Nội dung tóm tắt của báo cáo: Hiện nay, mật độ dân số ngày càng tăng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp và dịch vụ hóa, tài ngu
Trang 1BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
: : : : :
NGUYỄN LƯU NHƯ QUỲNH
08135080 DH08TB
2008 – 2012 Quản Lý Thị Trường Bất Động Sản
-TP.Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012 -
Trang 2
NGUYỄN LƯU NHƯ QUỲNH
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VẠN NINH – TỈNH KHÁNH HÒA
GIAI ĐOẠN 2006-2012
Giáo viên hướng dẫn: Th.s Dương Thị Tuyết Hà
(Địa chỉ cơ quan: Trường đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh)
(Ký tên:……….)
-TP.Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2012
Trang 3-Minh, khoa Quản Lý Đất Đai & Bất Động Sản, cùng toàn thể quý thầy cô giáo đã dạy dỗ, dìu dắt, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu để tôi có hành trang bước vào cuộc sống
Tôi xin chân thành cảm ơn Cô Dương Thị Tuyết Hà - giảng viên khoa Quản Lý Đất Đai và Bất Động Sản, giúp đỡ và chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của UBND huyện Vạn Ninh, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi Trường, phòng công thương huyện Vạn Ninh, các phòng ban và nhân dân các xã của huyện
Xin cảm ơn các bạn cùng lớp Bất Động Sản khóa 34 đã luôn giúp đỡ, chia sẽ với tôi trong suốt quá trình học tập, sinh hoạt tại trường
Con xin chân thành cảm ơn gia đình - những người luôn thương yêu, nâng đỡ, hậu thuẩn và tạo mọi điều kiện cho con trong suốt quá trình học tập, để con có được ngày hôm nay
NGUYỄN LƯU NHƯ QUỲNH
Trang 4I.1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 3
I.1.1 Khái niệm đất đai, đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 3
I.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới 4
I.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp 5
I.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6
I.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 6
I.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nhiệp 8
I.3 Những xu hướng phát triển nông nghiệp 10
I.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 10
I.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới 11
I.3.3 Xây dựng nông nghiệp bền vững 13
I.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 13
I.4.1 Nội dung nghiên cứu 21
I.4.2 phương pháp nghiên cứu 21
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU II.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Vạn Ninh 22
II.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
II.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 29
II.2 Tình hình quản lí và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Vạn ninh 32
II.2.1 Tình hình quản lí đất đai 32
II.2.2 Hiện trạng sử dụng đất đai 36
Trang 5II.3.2 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện 39
II.4 Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 40
II.4.1 Loại hình sử dụng đất tức cơ cấu cây trồng của huyện Vạn Ninh 40
II.4.2 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất 42
II.4.3 Hiệu quả xã hội 45
II.4.4 Hiệu quả môi trường 46
II.4.5 Đánh giá chung 48
II.5 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 50
II.5.1 Những quan điểm chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
50
II.5.2 Định hướng nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 51
II.5.3 Một số giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của huyện Vạn Ninh 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
Trang 6sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh
Đề tài: “THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VẠN NINH – TỈNH KHÁNH HÒA ( GIAI ĐOẠN 2006 – 2012 )”
Giáo viên hướng dẫn: Ths Dương Thị Tuyết Hà, Bộ môn chính sách pháp luật,
Khoa Quản lý Đất đai và Bất động sản, Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh Nội dung tóm tắt của báo cáo:
Hiện nay, mật độ dân số ngày càng tăng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp và dịch vụ hóa, tài nguyên thiên nhiên ngày càng thoái hóa do việc sử dụng và khai thác không hợp lí trong quá trình phát triển sản xuất,… là những thách thức to lớn đối với nền nông nghiệp của cả nước Huyện Vạn Ninh nói riêng và tỉnh Khánh hòa nói chung, tuy có nhiều lợi thế về tiềm năng khí hậu, thủy văn, đất đai và nhân lực lao động để phát triển sản xuất cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất trên đơn vị đất canh tác nhưng do chưa khai thác triệt để lợi thế về nguồn tài nguyên và cơ cấu cây trồng chưa hợp lí nên hiệu quả sử dụng đất không cao đặc biệt, đối với đất canh tác lúa
Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp dùng phiếu điều tra; phương pháp chuyên gia, chuyên khảo đề tài hướng đến tìm hiểu thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện và những vấn đề còn tồn tại trong suốt quá trình sản xuất nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện
Về kết quả nghiên cứu, đề tài tiến hành khảo sát thực địa để tìm hiểu thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất ( cơ cấu cây trồng ) trên địa bàn huyện
Từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Vạn Ninh
Trang 8STT TÊN BẢNG TRANG SỐ
2.2 Cơ cấu các loại đất chính ở huyện Vạn Ninh 26 2.3 Diện tích, cơ cấu các loại đất chính theo phương án quy hoạch
2.4 Hiện trạng sử dụng đất huyện Vạn Ninh năm 2011 36 2.5 Biểu đồ cơ cấu hiện trạng sử dụng đất của huyện Vạn Ninh 2011 37 2.6 Diện tích, cơ cấu các loại đất nông nghiệp năm 2011 38 2.7 Giá trị sản xuất nông nghiệp huyện Vạn Ninh giai đoạn 2006 – 2011 39 2.8 Hiện trạng về cơ cấu cây trồng trên đất lúa ở huyện Vạn Ninh 41 2.9 Chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế trên 01 hecta của các cơ cấu cây
trồng trên chân đất lúa chủ động nước huyện Vạn Ninh 43 2.10 Chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế trên 01 hecta của các cơ cấu cây
trồng trên chân đất lúa không chủ động nước huyện Vạn Ninh 44 2.11 Mức độ sử dụng phân bón một số cây trồng 47
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp Chính vì vậy, sử dụng đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Hơn 20 năm qua, nông nghiệp nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng toàn ngành đạt 4% năm 2011 Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho nền kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt khoảng 25 tỷ USD (chiếm 22% kim ngạch xuất khẩu cả nước)
Huyện Vạn Ninh nằm trong vùng đồng bằng Nam Trung Bộ, nằm ở phía Bắc của tỉnh Khánh Hòa cách trung tâm ( thành phố Nha Trang ) khoảng 60 km về phía Bắc Tổng diện tích tự nhiên năm 2011 của huyện Vạn Ninh là 55.298,27 ha, dân số 126.481 người Ngành nông nghiệp chiếm 70% cơ cấu các ngành kinh tế của huyện nên sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của huyện Tuy nhiên, hiện nay nông nghiệp huyện Vạn Ninh đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như : sản xuất nhỏ, công nghệ lac hậu, năng suất và chất lượng nông sản hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và
sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững Xuất phát từ
lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài : “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
Trang 10đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Vạn Ninh – tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2012”
2006- Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Vạn Ninh và
đề xuất các giải pháp nhằm góp phần giúp người dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về hiệu quả sử dụng đất Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất sản xuất nông nghiệp và vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp và những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Vạn Ninh
Ý nghĩa của đề tài
Là cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai cho huyện Vạn Ninh Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần giúp người dân lựa chọn phương thức sử dụng đất phù hợp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững
Trang 11tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác ) có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người
Đất đai được xem vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm
Theo Luật đất đai 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 24.997,2 nghìn ha Việt Nam thuộc tốp quốc gia hàng đầu về xuất khẩu tiêu (116.000 tấn năm 2010), 4 năm liên tiếp dẫn đầu về xuất khẩu hạt điều Là quốc gia đứng thứ hai về xuất khẩu gạo sau Thái Lan, đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê sau Brazil, đứng thứ năm về xuất khẩu chè, thứ sáu về xuất khẩu thủy sản Theo tổng cục thống kê, giá trị sản xuất nông nghiệp Việt Nam năm 2011 ước đạt 177,6 nghìn tỷ đồng tăng 4,8% Trong năm 2011 ngành nông nghiệp có 4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD là
Trang 12thủy sản (6,1 tỷ USD), đồ gỗ (4,1 tỷ USD), cao su (3.3 tỷ USD) Ngoài ra một số mặt hàng nông sản có giá trị kim ngạch xuất khẩu cao như cà phê 2,7 tỷ USD, hạt điều trên 1,5 tỷ USD Nhờ xuất khẩu tăng mạnh nên nông, lâm, thủy sản trong nước, nhất là những loại nguyên liệu phục vụ xuất khẩu được tiêu thụ khá thuận lợi với giá cao, kích thích sản xuất phát triển, tăng thu nhập cho nông dân
Vì mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp
lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng
Ngày nay, với sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia
I.1.2 Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp ở vùng khí hậu nhiệt đới
Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia
Nông nghiệp được tiến hành ở các vùng trong vành đai nhiệt đới của Trái Đất Các vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1/4 tỉ ha Điều kiện khí hậu và đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh tế xã hội, tạo cho nông nghiệp nhiệt đới những nét riêng, biểu hiện trên các hệ thống trồng trọt và chăn nuôi Khí hậu nhiệt đới nóng đều và ẩm nhiều hay ít Ở xích đạo, nhiệt độ giữ đều ở 25 -
28oC qua các tháng, ngày đêm ít chênh lệch, với 2 điểm tối cao và 2 điểm tối thấp hằng năm Tác động của gió mùa và của các dãy núi cao có thể làm thay đổi chế độ mưa nắng Đặc điểm chung, ở nhiệt đới, mưa nhiều từ 1.000 đến 4.000 mm/năm trừ những vùng sa mạc và lân cận Khí hậu là yếu tố hạn chế quyết định đến cây trồng Ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng Đất đai nhiệt đới phần lớn là màu mỡ Nhưng so với ôn đới, đất đai nhiệt đới không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác sinh vật mau bị khoáng hoá do có hoạt động rất sôi động của tập đoàn vi sinh vật đất
Trang 13Tuy vậy, nhiệt độ cao làm tăng nhanh các quá trình chuyển hoá trong đất Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, cao su, chè, ca cao và các loại cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây nông nghiệp ngắn ngày, cây lương thực
I.1.3Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Theo định nghĩa của FAO: Suy thoái đất là quá trình làm suy giảm khả năng sản xuất ra hàng hóa và các nhu cầu sử dụng đất của con người
Hiện nay, theo đánh giá của FAO trong diện tích đất trồng trọt thì đất cho năng suất cao chiếm 14%, đất cho năng suất trung bình chiếm 28% và đất cho năng suất thấp chiếm 58% Bên cạnh đó, quỹ đất của thế giới ngày càng bị suy thoái do nhiều nguyên nhân gây ra: Do sự mất rừng hoặc khai thác rừng đến cạn kiệt ( gây xói mòn, làm mất nước, sạt lở…) đã đóng góp tới 37%, chăn thả quá mức ( làm chặt đất, giảm độ che phủ của cây cỏ) chiếm 34%, hoạt động nông nghiệp ( do tưới tiêu không hợp lí, dùng quá nhiều phân bón hoặc hoàn toàn không dùng phân bón gây xói mòn đất, ô nhiễm đất) chiếm 28% và hoạt động công nghiệp ( sử dụng đất làm bãi thải gây ô nhiễm môi trường đất …) chiếm 1%
Ở Việt Nam, trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất Điều kiện kinh
tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển
Trang 14hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai
I.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
I.2.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động cần để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất Đối với
ngành nông nghiệp, trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước)
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc
bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó là vấn đề sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất phải được xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường
Trang 15 Hiệu quả kinh tế:
Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ đó, ta thấy: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “Với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí
về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội”
Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp
Từ những quan niệm trên cho thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất với các lợi ích xã hội mà nó mang lại Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
Hiệu quả môi trường:
Hiện nay, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo nhiều chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường
Hiệu quả môi trường được thể hiện: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu
mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ
Trang 16tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Dựa vào nguyên nhân gây nên mà hiệu quả môi trường gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dung tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
I 2.2 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
I.2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
− Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện
− Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước
ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu
− Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển
I.2.2.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và cho phí, mối quan hệ này là mối quan hệ hiệu số
H = K – C
Trang 17Trong đó:
- H: là hiệu quả
- K: là kết quả
- C: là chi phí
Hiệu quả kinh tế: Phương pháp tính hiệu quả kinh tế:
− Tổng giá trị thu nhập ( GR ) = năng suất x giá bán
