1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam

51 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Thanh phong Sabia Colebr.. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn – Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc vi

Trang 1

HÀ KIỀU LOAN

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CHI

THANH PHONG (SABIA COLEBR.) Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Hà Nội, 2016

Trang 2

HÀ KIỀU LOAN

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CHI

THANH PHONG (SABIA COLEBR.) Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Người hướng dẫn khoa học:

TS HÀ MINH TÂM

Hà Nội, 2016

Trang 3

Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp

đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

nhất đến thầy

Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều

tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Hà Kiều Loan

Trang 4

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thanh phong (Sabia

Colebr.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực

hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong

khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Hà Kiều Loan

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 1 Trên thế giới 3

1 2 Ở Việt Nam 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8

2 1 Đối tượng nghiên cứu 8

2 2 Phạm vi nghiên cứu 8

2 3 Thời gian nghiên cứu 8

2 4 Nội dung nghiên cứu 8

2 5 Phương pháp nghiên cứu 9

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12

3 1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam 12

3 2 Đặc điểm phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam 12

3.2.1 Dạng sống 13

3.2.2 Lá 13

3.2.3 Hoa và cụm hoa 13

3.2.4 Quả và hạt 14

3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam 14

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam 15

3.4.1 Sabia dielsii 15

3.4.2 Sabia fasciculata 17

3.4.3 Sabia limoniacea 20

3.4.4 Sabia parviflora 23

3.4.5 Sabia uropetala 25

3.5 Giá trị sử dụng chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam 27

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

PHỤ LỤC 32

Trang 6

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Chi Thanh phong (Sabia Colebr.), còn gọi là Xương gan, thuộc họ

Thanh phong (Sabiaceae Blume) có khoảng 30 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và cận nhiệt đới Ở Việt Nam, chi này hiện biết có 5 loài, phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên Tuy số lượng không lớn, nhưng các loài thuộc chi này có vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái rừng

và đều được sử dụng làm thuốc Cho đến nay, ở nước ta đã có một số công trình đề cập đến phân loại chi Thanh phong nhưng vẫn chưa đầy đủ và có hệ thống, một số thông tin thiếu cập nhật

Từ thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài: Bước đầu nghiên cứu phân loại

chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Thanh phong (Sabia

Colebr.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Sabiaceae Blume, phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí

Việt Nam về họ Sabiaceae Blume ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về

chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam

– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho việc nhận

biết và sử dụng các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam

Điểm mới của đề tài Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành

phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có

hệ thống, giúp cho việc tra cứu thông tin nhanh chóng, chính xác

Trang 7

Bố cục của khóa luận: Gồm 30 trang, 5 hình vẽ, 5 ảnh, 1 bản đồ, 1 bảng

được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 5 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 18 trang), kết luận

và kiến nghị: 1 trang, tài liệu tham khảo: 30 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 1 Trên thế giới

Chi Thanh phong (Sabia) được Colebrooke công bố năm 1819 [12] với loài chuẩn là Sabia lanceolata

Năm 1825 [9], Blume trong công trình “ Bijdragen tot de flora van

Nederlansch Indie” đã công bố chi Meniscosta và xếp vào họ

Menispermaceae Sau này được xác định là tên đồng nghĩa của chi Sabia Năm 1842 [19] Falconer công bố chi Enantia và xếp vào họ Menispermaceae Sau này được xác định là tên đồng nghĩa của chi Sabia

Trong công trình này, Falconer đã chỉ ra bằng chứng về sự giống nhau về quả của chi này với quả của họ Menispermaceae, nhưng không chỉ rõ được quan mối hệ họ hàng giữa chúng

Năm (1851) [10], Blume tìm thấy mối quan hệ giữa chi Meniscota và

Sabia Trên cơ sở đó, ông đã công bố họ Sabiaceae và xếp 2 chi trên vào họ

này Trong công trình này, ông đã đưa ra quan điểm cho rằng Sabiaceae có quan hệ họ hàng lân cận với họ Menispermaceae

Bentham & Hooker (1862) [29] khi xây dựng hệ thống phân loại cho họ

Sabiaceae đã mô tả chi Sabia và cung cấp một số thông tin về số loài và sự

phân bố của các loài thuộc chi này trên thế giới

Năm 1878 [11] Baillon đã xếp chi Sabia vào họ Sapindaceae

A Takhtajan (1997) [17] Và nhiều tác giả cũng đề cập đến chi Sabia trong các công trình nghiên cứu và các tác giả này đều cho rằng chi Sabia

