Wu Young-fen & Law Yuh-wu 1985 [25] khi nghiên cứu hệ thực vật Trung Quốc đã xây dựng hệ thống phân loại chi Meliosma với 27 loài là: Meliosma dilleniifolia, Meliosma cuneifolia, Melios
Trang 1km
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH – KTNN -
NGUYỄN NGỌC HUYỀN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CHI
MẬT SẠ (MELIOSMA BLUME) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN NGỌC HUYỀN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CHI
MẬT SẠ (MELIOSMA BLUME) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
Người hướng dẫn khoa học:
TS HÀ MINH TÂM
Hà Nội, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến thầy
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật học, viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); bộ môn Thực vật học, khoa Sinh, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội); phòng tiêu bản Thực vật, viện Dược liệu (Bộ Y tế) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn bộ môn Thực vật và Ban chủ nhiệm khoa Sinh-KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
NGUYỄN NGỌC HUYỀN
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Mật sạ (Meliosma
Blume) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong
khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, tháng 5 năm 2019
Sinh viên
NGUYỄN NGỌC HUYỀN
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1
4 Điểm mới của đề tài (nếu có) 2
5 Bố cục của khóa luận 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Phạm vi nghiên cứu 8
2 3 Thời gian nghiên cứu 8
2 4 Nội dung nghiên cứu 8
2.5 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam 12
3.2 Đặc điểm phân loại chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam 12
3.2.1 Dạng sống 13
3.2.2 Lá 13
3.2.3 Cụm hoa 13
Trang 63.2.5 Quả và hạt 14
3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam 14
3.4.2 Meliosma clemensiorum Merr 1938 - Mật sạ clemens 17
3.4.3 Meliosma coriacea Merr 1942 - Mật sạ dai 18
3.4.4 Meliosma dolichobotrys Merr 1938 - Mật sạ chùm dài 18
3.4.5 Meliosma henryi Diels, 1900 - Phiên hạch 20
3.4.6 Meliosma lepidota Blume, 1849 22
3.4.7 Meliosma nana J E Vidal, 1960.- Nga ốt 24
3.4.8 Meliosma ochracea J E Vidal, 1960 - Mật sạ đồng nai 25
3.4.9 Meliosma pakhaensis Gagnep 1952 - Mật sạ bắc hà 27
3.4.10 Meliosma paupera Hand.-Mazz 1921 - Mật sạ nghèo 28
3.4.11 Meliosma pinnata (Roxb.) Walp 1842 - Mật sạ lá lông chim 30
3.4.12 Meliosma simang Gagnep 1952 - Si mang 32
3.4.13 Meliosma simplicifolia (Roxb.) Walp 1842 - Mật sạ lá đơn 33
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 3.1 Giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Mật sạ ở Việt Nam 37
Hình 1 Meliosma caudata Merr 16
Hình 2 Meliosma dolichobotrys Merr 19
Hình 3 Meliosma henryi Diels 21
Hình 4 Meliosma lepidota ssp dumicola - Meliosma lepidota ssp longipes - Meliosma lepidota ssp squamulata 23
Hình 5 Meliosma nana J E Vidal 25
Hình 6 Meliosma ochracea J E Vidal 26
Hình 7 Meliosma pakhaensis Gagnep 28
Hình 8 Meliosma paupera Hand.-Mazz 29
Hình 9 Meliosma pinnata (Roxb.) Walp 31
Hình 10 Meliosma simang Gagnep 33
Hình 11 Meliosma simplicifolia (Roxb.) Walp 35
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chi Mật sạ (Meliosma Blume), còn gọi là Cọ phèn, Sơn vôi thuộc họ Thanh phong (Sabiaceae Blume) có khoảng 30 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, chi này hiện biết có 13 loài, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên Trong số đó, nhiều loài là đặc hữu của Việt Nam Tuy số lượng không lớn, nhưng các loài thuộc chi này có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái rừng và về mặt thực tiễn, hầu hết các loài đều cho gỗ cứng, một số loài cho dầu béo Cho nên, bên cạnh giá trị về khoa học, chi này còn có giá trị về kinh tế
Cho đến nay, ở nước ta đã có một số công trình đề cập đến phân loại
chi Mật sạ (Meliosma Blume) nhưng vẫn chưa đầy đủ và có hệ thống, một số
thông tin thiếu cập nhật Do đó, nhằm góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc soạn thảo Thực vật chí Việt Nam về chi Mật sạ và cho các nghiên cứu có
liên quan, tôi đã chọn đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Mật sạ
(Meliosma Blume) ở Việt Nam”
2 Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi và giá trị tài nguyên
chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở dữ
liệu cho việc nghiên cứu họ Thanh phong (Sabiaceae Blume), phục vụ cho việc soạn thảo Thực vật chí Việt Nam, tái bản Sách đỏ Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
– Ý nghĩa khoa học: Bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại
thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Mật sạ
(Meliosma Blume) ở Việt Nam
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho việc nhận
biết và sử dụng các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam;
cung cấp dữ liệu phục vụ cho việc soạn thảo Thực vật chí Việt Nam về chi
Trang 9Mật sạ (Meliosma Blume) cũng như về họ Thanh phong (Sabiaceae Blume) ở
Việt Nam
4 Điểm mới của đề tài (nếu có)
Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại chi Mật sạ
(Meliosma Blume) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống, giúp cho việc
tra cứu thông tin một cách đầy đủ, nhanh chóng và chính xác
5 Bố cục của khóa luận
Gồm 41 trang, 11 hình vẽ, 24 ảnh minh họa, 1 bản đồ, 1 bảng giá trị sử dụng, 1 bảng được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 5 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 33 trang), kết luận và kiến nghị: 1 trang, tài liệu tham khảo: 35 tài liệu (3 trang); bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, bảng nhận biết nhanh các loài và các phụ lục khác
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Trên thế giới
Chi Mật sạ (Meliosma) được Blume công bố năm 1823 trong công trình
Cat Gew Buitenzong
Năm (1849) [28], C L Blume trong công trình “Rumphia” đã mô tả
chi tiết chi Meliosma và 4 loài thuộc chi này đó là Meliosma angulata,
Meliosma lepidota, Meliosma lanceolata, Meliosma nitida; cùng với thông tin
của một số phân loài Đồng thời xếp chi Meliosma vào phân họ Meliosmeae
thuộc họ Sabiaceae
Bentham & Hooker (1862) [29] khi xây dựng hệ thống phân loại cho họ
Sabiaceae đã mô tả chi Meliosma và cung cấp một số thông tin về sự phân bố
của chi này trên thế giới
C F van Beusekom (1971) [11] trong tác phẩm “Blumea 19” đã xếp chi
Meliosma vào họ Sabiaceae, ngoài bản mô tả chi, tác giả đã mô tả 15 loài thuộc
chi này kèm theo một số hình vẽ Trong 15 loài này có 5 loài ở Việt Nam
Takhtajan Armen L (1997) [18] trong công trình nghiên cứu của mình
đã xếp Meliosma vào phân họ Meliosmoideae và nằm trong họ Sabiaceae Quan điểm này được tác giả nhắc lại trong công trình Flowering Plants năm
2009 [19]
Gần Việt Nam, một số công trình Thực vật chí ở các nước trong khu
vực cũng nghiên cứu phân loại chi Meliosma như:
C A Backer, D Sc (1965) [9] đã mô tả chi Meliosma và 6 loài thuộc
chi này trong công trình “Flora of Java” ở Inđônêxia
Wu Young-fen & Law Yuh-wu (1985) [25] khi nghiên cứu hệ thực vật
Trung Quốc đã xây dựng hệ thống phân loại chi Meliosma với 27 loài là:
Meliosma dilleniifolia, Meliosma cuneifolia, Meliosma parvifolia, Meliosma flexuosa, Meliosma myriantha, Meliosma paupera, Meliosma bifida, Meliosma thomsonii, Meliosma thorelii, Meliosma simplicifolia, Meliosma longipes, Meliosma squamulata, Meliosma dumicola, Meliosma henryi, Meliosma callicarpaefolia, Meliosma laui, Meliosma velutina, Meliosma
Trang 11rigida, Meliosma fordii, Meliosma yunnanensis, Meliosma angustigolia, Meliosma rhoifolia, Meliosma pinnata, Meliosma araottiana, Meliosma kirkii, Meliosma glandulosa, Meliosma oldhamii Trong đó có 4 loài ở Việt
Nam đó là: Meliosma paupera, Meliosma simplicifolia, Meliosma henryi,
Meliosma pinnata
Wu Cheng – yih et Chen Cheih, Chen Shu – kun , trong "Flora
Yunnanica" năm 1986 [20] , đã mô tả chi tiết kèm một số hình ảnh minh họa
của 22 loài, đó là: Meliosma dilleniifolia, Meliosma cuneifolia, Meliosma
thomsonii, Meliosma velutina, Meliosma laui, Meliosma thorelii, Meliosma dumicola, Meliosma longipes, Meliosma squamulata, Meliosma xichouensis, Meliosma mannii, Meliosma rigida, Meliosma yunnanensis, Meliosma angustifolia, Meliosma arnotiiana, Meliosma wallichii, Meliosma oldhamii, Meliosma alba, Meliosma veitchiorum và có 2 loài ở Việt Nam, đó là Meliosma paupera, Meliosma simplicifolia Đồng thời, tác giả đã xây dựng
khóa định loại cho chi này
C.F van Beusekom & Th.P.M van de Water (1989) [10] đã nghiên
cứu phân loại chi Meliosma ở khu vực Malesian trong “Flora Malesiana Vol
10, part 4” , tác giả đã mô tả đặc điểm chi, xây dựng khóa định loại và mô tả
