản xuất nhỏ theo hộ gia đình
Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng
Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản
phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa,
lọ hoa kiểu mới, các vật liệu xây dựng Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị
trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Á, châu Âu Bát Tràng thu
hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản
xuất Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ
gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc
2.2.2 Đặc điểm về tự nhiên
• Vị trí địa lý
Bát Tràng nằm ở bờ phía đông (tả ngạn) của sông Hồng cách trung tâm Hà
Nội khoảng hơn 10 km Phía Bắc giáp xã Đông Dư, phía Đông giáp xã Đa Tốn, phía
Nam giáp xã Xuân Quan (huyện Văn Giang, Hưng Yên), phía Tây là sông Hồng
Nhìn chung Bát Tràng có một vị trí địa lý thuận lợi cho việc phát triển nghề gốm
cũng như việc giao thương, trao đổi hàng hóa với các vùng lân cận Qua đó giúp Bát
Tràng nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại để phát triển mạnh mẽ kinh tế
địa phương
• Về thời tiết – khí hậu
Xã Bát Tràng - Huyện Gia Lâm nằm trong khu vực đồng bằng sông Hồng nên cũng có tính chất và đặc điểm thời tiết khí hậu của vùng, đó là khí hậu nhiết đới gió mùa Mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình mùa đông từ 15 - 21o
C
Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,4o
C, ngày có nhiệt độ nóng nhất là 42,8o
C và thấp nhất là 5,6oC Độ ẩm không khí từ 81,4 - 87,9% Những lúc trời mưa phùn liên tục, độ ẩm đạt 97 - 100% Tuy độ ẩm này ít nhưng ảnh hưởng rất lớn đối với việc nung và sấy khô các sản phẩm gốm sứ Lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1800ml/ năm, trung bình hàng năm có 151 ngày mưa tập trung từ tháng 5 đến 9 băng 79% lượng mưa cả năm mưa nhiều nhất thường vào 3 tháng 7,8,9 Mưa, bão thường đi đôi với nhau, theo thống kê 55 năm có 40 cơn bão đổ bộ vào đồng bằng sông Hồng (tương ứng 0,68 cơn bão/1năm) Như vậy cứ 3 năm có 2 cơn bão đổ bào vào đồng bằng sông Hồng
2.2.3 Đặc điểm đất đai, dân số lao động
Về mặt địa hình, địa chất Bát Tràng - Gia Lâm là một xã đồng bằng nằm trên
đất phù sa, cùng chung đặc điểm và tính chất của đồng bằng sông Hồng, độ cao của đất diễn biến từ 3 đến 7m Hằng năm, xã nhờ có hệ thống cống lấy nước phù sa từ
Sông Hồng tự chảy khi mùa lũ lên cao phạm vi 7 - 9m vùng đất trong đê vẫn lấy
được 1 đến 3 lần nước phù sa, tạo ra một chất đất sét mang tính chất riêng Chính
lượng phù sa đó, đã bồi đắp thêm sức sống cho xã Bát Tràng nói chung và gốm sứ Bát Tràng nói riêng
Đặc thù của xã Bát Tràng là không có nông nghiệp trồng lúa Chính vì thế
tổng diện tích đất của xã là 164,02 ha đều là đất thổ cư và được tận dụng để sản xuất thủ công nghiệp gốm sứ [2]
• Dân số và lao động
Trang 25Xã Bát Tràng đang có một lực lượng lao động hùng hậu Trong số 1.800 hộ
gia đình của xã, có đến hơn 80% số hộ dân làm nghề gốm Hơn nữa, số lao động có
tay nghề và rất tâm huyết với làng nghề Tính đến năm 2012, xã Bát Tràng đã có 18
