1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu nghiên cứu phân loại chi táo ta (ziziphus mill ) ở việt nam

56 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dự kiến kết quả nghiên cứu Bản mô tả đặc điểm hình thái, khóa định loại đến loài, các đặc điểm sinh học - sinh thái, giá trị sử dụng, vùng phân bố, trích dẫn mẫu nghiên cứu, hình ảnh mi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI2

KHOA SINH – KTNN

TRỊNH THỊ VUI

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI

CHI TÁO TA (ZIZIPHUS MILL.)

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của

TS Nguyễn Thế Cường và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng

biết ơn sâu sắc tới thầy

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Vui

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở

Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thế Cường và TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày

trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày 12 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Trịnh Thị Vui

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.2 Địa điểm nghiên cứu 11

2.3 Thời gian nghiên cứu 11

2.4 Nội dung nghiên cứu 11

2.5 Phương pháp nghiên cứu 12

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam 16

3.2 Đặc điểm phân loại chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam 16

3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam 21

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam 22

3.4.1 Ziziphus rugosa (Lamk.) – Táo Nhám 22

3.4.2 Ziziphus attopensis (Pierre.) – Táo Lào 25

3.4.3 Ziziphus funiculosa (Buch-Ham.) 27

3.4.4 Ziziphus poilanie (Tardieu.) – Táo rừng poilanie 29

3.4.5 Ziziphus oenopolia (L.) Mill – Táo rừng 31

3.4.6 Ziziphus jujuba (Mill.) – Táo ta 34

3.4.7 Ziziphus incuvar (Roxb.) – Táo cong 36

3.4.8 Ziziphus laui (Merr.) – Táo Lâu 38

3.4.9 Ziziphus hoaensis (Pierre.) – Táo Biên Hòa 40

3.4.10 Ziziphus cambodiana (Pierre.) – Táo cam bốt 42

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Nghiên cứu phân loại thực vật một cách chính xác là vấn đề rất cần thiết vì đó là cơ sở khoa học cho các lĩnh vực khác như sinh thái học, sinh lý thực vật, tài nguyên thực vật, y học, dược học

Chi Táo ta (Ziziphus Mill.) thuộc học Táo (Rhamnaceae Juss.) ở Việt Nam hiện

được ghi nhận có 9 loài, phân bố trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh, trảng cây bụi

Hầu hết chúng là cây có quả ăn được, trong đó loài Táo ta (Ziziphus jujuba Mill.) là

loài có giá trị kinh tế cao Bên cạnh đó, các loài thuộc chi Táo còn được sử dụng làm thuốc chữa bệnh Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Táo ta ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết và sử

dụng các loài của chi này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Bước đầu nghiên

cứu phân loại chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở

Việt Nam một cách hệ thống, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu phân loại họ Táo (Rhamnaceae) ở Việt Nam sau này, phục vụ cho việc soạn thảo Thực vật chí Việt Nam về họ Táo và những nghiên cứu có liên quan

Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam về họ Táo (Rhamnaceae) ở Việt Nam sau này; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu sau này về chi Táo ta

(Ziziphus Mill.) ở Việt Nam

Trang 6

(Ziziphus Mill.) nói riêng

Dự kiến kết quả nghiên cứu

Bản mô tả đặc điểm hình thái, khóa định loại đến loài, các đặc điểm sinh học - sinh thái, giá trị sử dụng, vùng phân bố, trích dẫn mẫu nghiên cứu, hình ảnh minh

họa về các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam một cách hệ thống

Dự kiến đóng góp mới

Lần đầu tiên ở Việt Nam, chi Táo ta (Ziziphus Mill.) đƣợc nghiên cứu phân loại

một cách có hệ thống và đầy đủ nhất, đáp ứng đƣợc yêu cầu soạn thảo thực vật chí

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1 Tổng quan tài liệu 1.1 Lược sử nghiên cứu Thực vật trên thế giới và Việt Nam

1.1.1 Trên thế giới và một số nước trong khu vực

Đa dạng sinh học và bảo tồn đa dang sinh học đã trở thành một chiến lược, chương trình hành động quan trọng trên toàn thế giới Nhiều tổ chức Quốc tế lớn đã

ra đời như Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), viện tài nguyên

Di truyền quốc tế (IPGRI),… nhằm hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức thực hiện việc kiểm kê, đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn quốc gia, châu lục và trên toàn cầu Để tránh sự phá hủy tài nguyên và duy trì sự sống một cách bền vững trên trái đất, Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng tài nguyên sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992 Tại hội nghị này, 150 quốc gia đã ký vào Công ước về Đa dạng sinh vật Nhiều hội thảo sau

đó đã được tổ chức, các cuốn sách hướng dẫn cũng ra đời Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật; IUCN, UNEP, WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới; IUCN, WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới; IUCN, UNEP xuất bản sách chiến lược đa dạng sinh vật và chương trình hành động…Tất cả các công trình đó đều nhằm hướng dẫn và đề xuất phương pháp bảo tồn đa dạng sinh vật, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai WCMC (1992) công bố công trình đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu, cung cấp tư liệu về đa dạng của các nhóm sinh vật ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới, làm cơ sở cho bảo tồn có hiệu quả

Cùng với các công trình đó, đã có hàng ngàn cuộc hội thảo quốc tế khác nhau được tổ chức Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực đã tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh vật

Cho đến nay, hầu hết các quốc gia, các khu vực và các vùng lãnh thổ trên toàn thế giới đều đã và đang nghiên cứu đánh giá, hay có những công trình về đa dạng