8 loài là: Meliosma lepidota, Meliosma simplicifolia, Meliosma sumatrana,
Meliosma lanceolata, Meliosma hirsuta, Meliosma pinnata, Meliosma sarawakensis, Meliosma lanceolata f Nervosa, Meliosma rufo-pilosa.Trong
đó có 3 loài ở Việt Nam đó là: Meliosma pinnata, Meliosma lepidota,
Meliosma simplicifolia Bên cạnh việc cung cấp các thông tin về danh pháp,
đặc điểm phân bố, sinh thái, tác giả còn cung cấp thông tin về giá trị sử dụng
của các loài
Malaya" đã mô tả 6 loài, đó là: Meliosma lanceolata, Meliosma lepidota, M pinnata, Meliosma rufo-pilosa, Meliosma simplicifolia, Meliosma sumatrana
Trong đó có 3 loài ở Việt Nam, đó là: Meliosma lepidota, M pinnata,
Meliosma simplicifolia và có hình vẽ cho loài Meliosma sumatrana
Trang 12Huang Tseng – Chieng năm 1993 [14], khi nghiên cứu phân loại thực
vật ở Taiwan đã mô tả chi Meliosma và 4 loài thuộc chi này, đó là Meliosma
callicarpaefolia, Meliosma rhoifolia, Meliosma rigida, Meliosma squamulata
Wu Zhengyi and Peter H Raven (1994) [21] trong công trình "Flora of
China Illustrations" đã vẽ hình cành mang hoa, lá, nhị, nhụy, quả cho 20 loài
thuộc chi Meliosma, đó là: Meliosmadilleniifolia, Meliosma parvifora,
Meliosma thorelii, Meliosma paupera, Meliosma simplicifolia, Meliosma bifida, Meliosma squamulata, Meliosma henryi, Meliosma callicarpifolia, Meliosma laui, Meliosma velutina, Meliosma rigida, Meliosma fordii, Meliosma yunnanensis, Meliosma angustifolia, Meliosma rhoifolis, Meliosma kirkii, Meliosma veitchiorum, Meliosma oldhami, Meliosma alba Trong đó
có 3 loài ở Việt Nam, đó là: Meliosma paupera, Meliosma simplicifolia,
Meliosma henryi
Lixiu Guo & Anthony R Brach (2008) [16] khi nghiên cứu hệ thực vật
Trung Quốc đã xây dựng hệ thống phân loại chi Meliosma với 29 loài là:
Meliosma dilleniifolia, Meliosma cuneifolia, Meliosma parvifora, Meliosma flexuosa, Meliosma myriantha, Meliosma paupera, Meliosma bifida, Meliosma thomsonii, Meliosma thorelii, Meliosma simplicifolia, Meliosma longipes, Meliosma squamulata, Meliosma dumicola, Meliosma henry, Meliosma callicarpifolia, Meliosma laui, Meliosma velutina, Meliosma rigida, Meliosma fordii, Meliosma yunnanensis, Meliosma angustifolia, Meliosma rhoifolia, Meliosma pinnata, Meliosma arnottiana, Meliosma kirkii, Meliosma glandulosa, Meliosma alba, Meliosma veitchiorum Trong đó
4 loài có ở Việt Nam là: Meliosma pinnata, Meliosma paupera, Meliosma
simplicifolia, Meliosma henry
1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có những công trình nguyên cứu họ Thanh phong
(Sabiaceae Blume) và chi Mật sạ (Meliosma Blume) nhưng còn rất ít
Người đầu tiên nghiên cứu về chi Meliosma là nhà thực vật học người Pháp L Pierre Trong công trình Thực vật rừng Nam bộ (Flore forestière de
la Cochinchine) công bố năm 1897 [24], tác giả đã công bố loài Meliosma
Trang 13cambodiana (nay được xác định là tên đồng nghĩa của phân loài Meliosma simplicifolia ssp fordii (Forb & Hemsl) Beusekom)
Lecomte (1908) [23] trong “Thực vật chí đại cương Đông Dương đã
mô tả, xây dựng khóa định loại, cung cấp thông tin và danh pháp, phân bố, sinh thái cho 2 loài và 3 phân loài thuộc chi Mật sạ trong đó có 1 loài
(Meliosma coriacea) ở Việt Nam
Năm 1960, F Gagnepain và J E Vidal [22] trong công trình “Flore du
Cambodge, du Laos et du Vietnam”, đã mô tả và xây dựng khóa định loại, đặc
điểm phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng của các loài kèm hình ảnh minh họa
cho 30 loài trong đó có 12 loài ở Việt Nam, đó là: Meliosma caudata,
Meliosma clemensiorum, Meliosma coriacea, Meliosma dolichobotrys, Meliosma thorelii, Meliosma nana, Meliosma ochracea, Meliosma pakhaensis, Meliosma paupera, Meliosma microcarpa v microcarpa, Meliosma simang, Meliosma kontumensis Trong đó loài Meliosma thorelii là
tên đồng nghĩa với Meliosma henryi ; loài Meliosma microcarpa v
microcarpa là tên đồng nghĩa với Meliosma pinnata ; loài Meliosma kontumensis là tên đồng nghĩa với Meliosma simplicifolia Đặc biệt J E
Vidal công bố 2 loài ở Việt Nam là : Meliosma nana và Meliosma ochracea
Trần Hợp năm 1971 [5], trong tác phẩm "Tài nguyên cây gỗ Việt Nam"
đã mô tả giá trị sử dụng và đặc điểm của 2 loài, đó là : Meliosma henryi và
Meliosma pinnata Có hình vẽ minh họa cho cả 2 loài này
Võ Văn Chi trong "Từ điển cây thuốc Việt Nam", tập 2, năm 1997 [4]