nghệ nhân được phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Hà Nội", 3 nghệ nhân ưu tú
được Nhà nước phong tặng, 5 nghệ nhân dân gian cùng hàng trăm thợ giỏi Đó là
lợi thế đầu tiên, giúp Bát Tràng phát triển mạnh sản phẩm gốm sứ của mình [2]
2.2.4 Đặc điểm cơ sở hạ tầng - kỹ thuật
• Về giao thông: Bát Tràng nằm gần đê sông Hồng nên có lợi thế lớn về đường
thủy Do vậy, việc vận chuyển hàng hóa và nguyên liệu luôn được thông suốt Đối
với hệ thống giao thông nông thôn đã được nhựa hóa và bê tông hóa 100% Đó là
điểu kiện thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu kinh tế thương mại Tuy nhiên, hệ
thống đường quốc lộ dẫn vào làng đang có nguy cơ xuống cấp trầm trọng do xe quá
trọng tải di chuyển nhiều Điển hình là tuyến đường dê có chiều dài khoảng 10km từ
chân cầu Chương Dương đến điểm cuối khu đô thị sinh thái Ecopark mới sử dụng
đã có nhiều vết nứt gãy, sụt lún
• Về hệ thống điện nước, thông tin liên lạc: Toàn xã có mạng lưới điện nước,
đáp ứng đủ 100% nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của các hộ gia đình trong xã
• Về giáo dục & y tế và các công trình văn hóa phúc lợi: Trường học và trạm y
tế Bát Tràng đều được xây dựng theo tiêu chuẩn quy định, trang thiết bị được đầu tư
đầy đủ Các công trình như nhà văn hóa, sân chơi thiếu nhi, đều được xây dựng đủ
2.2.5 Các sản phẩm chủ yếu của gốm sứ Bát Tràng
Tính đến ngày 17/11/2004, thương hiệu gốm sứ Bát Tràng chính thức được
Hiệp hội gốm sứ Việt Nam công nhận và công bố trên phạm vị rộng Gốm sứ Bát
Tràng vừa đa dạng về chủng loại, vừa phong phú về màu sắc, được chia thành hai
nhóm chính:
• Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén,
khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ Một số sản phẩm như
chum vại, ấm đất… là những sản phẩm truyền thống, nhưng do có sự cạnh tranh khốc liệt của các đồ thay thế bằng nhựa, thủy tinh nên đã số lượng sản xuất giảm
đáng kể
• Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng
nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng
đầu khỉ mình rắn và tượng rồng, gạch trang trí, gốm phong thủy…
Ngoài ra Bát Tràng còn có dòng gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các
loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm Trong đó, chân
đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm
tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng Đó
là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát tràng
Ngày nay, Bát Tràng quy tụ những nghệ nhân với tay nghề tinh xảo, có niềm
đam mê với văn hóa cha ông để lại Họ không những đã thổi hồn vào đất, sáng tạo
ra nhiều sản phẩm mang tính nghệ thuật, tinh hoa của Bát Tràng, hơn nữa, họ còn góp phần đưa sản phẩm gốm sứ Bát Tràng đi xa hơn nữa, xuất khẩu ở các quốc gia khác trên thế giới Con cháu họ, những thế hệ nối tiếp, được chăm chút và cho đi
đào tạo chính quy tại các Trường Đại học Mỹ Thuật Mục đích cuối vẫn là giữ lại được hồn cốt dân tộc qua các sản phẩm gốm Đặc trưng của Gốm Bát Tràng được thể
hiện trong bảng sau:
