1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l ) ở việt nam

55 493 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt Nam về họ Táo Rhamnaceae ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực v

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH – KTNN



KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp

đỡ của TS Nguyễn Thế Cường và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin

bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn toàn thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự quan tâm, động viên của gia đình, bạn bè, người thân trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu Họ chính là nguồn động lực lớn để tôi có thể hoàn thành tốt công việc của mình

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Hoa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Mận rừng

(Rhamnus L ) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thế Cường và TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công

bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2016

Sinh viên

Nguyễn Thị Hoa

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Lược sử nghiên cứu thực vật trên thế giới và Việt Nam 3

1.1.1 Trên thế giới và một số nước trong khu vực 3 1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Lược sử nghiên cứu chi Mận rừng (Rhamnus L ) trên thế giới và Việt Nam 8

1.2.1 Lược sử nghiên cứu chi Mận rừng (Rhamnus L ) trên thế giới 8

1.2.2 Lược sử nghiên cứu chi Mận rừng (Rhamnus L ) ở Việt Nam 9

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11

2.1 Đối tượng nghiên cứu 11

2.2 Địa điểm nghiên cứu 11

2.3 Thời gian nghiên cứu 11

2.4 Nội dung nghiên cứu 11

2.5 Phương pháp nghiên cứu 12

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam 17

3.2 Đặc điểm hình thái chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam 17

3.2.1 Kiểu thân 17

3.2.2 Lá 17

3.2.3 Cụm hoa và hoa 18

3.2.4 Qủa 18

3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt

Trang 6

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt

Nam 20

3.4.1 Rhamnus henryi Schneid – Mận rừng henryi 21

3.4.2 Rhamnus crenata Sieb & Zucc – Mận rừng 22

3.4.2.1 Rhamnus crenata var crenata 22

3.4.2.2 Rhamnus var parvifolia (Tardieu) Phamh – Mận rừng lá nhỏ 23 3.4.3 Rhamnus longipes Merr & Chun – Mận rừng cuống dài 24

3.4.4 Rhamnus grisea Merr – Mận rừng cám 25

3.4.5 Rhamnus bodinieri Levl – Mận rừng bodinieri 26

3.4.6 Rhamnus hainanensis Merr & Chun – Mận rừng hải nam 27

3.4.7 Rhamnus napalensis (Wall ) M A Lawson – Cồng cua 28

3.4.8 Rhamnus subapetala Merr – Mận rừng gần không cánh hoa 30

3.4.9 Rhamnus utilis Decs – Mận rừng hữu ích 30

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 32

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

PHỤ LỤC 1 BẢNG TRA TÊN KHOA HỌC 36

PHỤ LỤC 2 BẢNG TRA TÊN VIỆT NAM 36

Trang 7

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Nghiên cứu phân loại thực vật một cách chính xác là vấn đề rất cần thiết vì đó là cơ sở khoa học cho các lĩnh vực khác như sinh thái học, sinh lý thực vật, tài nguyên thực vật, y học, dược học

Chi Mận rừng (Rhamnus L.) thuộc học Táo (Rhamnaceae) hiện ghi

nhận có khoảng 150 loài, phân bố tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông

Á, Bắc Mỹ, một số loài ở châu Âu và châu Phi Ở Việt Nam, chi Mận rừng hiện được ghi nhận có 9 loài, phân bố rải rác trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh, trảng cây bụi các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc và Tây Nguyên Hầu hết chúng là cây làm thuốc chữa các bệnh ngoài da, dân gian đã biết sử dụng vỏ rễ phơi khô, ngâm rượu 40% tỉ lệ 1/3 hoặc với giấm tỉ lệ 1/2 dùng chữa hắc lào, lá nấu nước tắm chữa lở ngứa,, rễ, vỏ rễ, lá và quả dùng ngoài trị ghẻ ngứa, vảy nén, eczema, mày đay,… Cây có độc không dùng uống

Tuy nhiên, hiện nay vấn đề phân loại họ Táo nói chung và chi Mận rừng nói riêng ở nước ta chưa có nghiên cứu nào mang tínhhệ thống và thực hoàn chỉnh Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại

chi Mận rừng (Rhamnus L.) và họ Táo ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ

liệu cho việc nhận biết và sử dụng các loài của chi này, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Mận rừng

(Rhamnus L.) ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam một cách hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Táo

Trang 8

(Rhamnaceae) phục vụ cho việc soạn thảo Thực vật chí Việt Nam và những nghiên cứu có liên quan

Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt Nam về họ Táo (Rhamnaceae) ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho nghiên cứu sau này về

chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam

Ý nghĩa thực tiên

Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng dụng và sản xuất nông nghiệp, y dược, sinh thái, tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học…

Góp phần nâng cao chất lượng sử dụng các phương pháp trong nghiên cứu và giảng dạy môn phân loại thực vật nói chung trong đó có họ Táo

(Rhamnaceae) và chi Mận rừng (Rhamnus L.) nói riêng

Điểm mới của đề tài

Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại về chi Mận

rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam một cách có hệ thống và đầy đủ nhất

Trang 9

Chương 1 Tổng quan tài liệu 1.1 Lược sử nghiên cứu thực vật trên thế giới và việt nam

1.1.1 Trên thế giới và một số nước trong khu vực:

Đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược, chương chình hành động quan trọng trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế lớn đã ra đời

để hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức thực hiện việc kiểm kê, đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi các quốc gia, khu vực, châu lục và toàn cầu Đó là Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện Tài nguyên Di truyền quốc tế (IPGRI), Để tránh sự phá huỷ tài nguyên và duy trì sự sống một cách bền vững trên trái đất, Hội nghị thượng đỉnh bàn về môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992 Tại Hội nghị này, 150 quốc gia đã ký vào Công ước về Đa Dạng sinh vật Từ đó nhiều cuộc Hội thảo được tổ chức và nhiều cuốn sánh chỉ dẫn ra đời Quỹ bảo vệ thiên nhiên thế giới (WWF) xuất bản sách về tầm quan trọng của đa dạng sinh vật; IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới; IUCN và WWF xuất bản cuốn Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới; IUCN và UNEP xuất bản sách chiến lược đa dạng sinh vật

và chương trình hành động; Tất cả các công trình đó nhằm hướng dẫn và đề xuất phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh vật, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai WCMC (1992) công bố công trình đánh giá

đa dạng sinh vật toàn cầu, cung cấp tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau, ở các vùng khác nhau trên toàn thế giới làm cơ sở cho việc bảo tồn có hiệu quả

Cùng với các công trình đó, đã có hàng ngàn cuộc hội thảo quốc tế khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp, cùng các kết

Trang 10

quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực được tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển

Đến thời kỳ các công trình nghiên cứu phân loại thực vật dựa trên những bằng chứng tiến hóa dựa trên học thuyết của Darwin, tác giả được đề cập nhiều nhất là nhà thực vật học người Đức là Eichler Ông đã chia giới thực vật thành Thực vật không hạt (Cryptogramae) và Thực vật có hạt (Phaerogramae) Nhóm thứ nhất gồm Nấm, Tảo và Rêu; nhóm thứ hai gồm thực vật Hạt tần và thực vật Hạt kín (bao gồm thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm) Tiếp sau đó là công trình phân loại của Engler (1887-1915), Die Naturalichen Pflanzenfamilien

Hiện nay, các công trình nghiên cứu hệ thống học vẫn liên tục được cải tiến và cập nhật Những năm gần đây, các hệ thống của Rober Thorn (1968,

Trang 11

1976); Arthun Cronquist (1968); A L Takhtajan (1969, 1973, 1987, 1992, 2009) và ngày nay là các hệ thống củaAngiosperm Phylogeny Group(APG) liên tục được cập nhật Trong khu vực, hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ

đã và đang hoàn thiện các công trình thực vật chí như: Auctor (1993), Flora

of Australia; Chen S S & W Y Chua (eds.), (1959- 1987), Flora Reipublicae Popularis Sinicae; Wu Z Y & P H Raven (eds.), (1994-2000) Flora of China; Hooker, C B (ed.) 1876-1894 Flora of British India; Phengklai, C., Thawatchai S., Larsen K (eds.), 1993-2011 Flora of Thailand; C.G.G.J van Steenis (ed.) (1950-) Flora Malesiana; Auctor (2007), A Checklist of the Vascular Plants of Lao PDR…

1.1.2 Ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới Theo các tài liệu đã công bố gần đây, Việt Nam có khoảng trên 15000 loài thực vật, trong đó ngành Tảo có khoảng gần 2200 loài, ngành Rêu khoảng 480 loài, ngành Khuyết lá Thông 1 loài, ngành Thông đất 55 loài, ngành Cỏ tháp bút 2 loài, ngành Dương xỉ khoảng gần 700 loài, ngành Hạt trần 70 loài và ngành Hạt kín khoảng trên

12000 loài Việc nghiên cứu, điều tra, đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam được tiến hành hơn 2 thế kỷ, nhưng các công trình mới chỉ được công bố nhiều ở khoảng 50 năm trở lại đây

Ngay từ cuối thế kỷ 18, nhà thực vật học người Pháp J Loureiro (1790) đã biên soạn cuốn sách đầu tiên về đa dạng thực vật Việt Nam của hệ thực vật Nam Bộ (Flora Cochinchinensis) Tiếp theo là tác giả J B L Pierre (1790) về

hệ Cây gỗ rừng Nam Bộ (Flore Forestière de la Cochinchine) Nửa đầu thế kỷ

20 các nhà thực vật học Pháp dưới sự chủ biên của H Lecomte (1907-1952)

Trang 12

đã lần lượt xuất bản bộ sách Thực vật chí đại cương Đông Dương (Flore

G neral de l’Indo-Chine, et Supplements) gồm 7 tập với hơn 7000 loài, là

nền tảng cho việc đánh giá đa dạng thực vật đến tận ngày nay Từ năm 1960 đến nay, bộ sách này đã và đang được một số nhà thực vật Pháp và Việt Nam

biên soạn lại dưới tên Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam (Flore du

Cambodge, du Laos et du Vietnam) với 74 họ thực vật

Đặc biệt trong thời gian nửa cuối thế kỷ XX, đã có nhiều công trình là kết quả nghiên cứu, điều tra, đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam của các tác giả trong nước và nước ngoài rất có giá trị Lê Khả & cộng sự (1969-1976), Cây

cỏ thường thấy ỏe Việt Nam gồm 6 tập Phạm Hoàng Hộ (1970-1972) Cây cỏ thường thấy ở Miền Nam với 5326 loài, tiếp sau đó tác giả này có công trình nghiên cứu thực vật cả nước (1991-1993, 1999-2000) với số lượng loài khá đầy đủ phục vụ tốt việc nghiên cứu đa dạng thực vật Việt Nam đến ngày nay Trong 2 số tạp chí chuyên đề của Tạp chí Sinh học (1994-1995) nhiều tác giả