đã mô tả đặc điểm nhận dạng và giá trị sử dụng kèm hình vẽ của 2 loài, đó là:
Meliosma henryi, Meliosma simplicifolia
Phạm Hoàng Hộ [7] trong “Cây cỏ Việt Nam” tập 2 năm 2003 ,đã cung
cấp đặc điểm nhận biết và hình vẽ của các loài thuộc chi Mật sạ ở Việt Nam,
đó là: Meliosma henry, Meliosma paupera, Meliosma pinnata, Meliosma
simplicifolia Tuy trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” còn một số hạn chế
như: Bản mô tả còn sơ sài, không có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu, nhưng cho đến nay, đây là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam
Trang 14Nguyễn Hữu Hiến (2003) [6] đã xây dựng danh lục, chỉnh lý tên khoa học, cung cấp một số thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị tài nguyên cho
13 loài thuộc chi Mật sạ ở Việt Nam, đó là: Meliosma caudate, Meliosma
clemensiorum, Meliosma dolichobotrys, Meliosma henry, Meliosma lepidota, Meliosma nana, Meliosma ochracea, Meliosma pakhaensis, Meliosma pauper, Meliosma pinnata, Meliosma simang và Meliosma simplicifolia
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Gồm tất cả các taxon thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam,
dựa trên cơ sở là tư liệu và mẫu nghiên cứu được lưu giữ tại phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội (HNU)
phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái
và Tài nguyên Sinh vật), phòng tiêu bản thực vật (đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia Hà Nội) Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu thêm các ảnh chụp mẫu vật từ các chuyên gia phân loại và ảnh trên Internet
Ngoài ra, nếu điều kiện cho phép sẽ nghiên cứu thêm mẫu ở các phòng tiêu bản thực vật tại PTB thực vật Viện Sinh học nhiệt đới – Tp Hồ Chí Minh (HM), Viện Dược liệu (HNPM), Viện điều tra quy hoạch rừng (HNF), trường Đại học Dược khoa Hà Nội (HNIP)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Khắp cả nước
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4/2016 - 5/2019
2.4 Nội dung nghiên cứu
Phân tích các hệ thống phân loại chi Mật sạ (Meliosma Blume) trên thế
giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi Mật
sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam
Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở
Việt Nam
Xây dựng khoá định loại các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở
Việt Nam
Trang 16Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume)
ở Việt Nam
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Mật sạ (Meliosma Blume), chúng tôi sử
dụng phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 [8] Đây
là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc
so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành,
nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa
nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu
ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm
việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc nghiên cứu phân loại chi Mật sạ (Meliosma Blume) được tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi
Mật sạ (Meliosama Blume) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với
việc phân loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Mật sạ (Meliosma
Blume) hiện có
Trang 17Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài
- Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả
công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo
tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản
mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác
Trang 18(thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành
như sau: Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập
hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào
hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon
Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế
hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [1]
Trang 19CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Mật sạ và họ Thanh phong trong các công trình phân loại trên thế giới, như: Blume (1823, 1849), Bentham & Hooker (1862) và Takhtajan (1997, 2009), các công trình nghiên cứu họ Thanh phong ở Việt Nam như: Lecomte (1908), F Gagnepain & J E Vidal (1960), Nguyễn Tiến Bân (1997), Nguyễn Hữu Hiến (2003), Phạm Hoàng Hộ (2003) và các công trình thực vật chí ở các nước gần Việt Nam như: C A Backer, D Sc (1965), C F van Beusekom (1971), Tôi nhận thấy hệ thống phân loại chi Mật sạ là khá đồng nhất, phân loại chi này không