Bảng 2.1 Đặc trưng về sản phẩm Gốm Bát Tràng Sản phẩm Các họa tiết, hoa văn Màu sắc Tính chất sản
phẩm Khắc chìm Đắp nổi
Trang 26Gốm mỹ
nghệ
- Hình cây: Cây tre, tùng, cúc, trúc,
mai, hoa lá sen, hoa lá súng…
- Hình con vật: Con trâu, con nghê,
con rồng, con phượng, con cá…
- Hình mặt trời, ngôi sao
- Hình người lao động sản xuất
Màu sắc chủ đạo của Gốm Bát Tràng là men ngọc, men rạn
Sản phẩm có độ mỏng, trọng lượng nhẹ, thanh thoát, nhưng vẫn rất mộc mạc, có
độ bóng của
màu men Các hoa văn họa tiết
tự nhiên, gần gũi, dựa theo họa tiết cổ
Gốm gia
dụng
Ngày này, do nhu cầu và thẩm mỹ của
người tiêu dung, các sản phẩm gốm gia
dụng có những nét hoa văn rất trang
nhã nhưng mang tính thẩm mỹ cao Từ
những bộ ấm chén, hoặc bát đĩa, chum
vại, đều được thổi những nét hoa văn
mềm mại tại tính thẩm mỹ cao cho sản
phẩm
Nguồn: Nghiên cứu của tác giả
2.2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Bát Tràng
Xã Bát Tràng có diện tích đất tự nhiên 164,02 ha với 1.800 hộ, 7.995 nhân khẩu
Phía Bắc giáp xã Đông Dư, phía Đông giáp xã Đa Tốn, phía Nam giáp xã Xuân Quan
(huyện Văn Giang, Hưng Yên), phía Tây là sông Hồng Năm 2012, tốc độ phát triển
kinh tế của xã đạt trung bình trên 14%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
tích cực, thủ công nghiệp chiếm 70%; dịch vụ thương mại chiếm 27%; nông nghiệp
chiếm 3%; bình quân thu nhập đầu người đạt từ 8,5 - 9,6 triệu đồng/năm Là quê
hương của làng nghề truyền thống, hiện Bát Tràng đã có hơn 60 đơn vị kinh tế, gần
1.000 hộ sản xuất, kinh doanh mặt hàng gốm sứ, cho thu nhập hàng trăm tỷ đồng
mỗi năm [2]
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu kinh tế của xã Bát Tràng
Bát Tràng hiện có hơn 60 đơn vị kinh tế, trong đó có 1 doanh nghiệp nhà nước, 3 công ty cổ phần, 52 công ty TNHH, 4 HTX và gần 1.000 hộ sản xuất, kinh doanh gốm sứ Tính đến 9 tháng đầu năm 2012, xã Bát Tràng đã có 18 nghệ nhân
được phong tặng "Nghệ nhân Hà Nội", 3 nghệ nhân ưu tú, 5 nghệ nhân dân gian
cùng nhiều thợ giỏi Bát Tràng phấn đấu hết năm 2014 trở thành xã nông thôn mới,
có kinh tế phát triển với tốc độ cao và bền vững trên cơ sở khai thác hiệu quả các nguồn lực để đẩy mạnh phát triển công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ Có cơ sở hạ tầng KT-XH đồng bộ, hiện đại Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao, đi đôi với bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống UBND xã Bát Tràng đã đề nghị thành phố công nhận và bảo tồn làng cổ Bát Tràng; xây dựng cảng du lịch giai đoạn 2, bảo tàng gốm sứ, trung tâm đào tạo nghề, trung tâm thương mại trưng bày và giới thiệu sản phẩm của làng nghề
Bảng 2.2 Kết quả phát triển kinh tế xã Bát Tràng năm 2008 – 2011
Trang 272.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu về sản xuất/ xuất khẩu của xã được thu thập tại phòng công thương
huyện Gia Lâm Số liệu về khí hậu thời tiết của xã được thu thập tại phòng môi
trường UBND huyện Gia Lâm Số liệu về tình hình kinh tế xã hội của xã Bát Tràng;
Tình hình đất đai, nhân khẩu lao động; Cơ sở vật chất kỹ thuật; Kết quả sản xuất