đã công bố kết quả nghiên cứu thực vật các taxon với hàng trăm loài Đáng chú ý gần đây công trình là bộ sách 3 tập Danh lục các loài thực vật Việt Nam của nhiều tác giả (2001, 2003, 2005) đã công bố danh sách hơn 20000 loài thực vật trong cả nước; là tài liệu được công nhận mới và đầy đủ nhất, đáng tin cậy nhất từ trước đến nay; bộ sách là cơ sở tra cứu, chỉnh lý tên khoa học các taxon và nhiều thông tin khác Nguyễn Tiến Bân & cộng sự (1996, 2007) công bố hàng trăm loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị đe doạ tuyệt chủng ở Việt Nam Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) thống kê toàn bộ

sự đa dạng của cây rừng Việt Nam với hàng nghìn loài Một công trình rất có giá trị nghiên cứu đa dạng thực vật là bộ sách Thực vật chí Việt Nam đã xuất bản được 11 tập, Phan Kế Lộc (1998) nghiên cứu kiểm kê về tính đa dạng hệ thực vật Việt Nam về thành phần loài Một số chuyên khảo về các taxon như

A Schuiteman & E F de Vogel (2000) về họ Lan ở Đông Dương; L V

Trang 13

Averyanov (1994) về họ Lan ở Việt Nam; N N Thìn (1995, 1999, 2007) về

họ Thầu dầu ở Việt Nam

Cùng với những công trình mang tính chất chung về taxon hay vùng lãnh thổ cả nước, còn rất nhiều công trình về kết quả nghiên cứu Đa dạng thực vật của mỗi khu vực và các Khu bảo tồn (Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên, ) được nghiên cứu hoặc công bố Có thể kể đến như đa dạng thực vật các Vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình), Hoàng Liên – Sa Pa (Lào Cai),

Ba Bể (Bắc Kạn), Cát Bà (Hải Phòng), Pù Mát (Nghệ An), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Cát Tiên (Đồng Nai), Yok Đôn (Đắk Lắk), Xuân Sơn (Phú Thọ), Bạch Mã (Thừa Thiên -Huế), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Mũi Cà Mau (Cà Mau), Đa dạng thực vật các Khu bảo tồn nhiên nhiên Khau Ca (Hà Giang), Na Hang (Tuyên Quang), Chạm Chu (Tuyên Quang), Hữu Liên (Lạng Sơn), Pù Huống (Nghệ An), Yên Tử (Quảng Ninh) Các khu vực Tây Bắc; vùng núi đá vôi Hoà Bình, Sơn La; vùng ven biển Phong Điền (Thừa Thiên -Huế); Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh

Bên cạnh những công trình là các bài báo, sách chuyên khảo, các hội thảo trong nước và quốc tế như nói trên, nghiên cứu đa dạng thực vật còn thể hiện

ở bộ mẫu thực vật được điều tra thu thập bảo quản bền vững lâu dài ở các Phòng tiêu bản Ở Việt Nam, một số Phòng tiêu bản thực vật lưu trữ bảo quản trưng bày giới thiệu về đa đạng thực vật nước ta như ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN) với khoảng gần 1 triệu mẫu tiêu bản, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU) với khoảng vài trăm nghìn mẫu triệu mẫu, Viện Sinh học nhiệt đới (HM, VNM) có khoảng 500 nghìn mẫu và các bảo tàng của các VQG Cúc Phương, Pù Mát

1.2 Lƣợc sử nghiên cứu chi Mận rừng (Rhamnus L.)

1.2.1 Trên thế giới

Trang 14

Chi Mận rừng (Rhamnus L.) được C Linneaus chính thức công bố năm

1753, ông đã mô tả các loài thuộc chi Rhamnus là: R alaternus, R cathartica,

R frangula, R jujuba, R oenopolia, R paliurus, R spina-christi, R zizyphus

Năm 1874, J Lindsay Stewart nghiên cứu thực vật Tây-Bắc và Trung

Ấn Độ đã công bố kết quả nghiên cứu các loài thuộc chi Rhamnus L và xếp

chi này vào họ Rhamnaceae, bộ Rhamneae Ông đã xây dựng khóa định loại,

mô tả một số đặc điểm sinh học và phân bố cho 4 loài thuộc chi Rhamnus L ở Tây-Bắc và Trung Ấn Độ đó là: R purpureus, R triquetrus, R virgatus, R

persicus

Năm 1875, J D Hooker nghiên cứu về thực vật ở Ấn Độ, đã mô tả đặc điểm về loài thuộc chi Rhmanus L Trong công trình này, ông xếp chi

Rhamnus vào tông Rhamneae thuộc họ Rhamneae Ngoài ra, ông đã mô tả

đặc điểm về chi Rhamnus L với các loài là: R arnottianus, R persiuos, R

dahuriuos, R wightii, R purureus, R tricusten, R nipalensis, R procumens

C A Backer (1965) khi nghiên cứu hệ thực vật tại đảo Java,

In-đô-nê-xi-a đã xếp chi Rhamnus L vào họ Rhamnaceae và ghi nhận 1 loài thuộc chi