Trang 9

paniculata; 1901 [28] Diels công bố và xây dựng bản mô tả chi tiết cho loài Sabia schumanniana; năm 1908 [22, 14] Lecomte công bố loài S emarginata, Dunn công bố loài S Discolor; Lesvl (1911) [27] công bố các

loài S dielsii, S feddei, S cavsleriei, S esquirolii, S dunnii; năm 1915 [30] Hayata công bố loài Sabia transarisanensis, xây dựng bản mô tả chi tiết; Lecomte ex L Chen (1943) [24] công bố loài S fasciculata nâng tổng số

loài hiện biết ở chi này lên khoảng 30 loài

Gần Việt Nam, một số công trình Thực vật chí ở các nước trong khu vực

cũng nghiên cứu phân loại chi Sabia như:

Wu Young-fen & Law Yuh-wu (1985) [26] khi nghiên cứu hệ thực vật Trung

Quốc đã xây dựng hệ thống phân loại chi Sabia với 16 loài là: Sabia

campanulata, Sabia achumanniana, Sabia yunnanensis, Sabia emarginata, Sabia transarisanensia, Sabia japonica, Sabia purpurea, Sabia nervosa, Sabia coriacea, Sabia discolor, Sabia dielsii, Sabia swinhoei, Sabia fasciculata, Sabia paniculata, Sabia limoniacea, Sabia pavifrola Trong đó 4

loài có ở Việt Nam là: Sabia dielsii, Sabia fasciculata, Sabia limoniacea,

Sabia pavifrola.Trong công trình có hình ảnh minh họa của các loài

C.F van Beusekom & Th.P.M van de Water (1989) [13] đã nghiên cứu

phân loại chi Sabia ở khu vực Malesian trong “Flora Malesiana Vol 10, part

4” , tác giả đã mô tả đặc điểm chi, xây dựng khóa định loại và mô tả 7 loài có

ở vùng Malesiana là: S sumatrana, S erratica, S parviflora, S limoniacea,

S racemose, S pauciflora, S javanica Bên cạnh việc cung cấp các thông tin

về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, tác giả còn cung cấp thông tin về

giá trị sử dụng của các loài

Năm 2008, tập thể tác giả Chen Jiarui và cộng sự trong “Flora of China” [16] đã mô tả chi Sabia ở Trung Quốc và phân loại chi này với 17 loài là: S

campanulata, S schumanniana, S yunnanensis, S emarginata, S

Trang 10

transarisanensis, S japonica, S fasciculate, S paniculata, S limoniacea, S parviflora, S lanceolate, S purpurea, S swinhoei, S nervosa, S coriacea, S discolor, S dielsii Trong đó, 4 loài có ở Việt Nam là: S fasciculate, S limoniacea, S parviflora, S dielsii

1 2 Ở Việt Nam

Cho đến nay các công trình nghiên cứu họ Thanh phong (Sabiaceae) và

chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam còn rất ít Người đầu tiên đề cập đến chi Thanh phong là Pierre (1897) [25] trong công trình “Flore

forestière de la Cochinchine” khi nghiên cứu hệ thực vật rừng Nam Bộ đã

công bố loài Sabia harmandii, Meliosma harmandiana, Meliosma

cambodiana, đến nay loài Sabia harmandii được xác định là tên đồng nghĩa

của Sabia parviflora

Năm 1908 [23], khi nghiên cứu phân loại họ Sabiaceae ở Đông Dương,

Lecomte đã mô tả chi Sabia, xây dựng khóa định loại và mô tả 17 loài Trong

đó, có 5 loài ở Việt Nam

F Gagnepain (1952) [20] đã công bố 2 loài là Sabia uropetala và S

kontumensis Trong đó, loài S kontumensis nay được xác định là tên đồng

nghĩa của Sabia fasciculata

Năm 1960, F Gagnepain và J E Vidal [21] trong công trình “Flore du

Cambodge, du Laos et du Vietnam”, đã mô tả và xây dựng khóa định loại cho

4 loài và 2 phân loài là : Sabia fasciculata, Sabia komtumensis, Sabia

olacifolia, Sabia uropetela, Sabia paviflora v parviflora, Sabia parviflora v harmandiana Trong đó có loài Sabia komtumensis hiện đã trở thành tên đồng

nghĩa với Sabia fasciculata Tác giả đã xếp chi này vào họ Sabiaceae xây

dựng khóa định loại các loài, cung cấp một số thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng của các loài kèm hình ảnh minh họa