kinh doanh; Số lượng hộ sản xuất gốm của xã được thu thập tại Ban thống kê
UBND xã Bát Tràng
2.3.2 Số liệu sơ cấp
Xã Bát Tràng có khoảng 1000 hộ chuyên làm gốm và dịch vụ, trong đó thôn
Bát Tràng có 2700 người với 570 hộ, thôn Cao Giang khoảng 430 hộ sản xuất Số
liệu sơ cấp bao gồm toàn bộ số liệu điều tra khảo sát trực tiếp tại một số hộ sản xuất
gốm sứ trên địa bàn xã Bát Tràng theo tỷ lệ 1/10 Tổng số hộ đã điều tra là 60 hộ
trực tiếp sản xuất (hộ chính), 20 Doanh nghiệp kinh doanh thương mại gốm sứ và 5
hộ chuyên cung cấp nguyên liệu đất sét, theo bảng câu hỏi dưới đây Thời gian điều
tra từ tháng 8 năm 2012 đến hết tháng 9 năm 2012
Nội dung bảng câu hỏi tập trung vào một số thông tin sau:
- Họ và tên cơ sở sản xuất đồ gốm Số năm làm nghề Nhân khẩu Số lao động
Trình độ chuyên môn Số mẻ lò nung trong năm 2011, chi phí sản xuất năm 2011
- Tổng diện tích nhà xưởng, kho hàng…
- Giá trị và số năm sử dụng các tài sản cố định (lò nung, nhà xưởng, thiết bị,
kho hàng…)
- Nguồn nguyên liệu (đất sét, men)
- Kết quả sản xuất năm 2011: Số lượng sản phẩm, tỷ lệ hỏng, tỷ lệ tồn kho…
Bước 1: Chọn mẫu điều tra: Đây là bước đầu quan trọng để bắt đầu tiến
trình nghiên cứu Xã Bát Tràng có khoảng 1000 hộ tham gia sản xuất với quy mô to
nhỏ khác nhau Do đặc thù sản xuất kinh doanh, tại Bát Tràng phân thành 3 mô hình khác nhau:
Hộ chuyên cung cấp nguyên liệu sản xuất (đất sét): Các hộ này cung cấp nguồn đất sét đã được pha trộn sẵn cho các hộ sản xuất trong làng nghề Một trong những khâu chuyên môn hóa trong sản xuất Tỷ lệ mô hình hộ cung cấp nguyên liệu chiếm 7,5% trong tổng số các hộ dân cư trong xã
Hộ chuyên kinh doanh thương mại: Đặc thù của các hộ này là không tham gia sản xuất trực tiếp Họ có mặt bằng kinh doanh, có vốn để “ôm hàng” Nên họ chỉ tham vào khâu trung gian trong quá trình đẩy hàng đến tay người tiêu dùng Tỷ lệ
hộ thương mại chiếm 25% trong tổng số các hộ dân cư trong xã
Hộ chuyên sản xuất với các quy mô theo số lượng mẻ lò/ tháng: Các hộ ở mô hình này chiếm 67,5% tổng số các hộ dân cư Đặc thù các hộ này là đầu tư vốn và tham gia sản xuất sản phẩm trực tiếp Vì vậy, đề tài tiến hành chọn mẫu điều tra theo tỷ lệ 1/10 Trong các phần sau, tác giả tập trung sâu hơn vào các hộ chuyên sản xuất và các hộ chuyên thương mại để có cách nhìn tổng quan đối với tình hình sản xuất – kinh doanh tại làng nghề Gốm sứ Bát Tràng
Bảng 2.3 Quy mô sản xuất của các hộ sản xuất tại làng Bát Tràng
Hộ sản xuất kinh doanh Số lượng
hộ sản xuất thực tế
Hộ chuyên thương mại 157 15,7 20
Hộ chuyên cung cấp nguyên liệu sản xuất
42 4,2 20 Tổng số 1000 100 100
Trang 28Bước 2: Phiếu điều tra: Tiến hành xây dựng phiếu điều tra, với các nội dung
và chỉ tiêu đầy đủ mà đề tài yêu cầu
Bước 3: Phỏng vấn thử & chỉnh sửa: Phỏng vấn thử một vài hộ sản xuất và
một vài nghệ nhân trong làng Bát Tràng đồng thời thay đổi một số nội dung cần
thiết để hoàn thiện các thông tin cần điều tra
Bước 4: Tiến hành điều tra trực tiếp 100 hộ sản xuất kinh doanh: Tổng
hợp, hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tổ thống kê theo những thông tin nhất