Trang 8

vật ở các mức độ khác nhau Mức cao là các chuyên khảo (Monographia), các bộ sách Thực vật chí (Flora), hay mức độ thấp là Danh lục thực vật (checklist) cũng như các công trình riêng lẻ khác Các công trình thực vật kinh điển trong thời kỳ phân loại tự nhiên phải kể đến như: Linnaeus (1375), Systema Naturae; Linnaeus (1737), Generale Plantarum; Linnaeus (1753), Species Plantarum; A L Jussieu (1789), Generale Plantarum secundum ordines Naturaees disposita; Alphonsol de Candolle (1813), Theori elementarie de la botanique;Alphonso de Candolle (1816 – 1841), Prodromus systematis Naturaeis rengi Vegetabilis; Alphonso & Casimir de Candolle, Monographae Phanerogamarum; Bentham & Hooker (1862 – 1883), Generale Plantarum

Đến thời kỳ các công trình nghiên cứu phân loại thực vật dựa trên những bằng chứng tiến hóa được đề cập trong học thuyết Darwin, tác giả được đề cập nhiều nhất

là nhà thực vật học người Đức Eichler Ông đã chia giới thực vật thành Thực vật không hạt (Cryptogramae) và Thực vật có hạt (Phaerogramae) Nhóm thứ nhất gồm Nấm, Tảo và Rêu; nhóm thứ hai gồm thực vật Hạt trần, thực vật Hạt kín (bao gồm thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm) Tiếp sau đó là công trình phân loại Engler (1887 – 1915), Die Naturalichen Pflanzenfamilien

Hiện nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học vẫn liên tục được cải tiến và cập nhật Các hệ thồng trong những năm gần đây như các hệ thống của Rober Thorn (1968, 1976); Arthun Cronquist (1968); A L Takhtajan (1969, 1973, 1987, 1992, 2009)…và ngày nay là các hệ thống của Angiosperm Phylogeny Group (APG) liên tục được cập nhật Trong khu vực, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang hoàn thành các công trình Thực vật chí như: Auctor (1993), Flora of Australia; Chen S S & W Y Chua (eds.) (1959- 1987), Flora Reipublicae Popularis Sinicae;

Wu Z Y & P H Raven (eds.) (1994- 2000), Flora of Chine; Hooker, C B (ed.) (1876- 1894), Flora of British India; Phengklai, C., Thawatchai S., Larsen K (eds.) (1993- 2011), Flora of Thailan; C G G J van Steenis (ed.) (từ 1950- ), Flora of Malesiana; Auctor (2007), A checklist of the Vascular Plant of Lao PDR

Trang 9

1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Theo các tài liệu đã công bố gần đây, Việt Nam có khoảng trên 15000 loài thực vật, trong đó ngành Tảo có khoảng gần 2200 loài, ngành Rêu khoảng 480 loài, ngành Khuyết lá Thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ khoảng gần 700 loài, ngành Hạt trần

70 loài và ngành Hạt kín khoảng trên 12000 loài Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam được tiến hành hơn 2 thế kỷ, nhưng các công trình mới chỉ được công bố nhiều ở khoảng 50 năm trở lại đây

Ngay từ cuối thế kỷ 18, nhà thực vật học người Pháp J Loureiro (1790) đã biên soạn cuốn sách đầu tiên về đa dạng thực vật Việt Nam của hệ thực vật Nam Bộ (Flora Cochinchinensis) Tiếp theo là tác giả J B L Pierre (1790) về hệ Cây gỗ rừng Nam Bộ (Flore Forestière de la Cochinchine) Nửa đầu thế kỷ 20 các nhà thực vật học Pháp dưới sự chủ biên của H Lecomte (1907-1952) đã lần lượt xuất bản bộ

sách Thực vật chí đại cương Đông Dương (Flore G neral de l’Indo-Chine, et

Supplements) gồm 7 tập với hơn 7000 loài, là nền tảng cho việc đánh giá đa dạng

thực vật đến tận ngày nay Từ năm 1960 đến nay, bộ sách này đã và đang được một

số nhà thực vật Pháp và Việt Nam biên soạn lại dưới tên Thực vật chí Campuchia,

Lào và Việt Nam (Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam) với 74 họ thực vật

Đặc biệt trong thời gian nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam của các tác giả trong nước

và nước ngoài rất có giá trị Lê Khả Kế & cộng sự (1969-1976), Cây cỏ thường thấy

ở Việt Nam gồm 6 tập Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) Cây cỏ thường thấy ở Miền Nam với 5326 loài, tiếp sau đó tác giả này có công trình nghiên cứu thực vật cả nước (1991-1993, 1999-2000) với số lượng loài khá đầy đủ phục vụ tốt việc nghiên cứu đa dạng thực vật Việt Nam đến ngày nay Trong 2 số tạp chí chuyên đề của Tạp chí Sinh học (1994-1995) nhiều tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu thực vật các taxon với hàng trăm loài Đáng chú ý gần đây công trình là bộ sách 3 tập Danh lục

Trang 10

các loài thực vật Việt Nam của nhiều tác giả (2001, 2003, 2005) đã công bố danh sách hơn 20000 loài thực vật trong cả nước; là tài liệu được công nhận mới và đầy

đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước đến nay; bộ sách là cơ sở tra cứu, chỉnh lý tên khoa học các taxon và nhiều thông tin khác Nguyễn Tiến Bân & cộng sự (1996, 2007) công bố hàng trăm loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng ở Việt Nam Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) thống kê toàn bộ sự đa dạng của cây rừng Việt Nam với hàng nghìn loài Một công trình rất có giá trị nghiên cứu đa dạng thực vật là bộ sách Thực vật chí Việt Nam đã xuất bản được 11 tập, Phan Kế Lộc (1998) nghiên cứu kiểm kê về tính đa dạng hệ thực vật Việt Nam

về thành phần loài Một số chuyên khảo về các taxon như A Schuiteman & E F de Vogel (2000) về họ Lan ở Đông Dương; L V Averyanov (1994) về họ Lan ở Việt Nam; N N Thìn (1995, 1999, 2007) về họ Thầu dầu ở Việt Nam