− Tổng chi phí lưu động ( TVC ) = chi phí vật tư + chi phí lao động + chi phí năng lượng + lãi suất vốn đầu tư
− Lợi nhuận ( RVAC ) = GR – TVC
− Tỷ suất lãi so với vốn đầu tư = GR/TVC
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
− Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
− Đáp ứng mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của vùng
− Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân
− Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật
− Tăng cường sản phẩm hàng hóa đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu
Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:
− Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
− Quản lí đối với đất đai rừng đầu nguồn
− Đánh giá các tài nguyên nước bền vững
− Đánh giá quản lí đất đai
− Đánh giá hệ thống cây trồng
− Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng
− Đánh giá về quản lí và bảo vệ tự nhiên
− Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất
Trang 18Việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp
là rất phức tạp, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài Vì vậy, đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và kết quả phiếu thăm dò
ý kiến các nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình sử dụng đất hiện tại
I.3 Những xu hướng phát triển nông nghiệp
I.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều
kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau:
Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông
nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều
lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Nông nghiệp công nghiệp hoá: Sử dụng các thành tựu của công nghiệp vào sản
xuất nông nghiệp, sử dụng vật tư kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, sản xuất theo quy trình
kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp những vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, làm ô nhiễm môi trường, giảm tính đa dạng sinh học và hao hụt nguồn gen thiên nhiên
Hiện nay, nông nghiệp công nghiệp hoá được hiểu là một nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội công nghiệp vào nông nghiệp Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế nền nông nghiệp công nghiệp hoá đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên nền nông nghiệp này là nguyên nhân tác động lên môi trường tự nhiên
Trang 19* Nông nghiệp sinh thái: đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của nông
nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học nông nghiệp trong nông nghiệp Mục tiêu của nông nghiệp sinh thái:
− Giảm thiểu những tác hại do sử dụng hoá chất nông nghiệp và phương pháp công nghiệp gây ra cho môi trường và chất lượng nông sản;
− Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
− Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ, tăng chất mùn trong đất…
− Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, nước, môi trường, thức ăn
I 3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Hiện nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng mạnh ra xuất khẩu
Trên cơ sở thành tựu nông nghiệp trong 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
− Phát triển vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng
− Phát triển sản xuất trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá
− Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, tăng
tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50%, tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ
Trang 20ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn
− Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến khích các sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp
− Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng
bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập và giảm đáng kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3 - 3,8% Tạo chuyển biến rõ rệt về mở rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ
Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh Phát triển doanh nghiệp nông thôn
Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái nông thôn tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, phòng chống thiên tai
Trang 21* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường
Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5-4%/năm Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế
Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp Công nghiệp, dịch vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn
Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối với thị trường
Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu
I.3.3 Xây dựng nền nông nghiệp bền vững