định
Phân tích tài liệu qua phân tích mức độ hiện tượng, phân tích tình hình biến
động và mối quạ hệ giữa các hiện tượng Thông qua quan sát, tìm hiểu thực tế, các
số liệu được thu thập từ UBND xã Bát Tràng Qua đó đánh giá được tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của làng nghề truyền thống Gốm Sứ Bát Tràng trong 5 năm
qua (2006-2011)
2.4 Tình hình sản xuất - kinh doanh của Gốm sứ Bát Tràng
Làng nghề Gốm sứ Bát Tràng đã thực sự khởi sắc và là một mô hình làng
nghề truyền thống điển hình của cả nước sau khi được quy hoạch Tình hình sản
xuất của – kinh doanh gốm sứ tại Bát Tràng được tìm hiểu dựa theo tiêu chi về số
lượng mẻ lò sản xuất/ tháng Làng nghề Gốm sứ Bát Tràng có hơn 1800 hộ dân, số
hộ tham gia sản xuất kinh doanh Gốm chiếm tới 80% trên tổng số hộ trong xã
Nghề Gốm ở Bát Tràng mang lại thu nhập ổn định và cao gấp 4 đến 5 lần so với sản
xuất thuần tuý nông nghiệp Tương đương khoảng 30 triệu đồng/ người/ năm Điều
đó được thể hiện ở số lượng và chất lượng các mẻ lò được sản xuất bình
quân/hộ/năm qua các năm Kể từ khi Bát Tràng mở rộng sản xuất kinh doanh và
xuất khẩu hàng hóa, tốc độ phát triển bình quân tăng đáng kể
Thu nhập của thợ gốm cũng được tăng lên đáng kể, bình quân thu nhập 18
triệu đồng/người/năm vào năm 2005 tăng lên 20,5 triệu đồng/người/năm vào năm
2006 Cho tới năm 2008, thu nhập bình quân tăng khoảng 26 triệu đồng/người/năm,
góp phần lớn nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện tình hình chi tiêu của hộ sản xuất gốm trong làng nghề
Biểu đồ 2.2 Mức thu nhập bình quân tại làng Gốm Bát Tràng
Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, và nhất là năm 2008 (tổng doanh thu toàn xã giảm khoảng 24% so với năm trước) khi kinh tế thế giới vào giai đoạn suy thoái, lượng tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp ở Bát Tràng sụt giảm dần từng năm Nếu những năm 2000, khi làng nghề thực sự khởi sắc thì hầu hết cơ sở sản xuất lớn nhỏ đều sản xuất hết năng suất nhưng vẫn không kịp hoàn thành các đơn hàng từ nước ngoài Kim ngạch xuất khẩu của Bát Tràng năm 2002 là 400 tỷ đồng thì năm
2003 còn 350 tỷ và đến năm 2004 chỉ còn 280 tỷ Qua đó, đặt ra câu hỏi cho tính bền vững của mô hình làng nghề truyền thống Bát Tràng
2.4.1 Sản xuất và tiêu thụ đồ gốm tại các hộ chuyên điều tra
2.4.1.1 Thông tin chung về các hộ điều tra
Đặc thù là một làng nghề có truyền thống lâu đời, các hộ sản xuất Gốm Bát
Tràng đa số được truyền nghề từ đời ông cha tới đời con cháu Do xu hướng của thị trường và được quy hoạch cụ thể từ chiến lược Nông thôn hóa của nhà nước (năm 2001), nên làng nghề được phát triển khởi sắc hơn
Trang 29Bảng 2.4 Tình hình cơ bản của chủ hộ sản xuất năm 2011
hộ Quy mô hộ sản xuất Nhỏ Vừa Lớn
3 Nhân khẩu bình quân 1 hộ Lao động 6,6 5 7 8
4 Tổng lao động bình quân 1 hộ Lao động 18,68
Lao động gia đình Lao động 5,4
Lao động thuê Lao động 15,01
5 Tuổi bình quân chung Tuổi 45
6 Số năm làm nghề bình quân Năm 25
Nguồn: Tính toán theo nguồn số liệu điều tra 9 tháng đầu năm 2012