Cùng với những công trình mang tính chất chung về taxon hay vùng lãnh thổ cả nước, còn rất nhiều công trình về kết quả nghiên cứu Đa dạng thực vật của mỗi khu vực và các Khu bảo tồn (Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, ) được nghiên cứu hoặc công bố Có thể kể đến như đa dạng thực vật các Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Hoàng Liên – Sa Pa (Lào Cai), Ba Bể (Bắc Kạn), Cát Bà (Hải Phòng), Pù Mát (Nghệ An), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cát Tiên (Đồng Nai), Yok Đôn (Đắk Lắk), Xuân Sơn (Phú Thọ), Bạch Mã (Thừa Thiên -Huế), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Mũi Cà Mau (Cà Mau), Đa dạng thực vật các Khu bảo tồn nhiên nhiên Khau Ca (Hà Giang), Na Hang (Tuyên Quang), Chạm Chu (Tuyên Quang), Hữu Liên (Lạng Sơn), Pù Huống (Nghệ An), Yên Tử (Quảng Ninh) Các khu vực Tây Bắc; vùng núi đá vôi Hoà Bình, Sơn La; vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên -Huế); Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh

Bên cạnh những công trình là các bài báo, sách chuyên khảo, các hội thảo trong nước và quốc tế như nói trên, nghiên cứu đa dạng thực vật còn thể hiện ở bộ mẫu thực vật được điều tra thu thập bảo quản bền vững lâu dài ở các Phòng tiêu bản Ở Việt Nam, một số Phòng tiêu bản thực vật lưu trữ bảo quản trưng bày giới thiệu về

đa đạng thực vật nước ta như ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN) với

Trang 11

khoảng gần 1 triệu mẫu tiêu bản, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU) với khoảng vài trăm nghìn mẫu triệu mẫu, Viện Sinh học nhiệt đới (HM, VNM) có khoảng 500 nghìn mẫu và các bảo tàng của các VQG Cúc Phương, Pù Mát

1.2 Lược sử nghiên cứu về họ Táo trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Chi Ziziphus được Philip Miller chính thức công bố vào năm 1754 Tuy nhiên

trước đó vào năm 1753, Carl Linnaeus đã công bố một số loài mà sau này chúng

được xếp vào chi Ziziphus Mill Các loài đó là Rhamnus lotus L., R jujuba L., R

oenoplia L., R ziziphus L

Jussieu (1789) mô tả hình thái của loài đặc điểm Ziziphus jujubier L với đặc

điểm: cây gỗ nhỏ; lá mọc cách, có 3-5 gân từ gốc lá; lá kèm biến đổi thành gai mọc

ở nách lá; đài chẻ thành 5; cánh hoa 5 hình thìa; nhị 5; bầu 2 ô, 2 lá noãn; quả mọng hình trứng, quả hạch trong mỗi ô có 1 hạt Loài này được xếp vào nhóm nhị và cánh

hoa đối nhau, quả hạch

G Bentham & J D Hooker (1862) khi nghiên cứu hệ thống và phân loại họ

Rhamnaceae, đã xếp chi Ziziphus Mill vào tông Zizipheae Về sau, J D Hooker

(1875) khi nghiên cứu về thực vật ở Ấn Độ dựa trên hệ thống của G Bentham & J

D Hooker (1862) đã mô tả đặc điểm về chi Ziziphus Mill và 18 loài là: Z jujuba Lamk., Z glabrata Heyne., Z nummularia W & A Prodr., Z wynadensis Bedd., Z

vulgaris Lamk., Z oxyphylla Edgew., Z.oenoplia Mill., Z xylopyrus Willd., Z horrida Roth., Z funioulosa Ham., Z rugosa Lamk., Z elegans Wall

Lindsay Stewart J (1874) khi nghiên cứu về thực vật ở miền Tây – Bắc và miền

Trung Ấn Độ, đã xếp chi Ziziphus Mill vào bộ (order) Rhamneae Ông đã xây dựng

khóa định loại, mô tả một số đặc điểm sinh học và phân bố cho 7 loài thuộc chi

Ziziphus Mill là: Z vulgaris Lam., Z oxyphylla Edgew., Z oenoplia Mill., Z jujuba Lamk., Z nummularia W & A Prodr., Z rugosa Lamk., Z xylopyra Willd

Pitard C J (1912) nghiên cứu trong Thực vật chí đại Đông Dương, ông đã

công bố kết quả nghiên cứu các loài thuộc chi Ziziphus Mill ở Đông Dương và xếp

Trang 12

chi Ziziphus Mill vào họ Táo (Rhamnacées) Ông đã xây dựng khóa định loại, mô

tả, nêu một số đặc điểm sinh học và phân bố cho 7 loài thuộc chi Ziziphus Mill ở

Đông Dương Tiếp đến Tardieu (1950), trong Bổ sung thực vật chí Đại cương Đông Dương ông đã xây dựng khóa định loại, phân bố, mô tả cho một số loài thuộc

chi Ziziphus Mill Chi Ziziphus Mill được ghi nhận có 11 loài gồm: Z rugosa Lamk., Z jujuba Lamk., Z oenoplia Mill., Z laui Merr., Z poilanei Tardieu., Z

incurvar Robx., Z funiculosa Ham., Z attonpensis Pierre., Z calophylla, Z cambodiana Pierre., Z hoaensis

Các nước lân cận Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về chi Ziziphus

Mill dưới dạng công trình Thực vật chí, như công trình của C A Backer (1965)

khi nghiên cứu hệ thực vật tại đảo Java, In-đô-nê-xi-a đã xếp chi Ziziphus Mill vào

họ Rhamnaceae và ghi nhận 5 loài thuộc chi Ziziphus là: Z javanensis Blume., Z

horsfieldii Miq., Z rotundifolia Lam., Z oenoplia (L.) Mill, Z rufula Miq Tác giả

đã mô tả các đặc điểm hình thái để phân biệt các loài dưới dạng khóa phân loại, không có hình ảnh minh họa

