ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thoa la Reevesia Lindl..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI THOA LOA (REEVESIA LINDL.)
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG ANH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI THOA LOA (REEVESIA LINDL.)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến thầy
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Đỗ Thị Xuyến, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN, tập thể cán bộ Phòng Thực vật – Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn tới tập thể cán bộ thuộc Phòng tiêu bản thực vật – Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội; Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 8 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận tôi xin cam đoan: Khóa
luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở
Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được sự hướng dẫn của
TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố ở bất kì công trình nào trước đây
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 8 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN TRANG LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu 2
Chương 2: Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu 6
2.2 Phạm vi nghiên cứu 6
2.3 Thời gian nghiên cứu 6
2.4 Phương pháp nghiên cứu 6
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 3.1 Hệ thống phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam 10
3.2 Đặc điểm phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam 10
3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam 14
3.4 Reesia gagnepainiana 17
3.5 Reevesia macrocapar 20
3.6Reevesia orbiculare 22
3.7 Reevesia pubescent 25
3.8 Reevesia thyrsoidea 29
3.9 Reeveisa yersinii 33
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 6MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng.Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Việc phân loại cây cối, làm sáng tỏ các mối quan hệ thân thuộc giữa chúng, không những có tầm quan trọng về lí thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, góp phần vào cải tạo sử dụng những cây có lợi, hạn chế và kiểm soát các cây
có hại Phân loại thực vật một cách chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan
Chi Thoa la (Reevesia Lindl.) còn gọi là Trường hùng thuộc họ Trôm
(Sterculiaceae) Ở Việt Nam, chi này tuy có số loài không lớn, nhưng chúng đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh, thứ sinh nơi chúng có mặt Trong dân gian có loài được sử dụng để đóng đồ dùng, cho gỗ xây dựng nhà cửa, cho sợi và hạt có tinh dầu có thể đốt được Cho nên bên cạnh giá trị về khoa học chi này còn có giá trị về kinh tế
Để chuẩn bị cho nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Thoa
la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận
biết các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Bước
đầu nghiên cứu phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Thoa la (Reevesia Lind.) ở
Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Trôm (Sterculiaceae), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí ở Việt Nam về họ Trôm ở Việt Nam, bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại Thực vật và cơ sở cho những nghiên cứu sau này về
chi Thoa la (Reevesia Lind.) ở Việt Nam
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ cho các ngành ứng dụng vào sản xuất lâm nghiệp, sinh thái và tài nguyên sinh vật…
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TRÊN THẾ GIỚI
Chi Thoa la (Reevesia) trên thế giới có khoảng 25 loài được phân bố ở
khắp nơi nhưng chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [28]
Vào năm 1827, Lindley mới chính thức công bố chi Thoa La với tên
gọi là Reevesia với typus là loài Reevesia thyrsoidea Lind và được xếp vào
họ Trôm (Sterculiaceae) Sau khi chi Thoa La (Reevesia Lindl.) được công
bố, một số tác giả đã nghiên cứu công bố một số loài thuộc chi này như:
- Vào năm 1862, trong công trình “Genera plantarum” của tập thể tác
giả G Bentham & J D Hooker đã xây dựng khóa định loại đến chi của họ
Sterculiaceae và xếp chi Thoa La (Reevesia Lindl.) vào họ này Trong công trình trên chi Thoa La (Reevesia Lindl.) được phân biệt với các chi khác nhờ
đặc điểm bầu 2 ô, chỉ nhị tách rời [16]
- J D Hooker, trong công trình “Flora of British India” xuất bản năm
1875 đã xây dựng khóa định loại cho các loài thuộc chi Thoa la
(Reevesia Lindl.) trên lãnh thổ Ấn Độ, và xếp chi vào họ Sterculiaceae với
đặc điểm phân biệt với các chi khác là bao phấn không cuống
- Trong công trình "Iconographia cormophytorum sinicorum" (1972)
của nhiều tác giả có ghi nhận 4 loài thuộc lãnh thổ Trung Quốc là
Reeesia thyrsoidea, Reeesia longipetiolata, Reeesia pubescens, Reeesia rotudifolia Tập thể tác giả đã mô tả đặc điểm hình thái và có ảnh minh họa
cho các loài ghi nhận trên
- W Y Chun và C C Chang vào năm 1965 trong “Flora Hainanica”
đã mô tả 5 loài có ở đảo Hải Nam của Trung Quốc là: Reeesia botingensis, Reeesia longipetiolata, Reeesia lancifolia, Reeesia thyrsoidea, Reeesia pubescens
- Khi nghiên cứu các họ thực vật có hoa trên thế giới trong công trình
“Những họ thực vật có hoa" (1975) , tác giả L Hutchinson (do Nguyễn
Trang 8Thạch Bích và cộng sự dịch) đã nhắc đến và miêu tả loài Reeesia thyrsoidea thuộc chi Reeesia Tác giả cũng xếp chi Reeesia vào họ Sterculiaceae
- Feng Kou-mei (1984) trong “Flora of Reipublicae Popularis Sinicae” đã xếp chi Reeesia vào họ Sterculiaceae, đã ghi nhận chi Thoa
la ở Trung Quốc có 14 loài là Reeesia shangszeensis, Reeesia lancifolia, Reeesia pycnantha, Reeesia thyrsoidea, Reeesia longipetiolata, Reeesia orbicularifolia, Reeesia rotundifolia, Reeesia glaucophylla, Reeesia tomentosa, Reeesia rubronervia, Reeesia pubescens, Reeesia botingensis, Reeesia lofouensis, Reeesia formosana Tác giả đã xây dựng bản mô tả chi,
khóa định loài cho các loài thuộc chi và mô tả các loài ghi nhận được cùng một số hình ảnh minh họa Về sau, công trình này được tái bản và bổ sung
vào năm 2008 (bằng tiếng Anh) với tên gọi “Flora of china” cùng cộng sự
Chen Jiarui, các tác giả đã bổ sung thêm 1 loài nữa là Reeesia lumlingensis Đưa tổng số loài của chi Reeesia ở Trung Quốc lên 15 loài
- Năm 1987 tác giả Armen Takhtajan trong công trình “Systema Magnoliophytorum” đã xếp chi Reeesia vào họ Sterculiaceae Vị trí này được tác giả khẳng định lại trong công trình “Diversity and classification of flowering plant” (1996) “Plowering plants” (2009)
- Trong công trình “ Flora of Guang Dong” xuất bản năm 1990
của tác giả Chen-Fenghuwai đã miêu tả đặc điểm của 8 loài thuộc chi
Reeesia có ở tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc là Reeesia botingensis, Reeesia glaucophylla, Reeesia lancifolia, Reeesia tomentosa, Reeesia pubescens, Reeesia tomentosa, Reeesia thyrsoidea và đáng lưu ý là công trình này đã ghi nhận một loài mới là Reeesia lofouensis
- T S Liu, H C Lo (1993) trong công trình “Flora of Taiwan"
đã mô tả 1 loài thuộc thi Reeesia có ở đảo Đài Loan là Reeesia formosana,
đã xếp chi Reeesia vào họ Sterculiaceae Trong công trình này tác giả đã mô
tả các đặc điểm của chi Reeesia và đặc điểm nhận biết của loài R formosana
Trang 9- C Phengklai vào năm 2001 trong “Flora of Thailand” đã ghi
nhận chi Reeesia ở Thái Lan có 1 loài là Reeesia pubescens Trong công trình này, tác giả đã xếp chi Reeesia vào họ Sterculiaceae, mô tả đặc điểm của loài Reeesia pubescens cây gỗ nhỏ, lá đơn, hoa lưỡng tính, 5 lá đài, 5
cánh hoa, nhị từ 10 đến 15, bầu thuôn, 5 ô, mỗi ô 2 noãn, quả nang, hạt dài
có cánh Bên cạnh đó tác giả còn cung cấp thêm thông tin về đặc điểm sinh học và phân bố của loài
C Bayer & K Kubizki (2003) đã đưa ra quan điểm chi Reeesia Lindl thuộc phân họ Sterculioideae thuộc họ Bông (Malvaceae s.l.) Đây là quan
điểm mới với sự kết hợp của các đặc điểm về hình thái học và sinh học phân
tử Tuy thế, chính tác giả cũng công nhận còn một số taxon thuộc họ
Malvaceae s.l hiện chưa rõ nên xếp vào vị trí nào như chi Muntingia Do đó, quan điểm chi Reeesia Lindl thuộc họ Malvaceae theo nghĩa rộng vẫn chưa
được nhiều tác giả nghiên cứu về sau này ứng dụng để sắp xếp các taxon thuộc họ Sterculiaceae và họ Malvaceae s.l [15]
1.2 Ở Việt Nam
- Ở nước ta, chi Reeesia được quan tâm từ khá sớm Trong công trình
“Flore Forestiére de la Cochinchine” được xuất bản năm 1888 của tác
giả L Pierre, tác giả đã mô tả đặc điểm của 1 loài trong chi Reevesia là Reevesia pubescens, đáng lưu ý là hình vẽ của loài cùng đặc điểm quan trọng là đài và trục nhị nhụy được tác giả trình bày Tác giả đã ghi nhận khu vực miền nam Việt Nam khi đó chỉ có 1 loài và đã xếp chi Reeesia vào họ
Sterculiaceae
- H Lecomte trong công trình „Flore Gtenerale de L'indo-Chine’’
xuất bản năm 1910 đã miêu tả đặc điểm của chi Reeesia Lindl và đặc điểm hình thái của 1 loài trong chi Reeesia Lindl là loài Reeesia thyrsoidea, tác giả cũng xếp chi Reeesia Lindl vào họ Sterculiaceae
- Vào năm 1945, Tardieu Blot trong „Supplément flore générale de L’Indo-Chine’ đã mô tả 6 loài thuộc chi Reeesia Lindl là Reeesia ganepainiana, Reeesia orbiculare, Reeesia thysodia, Reeesia siamensis, Reeesia pubescens, Reeesia yersinii với đặc điểm đài xẻ 3 hoặc 5 thùy Như
Trang 10vậy, so với ghi nhận của H Lecomte (1910) thì có tới 5 loài mới được mô tả
và bổ sung thêm cho vùng Đông Dương và Việt Nam Trong công trình này,
tác giả cũng xếp chi Reeesia Lindl vào họ Sterculiaceae
- Lê Khả Kế (1974) đã ghi nhận 1 loài thuộc chi Reeveisa Lindl là Reeveisa thyrsoidea trong công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam”
Trong công trình này ông đã miêu tả đặc điểm hình thái của loài R thyrsoidea
- Vào năm 1991 (tái bản năm 1999) trongr công trình “Cây cỏ Việt Nam” của tác giả Phạm Hoàng Hộ đã tóm tắt đặc điểm nhận biết của 6
loài thuộc chi Reeesia Lindl cùng hình ảnh sơ bộ kèm theo là Reeesia gagnepainiana, Reeesia orbiculare, Reeesia pubescens, Reeesia thyrsoidea, Reeesia yersinii Tuy công trình này chưa có khóa định loại cho
các loài thuộc chi, chưa có mẫu nghiên cứu, chưa có đặc điểm phân bố, nhưng cho đến thời điểm này, đây vẫn là công trình định loại có giá trị
- Trần Hợp và Nguyễn Bội Quỳnh (1993) trong công trình “Cây gỗ kinh tế” đã miêu tả đặc điểm hình thái của loài R thyrsoidea và cung cấp
thêm thông tin về phân bố, sinh học – sinh thái, và giá trị của loài này
Nguyễn Tiến Bân (2003) đã thống kê sự có mặt của 6 loài thuộc chi
Thoa La (Reeesia Lindl.) ở Việt Nam đồng thời cung cấp 1 số thông tin về phân bố, giá trị sử dụng trong công trình "Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam" Tuy nhiên trong công trình này tác giả đã không đưa ra khóa định loại
cho các loài, không mô tả đặc điểm hình thái và mẫu nghiên cứu của các loài nên gây ra khó khăn cho việc tra cứu [3]
Như vậy, cho đến nay, tuy đã có một số công trình ghi nhận về các
loài Thoa La (Reeesia Lindl.) nhưng các công trình này đã được xuất bản
cách đây từ rất nhiều năm, về danh pháp một số loài hiện có nhiều thay đổi, các dẫn liệu vẫn chưa đầy đủ, nhất là các thông tin về đặc điểm hình thái, phân bố, sinh thái, Chính vì vậy, công trình nghiên cứu: “Bước đầu nghiên
cứu phân loại chi Thoa la (Reeesia Lindl.) ở Việt Nam” của chúng tôi nhằm
mục đích cung cấp các dẫn diệu một cách đầy đủ và có hệ thống về phân loại
các loài thuộc chi Thoa la (Reeesia Lindl.) ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu
vật và tài liệu:
- Tài liệu: Các tài liệu về chi Thoa la (Reevesia) trên thế giới và của
Việt Nam, nhất là các chuyên khảo phân loại
- Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Thoa la (Reevesia) ở Việt
Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như Phòng Tiêu bản thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), Phòng tiêu bản thực vật của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN (HNU), Phòng tiêu bản thực vật thuộc Viện Sinh học nhiệt đới Tp Hồ Chí Minh (Ảnh chụp)
Tổng số mẫu nghiên cứu là 14 số hiệu với 35 tiêu bản Việc phân tích mẫu được tiến hành ở phòng tiêu bản thực vật (Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật) Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo được một số mẫu thu được trong khi điều tra thực địa và các ảnh chụp được trên intrernet
2.2 Phạm vi nghiên cứu: Trên khắp cả nước
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2014 - 4/2015
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Phân tích các hệ thống phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) trên thế
giới từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi Thoa la ở Việt Nam
- Xây dựng bản mô tả chi Thoa la (Reevesia Lindl.) qua các đại diện có
ở Việt Nam
- Xây dựng khóa định loại các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.)
ở Việt Nam
- Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam
- Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia
Lindl.) ở Việt Nam
Trang 122.5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.), chúng tôi sử
dụng phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2007)
[13] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng sánh các cơ quan thành
so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa
nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao
gồm việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.) được tiến hành theo các
bước sau:
- Bước1: Tổng hợp phân tích tài liệu trong và ngoài nước về chi Thoa
la (Reevesia Lindl.) Từ đó lựa chọ hệ thống phân loại phù hợp với việc phân
loại chi này ở Việt Nam
- Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Thoa la (Reevesia
Lindl.) hiện có
- Bước 3: tham gia các chuyến điều tra nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin liên quan khác
Trang 13- Bước 4: tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả đặc điểm chung của chi, xây dựng khóa định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn thành các nội dung khoa học khác của đề tài
- Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
+ Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài chuẩn của chi, ghi chú (nếu có)
+ Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)
- Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành,
lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài
+ Bản mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
Trang 14- Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến
hành như sau:
+ Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon
- Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [4]
- Tìm hiểu giá trị sử dụng của các loài thuộc chi Thoa la qua các tài liệu có công bố về giá trị sử dụng, chuyên đề về cây cho thuốc, giá trị tài nguyên,
Trang 15CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí của chi Thoa la (Reevesia Lindl.)
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Thoa la (Reevesia Lindl.)
thuộc họ Trôm (Sterculiaceae), tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước gần Việt Nam và các công trình nghiên cứu về họ Trôm ở Việt Nam , chúng tôi thấy:
- Về hệ thống: Tất cả các tác giả đều đưa ra hệ thống từ chi phân loại
trực tiếp đến các loài mà không thông qua các nhánh (section)
- Về vị trí: Cũng có 2 quan điểm khác nhau về vị trí của chi Thoa la
(Reevesia Lindl.):
+ Quan điểm 1: xếp chi Thoa la (Reevesia Lindl.) vào họ Trôm
(Sterculiaceae) Quan điểm này hi ện được hầu hết các tác giả nghiên cứu về chi Thoa la sử dụng để sử dụng để sắp xếp chi và các loài
+ Quan điểm 2: xếp chi Thoa la (Reevesia Lindl.) vào họ Bông
(Malvaceae s.l.) Tuy nhiên, quan điểm này hiện còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm như vị trí của một số taxon khác trong họ Malvaceae chưa được chỉ ra Như vậy, hiện nay vị trí của các chi này trong họ Malvaceae vẫn chỉ là tương đối
Chính vì vậy, khi nghiên cứu chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam, tôi đã đi theo quan điểm tôi xếp chi Thoa la (Reevesia Lindl.) vào họ Trôm
(Sterculiaceae)
Theo đó, chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam hiện biết có 6 loài là Reevesia gagnepainiana, R macrocarpa, R orbiculare, R pubescens, R thyrsoidea, R yersinii được xếp vào họ Trôm (Sterculiaceae), lớp Mộc lan
(Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledones), thuộc ngành Mộc lan (Magnliophyta) hay còn gọi là ngành hạt kín (Angiopermae)
3.2 Đặc điểm phân loại chi Thoa La (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam
Lindl 1827 Quart Jourrn Lit Arts 2(2): 112; Benth & Hook f 1862 Gen Pl 1: 219; Mast & Hook f 1875 Fl Brit India, 1: 357; H Lecomte,
1910 Fl Gen Indo-Chine, 1: 486; Y Tang, G G Michael & J D
Laurence, 2008 Fl China, 12: 313
Trang 163.2.1 Dạng sống
Thường là cây gỗ (R gagnepainiana, R macrocarpa,…) hiếm khi là cây bụi (R orbiculare) Cành non có lông dày đặc (R pubescens, R yersinil) hoặc không có lông (R gagnepainiana, R thyrsoidea, R orbiculare) Trên
cành non có nhiều bì khổng màu nâu
3.2.2.Lá
Lá đơn, mọc cách Phiến lá hình bầu dục thon (R thyrsodea, R yersinii), gần tròn (R pubescens, R orbiculare) hay hình trứng (R thyrsodea, R gagnepainiana, R macrocarpa, R yersinii); chóp lá nhọn (R gagnepainiana,
R macrocarpa, R thyrsodea, R yersinii), có thể có mũi nhọn (R thyrsodea) hay chóp tù (R pubescens, R orbiculare); mép lá nguyên; phiến lá có lông (R orbiculare, R pubescens, R thyrsodea, R yersinii) hoặc không có lông (R gagnepainiana, R macrocarpa); gân bên hình lông chim thường có từ 4-8 cặp gân phụ; cuống lá hơi phình lên ở hai đầu, có lông (R thyrsoidea, R yersinii, R pubescens) hay không lông (R gagnepainiana, R macrocarpa, R orbiculare)
3.2.3 Cụm hoa
Cụm hoa dạng chùm kép mà mỗi đơn vị là một dạng cụm hoa xim mọc
ở đỉnh cành, thường mang nhiều hoa, cuống cụm hoa ngắn Lá bắc rụng sớm
3.2.4 Hoa: Hoa lưỡng tính, cuống hoa có đốt
- Đài hoa: Đài hợp ở phía dưới thành hình chuông ; phía trên mang 3 thùy (R orbiculare, R gagnepainiana) hoặc 4-5 thùy không đều nhau (R pubescens, R thyrsodea, R yersinii), thường có lông ở mặt ngoài, đặc biệt là
ở mép (R gagnepainiana) hay không lông (R yersinii)
Đài 3 thùy đều nhau Đài 4 thùy không đều nhau
Hình 1 Một số dạng đài mở của chi Reevesia Lindl
(Hình Đỗ Thị Xuyến vẽ từ mẫu Chavalive 38866, HN- VH 761, HN)
Trang 17- Tràng hoa: Tràng hoa chủ yếu màu trắng , đôi khi có màu hồng (R
pubescens), gồm 5 cánh hoa hình thìa với gốc thót lại rất nhỏ , có gân dọc, mép thường nhăn nheo, có hai tai ở hai bên (R yersinii) hay không có, cánh hoa có lông trên toàn bề mặt (R orbiculare) hay chỉ có lông ở gốc (R gagnepainiana, R pubescens) hay nhẵn (R yersinii, R thyrsodea), có xẻ ở đỉnh (R thyrsodea) hay không
Hình 2 Một số hình dạng cánh hoa và hoa của chi Reevesia Lindl
(Hình Đỗ Thị Xuyến vẽ từ mẫu Chavalive 38866, HN)
- Trụ nhị nhụy: Trụ nhị nhụy hình cột, dài 2-3,5 cm, có lông hay không
(R pubescens, R thyrsodea,…)
- Bộ nhị: Bộ nhị thường có 10 (R pubescens) hay 15 (R gagnepainiana,
R thyrsodea, ) nhị, 2-3 cái dính lại thành một nhóm nên thường có 5 nhóm
nhị, bao xung quanh bầu, chỉ nhị gần như không có
- Bộ nhụy: Bộ nhụy gồm 5 lá noãn hợp thành bầu thượng , 5 ô, mỗi ô
của bầu có 2 noãn; bầu luôn hình cầu nhọn hay có mũi nhọn, có lông tơ bao phủ; vòi nhụy gần như không có; núm nhụy hình điểm
Trang 18Bầu nằm trong bộ nhụy Bầu Lát cắt ngang của bầu
Hình 3 Một số hình dạng của bộ nhị và bầu của chi Reevesia Lindl
(Hình Đỗ Thị Xuyến vẽ từ mẫu Chavalive 38866, HN) 3.2.5 Qủa và hạt
- Quả dạng quả nang, tự mở khi chín , hình trứng ngược , có 5 đường lõm sâu như tạo thành 5 múi; vỏ quả hóa gỗ, cứng, khi quả chín mở bằng cách chẻ ngăn và cắt vách, thành 5 mảnh vỏ riêng biệt
- Hạt 2 trong một ô , hình bầu dục , màu nâu vàng ; luôn luôn có cánh rất phát triển, hạt dài 1,4-4 cm (tính cả cánh ), chiều rộng từ 0,1-0,8 cm (không tính cánh)
Hình 4 Một số hình dạng quả và hạt của chi Reevesia Lind
(Hình vẽ theo Y Tang, G G Michael & J D Laurence, 2008)
Trang 193.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam 3.3.1 Xây dựng bảng tổ hợp so sánh các đặc điểm của chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam
Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm hình thái của các loài thuộc chi
Reevesia Lindl., chúng tôi đã lập bảng so sánh các đặc điểm khác nhau của
các loài Chi tiết được chỉ ra ở bảng sau:
Bảng 1 So sánh các đặc điểm của các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia
Lindl.) ở Việt Nam
Trang 20Cuống hoa có lông (+),
không (-)
Chiều rộng của thùy đài
Trang 213.3.2 Khoá định loại lưỡng phân các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam
Trên cơ sở bảng so sánh, tổ hợp các đặc điểm giống và khác nhau của các loài thuộc chi Thoa la, chúng tôi đã xây dựng khóa định loại theo kiểu
lưỡng phân cho các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở Việt Nam
1A Đài 3 thùy
2A Lá hình trứng, chóp lá nhọn, chiều rộng phiến lá 3-3,5 cm Cánh hoa
chỉ có lông ở gốc 1 R gagnepainiana
2B Lá hình gần tròn, chóp lá tù, chiều rộng phiến lá 7-13 cm Cánh hoa có
lông trên toàn bộ bề mặt 2 R orbiculare
1B Đài 4-5 thùy
3A Lá không có lông hay chỉ có lông trên gân, có mũi nhọn
4A Cuống lá không có lông; lá nhẵn; đài không lông 3 R macrocarpa 4B Cuống lá có lông; lá có lông trên gân; đài có lông 4 R thyrsodea
3A Lá có lông, không có mũi nhọn
5A Cánh hoa có lông ở gốc, không có tai hai bên; trục nhị nhụy cao
3-3,5 cm; lá gần tròn, bầu dục, trứng 5 R pubescens
5B Cánh hoa không có lông, có hai tai hai bên; trục nhị nhụy cao 1,7-2
cm; lá hình bầu dục thon hay hình trứng hẹp 6 R yersinii
Trang 223.4 Đặc điểm phân loại của các loài thuộc chi Thoa la (Reevesia Lindl.) ở
Việt Nam
3.5.1 Reevesia gagnepainiana Tardieu - Trường hùng gagnepain
Tardieu 1945 Suppl Fl Gen Indoch 4: 413; Phamh 2000 Fl Illustr Vietn 1: 503; N T Ban, 2003, Check Pl Sp Vietn, 2:547
- Chú bạch mã, chú lá thuôn
Cây gỗ trung bình, cao từ 10-20 m, nhánh non hình trụ có lông dày đặc,
vỏ có màu xám khi khô, có bì khổng sần sùi Lá đơn, mọc cách, phiến lá hình trứng, kích thước 7-10 × 6-7 cm, gốc lá tròn, chóp lá nhọn, hơi có mũi, mép nguyên, nhẵn cả hai mặt, có chồi ở nách lá Cuống lá không có lông, tròn, dài 1-1,5 cm Lá kèm nhỏ, rụng sớm Gân kiểu lông chim , gân từ gốc 3, chìm ở mặt trên, nổi ở mặt dưới, 4-5 cặp gân bên, gân mạng dạng lưới rõ ở mặt dưới Cụm hoa dạng chùm kép mà mỗi đơn vị là một dạng cụm hoa xim mọc ở đỉnh cành, thường mang nhiều hoa , cuống cụm hoa ngắn , có lông hình sao , cuống hoa dài 0,4-0,5 cm, có lông Lá bắc rụng sớm Đài hình chuông, dài 7-8 mm, mang 3 thùy hình tam giác đều nhau, rộng 2-3 mm; không có lông ở mặt trong nhưng có lông ở mép , có lông dày đặc ở mặt ngoài Cánh hoa 5, màu trắng, kích thước 0,8-1 x 2-3 cm, gốc thót lại như có cuống, cuống kéo dài, có lông ở viền gốc , 3-4 sọc gân chạy dài từ gốc tới đỉnh cánh , mép thường nhăn
nheo Trục nhụy nhị dài từ 2,2-2,5 cm Bộ nhị thường có 15 nhị, 3 cái dính lại
thành một nhóm , bao xung quanh bầu , chỉ nhị gần như không có Bộ nhụy gồm 5 lá noãn hợp thành bầu thượng, 5 ô, mỗi ô có 2 noãn; bầu luôn hình cầu,
có lông tơ bao phủ ; vòi nhụy gần như không có; núm nhụy hình điểm Quả nang, kích thước 2,5-3 x 2-2,5 cm, tự mở khi chín, hình trứng ngược, khi chín tách thành 5 mảnh, mỗi mảnh chứa hai hạt, hạt có cánh dài
Loc Class: Vietnam, annam;
Sinh học và sinh thái : Cây ra hoa tháng 2-6, có quả chín tháng 5-8
Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh, rừng thứ sinh, cây thường là tầng tán, ở
độ cao đến 1000 m
Trang 23Phân bố: Mới tìm thấy ở Thừa Thiên Huế (núi Bạch Mã), Kon Tum
(Ngọc Linh) Khả năng đây là loài đặc hữu của Việt Nam
Mẫu nghiên cứu : KON-TUM, L Averyanov, N T Bân, A
Budantzev, Budantzev, N T Hiệp, D D Huyến, P K Lộc, X Tám, G.Yakovlev 761 (HN)
Giá trị sử dụng: Gỗ nhẹ làm cốp pha, làm cuốc, đóng đồ mộc thông thường
Hình 5 Reevesia gagnepainiana Tard
1 cành mang hoa; 2 hoa; 3 đài; 4 cánh hoa; 5 bộ nhị và bầu (nhìn thẳng); 6
bộ nhị (nhìn nghiêng) (vẽ từ mẫu Đ.T Xuyến VH 761, HN)