có phân chi mà phân chia trực tiếp đến các loài
Trong công trình này, tôi lựa chọn hệ thống của Takhtajan (2009) để phân loại chi Mật sạ ở Việt Nam Vì đây là hệ thống được kế thừa từ các hệ thống trước đó, được hầu hết các tác giả sử dụng và phù hợp với việc sắp xếp
các taxon ở Việt Nam Trên cơ sở của hệ thống này, chi Mật sạ (Meliosma
Blume) được xếp vào họ Thanh phong (Sabiaceae), bộ Thanh phong (Sabiales), phân lớp Hoa hồng (Rosidae) lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae) Theo đó, chi này ở Việt Nam
có 13 loài
3.2 Đặc điểm phân loại chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam
Blume, 1823 Cat Gew Buitenzorg 10; Blume, 1849 Rumphia, 3: 196; Benth & Hook f 1867 Gen Pl 1: 414; C F van Beusekom, 1971, Blumea, 19: 429; C.F van Beusekom & van de Water, 1989 Fl Males 10 (4): 690; Hua Tse.-Chi., 1993 Fl Taiw 3: 611; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 18; Lecomte, 1908 Fl Gen Indoch 1: 3; Lixiu Guo & Anthony R Brach, 2008 Fl China, 12: 32; Wu Chen et all, 1986 Fl Yun Nica, 4: 301; Y F Wu and Y C Law, 1985 Fl Reip Pop Sin 47(1): 96
- Mật sạ, Cọ phèn, Sơn vôi
Trang 203.2.1 Dạng sống
Cây thường xanh hoặc thỉnh thoảng rụng lá, sống lâu năm; thường là
cây gỗ nhỏ đến trung bình, cao tới 20 m, đôi khi dạng bụi (Meliosma caudata,
Meliosma clemensiorum, Meliosma ochracea) hoặc bụi trườn (Meliosma nana) Cây phân nhiều cành Cành mang hoa thường có lỗ vỏ và sẹo lá mờ
Chồi non có nhiều lông
3.2.2 Lá
Đơn hay kép lông chim lẻ (Meliosma clemensiorum, Meliosma pinnata,
Meliosma simang); mọc cách; kích thước thay đổi ở các loài khác nhau Lá
chét (ở các loài có lá kép) mọc đối hoặc gần đối; mép lá và mép lá chét nguyên hoặc có răng cưa thay đổi; gân lông chim, gân bên vấn hợp hoặc kết
thúc tự do ở mép lá, gân mạng mờ; một số loài có tuyến (domatia) ở gốc gân
bên Cuống lá thường dài, có lông hay không có lông, gốc thường phồng và
có đốt
3.2.3 Cụm hoa
Dạng chùm kép (chùy), mọc ở đỉnh cành, đôi khi mọc ở nách lá, phân nhánh đến 4 lần, thường nhiều hoa, trục cụm hoa thường có lỗ vỏ Lá bắc nhỏ, thường rụng sớm ở những nhánh dưới cùng và tồn tại ở những nhánh phía đỉnh cụm hoa, không có lá bắc nhỏ
3.2.4 Hoa
Hoa lưỡng tính, nhỏ, không có cuống hoặc có cuống ngắn, màu trắng,
mẫu 5, đặc trưng bởi mỗi hoa chỉ có 2 nhị hữu thụ mọc đối diện và dính với
gốc cánh hoa Đài (3-)5, rời, nhỏ màu xanh, hình trứng hay tam giác tù đầu
Cánh hoa (3-)5, rời, màu trắng, hình trứng; 3 cánh hoa ngoài thường không đều nhau; 2 cánh hoa bên trong nhỏ hơn, đối diện và dính với gốc của nhị sinh sản, nguyên hay chia 2 thùy Tuyến mật hình vành khuyên, chia 5 thùy dạng răng không đều, đôi khi rất tiêu giảm hoặc không có Nhị 5, rời, mọc đối diện với cánh hoa và dính với gốc cánh hoa; 2 nhị hữu thụ thường màu vàng; chỉ nhị ngắn; bao phấn hình bầu dục hay hình cầu; trung đới lớn; 3 nhị bất thụ
tiêu giảm thành vảy hoặc tuyến Bộ nhụy thường gồm 2(-3) lá noãn hợp thành
bầu thượng 2(-3) ô hình cầu hoặc gần hình trứng, mỗi ô có (1-)2 noãn buông
Trang 21rủ hoặc vuông góc với giá noãn; vòi nhụy rõ; núm nhụy nhỏ, nguyên hoặc chia 2 thùy
3.2.5 Quả và hạt
Tất cả các loài đều có quả hạch, hình cầu hoặc gần hình cầu, nhỏ; vỏ quả ngoài mỏng và nhẵn; vỏ quả giữa nạc; vỏ quả trong hóa gỗ cứng tạo thành hạch (nhân) bao hạt ở bên trong, thường chỉ có 1 noãn phát triển, nếu cả 2 noãn cùng phát triển sẽ tạo ra quả đôi Hạt gần hình cầu, hơi lõm ở mặt bụng, vỏ cứng, không có nội nhũ Phôi khá dài, rễ mầm dài gấp 2-3 lần lá mầm
Chi Mật sạ (Meliosma Blume) có khoảng 30 loài, phân bố chủ yếu ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, chi này hiện biết có 13 loài, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên
Trong số đó, chỉ có loài Meliosma pinnata và Meliosma simplicifolia là tương
đối phổ biến, các loài còn lại có phạm vi phân bố rất hẹp, đặc biệt có 6 loài
hiện mới chỉ thấy có ở Việt Nam là: Meliosma caudata (mới thấy ở Sa Pa, Lào Cai), Meliosma clemensiorum (mới thấy ở Bà Nà, Đà Nẵng), Meliosma
coriacea (mới thấy ở Ba Vì, Hà Nội), Meliosma dolichobotrys (mới thấy ở
Thái Nguyên), Meliosma pakhaensis (mới thấy ở Bắc Hà, Lào Cai), Meliosma