Chen Yi-lin (1982), khi nghiên cứu về thực vật Trung Quốc ông đã nghiên cứu

kĩ các đặc điểm hình thái của các loài thuộc chi Ziziphus Mill Dựa trên các đặc điểm cơ quan chủ yếu là thân, lá, lá đài, hoa, bộ nhụy, quả, ông đã xếp chi Ziziphus

Mill vào tông Zizipheae thuộc họ Rhamnaeae Trong công trình này, ông đã lập khóa phân loại mô tả các đặc điểm của tất cả các loài và kèm theo hình vẽ của các

loài thuộc chi Ziziphus Mill có phân bố ở Trung Quốc gồm: Z jujuba Mill., Z

xiangchengensis Y L Chen et P K Chou., Z mairei Dode., Z montana W W

Smith., Z pubinervis Rehd., Z oenoplia (L.) Mill., Z mautiriana Lamk., Z laui Merr., Z incurvar Roxb., Z fungii Merr., Z attopensis Peirre., Z attopensis Peirre.,

Z rugosa Lam Công trình này được Chen Yilin, Carsten Schirarend dịch sang tiếng

anh và công bố trong “ Flora of China” (2007)

1.2.2 Ở Việt Nam

Cho đến nay các công trình nghiên cứu họ Táo (Rhamnaceae) nói chung và chi

Trang 13

các loài thuộc chi Ziziphus Mill ở Việt Nam là Pierre Năm 1894, khi nghiên cứu

về “Cây gỗ rừng Nam Bộ” ông đã nghiên cứu và mô tả các đặc điểm hình thái về các cơ quan thân, lá, lá đài, hoa, nhị, nhụy và có hình ảnh minh họa cho các loài

thuộc chi Ziziphus Mill gồm: Z cambodiana Pierre., Z hoaensis Piere., Z

attopensis Pierre., Z rugosa Lamk

Pitard C J (1912) đã mô tả và công bố các loài thuộc chi Ziziphus Mill trong

hệ thực vật ở toàn Đông Dương là Z rugosa Lamk., Z jujuba Lamk., Z oenoplia (L.) Mill., Z funiculosa Buch., Z cambodiana Pierre., Z hoaensis Pierre., Z

attopensis Pierre Nghiên cứu này dựa trên hệ thống của G Bentham & J D

Hooker (1862), tuy việc lập khóa định loại vẫn còn hạn chế nhưng cho tới thời điểm hiện tại công trình nghiên cứu của Pitard C J vẫn được coi là công trình nghiên cứu

đầy đủ và hoàn chỉnh về phân loại chi Ziziphus Mill ở Đông Dương nói chung và ở

Việt Nam nói riêng

Đến năm 1950, Tardieu trong công trình Bổ sung thực vật chí Đại cương Đông

Dương đã xây dựng khóa định loại, mô tả và phân bố của 11 loài thuộc chi Ziziphus Mill Trong đó, có 9 loài ở Việt Nam gồm: Z rugosa Lamk., Z oenoplia Mill., Z

laui Merr., Z poilanei Tardieu., Z incurva Robx., Z funiculosa Ham., Z

attonpensis Pierre., Z cambodiana Pierre., Z hoaensis

Phạm Hoàng Hộ là người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu chi Ziziphus Mill ở

Việt Nam Năm 1970 khi nghiên cứu về thực vật miền Nam, ông đã mô tả vắn tắt

các đặc điểm hình thái, phân bố và có hình vẽ sơ bộ về 5 loài thuộc chi Ziziphus Mill gồm: Z mautiriana Lamk., Z rugosa Lamk., Z cambodiana Pierre., Z

oenoplia Mill., Z hoaensis Pierre

Lê Khả Kế (1973) khi nghiên cứu về Thực vật miền Bắc trong “ Cây cỏ thường

thấy ở Việt Nam” đã xếp chi Ziziphus Mill vào họ Táo (Rhamnaceae) Ông đã mô

tả đặc điểm hình thái, sinh thái của hai loài thuộc chi Ziziphus Mill gồm: Z

mautiriana Lamk., Z oenoplia Mill

Trang 14

Phạm Hoàng Hộ (1992) trong “Cây cỏ Việt Nam” tác giả đã mô tả đặc điểm

hình thái, đặc điểm sinh thái, phân bố và có hình vẽ sơ bộ của 12 loài thuộc chi

Ziziphus Mill phân bố ở Việt Nam Công trình này đƣợc tái bản năm 2000, tác giả

chỉnh sửa và mô tả hình thái, đặc điểm sinh thái, phân bố, có hình vẽ sơ bộ của 10

loài thuộc chi Ziziphus Mill phân bố ở Việt Nam Đây đƣợc coi là tài liệu phân loại Thực vật chí Ziziphus Mill ở Việt Nam có giá trị nhất tới thời điểm này

Nguyễn Tiến Bân ( 2003) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã chỉnh lý danh pháp và đƣa ra danh lục 9 loài thuộc chi Ziziphus Mill hiện biết ở

Việt Nam Tác giả cung cấp một số dẫn liệu dạng sống, vùng phân bố, sinh thái và

giá trị tài nguyên các loài trong chi Ziziphus Mill ở Việt Nam

Ngoài ra, còn một số các tác giả khác nghiên cứu giá trị của các loài thuộc chi

Ziziphus Mill ở Việt Nam nhƣ Võ Văn Chi (1997) “Từ điển cây thuốc Việt Nam”,

Đỗ Tất lợi (2004) “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Đỗ Huy Bích (2004)

“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” và nhiều các tác giả và công trình

công bố khác Các tác giả không có những dẫn liệu bổ sung về mặt Thực vật học

nhƣng đã cung cấp thông tin về giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Ziziphus Mill

Trang 15

Chương 2 Đối tượng, Nội dung và Phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.), thuộc họ Táo (Rhamnaceae Juss.) ở

Việt Nam, thông qua các mẫu vật nghiên cứu, các tài liệu liên quan tới chi Táo ta

(Ziziphus Mill.)