Rhamnus L là R napalensis Laws

Chen Yi-lin (1972), khi nghiên cứu về họ táo, ông đã mô tả và xây dựng khóa định loại của các loài thuộc 2 phân chi là chi Rhamnus subg

Frangula và chi Rhamnus subg Rhamnus Trong đó có 7 loài thuộc phân

chi Rhamnus subg Frangula, 57 loài thuộc chi Rhamnus subg Rhamnus

Ngoài ra dựa trên các đặc điểm cơ quan chủ yếu là thân, lá, lá đài hoa, bộ

nhụy, quả xếp chi Rhamnus L.vào tông Rhamneae thuộc họ Rhamnaeae

Trong công trình này, ông đã lập khóa phân loại mô tả các đặc điểm của tất cả

các loài và kèm theo hình vẽ của các loài thuộc chi Rhamnus L có phân bố ở

Trung Quốc Công trình này được Chen Yilin; Carsten Schirarend dịch sang

Trang 15

tiếng anh và công bố trong “ Flora of China” (2007)

Năm 1993, trong thực vật của đài loan, các tác giả Liu, Yeh-Ching, Lu, Fu-Yuen, Ou, Chern-Hsiung và Wang, Chiou-Meei Họ đã nghiên cứu và mô

tả đặc điểm của các loài thuộc chi Rhamnus đó là R chingshuiensis, R

crenata, R formosana, R kanagusuki, R nakaharae, R parvifolia, R pilushanensis

1.2.2 Ở Việt Nam

Người đầu tiên nghiên cứu các loài thuộc chi Mận rừng ở Việt Nam là Pitard C J Năm 1912, ông đã mô tả và công bố các loài thuộc chi Mận rừng trong hệ thực vật Đông Dương, trong đó có Việt Nam đó là Rhamnus

cambodianus Piere, R nipalensis Wall., R tonkinensis Pitard

Đến năm 1950, Tardieu trong công trình Bổ sung thực vật chí Đại cương Đông Dương đã xây dựng khóa định loại, mô tả và phân bố 7 loài

thuộc chi Rhamnus L Trong đó, có 6 loài ở Việt Nam gồm: R nepalensis var Tonkinensis Tard, R bodinieri Léveillé, R griseus Merrill, R crenatus Sieb

Et Zucc, R longipes Merrill et Chun, R utilis Decs

Phạm Hoàng Hộ là người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu chi Mận rừng

Miền Nam Việt Nam Năm 1972, có một loài được ông công bố đó là

Rhamnus crenatus Sieb & Zucc var cabodianum Lê Khả Kế 1973 cũng là

những người đầu tiên nghiên cứu chi Rhamnus L ở Miền Bắc Việt Nam, các loài ông nghiên cứu được đó là R crenata Sieb et Zucc., R nipalensis Wall var tonkinensis Tard., được công bố vào năm 1973 Năm 1992, Phạm Hoàng

Hộ đã mô tả vắn tắt các dặc điểm hình thái, đặc điểm sinh thái, phân bố và có

hình vẽ sơ bộ các loài thuộc chi Rhamnus L phân bố Việt Nam đó là R

bodinieri Lévl, R crenatus Sieb & Zucc var cambodiaum, R crenatus var parvifolius, R crenatus var oreigenes, R hainanensis Merr & Chun., R

Trang 16

henryi Schneid, R longipes Merr & Chun., R nepalensis Laws., R subpetalus

Merr., R utilis DC Công trình này được tái bản vào năm 2000 Đây được coi

là tài liệu phân loại thực vật chi Rhamnus L ở Việt Nam có giá trị nhất tới

thời điểm này

Năm 2003 trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tác giả Nguyễn Tiến Bân đã lập danh lục 9 loài thuộc chi Rhmanus L hiện biết ở

Việt Nam Ông đã cung cấp một số dẫn liệu dạng sống, vùng phân bố, sinh thái và giá trị tài nguyên các loài trong chi này ở Việt Nam

Ngoài ra, còn một số các tác giả khác nghiên cứu giá trị của các loài thuộc

chi Rhamnus L ở Việt Nam như Võ Văn Chi (1997) “Từ điển cây thuốc Việt

Nam”, Đỗ Tất lợi (2004) “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Đỗ Huy

Bích (2004) “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” và nhiều các tác

giả và công trình công bố khác Các tác giả không có những dẫn liệu bổ sung

về mặt Thực vật học nhưng đã cung cấp thông tin về giá trị sử dụng của các

loài thuộc chi Rhamnus L ở Việt Nam

Trang 17

Chương 2 Đối tượng, Phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam, thông qua các

mẫu vật nghiên cứu, các tài liệu

+ Tài liệu: Các tài liệu liên quan đến chi Mận rừng (Rhamnus L.) trên

thế giới và của Việt Nam, đặc biệt là các tài liệu chuyên khảo về phân loại

+ Mẫu vật: Các mẫu thực vật thuộc chi Mận rừng ở Việt Nam, hiện

đang lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN); phòng Tiêu bản thực vật, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội (HNU), phòng Tiêu bản thực vật, Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM) và các mẫu vật tươi sống được thu thập từ thực địa Bên cạnh đó, tham khảo các thông tin về mẫu vật ở một

số Bảo tàng Thực vật trong và ngoài nước

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Được thực hiện chủ tại Bảo tàng thực vật, Phòng Thực vật, Viện Sinh thái & TNSV và Khoa Sinh – KTNN, Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016