simang (mới thấy ở Bảo Lộc, Lâm Đồng)
3.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở Việt Nam
1A Lá đơn
2A Bầu có lông (cánh hoa trong nguyên hoặc chia 2 thùy) 1 M lepidota
2B Bầu không có lông
3A.Cánh hoa trong nguyên
4A Mặt dưới lá không có lông 2 M henryi 4B Mặt dưới lá có lông 3 M pakhaensis
3B Cánh hoa trong xẻ 2 thùy
5A Thùy cánh hoa dài hơn chỉ nhị (đến gốc bao phấn) 4 M paupera
Trang 225B Thùy cánh hoa ngắn hơn chỉ nhị (không đến gốc bao phấn)
6A Đài không có lông; cánh hoa có lông 5 M coriacea
6B Đài có lông; cánh hoa không có lông
7A Chóp lá có đuôi (dài đến 2 cm) 6 M caudata
7B Chóp lá ngắn
8A Cụm hoa không có lông 7 M nana
8B Cụm hoa có lông
9A Hoa có cuống rõ; gân bên 16-18 đôi 8 M simplicifolia
9B Hoa không có cuống; gân bên 12-16 đôi
10A Lá dầy như da, không có lông 9 M dolichobotrys
10B Lá mỏng như giấy, có nhiều lông ở mặt
dưới 10 M ochracea
1B Lá kép lông chim lẻ
11A Cây bụi hoặc gỗ nhỏ; mép lá chét nguyên; mặt
trên không có lông; hoa không có cuống 11 M clemensiorum
11B Cây gỗ; mép lá chét có răng cưa thay đổi; mặt
trên có lông; hoa có cuống
12A Mỗi lá có 9-23 lá chét; cánh hoa trong có
lông ở đỉnh 12 M pinnata
12B Mỗi lá có 9-13 lá chét; cánh hoa trong không
có lông 13 M simang 3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mật sạ (Meliosma Blume) ở
Việt Nam
3.4.1 Meliosma caudata Merr 1939 – Mật sạ đuôi
Merr 1939 J Arnold Arbor xx 346; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 29; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1029
Trang 23Hình 1 Meliosma caudata Merr
1 lá; 2 cánh hoa trong và nhị hữu thụ (Hình theo F Gagnepain & J E Vidal, 1960) Cây bụi, thân hình trụ, phân cành nhiều, màu xám, có lỗ vỏ thuôn dài màu nâu nhạt Lá đơn, mọc so le; phiến lá dẹt, nguyên, mặt trên màu xanh đậm, mặt dưới xanh tối, hình mũi mác, dài 6-12 cm, rộng 2-3 cm, nhẵn; chóp
lá có đuôi kéo dài thành mũi nhọn (2 cm); gốc lá nhọn; gân lông chim, 8-10 cặp, vấn hợp ở mép lá; cuống lá tròn, dài 3,5-4 cm, có lông Cụm hoa dạng chùm kép (chùy), mọc ở ngọn hay đỉnh cành, gồm 3-4 đôi cụm hoa cơ sở, có lông nhung Hoa lưỡng tính, cuống hoa dài 0,5-2,5 mm Đài hoa 5, nhỏ, rời, màu xanh lục, hình bầu dục, có lông mảnh, dài 1,5 mm Cánh hoa 5, không lông; cánh hoa bên ngoài 3, hình tròn, rộng 2-3 mm; cánh hoa bên trong xẻ đôi thành hai thùy nhọn, gắn với gốc của các nhị hoa, thùy cánh hoa ngắn hơn chỉ nhị (không đến gốc bao phấn) Có 2 nhị hữu thụ gắn với gốc của 2 cánh
Trang 24hoa trong, nhị màu vàng, bao phấn hình cầu, trung đới phồng Bầu không có lông (Hình 1)
Loc Class.: Vietnam (Lao Cai); Typus: Pételot 6342 (A, iso.- P)
Sinh học và sinh thái: Gặp ở độ cao khoảng 1600 m so với mực nước
biển Mùa hoa tháng 4-5
Phân bố: Mới thấy ở Lào Cai (Sa Pa)
Giá trị sử dụng: Được đưa vào Danh lục đỏ thế giới (IUCN) năm 1997
ở phân hạng hiếm (Rare)
3.4.2 Meliosma clemensiorum Merr 1938 - Mật sạ clemens
Merr 1938 J Arnold Arbor xix 47; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 54; N H Hien, 2003 Check Pl Sp.Vietn 2: 1029
Cây bụi hoặc gỗ nhỏ, thân hình trụ phân nhánh nhiều, màu nâu Cành mang hoa màu hơi bạc; có lỗ vỏ hình tròn, rất thưa Lá kép lông chim lẻ, có lông ngắn áp sát ở mặt lá dưới; lá chét 11 chiếc Phiến lá dẹp, hình thuôn, kích thước 4-7 x 1,5-2,5 cm, chóp lá nhọn, mép lá nguyên; mặt trên phiến lá màu xanh đậm, nhẵn, không lông, mẫu khô màu nâu đậm; mặt dưới màu xanh nhạt, có lông nhung, mẫu khô màu nâu nhạt; gốc lá nhọn; gân lông chim, mờ, gân chính tròn, nổi ở mặt lá dưới, gân bên 7-8 đôi, kết thúc tự do ở mép lá, gân mạng dạng lưới; cuống lá tròn, ngắn Cụm hoa dạng chùm kép (chùy), dài 20-25 cm, rộng 15 cm, phủ lông tơ mịn, nhiều nhánh, với nhánh cơ sở bậc một dài tới 10 cm Đài 5, nhẵn, màu xanh đậm, hình trứng Hoa không có cuống, khoảng cách giữa các hoa trên cụm hoa là 1-2 cm Cánh hoa ngoài 3, hình bầu dục, màu trắng Cánh hoa trong nứt đôi, gắn với gốc chỉ nhị Nhị 5,
3 nhị tiêu giảm, chỉ còn 2 nhị hữu thụ, bao phấn màu vàng, hình cầu; trung đới to, phồng nằm phía dưới hai bao phấn Bầu phủ lông mịn Qủa hình cầu, mẫu khô có màu đen
Loc Class.: Vietnam (Bana); Typus: Clemens 3775 (A, iso.- P)
Sinh học và sinh thái: Gặp ở độ cao khoảng 1200 m Ra hoa tháng 4-5 Phân bố: Mới thấy ở Đà Nẵng (Bà Nà)
Trang 25Mẫu nghiên cứu: Phương 7754(HN)