Trang 11

Năm 1997 trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín

ở Việt Nam” [3] Nguyễn Tiến Bân đã tóm tắt đặc điểm về họ Sabiaceae, cung

cấp một số thông tin về chi Sabia, chỉ ra đặc điểm khác biệt quan trọng nhất của họ thanh phong với Sapindaceae bởi có lá mầm xoắn vặn

Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” tập 2 năm 2003 [7], Phạm Hoàng

Hộ đã cung cấp đặc điểm nhận biết các loài thuộc chi Thanh phong ở Việt

Nam, đó là: Sabia dielsii, Sabia fasaculata, Sabia limoniace, Sabia

parviflora, Sabia uropetala Công trình “Cây cỏ Việt Nam” tuy có nhiều hạn

chế như: Bản mô tả còn sơ sài, không có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu, nhưng cho đến nay, đây là tài liệu quan trọng cho việc định loại

sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam

Nguyễn Hữu Hiến (2003) [4] đã xây dựng danh lục, chỉnh lý tên khoa học, cung cấp một số thông tin về phân bố, sinh thái và giá trị tài nguyên cho

5 loài thuộc chi Thanh phong ở Việt Nam, đó là: Sabia dielsii, Sabia

fasciculata, Sabia limoniacea, Sabia parviflora, Sabia uropetala

Trong cuốn “từ điển thực vật thông dụng” của tác giả Võ Văn Chi (2004) [6] tác giả đã xếp chi Sabia vào họ Sabiaceae, chỉ ra có 19 loài ở khu vực Đông Nam Á Tác giả cũng mô tả và đưa ra công dụng của 3 loài là: Sabia

dielsii, Sabia fasaculata, Sabia parviflora

Ngoài các công trình phân loại nêu trên, còn có một số công trình nghiên cứu về giá trị tài nguyên đã đề cập đến một số loài thuộc chi Thanh phong ở

Việt Nam, như: Võ Văn Chi (1997) [5] trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt

Nam” tập 2 đã cung cấp thông tin về mô tả, sinh thái, phân bố, cách dùng và

hình vẽ của 4 loài là Sabia limoniacea, Sabia fasaculata, Sabia dielsii, Sabia

parviflora

Trang 12

Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về họ Thanh phong (Sabiaceae) nói

chung và chi Thanh phong (Sabia Colebr.) nói riêng

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam, dựa trên cơ

sở mẫu vật và tài liệu

Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) trên

thế giới và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo

Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở

Việt Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN); Phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học

Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU)

Tổng số mẫu nghiên cứu là 14 số hiệu với 27 tiêu bản Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật), phòng tiêu bản thực vật (đại học Khoa học tự nhiên, đại học Quốc gia Hà Nội) Ngoài ra, tôi còn nghiên cứu thêm các ảnh chụp mẫu vật từ

các chuyên gia phân loại và ảnh trên Internet

2 2 Phạm vi nghiên cứu

Khắp cả nước

2 3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 1/2015- 3/2016

2 4 Nội dung nghiên cứu

– Lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp để sắp xếp các taxon nghiên cứu ở Việt Nam

– Điều tra nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật và các thông tin về phân

Trang 14

2 5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam,

chúng tôi sử dụng phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn,

2007 [8] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của

nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )

Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp

Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa

-nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu

ở trạng thái sống, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác

Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm

việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại

Việc nghiên cứu phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) được tiến hành theo các bước như sau:

Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi

Thanh phong (Sabia Colebr.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với

việc phân loại chi này ở Việt Nam

Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Thanh phong (Sabia

Colebr.) hiện có

Trang 15

Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác

Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài

– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam 2003 [1], thứ tự như sau: Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công

bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài chuẩn của chi, ghi chú (nếu có)

Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)

– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)

Trang 16

Để xây dựng bản mô tả cho một loài, tôi tập hợp các số liệu đã phân tích

về loài đó, sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài

Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), tôi sẽ có những ghi chú bổ sung

– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, tôi lựa chọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như

– Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3 1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt

Nam

Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Thanh phong và họ Thanh phong trong các công trình phân loại trên thế giới, như: Blume (1951), Bentham & Hooker (1867), Takhtajan (1997, 2009), và các công trình ở Việt Nam như: Lecomte (1908), Gagnepain F & J E Vidal (1960), Nguyễn Tiến Bân (1997), Phamh (2003) tôi nhận thấy hệ thống phân loại chi Thanh phong là khá đồng nhất, phân loại chi này không có phân chi mà phân chia

trực tiếp đến các loài

Trong công trình này, tôi lựa chọn hệ thống của A Takhtajan (1997) để phân loại chi Thanh phong nước ở Việt Nam Vì đây là hệ thống được kế thừa từ các hệ thống trước đó, được hầu hết các tác giả trên thế giới sử dụng

và phù hợp với việc sắp xếp các taxon ở Việt Nam Trên cơ sở của hệ thống

này, chi Thanh phong (Sabia Colebr.) được xếp vào họ Thanh phong

(Sabiaceae), bộ Thanh phong (Sabiales), phân lớp Hoa hồng (Rosidae) lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae) Theo đó, chi này ở Việt Nam có 5 loài

3 2 Đặc điểm phân loại chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở Việt Nam

Colebr 1819 Tran Linn Soc Lond 12: 355; Benth & Hook f 1867 Gen

Pl 1: 413; Lecomte, 1908 Fl Gen Indoch 1: 1043; Gagnep & Vidal, 1960

Fl Camb Laos Vietn 1: 12; Y F Wu and Y C Law, 1985 Fl Reip Pop Sin 47(1): 73; C.F van Beusekom & van de Water, 1989 Fl Males 10 (4): 682; Lixiu Guo & Anthony R Brach, 2008 Fl China, 12: 25

- Meniscosta Blume, 1825 Bijdr 1: 28

- Enantia Falc in Hook 1841 J Bot 4: 75

Trang 18

- Androglossa Benth in Hook 1842 J Bot Kew Gard Misc 4: 42

dielsii, S fasciculate) hoặc tù (S limoniacea); mép lá nguyên hoặc có răng

cưa (S dielsii); gốc lá tròn hoặc dạng nêm mở rộng (S dielsii, S fasciculate,

S limoniacea) hoặc tù hơi lệch (S parviflora); gân lá hình mạng lông chim,

gân chính thường nổi rõ ở mặt dưới

3.2.3 Hoa và cụm hoa

Hoa lưỡng tính, mọc thành cụm hoa xim hoặc chùy, mọc ở nách lá hoặc đỉnh cành, có cuống và lá bắc Lá đài xếp lợp, không rụng khi hoa nở, lá đài 5

(S dielsii, S fasciculate, S parviflora) hoặc 6 (S limoniacea) Cánh hoa bằng

số lá đài, đính trên lá đài, xếp lợp; rụng muộn; màu trắng (S dielsii, S

parviflora, S limoniacea) hoặc vàng xanh (S limoniacea, S parviflora), hoặc

có đốm màu đỏ ở giữa (S fasciculate); hình trứng (S dielsii, S limoniacea), thon hẹp (S uropetala) hoặc mác; chóp cánh hoa tròn (S dielsii, S

limoniacea), hoặc nhọn đến tù (S parviflora) Nhị bằng số lá đài, tất cả đều

hữu thụ, chỉ nhị dẹt, đính vào gốc của cánh hoa; bao phấn đính lưng (S

uropetala) hoặc đính gốc, thẳng đứng hoặc uốn cong Bộ nhụy gồm 2 lá noãn

hợp thành bầu thượng 2 ô; mỗi ô có 2 noãn nửa đảo Bầu hình cầu hoặc hình

Trang 19

trứng Vòi nhụy hình nón hoặc hình trụ có khi là dạng giùi ngắn (S

uropetala) Núm nhụy xẻ thùy

3.2.4 Quả và hạt

Quả hạch, thường xẻ thùy sâu thành 2 quả hạch nhỏ Quả hạch nhỏ hình

cầu hoặc hình trứng (S fasciculate) hoặc hình hạt đậu (S dielsii, S

limoniacea); khi chín có màu xanh (S dielsii, S limoniacea, S parviflora),

trắng (S limoniacea) đến đỏ (S fasciculate); vỏ quả trong cứng, ép dẹt, có

gân ở giữa thò ra Hạt chỉ có 1 ít khi là 2 hạt trong mỗi quả hạch nhỏ; mặt ngoài vỏ hạt có nhiều chấm màu đen, rõ; mặt trong có 1 lớp nội nhũ mỏng Phôi có 2lá mầm, rễ mầm cong