2.4 Nội dung nghiên cứu

Phân tích các hệ thống phân loại chi Mận rừng (Rhamnus L.) trên thế

giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp các loài thuộc chi Mận rừng

ở Việt Nam

Thu thập, tìm hiểu, phân tích mẫu vật

Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Mận rừng ở Việt Nam

Trang 18

Xây dựng khóa định loại các loài thuộc chi Mận rừng ở Việt Nam Tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Mận rừng ở Việt Nam

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa

Kế thừa các kết quả nghiên cứu về hệ thống, phân loại, tài nguyên và

sinh học phân tử liên quan đến chi Mận rừng (Rhamnus L.) trên thế giới và ở

Việt Nam từ trước đến nay

Phương pháp so sánh hình thái

Để phân loại chi Mận rừng (Rhamnus L.), chúng tôi sử dụng phương

pháp hình so sánh Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của

nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây cây trưởng thành, nụ so với nụ, hoa so sánh với hoa, …)

Khóa định loại được xây dựng theo kiểu khóa lưỡng phân

Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp (thu thập và xử lý mẫu vật) và nội nghiệp (phân tích, mô tả đặc điểm hình thái và hoàn thiện luận văn)

Ngoại nghiệp

Chọn mẫu: Chọn những mẫu tiêu biểu và đầy đủ các phần như thân,

cành, lá, cơ quan sinh sản là hoa hoặc quả và có đủ trữ lượng theo yêu cầu

Trang 19

Chụp ảnh mẫu: Đây là việc làm rất quan trọng, giúp lưu giữ lại hình

ảnh của mẫu phục vụ cho những nghiên cứu phân loại cũng như bảo quản mẫu sau này Ảnh cần phải đảm bảo các yêu cầu: Quan sát được mẫu tươi một cách đầy đủ và tự nhiên; Hình ảnh hiển thị được toàn bộ các bộ phận của cây; Chụp lại toàn bộ những đặc điểm bất thường, đặc biệt, khác biệt

Nhãn (lý lịch mẫu): bao gồm những thông tin sau:

Số hiệu mẫu (bắt buộc): Số hiệu này được gắn liền với mẫu vật liên tục

trong suốt quá trình thực hiện bảo quản và lưu giữ bộ sưu tập Nó được ví như

số Chứng minh nhân dân của con người Số hiệu mẫu cũng xuất hiện trên bất

kỳ trích dẫn nào của mẫu vật

Tên người thu mẫu: ghi lại đây đủ tên của tất cả những người tham gia

thu thập được mẫu đó

Ngày, tháng, năm thu mẫu: Ghi lại ngày thu mẫu

Đặc điểm hình thái của mẫu: hình dạng, kích thước, màu sắc tự nhiên

của cơ quan sinh dưỡng, cơ quan sinh sản (nếu có) v.v

Đặc điểm sinh thái nơi thu mẫu: kiểu thảm thực vật, đất mẹ, hướng

phơi, độ rốc v.v

Địa điểm thu mẫu: vùng miền, tỉnh, huyện, xã, tuyến điều tra, ô định

vị ; định vị tọa độ, độ cao địa điểm thu mẫu bằng GPS

Một số lưu ý khi viết nhãn: Khi ghi nhãn phải dùng bút chì mềm hoặc bút viết không bị tan trong nước, cồn hoặc các dung dịch bảo quản mẫu, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực tan trong nước hoặc dung dịch bảo quản mẫu để tránh bị mất thông tin khi ngâm tẩm về sau Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu, các thông tin khác sẽ ghi vào sổ riêng hoặc ghi phiếu mô tả.Các ghi chú nhất thiết phải được hoàn thiện trước khi mẫu vật được xử lý

Trang 20

Ghi nhật ký mẫu: Dùng bút chì hoặc bút bi mực (loại mực không tan

trong nước và cồn) ghi chép lại đầy đủ các thông tin về mẫu vật như: số hiệu mẫu, số lượng mẫu thu, địa điểm thu hái mẫu, các đặc điểm sinh học, sinh thái và điều kiện sống của mẫu, ngày tháng thu hái mẫu, giới tính mẫu

Ép mẫu: Đối với mẫu tiêu bản đối chứng, tùy theo kích thước của từng

mẫu chọn những cỡ giấy thích hợp để ép mẫu Thông thường giấy được sử dụng để ép mẫu là giấy báo, mỗi mẫu được ép giữa 2 lượt báo, mỗi kẹp mẫu thường ép từ 15-20 tiêu bản Ở một số bảo tàng thường sử dụng tấm nhôm mỏng có các gờ lượn sóng để kẹp thêm vào giữa các lớp báo nhằm tạo điều kiện bốc hơi nhanh và làm phẳng mẫu khi sấy Kẹp dùng để ép mẫu có thể dùng kẹp gỗ hoặc kim loại, kích thước của kẹp ép mẫu thường có kích cỡ 28,5x42 cm2

Làm khô mẫu: Mẫu sau khi thu có thể được làm khô bằng cách phơi

nắng hoặc sấy Mẫu thường được sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 40-500C Lưu ý trong suốt quá trình phơi sấy mẫu, cứ 1-2 ngày phải kiểm tra, nhằm mục đích cho mẫu nhanh khô và chỉnh sửa mẫu nếu cần thiết