I.3.3.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững
Thực tế cho thấy sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp
Trang 22Đất đai chịu tác động của các yếu tố: nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên (khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật, quy luật sinh thái tự nhiên), nhóm yếu tố con người và các quy luật kinh tế - xã hội, các yếu tố kỹ thuật Đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất, còn phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Cùng với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật, công nghiệp và nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng, sự bùng nổ dân số càng làm sâu sắc thêm sự mất cân đối giữa nhu cầu ngày càng cao của xã hội và khả năng hạn chế của các nguồn tài nguyên
Hiện nay đất đai đang đối mặt với những vấn đề: Nhiều diện tích đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người; diện tích đất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp; quá trình thoái hoá đất, rửa trôi đất và phá hoại đất diễn ra một cách nghiêm trọng
Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp
sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm
Theo quan điểm của FAO: “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự nhiên và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật, thể chế bằng cách nào để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay và mai sau” Trong nông nghiệp được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng, chăn nuôi
và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về xã hội
Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống
ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền
Trang 23nhiên
Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức, sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế hệ hôm nay và mai sau
FAO cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
− Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
− Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp
− Duy trì và chỗ nào có thể thì tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân bằng tự nhiên, không phá
vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường
− Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân
Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống sản xuất ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững là một hệ thống
mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không dần huỷ diệt sự sống trên trái đất Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách hài hòa và thống nhất Nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và chi phối thời gian, tài lực, vật lực
Trang 24vào các mục tiêu đó
Ở Việt Nam nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay, có thể coi
là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều kiện thiên
nhiên ở nước ta Gần đây, những mô hình sử dụng đất như VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại
và phát triển
I.3.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất, nước, khí hậu, thời tiết ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp Do vậy, cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên để trên cơ sở đó xác định cây trồng vật nuôi chủ lực phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng
Đối với sản xuất nông nghiệp điều kiện về đất đai, khí hậu, thời tiết có ý nghĩa quan trọng Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, các hộ nông dân có thể lợi dụng những yếu
tố đầu vào không kinh tế thuận lợi để tạo ra nông sản hàng hoá với giá rẻ
* Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân
bố và tích luỹ năng suất kinh tế Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh của người sản xuất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Việc ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc chuyển đổi sử dụng đất Cho đến giữa thế kỷ 21, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Như vậy, nhóm các biện
Trang 25pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
− Công tác quy hoạch và phân vùng sản xuất:
Phân vùng sinh thái nông nghiệp dựa vào điều kiện tự nhiên, dựa trên cơ sở phân tích, dự báo và đánh giá nhu cầu thị trường, gắn với quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến, kết cấu hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và thể chế luật pháp về bảo vệ tài nguyên, môi trường sẽ tạo tiền đề vững chắc cho phát triển nông nghiệp hàng hoá Đó là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách đầy đủ, hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành tập trung hoá, chuyên môn hoá,
hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
− Phương thức tổ chức sản xuất:
