LỜI CAM ĐOAN Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan: Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh Cratoxylum Blume ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
NGUYỄN THỊ LUYỆN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI THÀNH NGẠNH (CRATOXYLUM
BLUME) Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phân loại Thực vật
Người hướng dẫn khoa học:
TS Đỗ Thị Xuyến
TS Hà Minh Tâm
Hà Nội, 2011
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Dương Đức Huyến cùng tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng Tiêu bản thực vật – Viện Dược liệu; Phòng Tiêu bản thực vật – Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia Hà Nội; Ban chủ nhiệm khoa Sinh _ KTNN – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; đặc biệt là
sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10/ 05/ 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Luyện
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công
bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
ĐHSP Hà Nội 2, ngày 10/ 05/ 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Luyện
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: Tổng quan tài liệu 3
Chương 2: Đối tương, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu 2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.2 Phạm vi nghiên cứu 7
2.3 Thời gian nghiên cứu 7
2.4 Phương pháp nghiên cứu 7
Chương 3: Kết quả nghiên cứu 3.1 Hệ thống phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam 11 3.2 Đặc điểm phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam 11
3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam 14
3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam 20
3.4.1 Cratoxylum cochinchinense (Lour.) Blume 20
3.4.2 Cratoxylum sumatranum ( Jack) Blume ssp neriifolium (Kurz) Gog 23 3.4.3 Cratoxylum pruniflorum (Kurz) Kurz 26
3.4.4 Cratoxylum formosum (Jack) Dyer 29
3.4.5 Cratoxylum maingayi Dyer 32
3.5 Ứng dụng toán – tin học trong nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam 35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như
ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng Phân loại thực vật một cách chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan
Chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume), còn gọi là Đỏ ngọn hay Lành
ngạnh, thuộc họ Ban (Hypericaceae Juss.) Ở Việt Nam, tuy là một chi nhỏ, nhưng chúng có mặt trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh; cho đến nay tất cả các loài đều được sử dụng làm thuốc, một số loài cho gỗ tương đối bền và đẹp Cho nên, bên cạnh giá trị về khoa học, chi này còn có giá trị về kinh tế
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chi Thành ngạnh ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử
dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước
đầu nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt
Nam”
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc
nghiên cứu họ Ban (Hypericaceae Juss.), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan
Nội dung nghiên cứu
– Phân tích các hệ thống phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume)
trên thế giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc
chi Thành ngạnh ở Việt Nam
Trang 6– Xây dựng bản mô tả các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam”
– Xây dựng khoá định loại các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam
– Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam
– Nhập kết quả nghiên cứu vào phần mềm Microsoft Office Access, giúp cho việc định loại và tra cứu các thông tin được thuận lợi và chính xác
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí
Việt Nam về họ Ban ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Thành
ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành
ứng dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,… Điểm mới của đề tài
– Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại chi Thành
ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống – Bổ sung về phân bố cho loài Cratoxylum prunifolium
Bố cục của khóa luận: gồm 40 trang, 10 hình vẽ, 12 ảnh, 1 bản đồ, 1 bảng
được chia thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 28 trang), kết luận
và kiến nghị: 2 trang), tài liệu tham khảo: 19 tài liệu; bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, phụ lục
Trang 7CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Trên thế giới
Trước khi chi Thành ngạnh được công bố, Loureiro (1790) đã công bố
loài Hyperium cochinchinense và Hyperium petiolatum (sau này được chuyển vào chi Cratoxylum với tên gọi Cratoxylum cochinchinense (Lour) Blume) trong Flora cochinchinensis [19]; Jack (1822) công bố loài Eloelea formosa (sau này chuyển vào chi Thành ngạnh với tên gọi là Cratoxylum formosum
(Jack) Dyer)
Đến năm 1823, Blume mới chính thức công bố chi Thành ngạnh với tên
gọi là Cratoxylum với Typus là loài Cratoxylum homachuchii Blume và xếp chi Cratoxylum trong họ Hypericaceae Sau khi chi Thành ngạnh được công
bố, một số tác giả đã nghiên cứu công bố một số loài thuộc chi này như:
Korth (1842) công bố loài Cratoxylum glaucum; Blume (1852) công bố loài
Cratoxylum arborescens; Kurz (1874) công bố loài Cratoxylum prunifolium;
Dyer (1874) công bố loài Cratoxylum maingayi,
Engler (1964) [15] khi xây dựng hệ thống phân loại cho ngành Hạt kín,
đã xếp chi Cratoxylum vào họ Hypericaceae Juss Các Hệ thống của Hutchinson (1969) [9] và Takhatajan (2009) [11] cũng có quan điểm giống
Engler
Các nước lân cận Việt Nam, có một số công trình nghiên cứu về chi
Cratoxylum dưới dạng các công trình thực vật chí, như công trình của Baker&
Bakh f (1963) [8] đã mô tả chi Cratoxylum, xếp chi này vào họ Hypericaceae
dựa trên đăc điểm: cây gỗ, hoa đỏ, hồng hoặc trắng; nhị gồm 3 bó, bó nhị hữu thụ xen kẽ bó nhị bất thụ; quả nang gồm 3 mảnh vỏ; hạt có cánh về 1 phía; lá
có nhiều tuyến dạng diểm Tác giả đã mô tả 3 loài ở đảo Java (Indonexia) là:
Cratoxylum formosum, Cratoxylum hypericinum, Cratoxylum racemosum
Trang 8Trái với quan điểm xếp Cratoxylum trong họ Hypericaceae, các tác giả Trung
Quốc (1972) [16] trong Iconographia Cormophytorum Sinicorum đã mô tả 2
loài là Cratoxylum cochinchinense và Cratoxylum formosum và xếp chi
Cratoxylum được xếp trong họ Clusiacea Các tác giả trong công trình Flora
of China năm 2007 [17] cũng giữ nguyên quan điểm xếp chi này vào họ Clusiacea
Robson (1974) [10] khi nghiên cứu về các loài của chi Cratoxylum ở vùng Malesiana, đã mô tả 6 loài (Cratoxylum sumatranum với 3 phân loài là
ssp sumatranum, ssp blancoi, ssp neriifolium; Cratoxylum formosum với 2
phân loài là ssp formosum, ssp prunifolium; Cratoxylum cochinchinense;
Cratoxylum glaucum; Cratoxylum maingayi; Cratoxylum arborescens) và xếp
chi này vào họ Hypericaceae dựa trên những đặc điểm: cây gỗ; hoa đỏ, hồng hoặc trắng; lá có tuyến đen hoặc đỏ; bó nhị hữu thụ xen kẽ bó nhị bất thụ; quả nang 3 mảnh vỏ; hạt có cánh Trong công trình này tác giả đã mô tả cụ thể đặc
điểm của chi Cratoxylum xây dựng khóa định loại các loài, cung cấp các
thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng của các loài
Năm 1977, C Y Wu & al trong Flora Yunnannica [18] đã mô tả 2 loài
là Cratoxylum formosum và Cratoxylum cochinchinense
Bên cạnh các công trình phân loại nêu trên, trong công trình Tài nguyên thực vật Đông Nam Á (Plant Resources of South-East Asia) xuất bản năm
1994 [7], các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng, nguồn gốc, phân bố, sự
phát triển, sinh thái của 6 loài có ở Đông Nam Á: Cratoxylum arborescens,
Cratoxylum glaucum, Cratoxylum maingayi, Cratoxylum sumatranum, Cratoxylum formosum, Cratoxylum cochinchinense, Cratoxylum arborescens
Trang 91.2 Ở Việt Nam
Người đầu tiên đề cập đến chi Thành ngạnh là nhà thực vật người Bồ Đào Nha Loureiro trong công trình Thực vật Nam Bộ được xuất bản năm
1790, tác giả đã công bố loài Hyperium cochinchinenese và Hyperium
petiolatum, sau này được xếp vào chi Cratoxylum với tên gọi là Cratoxylum
cochinchinense
Năm 1885, trong công trình Flora Forestière de la Cochinchine, Pierre
đã tóm tắt đặc điểm của chi Cratoxylum và mô tả các loài thuộc chi này ở
Nam Bộ Tuy nhiên, một số dẫn liệu vẫn chưa đầy đủ Ngoài ra, công trình này được viết bằng tiếng Pháp, nên rất khó khăn cho việc tra cứu [14]
Gagnepain (1912) [12], trong công trình Thực vật chí đại cương Đông Dương (Flore Générale de l'.Indo-Chine) đã mô tả đặc điểm của chi, xây dựng
khóa định loại và mô tả 5 loài là: Cratoxylum neriifolium, Cratoxylum
prunifolium, Cratoxylum harmandii, Cratoxylum polyanthum, Cratoxylum formosum trong công trình này Tác giả xếp chi Cratoxylum vào họ Hypericaceae
dựa trên các đặc điểm: quả nang, hạt có cánh Năm 1943, trong phần bổ sung cho
Thực vật chí đại cương Đông Dương, ông đã bổ sung thêm loài Cratoxylum
họ Bứa (Guttiferae = Clusiaceae)
Nguyễn Tiến Bân (2003) [1] đã thống kê sự có mặt của 4 loài và 1 phân loài thuộc chi Thành ngạnh ở Việt Nam, đồng thời cung cấp một số thông tin
về phân bố, giá trị sử dụng
Trang 10Ngoài ra còn một số công trình đề cập đến chi Cratoxylum dưới dạng tài nguyên như: Võ Văn Chi (1997) [2] giới thiệu 3 loài làm thuốc là Cratoxylum
cochinchinense, Cratoxylum fomorsum và Cratoxylum prunifolium; Viện điều
tra quy hoạch rừng, Bộ Lâm nghiệp (1982) giới thiệu giá trị làm thuốc của
loài Cratoxylum prunifolium trong công trình Cây gỗ rừng Việt Nam [6]
Trong số các công trình nêu trên, công trình của Gagnepain (1912) được
coi là công trình đầy đủ nhất về phân loại chi Cratoxylum ở Việt Nam Tuy
nhiên, công trình này đã được xuất bản cách đây 100 năm, cho đến nay, danh pháp một số loài không còn phù hợp, các dẫn liệu vẫn chưa đầy đủ, nhất là các thông tin về phân bố, sinh thái Ngoài ra, công trình này viết bằng tiếng Pháp, nên không thuận lợi cho việc tra cứu; bên cạnh đó các công trình của Phạm Hoàng Hộ chỉ nêu tóm tắt đặc điểm nhận biết các loài Chính vì vậy, công trình nghiên cứu: “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam” của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về phân loại chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) trên thế giới và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum
Blume) ở Việt Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN), phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), phòng tiêu bản thực vật, Viện Dược liệu, Hà Nội (HNPM)
Tổng số mẫu nghiên cứu là 38 số hiệu với hơn 70 tiêu bản Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo 45 mẫu tiêu bản ở phòng tiêu bản thực vật thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), 10 mẫu tiêu bản ở Viện Dược liệu (HNPM) và một số mẫu thu thập được trong khi điều tra thực địa và các ảnh chụp mẫu vật trên internet
2.2 Phạm vi nghiên cứu: Khắp cả nước
2.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2008 - 4/2011
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume), chúng
tôi sử dụng phương pháp Hình thái so sánh [5] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất trên thế giới và phù hợp với điều kiện nghiên cứu ở nước ta Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan
Trang 12sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với
hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành
đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu
ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Xử lý và bảo quản mẫu vật Việc nghiên cứu các mẫu vật khô được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc
và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của
Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc nghiên cứu phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) được tiến hành theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi
Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù
hợp với việc phân loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) hiện có
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần
Trang 13danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu
ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản
mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung
Trang 14– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành
như sau: Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập
hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon) Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào
hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon
Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt
Nam
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Thành ngạnh và họ Ban, tham khảo các công trình thực vật chí ở các nước gần Việt Nam và các công trình nghiên cứu về họ Ban ở Việt Nam, chúng tôi thấy quan điểm xếp chi Thành ngạnh vào họ Bứa (Guttiferae) của các tác giả Trung Quốc và Phạm Hoàng Hộ đến nay đã không còn phù hợp Trong khi đó, quan điểm xếp chi Thành ngạnh vào họ Ban (Hypericaceae) của Engler (1964) và Takhtajan (2009) đã giải thích tương đối thoả đáng mối quan hệ giữa các taxon Quan điểm này hiện được hầu hết các tác giả nghiên cứu về chi Thành ngạnh sử dụng để sắp xếp chi và các loài Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn hệ thống của Takhtajan (2009) để xác định giới hạn và vị trí của chi và sắp xếp các loài thuộc chi Thành ngạnh ở Việt Nam Trên cơ sở hệ thống này chi Thành ngạnh
(Cratoxylum Blume) ở Việt Nam có 4 loài và 1 phân loài, được xếp vào họ
Ban (Hypericaceae), lớp Mộc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledons), ngành Mộc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae)
3.2 Đặc điểm phân loại chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở Việt Nam
CRATOXYLUM Blume – THÀNH NGẠNH
Blume, 1823 Verh Bat Gen 9: 172; Backer & Bakh f 1963 Fl Jav 1: 383; Hutch 1969 Fam Flow Pl 1: 297; Robson, 1974 Fl Males 8(1): 4-14; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 464-465; Takht 2009 Divers Class Flow
Plat 168
Trang 16– Lành ngạnh, đỏ ngọn
3.2.1 Dạng sống (ảnh 7)
Cây gỗ hoặc cây bụi, rụng lá, sống lâu năm Thân cây mọc đứng, phân
nhiều cành, đặc trưng bởi lúc non có hình vuông, không có lông (C
cochinchinense, C sumatranum) hoặc có lông (C prunifolium); gốc cây
thường có gai; khi già thường bong vảy làm thân trở nên nhẵn; ở cành mang
lá, phía trên chồi có mấu lồi nhỏ (tên tiếng anh có thuật ngữ là interpetiolar)
3.2.2 Lá (hình 3.1)
Lá đơn, nguyên, mọc đối; cuống lá ngắn; phiến lá hình bầu dục (C
formosum), thuôn dài (C pruniflorum) hay trứng ngược (C maingayi); chóp
lá tròn (C maingayi) hay nhọn (C sumatranum, C prunifolium); gốc thường nhọn hoặc tù; mặt dưới đôi khi có những nốt màu xanh hiện rõ (C
cochinchinense); gân hình mạng lông chim, gân chính thường nổi rõ ở mặt
dưới, gân bên thường vấn hợp đều ở gần mép lá (C prunifolium) hay vấn hợp không đều (C cochinchinense)
3.2.3 Cụm hoa (hình 3.2)
Cụm hoa mọc ở đỉnh cành hay nách lá; dạng xim hoặc hoa mọc đơn độc
ở nách lá; số lượng hoa trên cụm hoa thay đổi từ vài hoa (C cochinchinense) đến nhiều hoa (C sumatranum)
3.2.4 Hoa (hình 3.3, 3.4)
Hoa lưỡng tính, đều, bao hoa mẫu 5 Đài rời, dạng da, tồn tại ở quả, xếp
lợp kiểu nanh sấu Cánh hoa rời, xếp lợp, màu sắc biến đổi từ đỏ thẫm đến
hồng hoặc trắng, đôi khi pha màu cam hoặc xanh, hình thìa với gân hình dải;
mặt trong gốc cánh hoa có phần phụ dạng vẩy (C formosum, C prunifolium) hoặc không (C cochinchinense, C sumatranum); mặt ngoài có lông ở mép (C prunifolium) hoặc không có lông (C cochinchinense) Bộ nhị gồm nhiều
nhị, tạo thành 3 bó hữu thụ xếp xen kẽ 3 bó nhị bất thụ; bó nhị hữu thụ sớm
Trang 17rụng hoặc tồn tại ở quả, mỗi bó có 20-35 nhị; chỉ nhị mảnh, đỏ thẫm đến trắng; bao phấn hình thuôn ngắn đến thoi, màu đỏ thẫm đến trắng, đính lưng; các bó nhị bất thụ tiêu giảm thành khối nạc có hình dạng và kích thước thay đổi Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu thượng có 3 ô; mỗi ô có nhiều noãn hoặc giảm còn 5 noãn, đính ở nửa dưới của trụ giữa; vòi nhụy 3, tương ứng với số lá noãn, rời nhau, mảnh; núm nhụy nhỏ, hình đầu
3.2.5 Quả và hạt (hình 3.5)
Quả nang, xẻ vách dọc thành 3 mảnh vỏ; vỏ quả hoá gỗ, mặt ngoài có vạch dài hơi lồi lên, mặt trong có vách ngăn; gốc quả có đài tồn tại, đài bao
nửa quả (C cochinchinense) đến gần hết quả (C sumatranum) Hạt nhiều (C
prunifolium) hoặc giảm chỉ còn vài hạt trong mỗi ô (C maingayi), đính đè lên
nhau trên trụ giữa đã hóa gỗ, hình mác ngược (C formosum, C prunifolium) hoặc hình thuôn (C cochinchinense, C sumatranum); vỏ hạt nhẵn, có cánh ở
một phía hoặc xung quanh Phôi hình trụ, thẳng, có lá mầm dài hơn trụ dưới
lá mầm, không có nội nhũ
Typus: Cratoxylum homachuchii Blume
Chi Thành ngành có khoảng 6 loài, phân bố chủ yếu ở các nước nhiệt đới châu Á, Việt Nam hiện biết có 4 loài và 1 phân loài, phân bố rải rác khắp cả nước
Trang 18
1 2
3 4
Hình 3.1 Một số dạng lá
1 Lá hình trứng ngược (C maingayi); 2 Lá hình thuôn (C sumatranum); 3
Lá hình thuôn dài (C prunifolium)); 4 Lá hình bầu dục (C formosum)
(1, 2 theo Robson, 1974; 3 theo ICS, 1972; 4 theo Auct 1994)
Trang 21Hình 3.4 Sơ đồ cấu tạo hoa
1 Hoa; 2 Hoa đã tách đài và tràng (C formosum)
(Hình theo Robson, 1974)
Trang 233.3 Khoá định loại các loài thuộc chi Thành ngạnh (Cratoxylum Blume) ở
Việt Nam
1A Cánh hoa không có vảy Bó nhị lép ít phát triển
2A Lá hình bầu dục Đài dài bằng một nửa quả 1 C cochinchinense
2B Lá hình thuôn Đài dài gần bằng quả… 2 C sumatranum ssp neriifolium
1B Cánh hoa có vảy Bó nhị lép rất phát triển
3A Thân non và lá có lông Cánh hoa có lông ở nửa trên
3.C prunifolium
3B Thân non và lá không lông Cánh hoa không có lông
4A Lá hình bầu dục, hình thuôn, mác hoặc hình trứng, dài 5-11 cm
Quả hình bầu dục 4.C formosum
4B Lá hình trứng ngược, dài 2-4 cm Quả hình thoi 5.C maingayi
Trang 243.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Thành ngạnh Cratoxylum
Blume ở Việt Nam
3.4.1 Cratoxylum cochinchinense (Lour.) Blume – Thành ngạnh nam
Blume, 1852 Mus Bot Lugd Bat 2: 17; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1: 465; Robson, 1974 Fl Males ser I, 8(1): 7- 9; Phamh 1999 Illustr Fl
Vietn 1: 465; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 370
– Hyperium cochinchinense Lour 1790 Fl Cochinch 472
– Hypericum petiolatum Lour 1790 Fl Cochinch 472
– Cratoxylum polyanthum Korth Verh Nat Gesch Bot 1842 Fl Males 175 – Cratoxylum ligustrinum Blume, 1852 Mus Bot 2: 16
– Lành ngạnh hôi, Long Gieng, Hong dau moc
Cây gỗ hoặc cây bụi, rụng lá, cao tới 15m, không có lông, gốc có gai nhọn; bề mặt vỏ thân có các vảy hình tam giác hoặc vảy dài (tùy theo tuổi cây) màu nâu nhạt bong ra, ít khi nhẵn; mặt trong màu xanh nhạt tới vàng xanh Cành non nhẵn Lá hình bầu dục, kích thước 3-10 x 1-4 cm, dạng
cỏ hay dạng giấy; chóp tù hoặc nhọn; gốc hình nêm rộng hay thót dần; mặt
dưới lá luôn có nốt màu xanh; cuống dài 2-5 mm Cụm hoa thường mọc ở
nách lá, hình xim, mang 1-3 hoa, cuống hoa dài 1-2 mm Lá đài hình trứng, kích thước 4-5 x 2-4 mm Cánh hoa hình thìa, màu đỏ đậm tới hồng hoặc vàng da cam, kích thước 6-10 x 3-4 mm, không có vảy Bộ nhị gồm 3 bó, cao 3-8 mm, mỗi bó có 22-25 nhị mọc xen kẽ nhau; bao phấn đôi khi có tuyến dính; các bó nhị lép ít phát triển hoặc nếu phát triển thì có màu vàng, dẹt, hình thuôn đến trứng ngược, dạng nắp, dài tới 3 mm Bầu dài 2-3 mm; vòi nhụy dài 1-2 mm Quả nang hình bầu dục hoặc hình trụ, kích thước 8-10 x 3-5 mm, gấp 2 lần so với chiều dài của lá đài Hạt hình mác ngược tới bầu dục hoặc thuôn, kích thước 6-7 x 2.5 mm (Hình 3.5(2), 3.6; ảnh 8)
Trang 25Loc class.: Vietnam (“Cochinchine”)
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trên các đồi hoang, nương rẫy cũ, ven
chân núi, trảng cây bụi, ven biển, trong điều kiện thổ nhưỡng thay đổi, có khi rất cằn cỗi; ở độ cao lên đến 500m Mùa hoa tháng 4-8, quả chín rải rác từ tháng 7-10
Phân bố: Sơn La (Mộc Châu), Lạng Sơn (Hữu Lũng), Vĩnh Phúc (Phúc
Yên), Hà Nội (Ba Vì), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã, Phú Lộc), Ninh Thuận (Núi Chúa) Còn có ở Trung Quốc, Inđônêxia, Malaixia
Mẫu nghiên cứu: SƠN LA (Mộc Châu), 23X86 (HN); N347a (HN);
N347k (HN); VN884 (HN); N H Hiển B137 (HN) – LẠNG SƠN (Hữu Lũng), Ngô Chính Dật 2037 (HN); Nguyễn Đăng Khôi 1796 (HN) – VĨNH PHÚC (Phúc Yên), N T Cường, V P Phương 7542 (HN) – HÀ NỘI (Lâm trường Minh Quang, Ba Vì), Đoàn điều tra Việt Trung 3619 (HN) – THỪA THIÊN HUẾ (Bạch Mã), N T Hiệp & al 1522 (HN) – NINH THUẬN (Núi Chúa), Hà Minh Tâm 62 (HN)
Giá trị sử dụng: Gỗ màu hồng, nặng, dẻo, tốt Dùng trong xây dựng nhà
cửa hoặc đóng đồ gia dụng Rễ, vỏ cây dùng trị cảm mạo trúng nóng phát sốt, viêm ruột ỉa chảy, ho khản cổ Lá dùng trị đau dạ dày, ngứa lở Có thể dùng trị kiết lị, lậu nhiệt, băng đới, đàn bà máu xấu, kinh nguyệt không đều, đại tiện không thông Dùng rễ hay vỏ cây tươi 40g, lá tươi 20g sắc nước uống Lá non sắc uống thay trà để phòng cảm nắng và bệnh lị
Trang 26Hình 3.6 Cratoxylum cochinchinense (Lour.) Blume
Cành mang hoa (Hình theo Pierre, 1885)
Trang 273.4.2 Cratoxylum sumatranum ( Jack) Blume ssp neriifolium (Kurz) Gog – Thành ngạnh lá hẹp
Gogelein, 1967 Blume, 15 (2): 463; Robson, 1974 Fl Males ser I, 8(1):
6-7; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 465
– Cratoxylum neriifolium Kurz, 1872 Journ As Soc Beng 41(2): 293; Gagnep 1912 Fl Gen Indoch 1: 291
Cây gỗ rụng lá, cao tới 15 m, ít khi có dạng cây bụi, thân non không có lông; vỏ cây bị nứt bong thành dài màu nâu Lá hình thuôn, kích thước 4-18 x 2-7 cm; chóp nhọn; gốc gần hình tim sau tròn dần; dạng cỏ hay dạng giấy; mặt dưới có nốt màu xanh; cuống dài 2-4 mm Cụm hoa mọc ở đỉnh cành, hình xim; cuống hoa dài 1,5-5 mm Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5 Lá đài có kích thước 6-9 x 3-4,5 mm Cánh hoa màu đỏ đậm, đỏ nâu nhạt đến màu đỏ gạch, kích thước 4-9 x 4-4 mm, không có vảy Bó nhị hữu thụ dài 2,5-7,5
mm, gồm 20-35 nhị mọc xen kẽ nhau, bao phấn không có tuyến; bó nhị lép ít phát triển hoặc nếu phát triển thì có màu vàng, hình thuôn tới trứng ngược, có dạng nắp, dài tới 3 mm Bầu dài 1,5-3 mm, vòi nhụy dài 1,5-3 mm Quả nang, hình trụ, cỡ 7-10 x 3-5 mm, lá đài dài gần bằng quả; mỗi ô quả có 3-10 hạt hình mác ngược tới hình thuôn, kích thước hạt cỡ 5-7,5 x 1,5-2 mm (Hình 3.1(2), 3.2(2), 3.7; ảnh 9)
Phân bố: Hòa Bình (Đà Bắc), Bắc Giang (Hiệp Hòa), Thanh Hóa
(Thành Minh), Đà Nẵng (Đèo Hải Vân), Quảng Nam (Trà My), Đồng Nai
Còn có ở Inđônêxia, Malaixia
Mẫu nghiên cứu: – HÒA BÌNH (Đà Bắc), N T Hiệp, L.Averyanov, N
T Vinh, D.T Doan HAL519 (HN); Vũ Xuân Phương 2006 (HN) – BẮC GIANG (Hiệp Hòa), Lê Kim Biên 5837 (HN) – THANH HÓA (Thành Minh), N H Hiển B318 (HN) – ĐÀ NẴNG, Thuận 93 (HN) – QUẢNG
Trang 28NAM (Trà My), N Q Bình, D D Cường VN1153 (HN) – ĐỒNG NAI
(Vĩnh Cửu), H M Tâm 61 (HN)
Giá trị sử dụng: Gỗ màu nâu đỏ, cứng, có thể dùng trong xây dựng hoặc
đóng đồ dùng gia đình Vỏ dùng để làm thuốc nhuộm Lá thỉnh thoảng được dùng làm thuốc và nấu nước uống thay trà
Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trên các đồi hoang, trảng cây bụi
Mùa hoa tháng 1-2
Trang 29Hình 3.7 Cratoxylum sumatranum ( Jack) Blume ssp
neriifolium (Kurz) Gog
Cành mang quả (Hình theo Pierre, 1885)