Hoàn thiện mẫu tiêu bản: Mẫu sau khi đã khô, tẩm độc (nếu có) được cố

định hoặc khâu trên giấy mẫu của bảo tàng-giấy Crôki (loại giấy không axit), có

đủ độ dai và cứng cần thiết Kích thước khổ giấy thường sử dụng ở Việt Nam là 28,5x42 cm2

Mẫu sau khi được khâu hoặc cố định trên giấy phải được dán hoặc kèm theo phiếu định tên khoa học (kích thước 7x10 cm2), với đầy đủ các thông tin về mẫu như trong nhật ký mẫu Thông tin bao gồm: tên và ký hiệu bảo tàng (có thể bằng tiếng Việt, tiếng Anh hoặc Latin ), số hiệu mẫu, tên khoa học (tên họ, tên loài ghi đầy đủ cả tên tác giả), tên Việt Nam (bao gồm cả tên phổ thông và tên địa phương), nơi thu mẫu, người thu mẫu, ngày thu mẫu, một số đặc điểm nơi

Trang 21

thu mẫu, một số đặc điểm mẫu khi thu , người giám định, ngày giám định Sau

đó, mẫu được bàn giao cho Ban chủ nhiệm đề tài

Sắp xếp mẫu trong bảo tàng: Mỗi mẫu tiêu bản sau khi hoàn thiện được

bọc trong một tờ báo, một số tiêu bản (thường cùng số hiệu) được xếp chung trong một tờ bìa cứng có ghi nhãn định tên cho tiêu bản ở bên ngoài (bìa cũng thường sử dụng giấy không axit)

Các mẫu tiêu bản được phân chia đến các bậc phân loại, sắp xếp vào các vị trí phân loại của mình và được xếp vào các vị trí đã được xác định trong Bảo tàng Thông thường mỗi bảo tàng sử dụng một hệ thống phân loại khác nhau để phục vụ cho việc phân chia và sắp xếp mẫu vật Ở Phòng tiêu bản thực vật - Viện Sinh thái & TNSV (HN) sử dụng hệ thống của Takhtajan Các mẫu vật trong mỗi họ thường được sắp xếp theo vần A, B, C

Xây dựng khóa định loại chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam

Mô tả hình thái: Thân (kiểu thân, chiều cao, đường kính, đặc điểm vỏ thân, đặc điểm cành non…); Lá và lá kèm (kiểu hình thái lá, cách mọc, hình dạng, kích thước, đặc điểm cuống lá, mép lá, gân lá, các đặc điểm đặc biệt khác như lông, lá kèm…); Cụm hoa (kiểu cụm hoa, kích thước, và các đặc

Trang 22

điểm khác như lông, ); Hoa (kiểu giới tính của hoa, mẫu, cấu tạo đài, tràng, nhị, nhụy…); Cụm quả ( kiểu cụm quả, kích thước, và các đặc điểm khác ); Quả ( hình dạng, kích thước, màu sắc, và các đặc điểm khác ); Hạt (hình dạng, kích thước, mặt cắt ngang của hạt, )

Tìm hiểu thông tin mẫu chuẩn (typus), vùng phân bố, trích dẫn mẫu nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm sinh học-sinh thái và giá trị sử dụng của các loài

Trang 23

Chương 3 Kết quả và thảo luận

3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt

Nam

Theo hệ thống phân loại của Menchior in Engler’s System (1964), chi

Rhamnus L bao gồm cả Frangula và Oreoherzogia thuộc tông Rhamneae, họ

Rhamnaceae, bộ Rhamnales, lớp Dicotyledoneae

Theo hệ thống của A Takhtajan (2009), chi Rhamnus L bao gồm cả

Frangula thuộc tông Rhamneae, phân họ Paliureae, họ Rhamnaceae, bộ

Rhamnales, liên bộ Rhamnanae, phân lớp Rosidae, lớp Magnoliopsida

Để phân loại chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt Nam, chúng tôi theo quan điểm của 2 tác giả trên, chi Rhamnus L (bao gồm cả Frangula) thuộc họ

3.2.2 Lá

Các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L) ở Việt Nam đều có lá đơn, mọc cách; phiến lá hình bầu dục, mép có răng cưa (R napalensis, R utilis, R

longipes) hoặc mép nguyên (R bodinieri, R henryi), một số có phiến hình

thuôn nhọn, mép có răng mịn (R crenata) hay mép nguyên (R grisea) và

Trang 24

hình elip (R hainanensis) Gốc lá tròn hoặc tù, mũi nhọn, một số gốc có hình nêm (R heryi) Lá kèm nhỏ, mọc thành đôi ở gốc lá, hình kim, sớm rụng

3.2.3 Cụm hoa và hoa

Cụm hoa dạng xim nhiều ngả, mọc ở nách lá hoặc đầu cành (R henryi,

R hainanensis, R crenata, R bodinieri ) hay dạng tán ở nách lá (R longipes)