Các phương thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất - dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá
Tổ chức có tác động lớn đến hàng hoá của hộ nông dân là: Tổ chức dịch vụ đầu vào và đầu ra
− Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
* Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá cũng giống như ngành sản xuất vật chất khác của xã hội, nó chịu sự chi phối của quy luật cung cầu chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố đầu vào, quy mô các nguồn lực như: đất, lao động, vốn sản
Trang 26− Thị trường là nhân tố quan trọng, dựa vào nhu cầu của thị trường nông dân lựa chọn hàng hoá để sản xuất Trong cơ chế thị trường, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết
để sản xuất ra những nông sản hàng hoá mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng Cần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống thông tin, dự báo, mở rộng các dịch vụ tư vấn , quy hoạch các vùng trọng điểm sản xuất hàng hoá để người sản xuất biết nên sản xuất cái gì, bán ở đâu, mua tư liệu sản xuất và áp dụng khoa học công nghệ gì Sản phẩm hàng hoá của Việt Nam cũng sẽ rất đa dạng, phong phú và đang được lưu thông trên thị trường, thương mại đang trong quá trình hội nhập là điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có hiệu quả
− Hệ thống chính sách về đất đai, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, hỗ trợ có ảnh hưởng lớn đến sản xuất hàng hoá của nông dân Đó là công cụ để nhà nước can thiệp vào sản xuất nhằm khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất các loại nông sản hàng hoá
Từ khi có chính sách đổi mới về cơ chế quản lý, nhất là từ khi có Nghị quyết 10 của Đảng (ngày 5/4/1988) đến nay, việc giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các nông hộ
và hàng loạt các chính sách kinh tế được ban hành như: chính sách tự do thương mại hoá trên phạm vi cả nước, chính sách một giá, chính sách cho nông dân vay vốn với lãi suất
ưu đãi, chính sách thuế với nông dân và các chính sách trong nông nghiệp đã tác động có lợi lớn đến sản xuất nông nghiệp Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực triền miên trong vài thập kỷ, năm 1989 đã xuất khẩu được được 1,4 triệu tấn gạo hàng hoá và đến nay đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo
Chính sách đất đai của nước ta đã được thể hiện trong Hiến pháp, Luật Đất đai năm 1993 sửa đổi, 2003 và hệ thống các văn bản dưới luật có liên quan đến khai thác và
sử dụng đất đai được quy định một cách thích hợp cho những đối tượng, những vùng khác nhau; các Nghị định 80/CP, 87/CP của Chính phủ về phương pháp tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và khung giá của các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi Thuế
Trang 27sử dụng đất nông nghiệp là một bộ phận của chính sách đất đai đã thúc đẩy việc sử dụng một cách hợp lý hơn
Trong công cuộc đổi mới hiện nay Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng tới việc phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá Do vậy, nhiều chính sách thúc đẩy nền kinh tế quốc dân như: chính sách“phủ xanh đất trống đồi núi trọc”, chính sách xoá đói giảm nghèo, chính sách dồn điền đổi thửa
− Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp của Nhà nước Cùng với những kinh nghiệm, tập quán sản xuất nông nghiệp, trình
độ năng lực của các chủ thể kinh doanh, là những động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hoá
I.3.3.3 Một số định hướng phát triển nông nghiệp bền vững
Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn chế tăng dân số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; cải thiện y tế và vệ sinh môi trường Đối với mỗi vấn đề này, phải có những giải pháp cụ thể được kiến nghị Chẳng hạn để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, không thể không xem xét việc đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo; tăng cường phổ cập trung học
cơ sở; chú trọng giáo dục các nhóm xã hội đặc biệt như nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, đồng thời phải đẩy mạnh việc huy động toàn dân tham gia công tác giáo dục và đào tạo
Để tăng cường độ bền vững của "chân kiềng" thứ ba là môi trường, nhiều chuyên gia đề cập đến vấn đề chống thoái hoá đất, sử dụng và quản lý tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên biển, ven biển; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; giảm thiểu ô nhiễm không khí ở đô thị và khu công nghiệp; quản lý chất thải rắn; bảo tồn đa dạng sinh học