• Nhân khẩu và lao động Qua số liệu điều tra trực tiếp, các thông số cho thấy: Số nhân khẩu bình quân trong 1 hộ là 5 – 6 người Số nhân khẩu ở quy mô cao nhất là 8 người, giảm dần đối với các quy mô vừa và nhỏ Đối với các hộ có quy mô lớn, đa phần do các hộ có 3 thế hệ sống chung dưới mái nhà (ông bà, cha mẹ, con cái) Vấn đề thuê nhân khẩu của nhóm này rất ít bởi những công việc phụ thêm khi sản xuất được phân bổ cho các thành viên trong gia đình
Đối với các hộ sản xuất có quy mô vừa và nhỏ thì chủ yếu là hai vợ chồng và
con cái tham gia sản xuất Nên nhu cầu tìm lao động làm thêm rất lớn Tuy nhiên có một thực tế đang xảy ra đối với vấn đề thuê nhân công Trước đây, nhân công nhiều, giá thuê cũng vừa phải, nhưng hiện nay, công nhân chủ yếu là ở các làng lân cận trong huyện như: Đa Tốn, Đông Dư, Cự Khối, Kim Lan hay xa hơn ở các xã thuộc huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên) Do được hưởng đền bù ở các dự án: Dự án Ecopark, dự án đường 5B, dự án đường Hà Nội - Hưng Yên nên không còn mặn mà với việc làm ở làng nghề truyền thống, họ chủ yếu xin làm trong các khu công nghiệp trên quận Long Biên như: Hanel, Sài Đồng Nếu có còn làm việc thì giá cũng bị đẩy lên cao vì nắm được tâm lý cần thợ của chủ cơ sở sản xuất, do giá điện
và gas tăng nên cũng phải bù vào chi phí này Đó cũng là mặt trái của xu thế HĐH
CNH-Mô hình lao động gia đình, các nhân công được phân công như sau:
- Người chủ là người quán xuyến các công việc, tham gia trực tiếp vào sản xuất, chịu trách nhiệm những khâu chính: Đưa ra mẫu mã, chủng loại, số lượng sản xuất của một mẻ lò Ngoài ra, họ cũng chịu trách nhiệm chính trong khâu tiêu thụ sản phẩm
- Các lao động khác, đa phần là lao động thuê mướn theo thời vụ, tham gia vào các khâu của quá trình sản xuất như: Tạo cốt gốm, trang trí hoa văn họa tiết, sửa hàng phơ, hỗ trợ khâu nung sản phẩm
Tất cả các thợ sản xuất, trước khi được vào làm việc chính đều phải trải qua
Trang 30giai đoạn học việc, hoặc đã có kinh nghiệm từ trước
Thông qua số liệu điều tra cho thấy, độ tuổi và tuổi nghề của chủ hộ thường
khá cao Độ tuổi trung bình của chủ hộ sản xuất khoảng 45 tuổi Tuổi nghề trung
bình trên 25 năm Các chủ hộ thường là những người từng trải qua các giai đoạn
thăng trầm của làng nghề, họ có nhiều kinh nhiệm, có tay nghề cao, hơn nữa họ có
nhiệt huyết trong việc giữ gìn bản sắc cho làng nghề truyền thống
Tuy nhiên, trình độ văn hóa của các chủ hộ nói chung tương đối thấp Trung
bình hết cấp 2 Nguyên nhân chính là do nghề gốm là nghề được truyền từ đời này
sang đời khác, con cái chỉ cần học chữ sau đó chuyên tâm làm nghề là được Với
tình hình xã hội hiện nay, thì việc nâng cao trình độ văn hoá nói chung cho các hộ
gia đình tham gia sản xuất gốm nói chung là việc làm cần được chú trọng Lớp trẻ
tiếp nối truyền thống của những lò gốm hôm nay, đã có những tiến bộ hơn, đó là
việc các em được học hành cẩn thận Một bộ phận lớn chủ lò gốm đã ý thức cho con
em mình học những trường Đại học với các chuyên ngành liên quan, như vậy mới