Hoa đơn tính, mẫu 5, cuống dài 2-3 (mm), thường có màu vàng xanh

(R napalensis, R bodinieri, R hainanensis, R subapetala); Nhị 5, ngắn hơn

hoa, bao phấn hình tim, đĩa mật mỏng, bầu hình cầu, vòi nhụy ngắn, trẻ đôi từ

giữa ( R napanensis); hoa đực có vòi nhụy ngắn, hoa cái nhỏ, bầu nhụy dạng hình cầu, 3 ô (R bodinieri), cuống hoa phủ lông măng (R hainanensis) Hoa

mẫu 4, cánh hoa nhỏ hơn đài, hoa đực có 4 nhị, hoa cái có bầu hình cầu, vòi

nhụy xẻ đôi (R utilis)

Hoa lưỡng tính, mẫu 5, cuống hoa dài; đài hình chén, mép xẻ 5 cánh nhọn; nhị 5, đối diện với cánh hoa; đĩa mật mảnh; bao phấn hình trứng; bầu

dính với triền ( R crenata, R henryi, R longipes); cánh hoa nhỏ, dạng xoan, nhụy 5, gắn trước cánh hoa, noãn sào không lông (R crenata var parvifolia); cuống dài, mép có 5 cánh hình tam giác (R longipes)

3.2.4 Quả

Quả hạch, gần hình tim đến hình cầu, khi chín màu đỏ hoặc hơi đen,

mang đài tồn tại, mặt dưới hạt có rãnh kéo dài (R bodinieri, R subapetala) có lông (R henryi) hay nhẵn (R grisea) Hạt 2-3 màu đen bóng

Rhamnus L – Chi Mận rừng

L 1753 Sp Pl 1: 193; Wall 1875 Fl Brit Ind 1(3): 638-640; Pitard 1912

Fl Gen Indoch 1: 926-927; Tardieu-Blot 1950 Suppl Fl Gen Indoch 1: 835-839; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2: 447-449; N T Ban 2003

Trang 25

Checkl Pl Sp Vietn 2: 1140; Chen Yilin & Carsten Schirarend 2007 Fl China 12 : 139

Cây gỗ hoặc cây bụi; có gai hoặc không; cành non phủ lông tơ hoặc lông măng, cành già thường nhẵn hoặc có ít lông, màu nâu xám khi khô Lá đơn, mọc cách, đối hoặc tập hợp dạng vòng ở đỉnh chồi; phiến lá có hình bầu dục hoặc thuôn hình trái xoan, gân bên lông chim Cụm hoa dạng xim Hoa đơn tính hoặc lưỡng tính Bao hoa mẫu 4-5 Đài 4-5, hợp ở gốc Tràng 4-5 Nhị 4-5, đối diện cánh hoa Đĩa mật quanh gốc bầu Bầu trên, 3 ô Quả hạch, hình cầu Hạt 2-3

Type: Rhamnus cathartica L (LT) designated by N L Britton & A

Brown (1913), Ill Fl N.U.S ed 2 2: 502

Trên thế giới có khoảng 150 loài, phân bố chủ yếu ở Đông Á, Bắc Mỹ, một số loài ở Bắc Phi, và châu Âu Ở Việt Nam hiện ghi nhận có 9 loài

3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt

Nam

1A Hoa lưỡng tính, bao hoa mẫu 5 Rhamnus subgen Frangula 2A Mép lá có răng cưa hoặc gần như nguyên; vòi nhụy xẻ 3 1 R henryi

2B Mép lá nguyên; vòi nhụy nguyên hoặc có 2-3 thùy

3A Mặt dưới lá phủ lông tơ hay lông măng dày, cuống lá phủ lông tơ dày;

vòi nhụy nguyên 2 R crenata

3B Mặt dưới lá không có lông hay chỉ có lông trên gân, cuống lá nhẵn hay

có lông măng thưa; vòi nhụy có 2-3 thùy

4A Cuống cụm hoa dài hơn 1.5 (cm) 3 R longipes 4B Cuống cụm hoa ngắn hơn 1 (cm) 4 R grisea

Trang 26

1B Hoa đơn tính và cây đơn tính khác gốc; bao hoa mẫu 4

Rhamnus subgen Rhamnus

5A Cây không có chồi rút ngắn thành gai, lá mọc cách

6A Hoa ít, mọc đơn độc hay thành cụm 2-6 hoa ở nách lá 5 R bodinieri

6B Hoa nhiều, cụm hoa dạng xim hay chùy ở nách lá hay đỉnh cành

7A Cụm hoa với nhiều lá bắc dạng lá tồn tại; mặt bụng của hạt có rãnh

ngắn bằng 1/2 độ dài của hạt .6 R hainanensis

7B Cụm hoa có lá bắc sớm rụng; mặt bụng của hạt hạt có rãnh dài hơn

1/2 độ dài của hạt

8A Phiến lá hình bầu dục hay hình trứng rộng; cành non và cụm hoa

phủ lông măng; cụm hoa thường dài hơn 5 cm 7 R nepalensis

8B Phiến lá hình bầu dục hay trứng thuôn; cành non và cụm hoa nhẵn;

cụm hoa ngắn hơn 5 (cm) 8 R subapetala

5B Cây có chồi rút ngắn thành gai; lá mọc đối hay mọc chụm gần như vòng

trên chồi ngắn 9 R utilis

3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Mận rừng (Rhamnus L.) ở Việt