Bên cạnh những giải pháp trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các chuyên gia còn khẳng định rằng để có sự phát triển bền vững, không thể chỉ cần sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực này, mà còn cần có sự tham gia của toàn dân và đặc biệt là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong thực hiện phát triển bền vững thông qua hoạt động xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát, các công cụ tài chính
Trang 28Mặt khác, cũng cần thấy rõ rằng, sự phát triển bền vững không thể đạt được, nếu chỉ dừng ở cấp ngành hoặc địa phương, mà cần có sự tham gia ở cấp vùng, với những giải pháp đưa yếu tố vùng vào hệ thống quy hoạch và kế hoạch phát triển; hình thành tổ chức phối hợp, giám sát sự phát triển bền vững ở quy mô vùng và rà soát lại chiến lược, quy hoạch các vùng dưới góc độ phát triển bền vững
* Năm 2009, trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 -
2020, Bộ Nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra một số định hướng phát triển nông nghiệp như sau:
+ Phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có
hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất có
lợi thế nhất về lúa gạo cần ưu tiên đầu tư phát triển sản xuất lúa hàng hóa quy mô lớn Hình thành hệ thống các trang trại sản xuất lúa, tạo nên vùng chuyên canh sản xuất lúa nguyên liệu phục vụ các trung tâm chế biến lớn Quy hoạch các vùng chuyên canh phục
vụ nhu cầu trong nước tại các vùng sản xuất có lợi thế so sánh cao về trồng lúa Phát triển
hệ thống phân phối lưu thông để ưu tiên phục vụ thị trường trong nước Xây dựng thương hiệu mũi nhọn và thị trường chiến lược cho lúa gạo Việt Nam Gắn nhà máy chế biến với các vùng chuyên canh lúa, phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ sản xuất, các hình thức tổ chức sản xuất, xúc tiến thương mại, quản lý thị trường để đảm bảo phát triển sản xuất với quy mô và công nghệ hợp lý nhất
+ Phát triển cây trồng có khả năng cạnh tranh mạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu như: cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, rau, chè và những mặt hàng có lợi thế tiềm năng (cây ăn quả, cây dược liệu,…)
Một đòi hỏi khác là cần mở rộng hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững thông qua việc tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về phát triển bền vững; tham gia tích cực các hoạt động hợp tác nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu và khu vực cũng như
nỗ lực thu hút sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính quốc tế nhằm mục đích phát triển bền vững và tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển bền vững
Trang 29I.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
I.4.1 Nội dung nghiên cứu
− Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội vùng nghiên cứu
− Tình hình quản lí và sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Vạn Ninh
− Thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Vạn Ninh
− Hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Vạn Ninh
− Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
I.4.2 Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp thống kê: thu thập các số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu
− Phương pháp phân tích tổng hợp: trên cơ sở các số liệu thu thập được tiến hành
phân tích và tổng hợp để đưa ra nhận xét đánh giá về hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
− Phương pháp dùng phiếu điều tra: thu thập số liệu thông qua phiếu điều tra chi
tiết về chi phí, thu nhập cũng như đặc điểm cơ bản của nông hộ về mức độ thích hợp cây
trồng đối với đất đai và ảnh hưởng đến môi trường
− Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tham
khảo thêm ý kiến của người có chuyên môn, cán bộ lãnh đạo và những người nông dân sản xuất giỏi trong huyện nhằm đưa ra những đánh giá chung về tình hình phát triển nông
nghiệp cũng như tình hình sử dụng đất hiện nay
Trang 30− Phía Bắc giáp Đèo Cả tỉnh Phú Yên
− Phía Tây giáp tỉnh Phú Yên
− Phía Nam giáp huyện Ninh Hòa
− Phía Đông giáp biển Đông
Vạn Ninh nằm trên trục giao thông quan trọng của cả nước, đường quốc lộ 1A, cùng với tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua suốt chiều dài của huyện, cùng với hệ thống đường sá trong huyện tạo thành mạng lưới giao thông đường bộ khá phát triển Hệ thống cảng biển phân bố khá cân đối, cách cảng Nha Trang 60km, và cách cảng Vũng Rô 3km về phía Nam Vạn Ninh có nhiều khu du lịch biển như: Đại Lãnh, Vịnh Vân Phong (đây là vùng cực Đông của tổ quốc, và nằm trên trục đường hàng hải quốc tế ) tạo cho huyện có vị trí thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp và ngành nghề nói riêng Với hệ thống giao thông bộ và hàng không như trên, có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, và biến huyện trở thành một trung tâm kinh
tế, du lịch và công nghiệp ở phía Bắc tỉnh Khánh Hòa