có thể đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và phát triển làng nghề, tạo bản
sắc riêng cho sản phẩm và thương hiệu làng nghề
2.4.1.2 Cơ sở vật chất cho sản xuất gốm của các hộ gia đình
Để nắm được tình hình về điều kiện kinh tế của các hộ sản xuất kinh doanh
gốm ở làng nghề Bát Tràng, đề tài dựa trên các yếu tố sau:
Đất đai: Với mô hình làng nghề sản xuất như tại Bát Tràng thì bình quân đất
đai của một hộ sản xuất gốm đạt ở mức trung bình khoảng 300m2
/ hộ Đa phần họ
có ít diện tích đất vườn, nếu có thì không để trồng cây mà sử dụng để phơi củi và
đất sét Các hộ đều sử dụng hết quỹ đất của mình để phục vụ cho sản xuất và sinh
hoạt Hầu hết các hộ sản xuất đều có kho hàng, để khi ra một mẻ lò thì đều có diện
tích để chứa Sau đó, hàng được đóng lên xe và đưa đi tiêu thụ Tuy nhiên, nếu thị
trường rơi vào trạng thái ảm đạm, hàng hoá tồn đọng nhiều thì đa số các hộ đều
không còn diện tích đất sử dụng Nhìn chung mặt bằng sản xuất của nhiều hộ gia
đình còn chật hẹp, không thể mở rộng và phát triển sản xuất tiếp được Phần lớn các
cơ sở sản xuất nằm ngay trong khu dân cư, thậm chí là chung với nhà ở
Ngoài ra, các sản phẩm hỏng, các sản phẩm phế thải, chưa có bãi quy hoạch dẫn đến mất mỹ quan cho làng nghề cũng như ảnh hưởng đến quỹ đất sản xuất nói chung
Tài sản cố định: Qua điều tra cho thấy, các hộ tham gia sản xuất đều tự có
những tài sản cố định thiết yếu như: Xưởng sản xuất, lò nung, kho chứa hàng, các công cụ khuôn, các công cụ sản xuất cần thiết khác
Các hộ có quy mô lớn thì có số lượng máy móc và trang thiết bị lớn nên tổng giá trị tài sản cố định lên đến 1 tỷ đồng/ hộ Trong khi đó các hộ vừa và nhỏ chỉ dừng ở quy mô đầu tư khoảng từ 200 trđ đến 300 trđ/ hộ và 500 trđ đến 700 trđ/hộ Qua đó, cho ta thấy, ngành nghề sản xuất kinh doanh gốm rất cần vốn Chưa tính đến các quá trình cần đổi mới công nghệ và đầu tư mới nhà xưởng máy móc
Đặt ra một bài toán vốn cho tất cả các hộ tham gia sản xuất ngay từ buổi đầu
Về huy động vốn: Qua tìm hiểu tình hình sử dụng vốn của các hộ sản xuất
gốm của làng nghề Bát Tràng, một thực trạng chung đó là việc thiếu vốn đầu tư sản xuất Từ trước đến nay, nhiều hộ sản xuất ở Bát Tràng đã hoạt động từ rất lâu năm nên có một số vốn tích lũy Nhiều người hoạt động sản xuất bằng vốn tự có Do đó, khi có biến động về thị trường, hàng hoá tiêu thụ kém, lượng tồn kho nhiều, vốn ứ
đọng, thì đa số các hộ tham gia sản xuất đều rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng
Cụ thể kim ngạch xuất khẩu năm 2008 của cả xã chỉ còn một nửa năm trước, chừng 5-6 triệu USD
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay, làng nghề Bát Tràng có hơn khoảng
1000 hộ gia đình sản xuất kinh doanh thì chỉ có chưa đầy 100 hộ tiếp cận được vốn vay kích cầu Số dư tổng cộng cũng chỉ khoảng 10 tỷ đồng, không đáng kể gì so với nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp và hộ sản xuất Nhiều lò đã phải bán tài sản, vay mượn để duy trì việc kinh doanh Họ chấp nhận vay mạo hiểm với lãi suất cao
để có thể đầu tư kiếm lợi nhuận Nguồn vay, ngoài từ bạn bè, người thân thì họ vay