Chấn thương thận ít khi gây tử vong trừ khi đứt cuống thận, tĩnh mạch thận hoặc trong chấn thương động mạch thận Trường hợp một người đàn ông 19 tuổi với tiền sử cắt thận trái năm năm tr
Trang 188 Rev Mex Urol 2012;72(2):88-92
Ban Ngoại Thân - Tiết Niệu
Chấn thương thận trên bệnh nhân một thận :
case lâm sàng mở
Chấn thương thận là loại phổ biến nhất
của tổi thương thận Chấn thương kín
thường do tai nạn ô tô, ngã và thương
tích trong sinh hoạt Chấn thương hở
hay gặp do súng đạn và vết dao đâm
Chấn thương thận theo Hiệp hội Mỹ là
một phẫu thuật chấn thương có quy mô
Đánh giá bệnh nhân với một chấn
thương hở nên tập trung vào việc chẩn
đoán nhanh chóng các chấn thương đe
dọa tới tính mạng bệnh nhân Chấn
thương thận ít khi gây tử vong trừ khi
đứt cuống thận, tĩnh mạch thận hoặc
trong chấn thương động mạch thận
Trường hợp một người đàn ông 19 tuổi
với tiền sử cắt thận trái năm năm trước
do bị đâm Anh ta đã bị tấn công một
lần nữa, và kết quả là một vết đâm ở
vùng thắt lưng bên phải, Khi vào viên,
bệnh nhân trong tình trạng sốc, tràn
dịch phổi phải và máu tụ quanh thận Bằng chứng cho thấy sự thoát thuốc trong thì động mạch trên CT Dẫn lưu màng phổi lấy ra 1030cc máu đỏ tươi, mở ngực phải được thực hiện thu được 1600cc máu, không có dấu hiệu của chấn thương trong nhu mô phổi hoặc màng phổi Xác định có chấn thương ở động mạch gian sườn 6 Sau 24h bệnh nhân có tình trạng huyết động không ổn đinh, mở bụng thăm dò phát hiện khối máu tụ 200cc và tiến hành cắt phần cực trên ở mặt sau của thận phải đồng thời cầm máu ở động mạch đỉnh và khâu lại cực trên Sau phẫu thuật bệnh nhân ổn định và được ra viện sau
18 ngày
Trang 2Martínez JA, et al Renal trauma in a single-kidney patient: an open clinical
case
• Giới thiệu
Trong tất cả các chấn thương
đường niệu – dục, chấn thương
thận do tác động từ bên ngoài là
phổ biến nhất Điều đó cần thiết
cho chấn đoán và điều trị vì tùy
thuộc vào loại chấn thương mà có
phương pháp khác nhau ( kín hay
hở) Tổn thương thận kín được gây
ra bởi tai nạn ô tô, té ngã hay tai
nạn sinh hoạt Đa số các trường
hợp chấn thương hở là do đạn bắn
hoặc đâm
Triệu chứng lâm sàng của chấn
thương thận bao gồm: xuất hiện
máu bầm, đau bụng hoặc đau
xương sườn, gãy xương sườn
haowcj đốt sống liền kề với thận,
tiểu máu, chấn thương kết hợp với
các cơ quan trong ở bung và sốc
Trong chấn thương hở, những đặc
điểm lâm sàng hiện đa dạng và bao
gồm cả thận, cho nên trong các
trường hợp có chấn thương gần
thận nên nghi ngờ có tổn thương
thận.Hơn 90% bệnh nhân sẽ có
các chấn thương liên uan khác và
đa số là trong ổ bụng Điều đáng
chú ý là 50% các trường hợp chấn
thương xuyên thủng thận không
có tiểu máu Tổn thương thận
được phân độ tùy theo mức độ nghiêm trọng của chán thương từ cấp I – V được quy định với hiệp hội phẫu thuật chấn thương Mỹ (Hình 1) Bảng 1
Đánh giá ban đầu đối với bệnh nhân chấn thương hở ở đường tiết niệu nên tập trung vào việc xác định và điều trị các chấn thương
đe dọa tới tính mạng Chấn thương thận hiếm khi gây tử vong ngoại trừ việc đứt cuống thận (nhổ thận) hoặc suy động mạch thận chính hoặc tổn thương tĩnh mạch thận Bất cứ khi nào có thể, cấn phải có các thông tin về cơ chế chấn thương, loại vũ khí sử dụng (kích thước, tầm cỡ), số lượng và vị trí vết thương, tiền sử bệnh tật haowcj chấn thương trước đó vào đường niệu dục, tiền sử sử dụng thuốc và
dị ứng
Trong việc đánh giá thứ cấp, đặc biệt chú ý tới tình trạng của bung, xương chậu và cơ uan sinh sụng để phát hiện kịp thời các chấn thương đi kèm
Trang 3CT Scan là chẩn đoán hình ảnh
lựa chọn cho chấn thương thận hở
trong trường hợp huyết động bệnh
nhân ổn đinh Tuy nhiên, Ct có thể
bỏ ua một số chấn thương xương
chậy, thận và niệu quan, do đó
hình ảnh 10 phút cuối sau khi
thoát thuốc phải được xem xét để
đánh giá độ tương phản khi vừa
thoát thuốc khi nghi ngờ có chấn
thương 6
Điều trị phụ thuộc vào phân độ
tổn thương thận, tình trạng huyết
động của bệnh nhân Mục đích
cảu bài này là trình bày một case
lâm sàng trường hợp chấn
thương thận ở bệnh nhân có một
thận
• Trình bày (dịch tóm tắt)
• Ghi nhận lúc vào viện
• Bệnh nhân nam 19 t
• Tiền sử cắt thận trái do chấn
thương thận độ IV do bị đâm
vào tháng 2/2006
• Cách thời gian vào viện 5h,
bệnh nhân bị một vết đâm tại
vùng thắt lưng bên Phải
• Bệnh nhân đến phòng cấp
cứu trong tình trạng:
• Mất nước, da xanh xao
• Niêm mạc khô
• Không tỉnh táo, mất
phương hướng
• HA: 70/50 mmHg
• M: 110 nhịp/ phút
• Hơi thở: 26 lần /
phút
• Nhiệt độ: 36 độ C
• Thực thể:
• Một vết thương dài 2 cm ở mặt sau bên phải của phổi ngang mức xương sương số 7
• Mất rì rào phế nag
• Rung thanh giảm
• Gõ đục màn phổi phải
• Phổi trái bình thường
• Xét nghiệm:
• Hb 13,9 g /dL,
• HTC 42,2%,
• bạch cầu 9,9 x 103,
• tiểu cầu 162.000,
• glucose 133 mg / dL,
• creatinine 1.3 mg / dL, BUN 10,5 mg / dL;
• Phân tích nước tiểu
• ++++ máu,
• hồng cầu: 3502
• Ngực
• X-ray: mờ màng phổi phải
CT scan: tụ máu quanh thận
• Màng phổi phải dẫn lưu 1.030 cc máu đỏ tươi
• Xử trí của bệnh viện:
• Mở ngực : 1600cc máu
• Không thấy chấn thương nhu
mô phổi hay cơ hoành
• Chẩn đoàn nguyên nhân là
do chấn thương mạch máu liên sườn và gãy xương sườn
số 7 Bệnh nhân được cầm máu
• Chuyển sang chăm sóc đặc biệt
Trang 4Martínez JA, et al Renal trauma in a single-kidney patient: an open clinical
case
• Sau 24h
• Huyết áp 70/40
mmHg,
• Nhịp tim 120 nhịp
đập mỗi phút
• Thở: 27l/ phút
• Nhiệt độ: 35 ° C
• Hb 8,7 g / dL
• Hct 25,7%,
• tiểu cầu 45.000,
• glucose 87 mg /
dL,
• creatinin 2.49 mg /
dL
• BUN 20,1 mg / dL
• Mổ bụng thăm dò:
• Phát hiện một xuất
huyết nội 2000cc và
tụ máu ở sau phúc
mạc
• Tiến hành kiểm
soát động mạch và
tĩnh mạch thận
• Cắt một phần mặt sau cực
trên của thận phải đang chảy
máu từ động mạch đỉnh
• Động mạch đỉnh và cực trên
thận phải được khâu với
khâu nệm và miếng vá mạc
nối
• Sau 18 ngày bệnh
nhân được ra viện
Thảo luận:
Trong tổn thương đường tiết niệu trên, đánh giá tiết niệ là một
ưu tiên cần làm ngay lập tức Trong trường hợp quan trọng, chấn thương mạch máu của động mạch thận chính hoặc tĩnh mạch thận, chụp động mạch với tắt mạch chọn lọc có thể vừa có tác dụng chẩn đoán vừa có tác dụng điều trị Tuy nhiên đòi hỏi nhiều thời gian,thiết bị chuyên dụng và không có sẵn ở nhiều trung tâm bệnh viên Sự cần thiết của phẫu thuật trong chấn thương thận phụ thuộc vào mực độ nghiêm trọng của chấn thương thận được phân loại theo hiệp hội phẫu thuộc chấn thương và tình trạng huyết động của bệnh nhân Một bệnh nhân có huyết động ổn đinh với một chấn đoán hỉnh ảnh chính xác về chấn thương qua CT scan có thể được điều trị bảo tồn mà không cần phậu thuật Ngay cả cấp IV và V , phẫu thuật có thể chỉ chọn lựa trên 1 số bệnh nhân
Bệnh nhân bị chấn thương nặng (III-V) có chỉ định điều trị bảo tồn cần theo dõi chặt chẽ các chỉ số huyết động và kiểm soát bởi CT Bệnh nhân chấn thương độ IV ( Nhu mô rách lớn hơn 1 cm, tổn thương hệ thống thu thập hoặc động mạch thận chính) với khối
Trang 5máu tụ ổn định, có thể
được điều trị bảo tồn
dưới sự giám sát chặc
chẽ Nếu hình ảnh thoát
mạch được xác đinh bởi
CT vẫn xảy ra và kéo dài
hơn 48h, một ống thông
niệu quản nên được đặt
nhằm giảm thiểu nguy cơ
hình thành nang niệu
Chỉ phẫu thuật thăm dò ở
những bệnh nhân suy
thận, chấn thương có thể
được phân lọa như là
tuyệt đối và tương đối
Tuyệt đổi khi: Chảy máu
thận dai dẳng, lan rộng
khối máu quanh thận,
phình mạch giả và huyết
động không ổn định
Tương đối khi: thoát
mạch ít, chấn đoán muộn
của chấn thương động
mạch và phân đoạn chấn
thương động mạch
Tiến triển của một bệnh nhân
chấn thương thận có thể có biến
chứng như nang niệu, hình thành
áp xe quanh thân và thậm chí là
giảm đơn vị thận Một số bệnh
nhân có thể có bệnh cao huyết áp
thứ cấp do tụ máu quanh thận gây
ra bởi việc đè nén nhu mô
KẾT LUẬN
Việc xác định các tổn thương, đánh giá bệnh nhân một cách đầy đủ, điều trị chính xác các cơ uan thương tính
là nền tảng của việc quản lý chấn thương thận Ngoại trừ trường hợp đứt cuống thận (nhổ thận) và tổn thương động, tĩnh mạch chính với xuất huyết đáng kể, chấn thương thận hiếm khi là một nguyên nhân gây ra cái chết
Dịch: Hoàng Công Tuấn Ban Ngoại thận – Tiết niệu
Trang 6Rev Mex Urol 2012;72(2):88-92 91