Giá trị sử dụng: Được đưa vào Danh lục đỏ thế giới (IUCN) năm 1997
ở phân hạng hiếm (Rare)
3.4.3 Meliosma coriacea Merr 1942 - Mật sạ dai
Merr 1942 J Arnold Arbor xxiii 178; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 43; N H Hien, 2003 Check Pl Sp.Vietn 2: 1029
Cây gỗ nhỏ, cao 8 m Lá đơn, mọc cách Phiến lá mỏng, mép lá nguyên, mặt dưới xanh nhạt, mặt trên xanh đậm, hình thuôn, dài, kích thước 12-15 x 4-6 cm, hai mặt nhẵn, gốc nhọn, chóp lá nhọn tù; có 8 đôi gân bên, không hiện rõ ở mặt trên của lá; cuống lá nhẵn, có kích thước dài 3-4 cm Cụm hoa dạng chùm kép, mọc ở đỉnh cành, dài 12-20 cm, có phủ lông ngắn Hoa nhiều, hình trứng hoặc trứng ngược; cuống hoa không có hoặc rất ngắn Đài 5, hình trứng, không có lông Cánh hoa 5, hình bầu dục hoặc hình tròn, có lông mảnh; cánh hoa bên ngoài hình tròn, có lông trên các cạnh; cánh hoa bên trong xẻ 2 thùy dạng dải hẹp đến dạng dài nhọn, thùy cánh hoa ngắn hơn chỉ nhị (không đến gốc bao phấn) Nhị hoa với bao phấn 3 thùy Bầu không có lông
Loc Class.: Vietnam (Ha Noi: Bavi); Typus: Pételot 2585 (A, iso.- P) Sinh học và sinh thái: mọc ở độ cao 800 m, ra hoa tháng 12
Phân bố: Mới thấy ở Thái nguyên (Đại Từ) và Hà Nội (Ba Vì)
Mẫu nghiên cứu: THÁI NGUYÊN (Đại Từ, Xã Quán Chu, xóm Hòa
Bình, rừng Tam Đảo) NT 32 (HNU)
Giá trị sử dụng: Gỗ dùng đóng đồ gia dụng, cho bóng mát
3.4.4 Meliosma dolichobotrys Merr 1938 - Mật sạ chùm dài
Merr 1938 J Arnold Arbor xix 47; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 36; N H Hien, 2003 Check Pl Sp.Vietn 2: 1029
Cây gỗ nhỏ, cao 6-8 m Cành hình trụ, có lỗ vỏ Lá đơn, mọc cách Phiến
lá dầy như da, không lông, mép lá nguyên, hình bầu dục hoặc hình thuôn, kích thước 15-20 x 6-8 cm, mặt trên nhẵn và bóng, gốc lá nhọn, chóp lá ngắn; gân lông chim, có 12-16 đôi gân bên, gân mạng hình mắt lưới trên hai mặt của lá,
Trang 26các mắt lưới có đường kính 0,3 mm; cuống lá dài 2,5-3,5 cm Cụm hoa dạng chùm kép, có lông, mọc ở đỉnh cành, phân nhánh nhiều, xòe rộng, kích thước
30 x 25 cm, nhánh cụm hoa cơ sở bậc một dài 12-15 cm Hoa nhiều, rất nhỏ (nụ hoa có đường kính 1 mm), không có cuống Đài 5, hình bầu dục, có lông mảnh Cánh hoa 5, không có lông; cánh hoa bên ngoài hình bầu dục, dài hơn đài hoa; cánh hoa bên trong nhỏ, đường kính 0,2 mm, xẻ thành hai thùy nhỏ và ngắn, thùy cánh hoa ngắn hơn chỉ nhị (không đến gốc bao phấn) Nhị hoa 5, chỉ còn 2 nhị hữu thụ, dài 0,8 mm Bầu không lông (Hình 2)
Hình 2 Meliosma dolichobotrys Merr
1 một phần cành mang lá; 2 cụm hoa; 3 nhị và cánh hoa trong (mặt ngoài)
(Hình theo F Gagnepain & J E Vidal, 1960)
Loc Class.: Vietnam (giữa Thái Nguyên và Phấn Mễ); Typus: Pételot
4801 (A, iso.- P)
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thưa Mùa hoa tháng 5 Phân bố: Mới thấy ở Thái Nguyên (giữa Thái Nghiên với Phấn Mễ) Giá trị sử dụng: Cho gỗ dóng đồ gia dụng
Trang 273.4.5 Meliosma henryi Diels, 1900 - Phiên hạch
Diels, 1900 Bot Jahrb Syst 29(3-4): 452; C F van Beusekom, 1971 Blumea, 19: 447; W Zhe & P H Raven 1994 China Illustr 12: 40; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1029; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2:
- Meliosma thorelii Lecomte, 1907 Bull Soc Bot France 54: 677
- Meliosma buchananifolia Merr 1923 Philipp J Sci 23:250
- Meliosma affinis Merr 1940 J Arold Arbor 21:375
- Mật sạ henryi, Mật sạ thorel, Cọ phiên
Cây gỗ trung bình, mọc đứng, cao tới 18 m, vỏ màu nâu đậm, phân cành nhiều; cành mang hoa mảnh mai, có lông hay không lông, màu nâu, hình trụ, đường kính 0.5-1 cm, có lỗ vỏ dày, hình elip Lá mọc cách, đơn, màu xanh đậm, kích thước 13-(-21)23 x 3-7 cm; cuống lá tròn, không có rãnh, dài 0.5-2 cm Phiến lá màu xanh, hình thuôn, kích thước 11-20 cm, bóng toàn bộ, dai và cứng, mặt dưới lá không có lông, chóp nhọn, mép lá có vài răng cưa thưa thớt, 7-9 cái (các răng cưa cách nhau từ 0.5-1 cm) ở một nửa phía trên của phiến lá, nửa phía dưới nguyên, gốc lá nhọn; gân dạng lông chim, gân chính mặt trên chìm, gân chính mặt dưới nổi, gân bên số lượng 9-18 đôi, kết thúc tự do ở mép lá; gân mạng dạng thang, rõ Cụm hoa chùm kép, mọc ở đỉnh cành đôi khi mọc ở nách lá, cụm hoa dài 10-20 cm, phân nhánh 2 (hoặc 3) lần, cành thẳng, cuống nhỏ 1-4 mm, có lông thưa phủ ở cuống Hoa lưỡng tính, nhỏ, màu trắng Đài 4-5, rời, màu xanh, hình bầu dục, gần nhọn, kích thước 1mm, không có lông Cánh hoa 5, rời, màu trắng; 3 cánh hoa ngoài phẳng hình tròn, đường kính cánh hoa 2 mm; 2 cánh hoa trong nguyên, dài hơn so với nhị, thuôn; đế hoa phẳng Nhị 2, rời, màu vàng, nằm đối diện nhau, dài 0,7 mm, bao phấn hình cầu Bầu 2 ô, bao quanh một vòi nhụy ngắn, mỗi ô chứa 2 noãn, bầu có cuống ngắn hay không có cuống, dài 1,2-2 mm, nhẵn, không lông Qủa hạch, tròn, đường kính 0,8-1 cm, nhân 0,4-0,6 cm, có mạng hay không (Hình 3)