+ Tài liệu: Các tài liệu liên quan đến chi Táo ta (Ziziphus Mill.) trên thế giới và

của Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo về phân loại

+ Mẫu vật: Các mẫu thực vật thuộc chi Táo ta ở Việt Nam, hiện đang lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN); phòng Tiêu bản thực vật, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội (HNU), phòng Tiêu bản thực vật , Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM) và các mẫu vật sống được thu thập từ thực địa Bên cạnh đó, tham khảo các thông tin về mẫu vật ở một số Bảo tàng Thực vật trong và ngoài nước

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Được thực hiện chủ tại Bảo tàng thực vật, Phòng Thực vật, Viện Sinh thái & TNSV và Khoa Sinh – KTNN, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2

2.3 Thời gian nghiên cứu

Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 7/2015, hoàn thành vào tháng 5/2016

2.4 Nội dung nghiên cứu

Phân tích các hệ thống phân loại chi Táo ta (Ziziphus Mill.) trên thế giới, từ đó

lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp các loài thuộc chi Táo ta ở Việt Nam

Thu thập, tìm hiểu, phân tích mẫu vật

Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam Xây dựng khóa định loại các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam

Tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng của các loài

thuộc chi Táo ta (Ziziphus Mill.) ở Việt Nam

Trang 16

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả nghiên cứu về hệ thống, phân loại, tài nguyên và sinh học

phân tử liên quan đến chi Táo ta (Ziziphus Miller) trên thế giới và ở Việt Nam từ

trước đến nay

Phương pháp so sánh hình thái

Để phân loại chi Táo ta (Ziziphus Miller), chúng tôi sử dụng phương pháp hình

so sánh Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính

và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã

di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây cây trưởng thành, nụ so với nụ, hoa so sánh với hoa, …)

Khóa định loại được xây dựng theo kiểu khóa lưỡng phân

Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời

cả 2 công tác là ngoại nghiệp (thu thập và xử lý mẫu vật) và nội nghiệp (phân tích,

mô tả đặc điểm hình thái và hoàn thiện luận văn)

Ngoại nghiệp

Chọn mẫu: Chọn những mẫu tiêu biểu và đầy đủ các phần như thân, cành, lá, cơ

quan sinh sản là hoa hoặc quả và có đủ trữ lượng theo yêu cầu

Chụp ảnh mẫu: Đây là việc làm rất quan trọng, giúp lưu giữ lại hình ảnh của

mẫu phục vụ cho những nghiên cứu phân loại cũng như bảo quản mẫu sau này Ảnh cần phải đảm bảo các yêu cầu: Quan sát được mẫu tươi một cách đầy đủ và tự nhiên; Hình ảnh hiển thị được toàn bộ các bộ phận của cây; Chụp lại toàn bộ những đặc điểm bất thường, đặc biệt, khác biệt

Nhãn (lý lịch mẫu): bao gồm những thông tin sau:

Trang 17

Số hiệu mẫu (bắt buộc): Số hiệu này được gắn liền với mẫu vật liên tục trong

suốt quá trình thực hiện bảo quản và lưu giữ bộ sưu tập Nó được ví như số Chứng minh nhân dân của con người Số hiệu mẫu cũng xuất hiện trên bất kỳ trích dẫn nào của mẫu vật

Tên người thu mẫu: ghi lại đây đủ tên của tất cả những người tham gia thu thập

được mẫu đó

Ngày, tháng, năm thu mẫu: Ghi lại ngày thu mẫu

Đặc điểm hình thái của mẫu: hình dạng, kích thước, màu sắc tự nhiên của cơ

quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản (nếu có) v.v

Đặc điểm sinh thái nơi thu mẫu: kiểu thảm thực vật, đất mẹ, hướng phơi, độ rốc

v.v

Địa điểm thu mẫu: vùng miền, tỉnh, huyện, xã, tuyến điều tra, ô định vị ; định

vị tọa độ, độ cao địa điểm thu mẫu bằng GPS

Một số lưu ý khi viết nhãn: Khi ghi nhãn phải dùng bút chì mềm hoặc bút viết không bị tan trong nước, cồn hoặc các dung dịch bảo quản mẫu, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực tan trong nước hoặc dung dịch bảo quản mẫu để tránh bị mất thông tin khi ngâm tẩm về sau Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu, các thông tin khác

sẽ ghi vào sổ riêng hoặc ghi phiếu mô tả.Các ghi chú nhất thiết phải được hoàn thiện trước khi mẫu vật được xử lý

Ghi nhật ký mẫu: Dùng bút chì hoặc bút bi mực (loại mực không tan trong nước

và cồn) ghi chép lại đầy đủ các thông tin về mẫu vật như: số hiệu mẫu, số lượng mẫu thu, địa điểm thu hái mẫu, các đặc điểm sinh học, sinh thái và điều kiện sống của mẫu, ngày tháng thu hái mẫu, giới tính mẫu

Ép mẫu: Đối với mẫu tiêu bản đối chứng, tùy theo kích thước của từng mẫu

chọn những cỡ giấy thích hợp để ép mẫu Thông thường giấy được sử dụng để ép mẫu là giấy báo, mỗi mẫu được ép giữa 2 lượt báo, mỗi kẹp mẫu thường ép từ 15-

20 tiêu bản Ở một số bảo tàng thường sử dụng tấm nhôm mỏng có các gờ lượn sóng để kẹp thêm vào giữa các lớp báo nhằm tạo điều kiện bốc hơi nhanh và làm

Trang 18

phẳng mẫu khi sấy Kẹp dùng để ép mẫu có thể dùng kẹp gỗ hoặc kim loại, kích

Làm khô mẫu: Mẫu sau khi thu có thể được làm khô bằng cách phơi nắng hoặc

trình phơi sấy mẫu, cứ 1-2 ngày phải kiểm tra, nhằm mục đích cho mẫu nhanh khô

và chỉnh sửa mẫu nếu cần thiết

Hoàn thiện mẫu tiêu bản: Mẫu sau khi đã khô, tẩm độc (nếu có) được cố định

hoặc khâu trên giấy mẫu của bảo tàng-giấy Crôki (loại giấy không axit), có đủ độ dai