Nam

Rhamnus subg Frangula (Miller) S F Gray

S F Gray, 1821 Nat Arr Brit Pl 2: 621

Frangula Miller, Gard Dict Abr., ed 4 1754

Cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, không có chồi rút ngắn thành gai Lá đơn, mọc

cách Cụm hoa xim nhiều ngả ở nách lá hoặc đầu cành Hoa lưỡng tính, bao

hoa mẫu 5 Đài hình chén, mép có 5 cánh Cánh hoa 5 Nhị 5, đối diện với

cánh hoa Bầu trên, dính với triền ở gốc

Trang 27

Type: Frangula alnus Mill (LT), theo J J Swart (1965), ING card

21073

Trên thế giới có khoảng 50 loài, phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ, Bắc Phi, Đông Á và châu Âu Ở Việt Nam hiện ghi nhận có 4 loài

3.4.1 Rhamnus henryi Schneid – Mận rừng henryi

Schneid 1914 Pl Wilson 2(1) 244; Phamh 2000 Illustr Fl Vietn 2 448;

N T Bân 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2 1139; Chen Yilin & Carsten Schirarend, 2007 Fl China, 44 : 142

Cây gỗ nhỏ, cao 3-10 m; cành non, cụm hoa, cuống lá và mặt dưới lá

có lông mịn Lá đơn, mọc cách; phiến lá hình bầu dục, dài 7-19 (cm), rộng

3-8 (cm); gốc lá hình nêm, chóp có mũi nhọn, mép nguyên, gân bên 3-8-13 đôi; cuống lá 1-3,5 (cm), lá kèm nhỏ, sớm rụng Cụm hoa xim nhiều ngả ở nách lá hoặc đầu cành, cuống cụm hoa ngắn hơn cuống lá Hoa mẫu 5 Đài hình chén, mép có 5 cách hình tam giác, mặt ngoài có lông Cánh hoa 5 Nhị 5, đối diện với cánh hoa Bầu dính với triền ở phía dưới Quả hạch hình cầu, hơi dẹt, cao

5 (mm), có lông Hạt 2-3

Loc Class: China (Yunnan) Typus: A Henry 9185 (MO) Sinh học và sinh thái: Ra hoa tháng 5-6, có quả tháng 7-10 Mọc rải

rác trong rừng thưa hay ở ven rừng

Phân bố ở Việt Nam: Sa Pa (Lào Cai)

Phân bố trên thế giới: Trung Quốc

3.4.2 Rhamnus crenata Sieb & Zuce – Mận rừng

Sieb & Zuce 1845 Abh Math.-Phys Cl Koxnigl Bayer Akad Wiss 4(2): 146; Tardieu-Blot 1950 Suppl Fl Gen Indoch 1: 838; N T Bân 2003

Ngày đăng: 22/02/2017, 16:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Bentham G. & Hooker J. D. (1862), Genara Plantanum, 1, pp. 377, Londini Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genara Plantanum
22. Jussieu (1789), Genera plantarum, pp. 376 – 380, Parissiis. Tiếng Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Genera plantarum
23. Pitard C. J. (1912), Flora G n rale de L’Indo-Chine, 1, pp. 926-928, Masson et C 1e , Pari Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora G n rale de L’Indo-Chine
Tác giả: Pitard C. J
Năm: 1912
24. Tardieu (1946), Supplement a la flore generale de l’Indo-Chine, 12, pp. 835 – 839, Londini.Tiếng Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Supplement a la flore generale de l’Indo-Chine
Tác giả: Tardieu
Năm: 1946
25. Chen Yi-ling & Cho Pan-kai (1982), Flora Reipublicae Popularis Sincae, pp. 19-88, Science Press, Bijing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora Reipublicae Popularis Sincae
Tác giả: Chen Yi-ling & Cho Pan-kai
Năm: 1982
26. South-western Forestry College Forestry Department of Yunnan Province (1991), Iconographia Arbororum Yunnanicorum, 3, pp. 530, Yunnan Science and Technology Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iconographia Arbororum Yunnanicorum
Tác giả: South-western Forestry College Forestry Department of Yunnan Province
Năm: 1991
27. Lu F. Y. (1993), Flora of Taiwan, 3, tr. 687-691, The Edidtorial Committee Of The Flora of Taiwan- Dpartment of Botany – National Taiwan University, Taipei.Tài liệu trên Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Flora of Taiwan
Tác giả: Lu F. Y
Năm: 1993

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5: Rhamnus bodinieri H. Léveillé - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 5 Rhamnus bodinieri H. Léveillé (Trang 47)
Hình 1: Rhamnus henryi C. K. Schneider. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 1 Rhamnus henryi C. K. Schneider (Trang 49)
Hình 3: Rhamnus longipes Merrill & Chun - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 3 Rhamnus longipes Merrill & Chun (Trang 50)
Hình 5: Rhamnus nepalensis (Wallich) M. A. Lawson - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 5 Rhamnus nepalensis (Wallich) M. A. Lawson (Trang 51)
Hình 8: Rhamnus nepalensis (Wallich) M. A. Lawson. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 8 Rhamnus nepalensis (Wallich) M. A. Lawson (Trang 52)
Hình 9: Rhamnus subapetala Merrill - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 9 Rhamnus subapetala Merrill (Trang 53)
Hình 8: Rhamnus utilis Decs. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 8 Rhamnus utilis Decs (Trang 54)
Hình 4: Rhamnus grisea Merr. - Bước đầu nghiên cứu phân loại chi mận rừng (rhamnus l  ) ở việt nam
Hình 4 Rhamnus grisea Merr (Trang 55)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w