Typus: Sabia lanceolata Colerbr

Có khoảng 30 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và cận nhiệt đới Việt Nam hiện biết có 5 loài, phân bố rải rác ở một số tỉnh khu vực miền Bắc và Tây Nguyên

3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở

Việt Nam

1A Cành non có lông màu vàng, bao phấn đính lưng 1 S uropetala

1B Cành non ít khi có lông, bao phấn đính gốc

2A Đài 6 hoặc 7; mặt dưới lá có lông 2 S limoniacea

2B Đài 5; mặt dưới lá không có lông

3A Mép lá có răng cưa 3 S dielsii

3B Mép lá nguyên

4A Cụm hoa chùy, mọc ở đỉnh cành 4 S fasciculata 4B Cụm hoa chùy, mọc ở nách lá 5 S paviflora

Trang 20

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Thanh phong (Sabia Colebr.) ở

Việt Nam

3.4.1 Sabia dielsii Lesvl.- Thanh phong diels

Lesvl 1911 Repert Spec Nov Regni Veg 9: 456; Y F Wu and Y C Law,

1985 Fl Reip Pop Sin 47(1):89; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1032; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 335; Lixiu Guo & Anthony R Brach,

2008 Fl China, 12: 31

- Sabia brevipetiolata H Y Chen, 1943 Sargentia 3: 50

- Sabia olacifolia Stapf ex Koidz, 1936 Acta Phytotax Geobot 5: 78

- Thanh phong diels, (dây) Thanh phong, Xương gan, Cốt khí.

Dây leo thân gỗ, cao 1-2 m, rụng lá theo mùa, không lông Cành non hơi vàng hoặc nâu nhạt, khi già có màu nâu, nhẵn; chồi non hình tam giác hoặc hình trứng ngược, dày Lá đơn, mọc so le Phiến lá dẹp, mép lá có răng cưa, mặt dưới xanh nhạt, mặt trên xanh tối, màu oliu xanh khi khô, hình trứng hoặc trứng thuôn dài, kích thước 6-14 x 2-6 cm, hai mặt nhẵn, gốc hình tròn hoặc dạng nêm mở rộng, đỉnh lá nhọn hoặc nhọn dài, có 4-6 đôi gân bên, gân mạng dải dác hình mắt lưới; cuống lá có kích thước dài 3-10 mm Cụm hoa xim, mọc ở nách lá, dài 2.5-6 cm, mỗi cụm hoa cơ sở có 2-6 hoa Hoa màu xanh, đường kính cỡ 5 mm; cuống hoa dài 1.5- 3 cm, cuống nhỏ dài 5-10 mm Đài

5, không có lông, hình trứng, dài 0.5-1 mm Cánh hoa 5, màu trắng, hình bầu dục hoặc hình trứng, đỉnh tròn, kích thước 2-3 x 1.5-2 mm Nhị 5; chỉ nhị dẹt, dài 0.8 - 2 mm; bao phấn đính gốc, hình trứng, dài 0,5- 0.8 mm Đĩa mật hình chén, có 5 thùy đều nhau, tù Bầu hình trứng, nhẵn; vòi nhụy dài 1-1.3 mm Quả xẻ thùy sâu thành 2 quả hạch nhỏ, màu đỏ đến đen khi chín; quả hạch nhỏ hình hạt đậu, khoảng 8 x 6 mm (Hình 3.1)

Loc class.: China (Yunnan); Typus: Henry 10487 (A)

Trang 21

Sinh học và sinh thái: Thường mọc ở bìa rừng, ven suối, khu rậm rạp,

trảng cây bụi, sườn dốc núi, trong thung lũng; độ cao lên tới 800-2000 m Mùa hoa tháng 4-5, có quả tháng 7-8

Phân bố : Lào Cai (Sa Pa), Khánh Hòa (Nha Trang), Hải Phòng (Cát

Bà) Còn có ở Trung Quốc (Tứ Xuyên, Qúy Châu, Vân Nam, Quảng Tây

Mẫu nghiên cứu: LAO CAI (Chapa), 1174; 2182; 3069 (HNU) – Sine

loc., 4455 (HN)

Giá trị sử dụng: toàn thân ngâm rượu, xoa bóp chữa sai khớp, bong gân,

tê thấp, đau bụng

Hình 3.1 Sabia dielsii (Lesvl.)

1 cành mang hoa; 2 cành mang quả; 3 hoa; 4 cánh hoa;

5 hoa đã tách bao hoa; 6 nhị; 7 bộ nhụy; 8 quả hạch con

(Y F Wu and Y C Law, 1985)

Trang 22

3.4.2 Sabia fasciculata Lecomte ex L Chen - Thanh phong chụm

Lecomte ex L Chen, 1943 Sargentia, 3: 42; Gagnep & Vidal, 1960 Fl Camb Laos Vietn 1: 17; Y F Wu and Y C Law, 1985 Fl Reip Pop Sin 47(1): 91; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1033; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 336; Lixiu Guo & Anthony R Brach, 2008 Fl China, 12: 31

- Sabia kontumensis Gagnep 1953 Not Syst (Paris) 14: 271

- Thanh phong chụm, thanh phong kon tum

Dây leo thân gỗ, cao tới 12 m, thường xanh Cành non màu nâu đen, có sáp, nhẵn, lông tơ thưa thớt hoặc lông măng thưa, chồi non cân hình tam giác, nhẵn hoặc lông mịn Lá mọc cách; phiến lá hình thuôn, bầu dục, kích thước 5-12x1.5-4 cm, lá dày và dai, không có lông; gốc dạng nêm hoặc tròn; đỉnh nhọn hoặc nhọn thuôn dài; có 5-8 đôi gân bên, thẳng; mặt dưới xanh nhạt, sáng bóng, mặt trên xanh đậm; cuống lá mảnh, phía trên có rãnh dài 1,5-2,5

cm, nhẵn hoặc hơi có lông tơ Cụm hoa chùy mọc ở đỉnh cành, không có cuống, phân nhánh từ gốc, dài 2-3 cm, có 3-6 hoa nở Hoa có cuống 5-6 mm, dài hơn nụ Đài 5, hình trứng hoặc hình trứng ngược, dài 1-3 mm, mép có lông mịn, đỉnh nhọn hoặc tù, có đốm chấm màu đỏ, lề trắng Cánh hoa 5, màu xanh nhạt với những đốm màu đỏ ở giữa, hình thuôn hoặc hình trứng, kích thước 4.5-6.5 x 2-2.5 mm, có 7 gân Nhị 5, không đều nhau; chỉ nhị dẹt, kích thước 3-5 mm; bao phấn đính gốc, hình bầu dục hoặc thuôn dài, mở hướng ra ngoài Đĩa mật nhọn, ngắn, gồm 5 thùy Bầu nhẵn, hình nón, chiều dài là 5

mm Quả xẻ thùy sâu thành 2 quả hạch nhỏ; quả hạch nhỏ hình trứng hoặc hình trứng rộng, kích thước 6-7 x 7-8.5 mm, có màu đỏ; vỏ quả trong có gân giữa nổi rõ, có lỗ nhỏ (Hình 3.2)

Loc Class.: China; Typus: Henry, Augustine, 10487 (A)

Sinh học và sinh thái: Thường mọc ở bìa rừng, sườn dốc núi, trong

thung lũng, núi đá; độ cao lên tới 600- 1900m Mùa hoa quả vào tháng 1-2

Trang 23

Phân bố : Lào Cai (Sa Pa), Kon Tum (Ngọc Pan), Đắc Nông (Đắc Mil)

Còn có ở Mianma, Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông, nam Phúc Kiến)

Mẫu nghiên cứu: KOM TUM (Đăk Môn, Đăk Glei), Nguyễn Hữu Hiến

254 (HN); (Ngọc Linh, Đăk Glei), Nguyễn Tiến Bân 190 – GIA LAI (Đăk Đoa, Mang Yang), Trần Đình Đại 164 (HN); – ĐĂK NÔNG (Đăk Mil), 251 (HN); Trần Đinh Lý 739 (HN) – Sine loc., Inst Bot Yunn 2867 (HN) – NGHỆ AN (Quỳ Châu, Châu Hạnh), V X Phương VN 1260 (HN)

Giá trị sử dụng: toàn cây làm thuốc trị đòn ngã tổn thương và phong thấp

Trang 24

Hình 3.2 Sabia fasciculata (Lec Ex Chen.)

1 Bộ nhị; 2 Bầu; 3 Hoa; 4 Cành mang hoa

(Y F Wu and Y C Law, 1985)

Trang 25

3.4.3 Sabia limoniacea Wall ex Hook f & Thoms - Thanh phong

Wall ex Hook F & Thoms 1855 Fl Ind 1: 210; Y F Wu and Y C Law,

1985 Fl Reip Pop Sin 47(1): 93; C F van Beusekom & van de Water,

1989 Fl Males 10 (4): 685; N H Hien, 2003 Check Pl Sp Vietn 2: 1033; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 336; Lixiu Guo & Anthony R Brach, 2008

Fl China, 12: 32

Dây leo thân gỗ, cao đến 10 m, thường xanh Cành non có màu xanh, khi già có màu nâu, có sáp; chồi non hình trứng, kích thước 2.5 cm, nhọn, nhẵn hoặc có lông mịn Lá mọc so le, phiến lá hình trứng thuôn dài đến hình trứng, kích thước 4-18 x 1.5-8 cm; chóp lá nhọn hoặc tù; gốc lá dạng nêm rộng hoặc tròn; mặt dưới có lông nhất là ở gân; mặt trên nhẵn; gân bên 5-9 đôi, một cặp gân đi từ gốc, không hoặc xòe rộng, thỉnh thoảng hướng lên chóp lá, cong đến thẳng; gân mạng dạng lưới, mặt dưới rõ, mặt trên mờ; cuống lá dài 1.5-2.5

cm, nhẵn hoặc có lông măng thưa Cụm hoa xim, mọc ở nách lá, kích thước 7-15 cm, có 1-6 hoa; cuống hoa dài 5-7 mm; thỉnh thoảng có lá bắc ở gốc; lá bắc hình thuôn hẹp, dài 4 mm, nhẵn hoặc có lông tơ thưa; lá bắc nhỏ hình bầu dục đến thuôn hẹp, kích thước 1,7 mm, nhẵn đến có lông tơ thưa ở gần đài Hoa màu xanh đến vàng hoặc trắng Đài 6 hoặc 7, hình trứng hoặc hình trứng ngược, 0.7-1.2x 0.6-1mm, chóp nhọn đến tròn, rìa có lông mịn Cánh hoa 5, màu xanh đậm đến nhạt, vàng xanh, hoặc trắng; hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 1.75-2.5 x 1.25-2 mm; gốc tù đến tròn hoặc thỉnh thoảng nhọn; chóp tròn; có 5-7 gân Nhị 5, đính trước cánh hoa; chỉ nhị dẹt, kích thước 1.25-1.75

x 0.3-0.4 mm; bao phấn hình bầu dục, kích thước chiều dài 0.25-0.35 mm, mở hướng ra ngoài Đĩa mật dạng cốc, gồm 5 thùy Bầu 2 ô, hình cầu hoặc hình hạt đậu, kích thước 0.5-0.6 x 0.5-1.2 mm, nhẵn; vòi nhụy hình nón hoặc hình trụ Quả xẻ thùy sâu thành 2 quả hạch nhỏ; quả hạch nhỏ hình cầu đến hình hạt đậu, kích thước 11-14 x 10-13 mm, màu đỏ đến đen bóng; mặt ngoài vỏ

Ngày đăng: 27/02/2017, 11:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Sabia dielsii (Lesvl.) - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình 3.1. Sabia dielsii (Lesvl.) (Trang 21)
Hình 3.2. Sabia fasciculata (Lec. Ex Chen.) - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình 3.2. Sabia fasciculata (Lec. Ex Chen.) (Trang 24)
Hình 3.3. Sabia limoniacea Hook. f. & Thoms. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình 3.3. Sabia limoniacea Hook. f. & Thoms (Trang 27)
Hình 3.4. Sabia parviflora (Wall. Ex Roxb.) - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình 3.4. Sabia parviflora (Wall. Ex Roxb.) (Trang 29)
Hình 3.5. Sabia uropetala (Gagnep.) - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình 3.5. Sabia uropetala (Gagnep.) (Trang 31)
Bảng 1: Bộ phận dùng và cách dùng các loài thuộc chi Thanh phong - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Bảng 1 Bộ phận dùng và cách dùng các loài thuộc chi Thanh phong (Trang 32)
Hình dạng đài  Hình - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi thanh phong (sabia colebr ) ở việt nam
Hình d ạng đài Hình (Trang 40)