Mẫu sau khi được khâu hoặc cố định trên giấy phải được dán hoặc kèm theo phiếu

nhật ký mẫu Thông tin bao gồm: tên và ký hiệu bảo tàng (có thể bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc Latin ), số hiệu mẫu, tên khoa học (tên họ, tên loài ghi đầy đủ cả tên tác giả), tên Việt Nam (bao gồm cả tên phổ thông và tên địa phương), nơi thu mẫu, người thu mẫu, ngày thu mẫu, một số đặc điểm nơi thu mẫu, một số đặc điểm mẫu khi thu , người giám định, ngày giám định Sau đó, mẫu được bàn giao cho Ban chủ nhiệm đề tài

Sắp xếp mẫu trong bảo tàng: Mỗi mẫu tiêu bản sau khi hoàn thiện được bọc

trong một tờ báo, hay một số tiêu bản (thường cùng số hiệu) được xếp chung trong một tờ bìa cứng có ghi nhãn định tên cho tiêu bản ở bên ngoài (bìa cũng thường sử dụng giấy không axit)

Các mẫu tiêu bản được phân chia đến các bậc phân loại, sắp xếp vào các vị trí phân loại của mình và được xếp vào các vị trí đã được xác định trong Bảo tàng Thông thường mỗi bảo tàng sử dụng một hệ thống phân loại khác nhau để phục vụ cho việc phân chia và sắp xếp mẫu vật Ở Phòng tiêu bản thực vật - Viện Sinh thái

& TNSV (HN) sử dụng hệ thống của Takhtajan Các mẫu vật trong mỗi họ thường được sắp xếp theo vần A, B, C

Nội nghiệp:

Trang 19

Sử dụng phương pháp So sánh hình thái trong việc phân loại chi Táo ta (Ziziphus

Xây dựng khóa định loại chi Táo ta (Ziziphus Miller) ở Việt Nam

Mô tả hình thái: Thân (kiểu thân, chiều cao, đường kính, đặc điểm vỏ thân, đặc điểm cành non…); Lá và lá kèm (kiểu hình thái lá, cách mọc, hình dạng, kích thước, đặc điểm cuống lá, mép lá, gân lá, các đặc điểm đặc biệt khác như lông, lá kèm…); Cụm hoa (kiểu cụm hoa, kích thước, và các đặc điểm khác như lông, ); Hoa (kiểu giới tính của hoa, mẫu, cấu tạo đài, tràng, nhị, nhụy…); Cụm quả ( kiểu cụm quả, kích thước, và các đặc điểm khác ); Quả (hình dạng, kích thước, màu sắc, và các đặc điểm khác ); Hạt ( hình dạng, kích thước, mặt cắt ngang của hạt, )

Tìm hiểu thông tin mẫu chuẩn (typus), vùng phân bố, trích dẫn mẫu nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm sinh học-sinh thái và giá trị sử dụng của các loài

Trang 20

Chương 3 Kết quả và thảo luận

3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Táo ta (Ziziphus Miller) ở Việt Nam

Sau khi nghiên cứu các hệ thống phân loại chi Táo ta (Ziziphus Mill.) của các

tác giả như: G Bentham & J D Hooker (1862), Engler (1896), Menchior in Engler’s system (1964), A Takhtajan (2009), tôi nhận thấy hệ thống phân loại chi

Táo ta (Ziziphus Mill.) là thống nhất phân chia trực tiếp đến các loài Trong công

trình này tôi lựa chọn theo các hệ thống của các tác giả trên để phân loại chi Táo ta

(Ziziphus Mill.) ở Việt Nam Cũng dựa trên cơ sở của các hệ thống đó, chi Táo ta (Ziziphus Mill.) được xếp vào họ Táo ta (Rhamnaceae), bộ (Rhamnales), liên bộ

3.2.2 Lá

Tất cả các đại diện thuộc chi Táo ta (Ziziphus Miller) ở Việt Nam có lá đơn,

mọc cách, có lá kèm (Z oenoplia, Z rugosa, Z incuvar, Z attopensis, Z laui, Z

poilanei) hoặc không có lá kèm; phiến lá hình bầu dục (Z jujuba, Z rugosa, Z hoaensis, Z cambodiana, Z laui, Z poilanei), hoặc hình trứng – thuôn dài (Z oenoplia, Z jujuba, Z incuvar, Z funiculosa, Z attopensis), hoặc hình trứng ngược

(Z cambodiana); mép lá có răng cưa hoặc mép nguyên (Z funiculosa, Z

cambodiana); chóp tròn hoặc tù (Z jujuba, Z rugosa, Z cambodiana, Z laui), hoặc

nhọn (Z oenoplia, Z hoaensis), hoặc có mũi dài (Z incuvar, Z funiculosa, Z

Trang 21

jujuba); gân từ gốc 3, cong hình cung, mặt trên lõm xuống, mặt dưới lồi lên hoặc

3-5 (Z oenoplia, Z laui)

Lá kèm nhỏ, hình kim, sớm rụng hoặc lá kèm biến đổi thành gai; gai mảnh, mọc thẳng hoặc gai mập, cong (Hình 3.1)

3.2.3 Cụm hoa và hoa

Cụm hoa xim nhiều ngả hoặc chùy mọc ở đầu cành hoặc nách lá phía đầu cành

(Z rugosa, Z attopensis); cụm hoa dạng xim ở nách lá gần như không có cuống, có lông dày (Z oenoplia, Z jujuba, Z cambodiana); hoặc cụm hoa dạng chùy ở nách

lá (Z funiculosa)

Hoa lưỡng tính, thường có màu xanh nhạt hoặc vàng, có cuống Đài 5, phía dưới

hợp hình chén, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn, có hình tam giác nhọn (Z

oenoplia, Z jujuba, Z rugosa, Z incuvar, Z hoaensis, Z attopensis, Z cambodiana, Z laui), hoặc hình thìa (Z attopensis, Z poilanei) Cánh tràng 5, mọc

đối diện với lá đài, sớm rụng, có hình thìa (Z jujuba, Z incuvar, Z funiculosa, Z

attopensis, Z poilanei); hình tim (Z oenoplia, Z cambodiana); hình trứng ngược

(Z hoaensis); hoặc không có cánh tràng (Z rugosa) Nhị bằng với số lá đài, chỉ nhị

dạng bản hoặc mảnh; bao phấn 2 ô Triền nạc, hình nhẫn, bao quanh bầu, xẻ thùy

thành 5 thùy dọc Bầu 2 ô, vòi nhụy xẻ thành 2 thùy (Z oenoplia, Z jujuba, Z

rugosa, Z incuvar, Z funiculosa, Z attopensis, Z laui, Z poilanei); hoặc bầu 3 ô

(Z hoaensis, Z cambodiana) (Hình 3.2)

3.2.4 Quả

Quả hạch; vỏ quả ngoài mỏng; vỏ quả giữa nạc; vỏ quả trong hóa gỗ và bao kín

hạt Quả hình bầu dục, hình cầu đôi khi hình thuôn dài, có lông (Z rugosa, Z

attopensis), hoặc nhẵn (Z oenoplia, Z jujuba, Z incuvar, Z funiculosa, Z hoaensis

, Z cambodiana, Z laui, Z poilanei) (Hình 3.3)

Trang 23

Hình 3.2 Z jujuba Mill – Táo ta

1 Hoa (theo Phạm Hoàng Hộ, 2000)

Bầu nhụy

Đĩa mật

Tràng Đài Nhị

Trang 24

Hình 3.3 Hình thái của quả

1-2 Quả hình trứng ngƣợc (Z rugosa) – 3 Gần có hình cầu (Z oenoplia) -

4 quả hình bầu dục (Z, jujuba) – 5 quả hình bầu dục (Z.attopensis)

( 1, 2, 3, 4, 5 theo Chen Yi-ling, 1982)

Trang 25

3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Miller) ở Việt Nam

1A Bầu 2 ô

2A Quả có lông, vỏ quả trong mỏng

3A Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, gai mập Phiến lá hình trứng rộng, gốc lá hơi lõm, lệch, chóp

lá tròn, mặt dưới lá có lông Không có cánh hoa 1 Z rugosa

3B Cây bụi, gai mảnh và cong Phiến lá hình trứng hoặc elip, gốc lá lệch, chóp lá

có mũi nhọn Cánh hoa hình thìa 2 Z attopensis

2B Quả nhẵn, vỏ quả trong dày

4A Cành non nhẵn Phiến lá không có lông Đài hoa hình thìa

5A Cây bụi mọc đứng, có gai mảnh Phiến lá hình trứng ngược hoặc thuôn

dài, gốc lá lệch, hơi nhọn, mép lá nguyên, hơi có răng cưa nhỏ Cụm hoa dạng

chùy 3 Z funiculosa

5B Cây bụi trườn, không có gai Phiến lá hình bầu dục, gốc lá gần tròn, mép

lá có răng cưa nhỏ Cụm hoa xim hai ngả 4 Z poilanie

4B Cành non có lông Phiến lá có lông ở mặt dưới Đài hoa hình tam giác

6A Cụm hoa dạng xim bó, không cuống ở nách lá

7A Cành có gai mập; gốc lá lệch, chóp nhọn; lá kèm dạng gai, thẳng,

hướng lên Cánh hoa hình tim Đường kính quả 5-7 mm 5 Z oenopolia

7B Cành có gai mảnh; gốc lá nhọn, chóp tròn hoặc tù Cánh hoa hình thìa

Đường kính quả >1cm 6 Z jujuba

6B Cụm hoa xim nhiều ngả, cuống cụm hoa dài cỡ 1-1,5 cm

8A Cây bụi mọc thẳng Phiến lá hình bầu dục, gốc lá lệch, chóp có mũi

nhọn Đường kính quả 10-12 mm 7 Z incuvar

8B Cây bụi leo Phiến lá hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc lá gần tròn,

chóp lá tù hoặc gần tròn Đường kính quả 4-5 mm 8 Z laui

1B Bầu 3 ô

9A Cành không có gai 9 Z hoaensis

9B Cành có gai mập và cong 10 Z cambodiana

Trang 26

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Táo ta (Ziziphus Miller) ở Việt Nam

3.4.1 Ziziphus rugosa Lamk - Táo nhám

Lamk 1789 Encycl 3: 319; Pitard 1912 Fl Gen Indoch 1: 917; Tardieu-Blot

1950 Suppl Fl Gen Indoch 1: 829; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 445; N T Bân 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1144; Chen Yilin & Carsten Schirarend, 2007

Fl China, 12 : 123

- Táo rừng nhăn

Cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, cao 1-8 m; cành non, lá (nhất là ở cuống và mặt dưới), cụm hoa có lông măng dày màu rỉ sắt hoặc vàng nâu, sau đó nhẵn và có màu xám đen; gai mập, dài từ 2-3 mm, cong xuống Lá đơn, mọc cách, có lá kèm; phiến lá hình trứng rộng hoặc hình bầu dục, mỏng như giấy, dài 6-9 cm, rộng 4-6 cm; gốc lá tròn hoặc hơi lõm, lệch; chóp lá tròn hoặc hơi nhọn; mép lá có răng cưa mịn; gân từ gốc lá từ 3, hình cung, lõm ở mặt trên, nổi ở mặt dưới, gân bên hình gân lông chim không rõ; cuống lá xẻ rãnh, dài 3-4 mm; lá kèm dạng gai, sau này biến đổi thành gai Hoa lưỡng tính, mọc thành cụm khoảng 5-7 hoa, dạng xim ở đầu cành hoặc nách lá, dài 3-9 cm; cuống hoa 2 mm Đài 5, hợp ở gốc, thùy đài hình tam giác nhọn, các lá đài gần bằng nhau, mặt ngoài có lông màu vàng nâu, mặt trong nhẵn Cánh hoa không có Nhị 5, cao 2,5 mm, chỉ nhị rộng ở gốc; bao phấn dài 0,75 mm,

có khía ở hai đầu Triền nhẵn, tròn, xẻ 5 thùy Bầu 2 ô, hình cầu, có lông, một nửa chìm trong đế hoa; vòi nhụy 2, xẻ đôi ở đỉnh Quả hạch, hình trứng ngược hoặc gần giống hình cầu, dài 9-12 mm, rộng 8-10 mm, có lông, dần dần thì nhẵn, khi chín chuyển sang mầu đen; cuống quả 5-7 mm, có lông măng; vỏ quả trong hóa gỗ Hạt

1, hình cầu, dài 7-8 mm, rộng 5 mm; phôi nhũ hình elip (Hình 1)

Phân bố ở Việt Nam: Thái Nguyên, Ninh Bình, Gia Lai (Chư Pảh, Mang Yang,

Đác Đoa)

Phân bố trên thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Lào, Thái Lan, Xri

Lanka

Trang 27

Mẫu nghiên cứu: THÁI NGUYÊN, N N Thìn s.n (HNU) - NINH BÌNH, Y9

(HN) – GIA LAI – KON TUM, P K Lộc, N H Hà, L Tuấn P4027 (HNU), B Đ Bình B-421 (HNU)

Sinh học và sinh thái: Mùa hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 4-5 Mọc rải rác

trong rừng thƣa

Giá trị sử dụng: Ở Ấn Độ, dùng hoa Táo nhám cùng với cuống lá trầu không và

một ít chanh chế thành thuốc trị rong kinh (Từ điển cây thuốc: 1098)

Trang 28

Hình 1 Ziziphus rugosa Lam – 1 Lá – 2 Quả – 3 Quả (cắt ngang) 4-6 Z

mauritiana Lam – 4 Cành mang hoa – 5 Quả – 6 quả (cắt ngang) 7-8 Z

oenoplia Mill – 7 Cành mang hoa – 8 Quả

Ngày đăng: 28/02/2017, 11:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam, tr. 50, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1997
2. Nguyễn Tiến Bân,(2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam [Checkl. Pl. Sp. Vietn], 2, tr. 1135- 1144, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt N
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2003
3. Đỗ Huy Bích (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, 2, tr. 784, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Huy Bích
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
4. Võ Văn Chi (1991), Cây thuốc An Giang, tr. 495, ủy ban KH-KT, An giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc An Giang
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1991
5. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, tr. 1096-1098, Nxb. Y học, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1997
6. Võ Văn Chi (2004), Từ Điển Thực Vật Thông Dụng, 2, tr. 2692, Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Thực Vật Thông Dụng
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 2004
7. Võ Văn Chi (2012), Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam, 2, tr. 777-781, Nxb. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 2012
8. Phạm Hoàng Hộ (1970), Cây cỏ miền nam Việt Nam, 1, tr .714, Trung tâm Học liệu, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ miền nam Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Năm: 1970
9. Phạm Hoàng Hộ (1992), Cây cỏ Việt Nam, 2, tr. 549, Nxb. Mekong, Montreal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. Mekong
Năm: 1992
10. Phạm Hoàng Hộ (2000), Cây cỏ Việt Nam [Illustr. Fl. Vietn], 2, tr. 443, Nxb. trẻ, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nxb. trẻ
Năm: 2000
11. Lê Khả Kế (1973), Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam, 3, tr. 251, Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam
Tác giả: Lê Khả Kế
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ Thuật
Năm: 1973
12. Đỗ Tất Lợi (2004), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, tr. 979, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
13. Nguyễn Nghĩa Thìn (2007), Các phương pháp nghiên cứu thực vật, tr. 5-17, Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2007
14. Backer C. A. & Bakhuizen van den Brink R. C, Jr., (1965), Flora of Java, 2, 80, Groningen, Netherlands Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora of Java
Tác giả: Backer C. A. & Bakhuizen van den Brink R. C, Jr
Năm: 1965
15. Chen Yilin; Carsten Schirarend (2007), Flora of China, 12, pp. 119 – 123, Science Press, Beijing; Missouri Botanical Garden Press, St. Louis Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora of China
Tác giả: Chen Yilin; Carsten Schirarend
Năm: 2007
16. Dr. F. S. P. Ng. D. Phil (1989), Tree Flora of Malaya, 4, pp. 297-299, Longman Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tree Flora of Malaya
Tác giả: Dr. F. S. P. Ng. D. Phil
Năm: 1989
17. Hooker J. D (1875), Flora of British India, 1, pp. 632, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora of British India
18. Kubitzkis K. (2004), The Families and Genera of Vascular Plants, 6, pp. 320 – 328. Spriger, Berlin/ Heidelberg/ New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Families and Genera of Vascular Plants
Tác giả: Kubitzkis K
Năm: 2004
19. Lemmens R. H. M. J &Wulijarni - Soetjipto N. (1992), Plant Resources of South – East Asia, Dye and tannim producing plants, 3, pp. 130, Bogor, Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Resources of South – East Asia, Dye and tannim producing plants
Tác giả: Lemmens R. H. M. J &Wulijarni - Soetjipto N
Năm: 1992
20. Yerheij E. W. M & Coronel R. E. (1992), Plant Resources of South – East Asia 2, Edible Fruit & nuts, pp 310, Bogor, Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Plant Resources of South – East Asia 2, Edible Fruit & nuts
Tác giả: Yerheij E. W. M & Coronel R. E
Năm: 1992

TỪ KHÓA LIÊN QUAN