Trang 28Hình 3 Meliosma henryi Diels
1 cành mang quả; 2 cánh hoa ngoài và nhị lép; 3 bầu; 4 hoa; 5 nhị và cánh
hoa trong; 6 nụ; 7 quả
(Hình theo Wu Zhengyi and Peter H Raven, 1994)
Loc Class.: Vietnam (Hoa Binh); Typus: Pételot 2125 (P)
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thưa, hẻm núi, ven suối,
độ cao 500-800 m Mùa hoa tháng 5-6
Phân bố: Lạng Sơn, Hòa Bình (giữa Hòa Bình và Vụ Bản, Chợ Bờ),
Thanh Hóa Còn có ở Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam), Lào
Mẫu nghiên cứu: HÒA BÌNH (huyện Kim Bôi: xã Thượng Tiến),
Phương 2554 (HN); (Pà Hàng, Pà Cò, Mai Châu), Trần Ngọc Ninh, Dumontet V VN 80 (HN) – LẠNG SƠN (Binh Gia), N Q Binh, D D Cuong VN 1389 (HN)
Trang 29Giá trị sử dụng: Gỗ mịn, chất gỗ cứng, sử dụng trong xây dựng, đóng
đồ mộc gia dụng, đồ thủ công mĩ nghệ Hạt cho dầu làm xà phòng, dầu sơn
Vỏ làm hương
3.4.6 Meliosma lepidota Blume, 1849
Blume, 1849 Rumphia, 3: 199; C F van Beusekom, 1971 Blumea, 19: 461;
& D Phil, 1989 Tree Fl Mal 4: 426; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1029
Cây gỗ, thường xanh, cao đến 15(-20) m, thân hình trụ, vỏ khô màu nâu, nhẵn Cành mang hoa màu nâu, tròn, không lông, có lỗ vỏ dày, màu nâu nhạt Lá mọc cách, đơn, hình bầu dục, kích thước 12-(-18)25 x 3-6 cm; cuống
lá tròn, dài từ 2-6,5(-10) cm, không có lông; 1/5-3/5 gốc cuống sắc nhọn Phiến lá màu xanh, mẫu khô có mặt trên phiến lá màu nâu đậm, mặt dưới phiến lá màu nâu nhạt, mép lá nguyên, chóp lá nhọn kéo dài 1-1,5 cm, gốc thuôn nhọn; gân kiểu lông chim, 7-9 đôi gân bên, kết thúc tự do ở mép lá, mặt dưới lá gân rất rõ, gân chính có gai răng hướng về phía chóp lá; gân mạng dạng thang, mờ Cụm hoa dạng chùm kép, mọc ở đỉnh cành và ở nách lá, cả chùm hình kim tự tháp, dài 10-30 cm Lá bắc màu xanh, hình trứng đến mũi mác, kích thước 2(-6) mm Đài 5, hình trứng Hoa nhỏ màu trắng hay vàng, kích thước 1,5-3 mm, cuống hoa không có hoặc ngắn Cánh hoa (4 hoặc) 5 cánh, hình trứng; 3 cánh ngoài nhẵn, một trong 3 cánh thường nhỏ hơn và rủ xuống; 2 cánh trong hình mũi mác, nguyên, nhẵn hay hơi quăn ở mép hoặc xẻ
2 thùy, kích thước (0,6-)0,8-2,5 mm Nhị dài 0,7-1 mm, bao phấn hình cầu, màu vàng Nhụy 0,5-1 mm Bầu có lông Qủa hạch hình cầu, đôi khi hình bầu dục, kích thước 5-10 mm, nhân hình cầu hay bầu dục 6-8 mm (Hình 4)
Loc Class.: Sumatr (Indonesia) Typus: Korthals s.n (L0013887) Sinh học và sinh thái: mọc rải rác trong rừng già hoặc rừng thưa, trên
đất có nền đá hoa cương, ở độ cao 1500-2000 m Ra hoa tháng 5-12
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Vĩnh Phúc (Phúc Yên), Kon Tum (Đác
Glây, Đác Tô) Còn có ở Trung Quốc (Tây Tạng, Vân Nam, Hải Nam), Thái
Trang 30Mẫu nghiên cứu: LÂM ĐỒNG (huyện Lạc Dương, xã Da Chay), L
Averyanov, N Q Binh, P K Loc VH 2925, VH 3274, VH 3756 (HN) – VĨNH PHÚC (Trạm đa dạng Mê Linh), Phương 7513 (HN)
Giá trị sử dụng: Thỉnh thoảng được trồng làm cây bóng mát Gỗ dùng
trong xây dựng và đóng đồ thủ công mĩ nghệ, đồ gia dụng
Ghi chú: Theo C F van Beusekom (1971), loài này được chia thành 6
phân loài Việt Nam có 3 phân loài
(1) Meliosma lepidota ssp dumicola (W W Smith) Beusekom, 1971 –
Mật sạ lùm: Đặc trưng bởi cuống lá dài 2-3 cm; mép lá nguyên hoặc có vài răng cưa; cánh hoa trong nguyên; bầu nhẵn
(2) Meliosma lepidota ssp longipes (Merr.) Beusekom, 1971 – Mật sạ
chân dài, Son vôi: Đặc trưng bởi cuống lá dài tới 8-10 cm; lá dài tới 30 cm; mép lá nguyên; cụm hoa có lông; cánh hoa trong xẻ 2 thùy
(3) Meliosma lepidota ssp squamulata (Hance) Bensekom, 1971 – Mật
sạ vảy nhỏ: Đặc trưng bởi cuống lá dài 3-5 cm; mép lá nguyên; cánh hoa trong xẻ 2 thùy
Hình 4 Meliosma lepidota ssp dumicola (1 lá; 2 chi tiết mặt dưới lá; 3 cánh hoa trong và nhị) - Meliosma lepidota ssp longipes (4 lá; 5 cánh hoa trong và nhị) - Meliosma lepidota ssp squamulata (6.lá)
(Hình theo F Gagnepain & J E Vidal, 1960)