Ngoài mạng lưới giao thông phát triển, Vạn Ninh còn nằm giữa các thị xã và thành phố lớn của miền trung là Nha Trang và Tuy Hòa, điều này đã tạo điều kiện cho huyện có khả năng phát triển các mặt hàng cung cấp cho các khu vực có sức mua lớn mà ít bị ảnh hưởng các khu vực khác
Trang 31II 1.1.2 Địa hình, địa mạo
Huyện Vạn Ninh có 3 dạng địa hình chủ yếu:
Địa hình núi cao nằm ở phía tây của huyện, khu vực giáp Phú Yên và Ninh Hòa, kéo dài từ đèo Cả đến núi Mẹ Bồng Con – Đá Bàn Địa hình núi cao ở huyện Vạn Ninh gồm các loại hình sử dụng đất chủ yếu là rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ và rừng kinh
tế
Địa hình đồi bát úp núi thấp với các đụn cát là vùng tiếp giáp giữa các vùng núi cao ở phía Tây với dải đồng bằng ven biển Đây là vùng rừng đã bị khai thác cạn kiệt, phần lớn là đất trống đồi núi trọc hoặc đất trống cây bụi, cỏ
Địa hình đồng bằng gồm các nhóm đất phù sa thành phần cơ giới nhẹ, gồm các loại hình sử dụng đất chủ yếu là phát triển sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản, dịch
vụ ,… Toàn bộ diện tích đất canh tác của huyên tập trung ở dạng địa hình này
II.1.1.3 Đặc điểm khí hậu
Theo kết quả phân vùng khí hậu thủy văn tỉnh Khánh Hòa của đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Trung Bộ, huyện Vạn Ninh nằm trong tiểu vùng khí hậu Vạn Ninh – Ninh Hòa thuộc vùng khí hậu vùng đồng bằng và ven biển xen kẽ đồi núi thấp của tỉnh Khánh Hòa ( vùng khí hậu thủy văn II ) Do đó, chế độ khí hậu thủy văn ở Vạn Ninh mang những đặc trưng sau:
Chịu ảnh hưởng 2 mùa khí hậu rõ rệt, mùa khô hanh kéo dài từ tháng I đến tháng VIII, nhiệt độ cao, bốc thoát hơi nước thực tế lớn, nắng nhiều, ít có gió bão, tổng lượng mưa trên dưới 400mm và chỉ chiếm từ 15 – 35% so tổng lượng mưa cả năm, thường dẫn đến hạn hán trong cuối vụ hè thu và đầu vụ mùa
Lượng mưa bình quân trong năm biến động từ 1.400mm – 1.700mm, năm mưa nhiều đạt trên 2.200mm và thấp nhất khoảng 541mm ( trong 1982 ) Lượng mưa tập trung váo các tháng IX, X, XI và XII sẽ dễ gây ngập úng cục bộ ở những vùng bị trũng ở Vạn Ninh Phần lớn diện tích đất canh tác lúa có độ cao tương đối và thoát nước tốt nên thời gian ngập úng không lâu Tuy nhiên, với thời gian ngập úng không lâu sẽ ảnh hưởng
Trang 32không lớn đến cây lúa, nhưng với các đối tượng rau, quả hoặc đậu đỗ sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến năng suất vì khả năng không chịu úng của các đối tượng cây trồng đó
Nhiệt độ trung bình 26,9oC, các tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng XII, I và II (24,4oC – 24,9oC ), nhiêt độ cao nhất là 29oC vào tháng VII Với chế độ nhiệt độ như trên,
có thể khẳng định Vạn Ninh không có mùa đông ( mùa lạnh ), như vậy, thời gian sinh trưởng của cây trông trong năm chủ yếu phụ thuộc vào sự tương quan giữa lượng mưa và cường độ bốc thoát hơi nước trong tháng Đây là một trong những tiềm năng lớn trong việc bố trí sản xuất cây trồng quanh năm ở huyện Vạn Ninh
Tuy nhiên từ tháng VI – VIII, do ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, nhiệt độ trung bình tương đối cao và biến động từ 28,6o
C – 28,9oC, đây là một trong những hạn chế về chế độ nhiệt đối với sinh trưởng của cây trồng
Hàng năm, tại Vạn Ninh cũng gặp bão với cường độ 0,75 cơn/năm và thường xảy
ra vào các tháng từ X đến XII hàng năm, lũ thường xuất hiện hàng năm ở Vạn Ninh từ tháng V đến tháng VIII
Bảng 2.1 Biểu đồ: Nhiệt độ, lượng mưa
( Nguồn: Trạm khí tượng Nha Trang )
Trang 33II 1.1.4 Thủy văn
Huyện Vạn Ninh có mạng lưới sông suối khá dày đặc với mật độ khoảng 0,6 – 1,0km/km2, sông thường ngắn và dốc, hầu hết các lưu vực đều nằm trong địa giới huyện Dọc theo bờ biển khoảng 3 – 5km có một cửa sông
Các sông, suối chính ở Vạn Ninh là:
Sông cạn bắt nguồn từ Hòn Dõng, Hòn Giao với độ cao 840m, chảy qua ranh giới giữa hai xã Vạn Phước và Vạn Long, với chiều dài 14km, diện tích lưu vực 86km2
; Sông Đồng Tiền, bắt nguồn từ đỉnh cao 806m, thượng nguồn là suổi Bình Trung, chạy qua các xã Vạn Bình, Vạn Phú rồi đổ ra biển thuộc xã Vạn Thắng, có chiếu dài là 18km, diện tích lưu vực 85km2, không có phụ lưu lớn đổ vào, với lưu vực nhỏ, dòng chảy trong năm không phân bố đều, lưu lượng kiệt nhất vào 0,27m3
/s;
Sông Hiền Lương bắt nguồn từ đỉnh núi phía Tây cao 1200m, thượng nguồn là sông Hậu, sông chảy theo hướng Nam – Bắc, rồi chuyển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chạy qua xã Vạn Lương, Vạn Phú rồi ra biển, với chiều dài 18km, diện tích lưu vực 154km2, sông có nước quanh năm, nhưng mùa mưa lưu lượng nước thấp, dòng chảy phân
bố không đều trong năm
II 1.1.5 Đặc điểm tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất: Huyện Vạn Ninh gồm các loại đất được thể hiện qua bảng sau: