Sau khi đọc tác phẩm của Nguyễn Tuân, Thạch Lam không khỏi vui mừng ông đã viết luôn những cảm nghĩ và nhận xét hết sức tinh tế của mình thông qua bài Đọc Vang bóng một thời viết năm 194
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ TÌNH
CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƯỞNG LẠC TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ TÌNH
CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƯỞNG LẠC TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Văn Đức
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Văn Đức, người thầy
đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Văn học – trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (ĐHQGHN) đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn này!
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua!
Hà Nội, ngày 08 tháng 12 năm 2016
Người viết
Phạm Thị Tình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài: 1
2 Lịch sử vấn đề: 3
3 Đối tượng, phạm vi và mục đích nghiên cứu: 11
4 Phương pháp nghiên cứu: 11
5 Cấu trúc của Luận văn: 12
NỘI DUNG 13
Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 13
1.1 Đôi nét về con người Nguyễn Tuân 13
1.1.1 Tiểu sử 13
1.1.2 Con người 16
1.2 Sự nghiệp 19
1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám: 19
1.2.2 Sau Cách mạng tháng Tám 22
1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân 24
1.3.1 Giới thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người 24
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân 27
Chương 2 CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƯỞNG TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 36
2.1 Một cái tôi cô đơn, bế tắc, bất lực trước cuộc đời 36
2.2 Một cái tôi nổi loạn, phá phách đi tìm con đường giải thoát trong cuộc sống hưởng lạc 46
2.3 Một cái tôi luôn khao khát thế giới tinh khiết, thanh cao 63
Trang 5Chương 3 CHỦ ĐỀ CUỘC SỐNG HƯỞNG LẠC TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNH THÁNG TÁM NHÌN
TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT 73
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 73
3.1.1 Khắc họa ngoại hình nhân vật 73
3.1.2 Khắc họa nội tâm nhân vật 77
3.1.3 Khắc họa hành động nhân vật 80
3.2 Giọng điệu 83
3.2.1 Giọng điệu khinh bạc 83
3.2.2 Giọng điệu buồn thảm 90
3.3 Sử dụng hình ảnh biểu tượng sự vật 93
3.4 Ngôn ngữ 97
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Nguyễn Tuân là một tài năng lớn, một ngôi sao sáng trên bầu trời văn học dân tộc Ông là một trong số không nhiều nhà văn đạt được những thành tựu nổi bật trong cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám, được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình không chỉ trong và ngoài nước đánh giá cao
Ông được xem như “hòn đá tảng” [34, tr 546] trong “cái nền còn mới mẻ
của văn xuôi tiếng Việt ta” [34, tr 546] Trong suốt chặng đường dài hơn năm
mươi năm cầm bút cùng với tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, bền bỉ
và hết mình, Nguyễn Tuân đã khẳng định được một phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa và uyên bác, không thể nhầm lẫn với bất kỳ một nhà văn nào khác được Với bảy mươi bảy năm tuổi đời và hơn năm mươi năm tuổi nghề, Nguyễn Tuân đã để lại cho văn học hiện đại Việt Nam nói riêng và nền văn học nước nhà nói chung một sự nghiệp đồ sộ, phong phú, đa dạng trên nhiều thể loại như: truyện ngắn, tiểu thuyết, phóng sự, tùy bút, kịch, phê bình văn học, … Ở mỗi thể loại, mỗi tác phẩm của ông, chúng ta lại tìm thấy những điều lý thú, những dấu ấn đặc biệt riêng Ông còn là một tác giả tiêu biểu được lựa chọn giảng dạy trong chương trình phổ thông và đại học
Nguyễn Tuân là một con người rất đặc biệt, đặc biệt không chỉ thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày mà còn đặc biệt ngay cả trong sáng tác của mình Là nhà văn của quan điểm duy mỹ, nghệ thuật vị nghệ thuật, cả cuộc đời Nguyễn Tuân luôn khát khao đi tìm cái đẹp và làm cho cái đẹp được tỏa sáng rực rỡ Nguyễn Tuân đến với văn học với một phong cách cũng rất đặc biệt trong một cái xã hội phức tạp của một người dân thuộc địa mà ông
gọi là “ối a ba phèng” Ông đã mang vào trong sáng tác của mình là hơi thở của một cái “tôi” “ngông” đối lập với xã hội kim tiền ô trọc, là khác đời,
khác người thậm chí là lập dị với xung quanh, không để cho ai bắt chước
được giống mình: “Là người lỗi lạc, sống một cách rất đặc biệt, không giống
Trang 7ai và không cho ai bắt chước được mình, chết là mang cả cái bản chính đi chứ không để lại một bản sao nguyên cảo nào” [56, tr 49]
Nguyễn Tuân là một nhà văn lớn đồng thời cũng là “một hiện tượng
văn học phức tạp, nhất là trước cách mạng tháng Tám” [26, tr 25] Và để
hiểu các tác phẩm của ông không phải là một điều đơn giản mà theo như Vũ
Ngọc Phan thì “chỉ những người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị,
vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức” [34,
tr 52] Có thể do chính những điều này mà tác phẩm của Nguyễn Tuân có sức hút lớn lao đối với độc giả Việc đọc và tìm hiểu tác phẩm của ông sẽ mang tới cho người đọc một kho tri thức phong phú trên nhiều phương diện của đời sống từ đó mà tâm hồn được mở rộng hơn, sâu sắc hơn
Chủ đề cuộc sống hưởng lạc là một trong những chủ đề quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám Với chủ đề này, nhà văn đã chọn cho mình một lối đi riêng khác biệt Đọc những sáng tác thuộc chủ đề này, người đọc thêm yêu mến một Nguyễn Tuân luôn chân thành, luôn muốn sám hối, luôn muốn được làm lại cuộc đời trong những ngày tháng sa ngã Bởi trong con người đó là cái Tâm luôn day dứt, là Thiên lương trong sạch chống trả lại xã hội trưởng giả và những con người phàm tục ngoài đời kia
Mặc dù đã có khá nhiều bài viết và những nhận định khái quát về chủ
đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 Tuy nhiên đó chỉ là những bài viết đơn lẻ, chưa thành hệ thống và chưa thực sự chuyên sâu nghiên cứu về đề tài Riêng đối với bản thân từ khi còn học trong trường phổ thông, tôi đã rất yêu thích các tác phẩm của Nguyễn Tuân Tôi xin phép góp chút năng lực nhỏ bé của mình vào việc
đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám 1945 để làm rõ hơn phong cách một cây đại thụ của văn học hiện đại Việt Nam
Trang 82 Lịch sử vấn đề:
Ngay từ khi mới xuất hiện trên văn đàn, Nguyễn Tuân đã là một cây bút hấp dẫn, thu hút được sự chú ý của độc giả cũng như giới nghiên cứu phê bình Cho đến tận hôm nay và có thể mai sau nữa, tác phẩm của Nguyễn Tuân vẫn là niềm say mê khám phá, nguồn cảm hứng vô tận của các thế hệ yêu văn chương Đã có rất nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về cuộc đời, con người
và tác phẩm của Nguyễn Tuân trong những thời kỳ lịch sử khác nhau
Trước Cách mạng tháng Tám 1945:
Nhà văn Thạch Lam là người đầu tiên có công trong việc khám phá và phát hiện ra những nét độc đáo trong sáng tác và tài năng của Nguyễn Tuân Sau khi đọc tác phẩm của Nguyễn Tuân, Thạch Lam không khỏi vui mừng ông đã viết luôn những cảm nghĩ và nhận xét hết sức tinh tế của mình thông
qua bài Đọc Vang bóng một thời viết năm 1940, đăng trên báo Ngày nay số
212, ngày 15 Juin 1940: “Trong cái vội vàng cẩu thả của những tác phẩm
xuất bản gần đây, những tác phẩm hạ thấp văn chương xuống mực giá trị của
sự đua đòi, người ta lấy làm vui sướng khi thấy một nhà văn kính trọng và yêu mến cái đẹp, coi công việc sáng tạo là công việc quý báu và thiêng liêng”
Cuối bài viết nhà văn khẳng định chắc chắn về một sự nghiệp văn học tươi
sáng của Nguyễn Tuân: “Nguyễn Tuân là nhà văn có tài năng đặc biệt, một
nghệ sĩ có lương tâm, ở đó chúng ta đặt những hy vọng tốt đẹp nhất về sự nghiệp”
Đặc biệt trong giai đoạn này không thể không nhắc tới đó là bài viết
của nhà văn Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại Với những sáng tác
của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, Vũ Ngọc Phan đã đánh giá
như sau“Ông là một nhà văn đứng hẳn ra một trường phái riêng, cả về văn
lẫn tư tưởng”[47, tr 415], người ta phải chú ý đến ông bởi “lối hành văn đặc biệt” [47, tr 415] hoàn toàn Việt Nam, rồi “những ý kiến cùng tư tưởng phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay và khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật,
Trang 9lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái của tâm hồn” [47, tr 415] Ở mỗi đề tài lớn
trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, Vũ Ngọc Phan
đã đưa ra những nhận xét sắc sảo, toàn diện Với Vang bóng một thời, Vũ Ngọc Phan cho rằng đây là “một văn phẩm gần tới sự toàn thiện toàn mỹ” [47, tr 415] Đọc Vang bóng một thời người ta có cảm tưởng gần giống những cảm tưởng khi ngắm “một bức họa cổ” [47, tr 416] vô cùng quý giá
và “cái quý giá ấy sẽ còn tăng lên nữa với thời gian như một thứ đồ cổ” [47,
tr 416] Với các tác phẩm Chiếc lư đồng mắt cua, Tàn đèn dầu lạc và Ngọn
đèn dầu lạc tiêu biểu cho đề tài về cuộc sống hưởng lạc, Vũ Ngọc Phan nhận
xét đó là “những quyển mà thói khinh bạc của ông bộc lộ rõ ràng, gần như
những “lời thú tội” [47, tr 434] Chiếc lư đồng mắt cua là “một tập tùy bút hay một tập về hồi ức về một quãng đời của tác giả, đều được cả” [47, tr
435] Vũ Ngọc Phan tin tưởng rằng:“Một ngày không xa, khi mà văn chương
Việt Nam được người Việt Nam ham chuộng hơn bây giờ, tôi dám chắc những văn phẩm của Nguyễn Tuân sẽ có một địa vị xứng đáng hơn nữa” [47, tr
439] Niềm tin tưởng đó quả là không sai, ngày nay người ta vẫn tìm đọc và đọc rất nhiều tác phẩm của Nguyễn Tuân – “một nhà văn đặc Việt Nam” [47,
tr 439]
Sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến năm 1975:
Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân hăng hái nhập cuộc
và tham gia kháng chiến, rất nhiều tác phẩm được ra đời từ đây như: Chùa
đàn, Đường vui, Tình chiến dịch, … Giai đoạn này cũng có hàng loạt những
bài viết về Nguyễn Tuân khen có chê có, bài viết đánh giá về tác phẩm có, bài viết nhận xét về con người cũng có Qua hồi ức của Nguyễn Vỹ, Nguyễn
Tuân hiện lên hóm hỉnh dễ mến với bài viết “Nguyễn Tuân gàn hay chú mày
gàn” Còn đối với Vũ Bằng, nhà văn gọi Nguyễn Tuân là “đứa con nuông của Thiên thần và Ác quỷ” [15, tr.293], trong con người Nguyễn cái tài và cái
Trang 10tật luôn đồng hành song song, con người đó cũng thật phức tạp với nhiều mặt của đối lập mâu thuẫn
Đánh giá về Nguyễn Tuân trong cuốn sách Mười khuôn mặt văn nghệ,
Tạ Tỵ đã viết: “Nguyễn Tuân là một trong những khuôn mặt lớn của nền văn
học nghệ thuật Việt Nam ở trước và trong cuộc chiến”[59, tr 51]; “Nguyễn Tuân đứng sững trước mặt chúng ta với một vóc dáng kiêu kỳ, với từng ngón tài hoa, với đôi cánh chập chờn bay lượn trên đỉnh cao nghệ thuật” [59, tr
51] và cuối cùng ông gọi Nguyễn Tuân là “một văn tài lỗi lạc”
Viết về Nguyễn Tuân trong giai đoạn này cũng phải kể đến Trương Chính Trương Chính quan tâm nhiều đến phong cách Nguyễn Tuân và ông
đã có khá nhiều bài viết phê bình về các sáng tác của Nguyễn Tuân có thể kể
tới như: Tùy bút kháng chiến – tùy bút kháng chiến – hòa bình, đăng trên báo
Văn nghệ số 5 (7-5-1957); Đọc sông Đà của Nguyễn Tuân, đăng trên Tạp chí Văn nghệ số 10- 1960, Nguyễn Tuân và Vang bóng một thời (1989), … Qua
các tác phẩm của Nguyễn Tuân, Trương Chính thấy “hiện lên hình ảnh một
con người tài hoa, nhiều tình cảm, kinh lịch nhiều, sống kỹ lưỡng, sống rộng rãi, không bao giờ chịu gò bó vào một khuôn khổ nào nhất định Con người
ấy rất có ý thức về khả năng của mình và luôn khao khát sống được một cuộc đời thật đầy đủ Nhưng trong xã hội cũ, một người như thế không thể tìm được một chỗ đặt chân Thành ra, ông phải sống héo hắt, chật hẹp, rồi đâm
ra khinh bạc với đời Mà đã khinh bạc thì không còn căm phẫn sâu sắc được nữa Khinh bạc là con đường đi đến thoát ly, thoát ly vào một thứ cá nhân chủ nghĩa tột bực” [34, tr 54] Nói về đề tài cuộc sống hưởng lạc thì Trương
Chính có cái nhìn cảm thông chân thành với Nguyễn Tuân: “Nói cho đúng,
người ta không thể trách Nguyễn Tuân sao không biết tìm một lý tưởng nào khác là lý tưởng “phóng túng hình hài” Xã hội mục nát, không phải là một cái cớ để mình chìm đắm vào một thứ cá nhân chủ nghĩa ích kỷ và một thứ hành lạc chủ nghĩa quá quắt làm cho xã hội càng mục nát thêm Nhưng, đọc
Trang 11Nguyễn Tuân, ta cũng đồng thời không thể không nhận thấy rằng chính hoàn cảnh xã hội đó đã biến một người vốn yêu đời như Nguyễn Tuân thành một kẻ muốn tự hủy hoại mình như thế” [34, tr 54-55]
Đầu năm 1957, Nguyễn Tuân viết bài tuỳ bút Phở đăng trên tuần báo
Văn Bài viết đã gây ra nhiều phản ứng khác nhau trong giới văn nghệ sĩ Thế
Toàn trong bài Tuần báo văn và con người thời đại in trong tạp chí Học tập
số 7 (7/1957), với cái nhìn hẹp hòi, ông cho rằng: “Nhìn lại một số lớn thơ
văn trên tuần báo Văn, chúng ta không khỏi ngạc nhiên, vì con người được miêu tả trong đó rất xa lạ với chúng ta Con người trong thời đại chúng ta không phải là con người xa lánh cuộc sống, ngồi một góc phố nào đó để phân tích một món ăn (Phở của Nguyễn Tuân) phát hiện ra vấn đề quá “quan trọng” như xương với xẩu, như mũ phở…” [36, tr 27-28] Bác bỏ lại quan
điểm của Thế Toàn là ý kiến của nhiều nhà văn như: Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng, Tế Hanh Nguyên Hồng đã chỉ ra được những nét phong cách của
Nguyễn Tuân trong Phở: “Một ngòi bút cách đây 15 năm với Chiếc lư đồng
mắt cua, Nguyễn đã làm người đọc rợn hết cả tâm trí lên vì những ê chề, rã rượi, quằn quại dẫy đạp của một tâm trạng bế tắc trong lòng một chế độ ngột ngạt … giờ tha thiết tin yêu, hết lời ca ngợi hương vị của Tổ quốc: Phở cũng
là những sự việc, cũng là những suy nghĩ, cũng là kiểu nói của Nguyễn nhưng
cả một sự say sưa và niềm tin lấp loáng trên trang giấy “Hương vị phở… lành mạnh hơn” vì “tôi thấy Tổ quốc tôi còn có phở nữa…” [36, tr 28]
Cũng trong năm 1957, nhân Vang bóng một thời được tái bản, Phan Cự
Đệ đã viết liền hai bài đề cập đến tác phẩm này Trong bài thứ nhất có tên
Đọc Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân ký tên Thanh Hiền đăng trên báo Văn nghệ số 31 ngày 6-12-1957, Phan Cự Đệ cho rằng: “Nguyễn Tuân làm cái việc của một người khơi lại đống tro tàn của dĩ vãng, tìm lại những cái đẹp của ngày qua đã một thời vang bóng” Trong bài viết thứ hai Nguyễn Tuân in trong Nhà văn Việt Nam, tập 2 (1945-1975), sau này được in trong
Trang 12Nguyễn Tuân về tác gia và tác phẩm (Nxb Giáo dục, H.1998) với tiêu đề: Nguyễn Tuân – một phong cách nghệ thuật độc đáo Phan Cự Đệ đã khẳng
định một cách chắc chắn: “Từ sau 1937, trong văn học lãng mạn Việt Nam
xuất hiện một phong cách nghệ thuật hết sức độc đáo: Nguyễn Tuân” [34, tr
103] Nhà nghiên cứu cũng luôn chú ý đối chiếu sự biến đổi của con người và
phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: “Giờ đây cái Tôi cá nhân chủ
nghĩa của Nguyễn đã hoà hợp vào cái Ta chung của quần chúng và ngòi bút vốn sắc sảo, bướng bỉnh khi xưa nay đã có thêm nét đôn hậu ấm cúng” [34,
tr.114] Riêng về tác phẩm Chiếc lư đồng mắt cua, nhà nghiên cứu cũng đưa
ra nhận xét đặc điểm nhân vật: “Các nhân vật trong Nguyễn, Chiếc lư đồng
mắt cua, đã có lúc cảm thấy cuộc đời phóng túng hình hài của mình là vô vị, nhạt nhẽo, không tiếc gì mà thay bỏ nó đi” [34, tr 105]
Cách mạng tháng Tám thành công có ý nghĩa lớn lao làm thay đổi con người Nguyễn Tuân hướng ngòi bút của ông nhận đường, tin yêu và đi theo cách mạng Năm 1960, sau chuyến đi thực tế Tây Bắc, Nguyễn Tuân cho ra
đời tập tuỳ bút Sông Đà Tác phẩm ra đời thu hút được nhiều sự chú ý quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Nguyên Ngọc trong bài Cảm tưởng
đọc Sông Đà đăng trên báo Văn học số 113 ngày 23-9-1960, đã khẳng định
giá trị đặc sắc của tuỳ bút và coi đây là bước chuyển mới về đề tài Nhà văn
coi Sông Đà là “một cuốn tiểu thuyết viết theo lối riêng… là tác phẩm về non
sông đất nước Tây Bắc Khi nói cảm tưởng về Sông Đà, trước hết tôi muốn chào mừng ở anh Nguyễn Tuân một cách đứng mới, một vị trí mới”
Nguyễn Đăng Mạnh trong bài Con đường đi đến bút ký chống Mỹ, đăng trên Tạp chí văn học số 8 – 1968 đã khẳng định: “Nhân tố tư tưởng cốt yếu
làm nên phần giá trị chân chính của tác phẩm Nguyễn Tuân từ sau Cách mạng đến nay là tình yêu đất nước, tinh thần dân tộc”, và những yếu tố tinh
thần ấy tuy đã biến đổi qua thời gian nhưng “vẫn giữ lại ít nhiều màu sắc
riêng của nó, có mầm mống từ trước Cách mạng” Vì dù sao đi chăng nữa,
Trang 13các sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng có thoát ly vào con đường nào thì ở mỗi con đường đó vẫn còn ánh sáng của một trái tim luôn hướng về quê hương đất nước
Từ 1975 đến nay:
Số lượng những bài viết nghiên cứu về Nguyễn Tuân thật phong phú đa
dạng không chỉ có những bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu trong nước
mà còn có cả những bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu nước ngoài có
thể kể đến như: Vương Trí Nhàn với “Nguyễn Tuân, huyền thoại một thời” (1994), “Nhà văn Nguyễn Tuân”, Hà Văn Đức với “Nguyễn Tuân – một bậc
thầy về ngôn ngữ” (1991), “Nguyễn Tuân về cái đẹp” (1994), “Nguyễn Tuân
và quá trình nhận đường trong văn học của ông” Marian Tôcasốp với “Mấy lời bàn về Nguyễn Tuân” đăng trên báo Văn nghệ số 36 ngày 5-9-1987… Đến
năm 1981 bài viết tiêu biểu nhất phải kể tới là Lời giới thiệu cho Tuyển tập Nguyễn Tuân do Nguyễn Đăng Mạnh giới thiệu và biên soạn Lời giới thiệu
là những đánh giá sâu sắc và toàn diện cho tổng thể toàn bộ cả hai giai đoạn sáng tác trước và sau Cách mạng của Nguyễn Tuân được rút ra từ quá trình dày công nghiên cứu và nhiều tâm huyết của Nguyễn Đăng Mạnh Ông nhận
định: “Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học phức tạp, nhất là trước Cách
mạng” Đối với chủ đề về cuộc sống hưởng lạc trong các nhà hát với thuốc
phiện, trà, rượu trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, ông đã có những phân tích sắc sảo, khách quan và khoa học Ông nói rằng viết về đề tài trụy lạc Nguyễn Tuân đã đi một đường hoàn toàn khác với các
nhà văn cùng thời, mình ông có một lối riêng Tiêu biểu là Chiếc lư đồng mắt
cua, Nguyễn Tuân đã viết “như một lời thú tội về quãng đời chơi bời, lêu lổng của mình, nhưng không hẳn là có sự ăn năn, hối hận thật sâu sắc – vì nhân vật tôi nhiều phen muốn làm lại cuộc đời nhưng không bao giờ thành hiện thực” Đồng quan điểm với Nguyễn Đăng Mạnh chủ đề cuộc sống
hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám là
Trang 14nhận xét của Hà Văn Đức, Văn Tâm, Vũ Ngọc Phan, Tôn Thảo Miên, … Văn
Tâm viết rằng: “Nguyễn luôn sám hối; nhiều trang viết của Nguyễn Tuân có ý
nghĩa tự thú chân thành, tiêu biểu là tác phẩm “phóng sự - nhật ký – tuỳ bút” Chiếc lư đồng mắt cua” [34, tr 248] Cũng trên quan điểm đó, trong bài viết
của mình Hà Văn Đức đã nhấn mạnh: “Tập tuỳ bút Chiếc lư đồng mắt cua,
như lời ông thú nhận trong phần Thay lời tựa của tác phẩm này, “là những trang tuỳ bút chép lại một ít tâm trạng của tôi trog những ngày phóng túng hình hài” [8, tr 607]
Đối với hai thiên phóng sự Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc nằm
trong phạm vi nghiên cứu của chủ đề cũng nhận được một số nhận xét khái
quát như sau: Vũ Ngọc Phan cho rằng hai thiên phóng sự đều “là tâm trạng,
là tình cảnh của những người dưới quyền lực Nàng tiên nâu Nào họp nhau
để nói xấu người vắng mặt (Ngọn đèn dầu lạc, tr 29), nào tính ích kỷ phô bày một cách thản nhiên giữa một chỗ cực kỳ bẩn thỉu (Ngọn đèn dầu lạc, tr 51), nào dối trá, xa lánh đối với cả những người rất thân (Tàn đèn dầu lạc, tr 12), nào những cái vui buồn không chừng, phút đến rồi phút đi (Tàn đèn dầu lạc,
tr 45 và 46), rồi những cảnh bòn rút của kẻ đã nương nhờ của Phật mà vẫn không dứt tình được với ả phù – dung đó là tất cả những tâm trạng và cảnh huống gây nên bởi ả phiền” [34, tr 51] Hà Văn Đức cũng đã khẳng định:
“Hai thiên phóng sự Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc viết về tình cảnh
và tâm trạng của những người nghiện thuốc phiện Tác giả đã lý giải những hành vi tâm địa thấp hèn như nói xấu nhau, dối trá lừa lọc nhau, ích kỷ đến
độ trắng trợn của những kẻ nghiện hút Nguyễn Tuân miêu tả những cảnh huống và tâm trạng ấy một cách sinh động, với giọng văn tài hoa và khinh bạc vốn có của mình” [8, tr 606]
Thêm những nhận định về chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác
của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám, Hoài Anh trong bài Nguyễn
Tuân nhà nghệ sĩ ngôn từ đưa cái đẹp đến thăng hoa đã viết: “Ông không
Trang 15phải là người ăn chơi trác táng trụy lạc như nhiều nghệ sĩ khác đương thời
mà là một người nghệ sĩ đi tìm cái Đẹp trong mọi biểu hiện của cuộc sống”
Tiếp tục kế thừa từ những bài viết công trình nghiên cứu trên, năm 2003, tác giả Nguyễn Thị Thanh Minh đã viết luận án tiến sĩ của mình với nhan đề
Quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong sáng tạo nghệ thuật và cũng
trong năm 2003 tác giả đã cho in luận án thành một cuốn sách cùng tên Tác giả đã đi sâu và làm nổi bật trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân đó là luôn nhìn nhận sự vật và con người dưới góc độ nghệ thuật, góc độ thẩm mỹ
Khi nói về chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong ba tác phẩm tiêu biểu: Chiếc lư
đồng mắt cua, Ngọn đèn dầu lạc và Tàn đèn dầu lạc, tác giả cũng nghiên cứu
tìm hiểu trên quan niệm về cái đẹp và cho rằng xuất phát từ chính khát khao cảm giác mãnh liệt đã đưa Nguyễn Tuân đến với chủ đề này
Song song bên cạnh đó, với số lượng tác phẩm đồ sộ trên cả hai chặng đường sáng tác, tác phẩm của Nguyễn Tuân trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều luận án, luận văn tiến sĩ, thạc sĩ Có thể kể tới: Trương Việt Hùng với
Tìm hiểu một số tuỳ bút Nguyễn Tuân (1985), Phạm Thị Bích Ngọc với Đặc trưng thi pháp Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân (1999), Nguyễn Thị
Hồng Hà với Đặc trưng tuỳ bút Nguyễn Tuân (2004), Nguyễn Thị Ninh với
Ngôn từ trong sáng tác Nguyễn Tuân (2005), …
Ngoài các công trình nghiên cứu về sự nghiệp văn học của Nguyễn Tuân còn có rất nhiều bài viết về kỷ niệm gắn bó sâu sắc của các nhà văn, nhà
nghiên cứu đối với ông như: Kỷ niệm với Chùa Đàn của Nguyễn Tuân (Yên Huy), Những lần gặp gỡ (Nguyễn Quang Sáng), Nhà văn – diễn viên Nguyễn
Tuân (Trương Quân), Những người Sài Gòn và anh Nguyễn (Nguyễn
Nguyên), Nguyễn Tuân trong lòng tôi (Đoàn Minh Tuấn), Hát ả đào đêm
xuân (Hoàng Cầm), Nguyễn Tuân như thế đấy (Ngọc Trai), Bảy ngày với anh Nguyễn Tuân ở Côn Đảo (Phạm Tường Hạnh), Tôi nhớ mãi nụ cười bằng mắt
(Bửi Chi), Sống đẹp từng ngày (Nguyên Ngọc), … Qua những bài viết này, ta
Trang 16hiểu hơn được phong cách, cá tính và con người Nguyễn Tuân Con người đời thường cũng như con người trong văn chương luôn có mối quan hệ gần gũi, khăng khít
Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu công trình nghiên cứu của những người
đi trước, tôi sẽ cố gắng tìm hiểu chuyên sâu hơn về chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám Luận văn hi vọng sẽ góp thêm những nét mới mẻ và làm phong phú hơn những đặc sắc trong sáng tác trước Cách mạng của nhà văn
3 Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu:
3.1 Đối tƣợng:
Trong luận văn này, chúng tôi nghiên cứu tập trung vào cái “tôi” được
tác giả miêu tả trong các sáng tác tiêu biểu trước Cách mạng tháng Tám ở chủ
đề cuộc sống hưởng lạc của Nguyễn Tuân theo đó làm nổi bật những đặc sắc
về nghệ thuật thể hiện
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Cầm bút từ những năm đôi mươi của cuộc đời và vẫn miệt mài lao động nghệ thuật cho đến những năm cuối đời, Nguyễn Tuân đã để lại một di sản văn học đồ sộ với hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ trên nhiều thể loại và cũng phong phú về đề tài sáng tác Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi xin tập trung đi sâu vào ba tác phẩm chính đó là: Hai phóng sự
Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu lạc (1941) và một tùy bút Chiếc lư đồng mắt cua (1941) để qua đó làm nổi bật đặc sắc về nội dung và nghệ thuật
trong chủ đề cuộc sống hưởng lạc của nhà văn
3.3 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn tập trung tìm hiểu và khắc họa hình tượng cái “tôi” đầy mâu
thuẫn, phức tạp của Nguyễn Tuân trước Cách mạng Từ đó có cái nhìn bao quát và toàn diện hơn về sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng về cuộc
Trang 17đời và con người của ông, góp phần khẳng định lại một phong cách độc đáo mang tên Nguyễn Tuân
Thấy được vị trí vai trò của chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong toàn bộ hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để luận văn được thực hiện trọn vẹn, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
5 Cấu trúc của Luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn của chúng tôi bao gồm có 3
chương cụ thể với các nội dung như sau:
Chương 1 Hành trình sáng tác và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước Cách mạng Tháng Tám
Chương 2 Chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám nhìn từ phương diện nội dung
Chương 3 Chủ đề cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám nhìn từ phương diện nghệ thuật
Và cuối cùng là: Tài liệu tham khảo
Trang 18NỘI DUNG Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN TUÂN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1.1 Đôi nét về con người Nguyễn Tuân:
1.1.1 Tiểu sử
Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910, quê ở thôn Thượng Đình, xã Nhân Mục (thường gọi là làng Mọc), nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội Sinh trưởng trong một gia đình Hán học, thân sinh của ông là cụ Nguyễn An Lan đã đỗ tú tài khoa thi Hán học cuối cùng và thường được gọi là cụ tú Hải Vân, một nhà nho tài hoa nhưng bất đắc chí sống trong thời buổi nhiễu nhương, loạn lạc của chế độ thực dân phong kiến Ở cụ Tú Lan mang nét tài hoa, cốt cách của một nhà nho tài tử,
am hiểu tinh tường nét văn hóa cổ truyền, thú vui tao nhã của cha ông xưa Chính cụ Tú Lan là người có sức ảnh hưởng lớn lao đến tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân Điều này cũng đã được nhà văn thừa nhận trong nhiều cuộc trò chuyện của ông với các tác giả
Nguyễn Tuân tuy sinh ra tại Hà Nội – nơi phố cổ Hàng Bạc phồn hoa
đô thị nhưng suốt thời thiếu niên, ông lại sống cùng với gia đình trên dọc nhiều tỉnh miền Trung, Khánh Hòa, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh, đặc biệt
là quãng thời gian dài nhiều năm sống tại Thanh Hóa Cuộc sống “xê dịch”
nhiều nơi đã góp phần hình thành nên một thế giới quan phong phú cho nhà văn Đi đến bất kỳ nơi đâu, ông đều có những quan sát tinh tế khám phá vẻ đẹp tận cùng của mỗi vùng đất, cảnh vật và con người Và theo như Hoài Anh
trong bài viết Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ ngôn từ đã đưa cái đẹp thăng hoa, tác giả đã nhận xét Nguyễn Tuân là một “nghệ sĩ đi tìm cái đẹp trong mọi
biểu hiện của đời sống trần gian” [34, tr 187]
Do hoàn cảnh gia đình đông anh em nhưng về sau chỉ còn lại hai anh
em nên Nguyễn Tuân được bố mẹ cho lập gia đình sớm Năm 1927, ông kết
Trang 19hôn cùng bà Vũ Thị Tuệ tại Hà Nội khi ông 17 tuổi và bà 18 tuổi Bà Vũ Thị Tuệ là một cô con gái Hàng Đào chăm chỉ, đảm đang, giàu đức hy sinh đặc biệt rất mực hiểu chồng Trong một cuộc trò chuyện sau này với nhà văn Ngọc Trai, Nguyễn Tuân hóm hỉnh nói về người vợ của mình với tình cảm trân quý và “nể” bà
Thưở nhỏ, Nguyễn Tuân theo học chữ Nho sau chuyển sang học tiếng Pháp, tiếp tục học đến bậc trung học tại Thành phố Nam Định Năm 1929, ông tham gia một cuộc bãi khóa phản đối giáo viên người Pháp nói xấu, xúc phạm người Việt Nam và bị đuổi học, trong vòng 5 năm không được bất kỳ một công sở nào được nhận ông vào làm việc Bế tắc, chán ghét trước cuộc sống ngột ngạt, kìm kẹp của người dân thuộc địa nô lệ lầm than cùng với một tính cách phóng khoáng, Nguyễn Tuân luôn mơ tưởng đến những phương trời
xa Ông tìm cách ra nước ngoài nhưng không có giấy phép, Nguyễn Tuân bị mật thám bắt tại Băng Cốc (Thái Lan), giải về Hà Nội, cuối cùng đưa về giam tại Thanh Hóa năm 1930
Sau khi ở tù ra, trước khi bước vào con đường viết văn, làm báo, Nguyễn Tuân cũng đã làm một số công việc khác như thư ký nhà máy đèn Thanh Hóa, mở hiệu sách báo hay làm thông tín viên Và cũng trong khoảng thời gian này, ông cũng bắt đầu sáng tác văn học, viết ký, truyện ngắn, thơ,
phóng sự, làm báo đăng trên các tờ: Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam
tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy, … Các tác phẩm của ông được đăng dưới nhiều
bút danh khác nhau như: Ngôi Lôi Quật, Thanh Hà, Nhất Lang, Tuân, Nguyễn
Tuân, Tuấn Thừa Sắc, Ân Ngũ Tuyên, … Bắt đầu từ năm 1937, Nguyễn Tuân
đã thực sự sống với ngòi bút của chính mình Tiếp tục sau đó với tác phẩm
Một chuyến đi (1938) ông được công chúng chú ý và thực sự thành công tạo
được tiếng vang lớn trên cả nước với tập truyện ngắn Vang bóng một thời
(1939)
Trang 20Năm 1941, Nguyễn Tuân bị bắt lần hai, bị giam một năm ở trại tập trung Vụ Bản, Nho Quan, Ninh Bình vì giao du và chứa chấp một người bạn thân Nhật ở “Am sông Tô” Sau khi ở trại tập trung về, ông bắt đầu viết và
cho ra mắt bạn đọc một loạt các tác phẩm: Thiếu quê hương, Tùy bút, Chiếc
lư đồng mắt cua, Tóc chị Hoài, tập truyện Nguyễn
Không chỉ là một nhà văn đa tài viết và thành công trên nhiều thể loại khác nhau, Nguyễn Tuân còn hoạt động nhiệt tình, sôi nổi trong các hoạt động nghệ thuật khác Ông đã từng tham dự đóng vai chính trong nhiều vở kịch diễn tại Hà Nội và là một trong những diễn viên đầu tiên của điện ảnh Việt
Nam với một vai diễn nhỏ trong phim Cánh đồng ma được quay ở Hồng
Kông năm 1938
Cách mạng tháng Tám thành công, chứng kiến trước sự đổi thay tươi sáng của toàn dân tộc, trong tâm thế một con người của một đất nước có chủ quyền, độc lập, Nguyễn Tuân nhanh chóng nhập cuộc, nhận đường, rũ bỏ cái tôi cá nhân cực đoan, hăng hái tham gia kháng chiến, tìm thấy được vẻ đẹp ngay chính trong những con người lao động bình dị đời thường Ngay trong
năm 1945, Nguyễn Tuân đã cho ra tác phẩm Lột xác, tác phẩm đánh dấu mốc
chuyển biến quan trọng trong việc thay đổi nhân sinh quan, thế giới quan của bản thân, tin yêu vào cuộc sống
Năm 1946, Nguyễn Tuân được gặp và tiếp xúc với một số nhà văn trong Hội văn hóa cứu quốc và đặc biệt là cuộc gặp gỡ với Tố Hữu, nhà thơ cách mạng này đã thuyết phục ông tham gia đoàn văn nghệ sĩ đi vào mặt trận Nam Trung Bộ và ông đã nhận lời Nếu như trong giai đoạn trước Cách mạng
tháng Tám, Nguyễn Tuân thích “xê dịch” đến nhiều vùng đất mới nhưng chủ
yếu là đi để thoả mãn cái tôi cực đoan của bản thân thì giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đi nhiều lại là đi để phục vụ kháng chiến, phục vụ đất nước, nhân dân Từ Vinh đến Thanh Hóa hay Tây Bắc đều in dấu bước chân Nguyễn Tuân, qua mỗi mảnh đất kháng chiến ông đã cho ra đời
Trang 21nhiều tác phẩm tâm huyết của mình như: Đường vui, Tình chiến dịch, Sông
Tuyến, Sông Đà, … Từ năm 1948 – 1958, ông giữ chức Tổng thư ký Hội văn
nghệ Việt Nam Trong cả hai cuộc kháng chiến kiến quốc trường kỳ của dân tộc, Nguyễn Tuân đều tham gia tích cực và dùng ngòi bút của mình khám phá
vẻ đẹp của tổ quốc và con người trong chiến đấu, lao động sản xuất, dựng xây
Ngày 28 tháng 1 năm 1987, Nguyễn Tuân mất tại Hà Nội Năm 1996, ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu
1.1.2 Con người
Một tác phẩm văn học ra đời bao giờ cũng là kết quả của cả một quá trình lao động sáng tạo, những rung động thăng hoa của cảm xúc, của tâm hồn, của suy nghĩ và có thể là hình bóng tác giả Điều này sẽ không sai khi tìm hiểu nghiên cứu về toàn bộ quá trình sáng tác với một số lượng tác phẩm
đồ sộ của Nguyễn Tuân theo dọc hành trình hơn năm mươi năm sáng tác của ông đặc biệt là giai đoạn sáng tác trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Các nhân vật của ông dù là ẩn dưới cái tên nào đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là
“hình bóng của cái Tôi cá nhân chủ nghĩa của ông” [8, tr 603] Vì vậy trước
khi đi tìm hiểu nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Tuân thì một điều thực sự rất cần thiết và quan trọng đó là biết và hiểu về con người nhà văn
Sinh thời Nguyễn Tuân luôn cố gắng xây dựng một hình tượng “không
giống ai và không cho ai bắt chước được mình” và quả thật ông đã làm được
điều đó Với quá trình lao động nghề nghiệp nghiêm túc, ông đã tự xây dựng
và khẳng định một phong cách đầy cá tính, độc đáo mang tên Nguyễn Tuân trên văn đàn Việt Nam Để rồi khi trở về với cát bụi, bạn bè đồng nghiệp và các thế hệ sau vẫn luôn nhắc đến con người ông, phong cách nghệ thuật trong
sáng tác của ông vì rằng ông còn “ở mãi trong đời”:
Cái râu cái tóc ông chẳng giống ai Cái ăn cái ngủ ông chẳng giống ai
Trang 22Cái độc đáo văn ông nghìn đời không lặp lại Thế cho nên, ông ở mãi trong đời
(Ở mãi trong đời _ Phạm Tiến Duật)
Người đọc say mê Nguyễn Tuân không phải chỉ bởi vì tác phẩm của ông mà còn bị cuốn hút ngay bởi ngoại hình, giọng nói, nụ cười, … toát lên
phong thái của một con người có uy “Nguyễn Tuân có gương mặt thật thích,
đượm vẻ hóm hỉnh” [16, tr 27], “một nét cười chúm chím rất hóm hỉnh, và đôi mắt ranh mãnh lạ thường, nhưng nụ cười và đôi mắt vô cùng khả ái” [34,
tr 323], cùng với “một giọng nói sang kín, có khi hơi kề cà, nhưng lại hết sức
chan hòa, khi gặp những người đáng trọng, đáng yêu” [34, tr 338] Trong
cuộc sống đời thường, Nguyễn Tuân là một người rất thẳng thắn, yêu ghét ai ông đều bộc lộ rõ ràng, nếu không ưa ai ông tỏ ngay ra nét mặt Là một nhà văn lớn, ông đã giành trọn cuộc đời để đi tìm và gắn bó với cái đẹp trong mọi
biểu hiện của cuộc sống Trong Vang bóng một thời, ta đã từng biết đến một
Nguyễn Tuân đi tìm cái đẹp của một thời đã xa với những thú vui tao nhã như thả thơ, đánh thơ, uống trà, … với một lối thưởng thức hết sức tỉ mỉ, cầu kỳ thì ngay chính trong cuộc sống đời thường này ông cũng rất cầu kỳ, tỉ mỉ Theo hồi ức người vợ tảo tần gắn bó trong suốt cuộc đời của ông, bà Vũ Thị Tuệ có kể lại rằng trong những bữa ăn của ông nhiều hay ít thức ăn không
quan trọng mà quan trọng là bữa ăn “phải đẹp”, “phải sạch” Xung quanh
con người Nguyễn Tuân đã có thật nhiều những giai thoại cũng như những kỷ niệm đẹp cùng những người bạn đồng nghiệp trong nước và nước ngoài Thậm chí có những con người chỉ gặp một lần nhưng tất cả đều có những ấn tượng mang màu sắc riêng độc đáo chỉ có ở Nguyễn Tuân – một cái duyên
của một tài tử nghệ sĩ luôn có sẵn ở trong mình “sức hút lẫn sức đẩy” [34, tr 134]
Trong lao động nghệ thuật, Nguyễn Tuân là con người nghiêm túc, luôn hết mình cho công việc, không ngừng rèn luyện trau dồi kiến thức
Trang 23Trong những trang viết về chuyện nghề, ông đã tâm sự hết sức chân thành với bạn đọc những yêu cầu quan trọng đối với nghề văn chương đó là đi, đọc và viết để có thể cho ra đời những tác phẩm có giá trị Việc viết văn không chỉ có năng khiếu mà đó còn là sự rèn luyện “khổ hạnh”, ngay chính bản thân ông, hơn nửa cuộc đời hoạt động nghệ thuật không lúc nào ngừng nghỉ, ông luôn giành thời gian dày công cho việc nâng cao kiến thức Ở Nguyễn Tuân có một sức đọc và sức viết thật đáng nể và được minh chứng cụ thể ở thành công tác
phẩm “Trong văn chương, anh tự trọng mình, anh tôn trọng người đọc Từng
chữ, từng chữ, từng trang của anh viết, được trạm trổ gọt giũa, như một nghệ
sĩ tạo hình Anh không bằng lòng để người đọc phải chịu lặp lại ý cũ, từ cũ, cách nói cũ Dưới ngòi bút của anh, mỗi dòng sông, ngọn núi, cánh đồng, mỗi làng quê, đường phố, … và mỗi con người không chỉ cần được khắc họa thành đường nét, nhiều sắc màu mà còn cần tìm hiểu kỹ cả nguồn gốc, cũng như quan hệ gần xa và phán đoán về tương lai phát triển của nó” [34, tr.158]
Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa, uyên bác Ông không chỉ hoạt động trong lĩnh vực văn chương, Nguyễn Tuân còn hoạt động trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác như: điện ảnh, làm báo, diễn kịch, phê bình văn học nghệ thuật, hội họa Ở mỗi lĩnh vực, ông đều am hiểu sâu sắc, say mê nghệ thuật với tinh thần trách nhiệm cao
Nguyễn Tuân là một thế hệ nhà văn nối tiếp của thế hệ nhà nho tài tử như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương, Tản Đà, … mang trong mình ý thức cao về cá nhân, về năng lực phẩm giá của bản thân, có cái
“ngông” của độc đáo, tài hoa nhưng cũng rất cực đoan, cầu kỳ, lập dị mà nói
như nhà văn Vũ Bằng thì: “Con người Nguyễn Tuân là con người đa diện,
con người Nguyễn Tuân là sự kết tinh của không biết bao mâu thuẫn” [15,
tr.311] Bên cạnh một Nguyễn Tuân ngông nghênh, kiêu ngạo, quên đời còn
có một Nguyễn Tuân luôn day dứt, dằn vặt, đau đáu với đời Bên cạnh một Nguyễn Tuân với cái tôi cá nhân cực đoan còn là một Nguyễn Tuân với cái
Trang 24tôi công dân nghệ sĩ Trong con người luôn tồn tại những tính cách đối lập, có khi rất ồn ào đông vui nhưng cũng có khi chỉ lặng thinh Hay nói như nhà văn
Nguyên Ngọc thì: “ở ông luôn chứa đầy mâu thuẫn: nhân hậu mà cay độc,
tinh tế mà xù xì, thanh nhã mà gồ ghề, quyết liệt mà dịu dàng, khinh bạc mà trân trọng” [34, tr.532] Phải chăng nhờ những mặt mâu thuẫn trong tính cách
rất riêng đó của Nguyễn Tuân thì chúng ta mới có “một Nguyễn Tuân toàn
vẹn, tinh hoa tư tưởng, tài hoa văn chương” [34, tr 269] đến như vậy Con
người Nguyễn Tuân là sự hội tụ đầy đủ những tố chất của một người nghệ sĩ Với tất cả cá tính, phong cách sống và tài năng, Nguyễn Tuân đã góp nhặt và
tôi luyện tạo những trang viết độc đáo, uyên bác Đọc tác phẩm của ông “tâm
hồn ta như phong phú thêm” [34, tr 55]
1.2 Sự nghiệp
Một sự nghiệp sáng tác đồ sộ, tập trung trên nhiều thể loại với trọn bộ
“Nguyễn Tuân toàn tập” do Nguyễn Đăng Mạnh biên soạn và giới thiệu gồm
năm tập Mỗi tập khoảng hơn 800 trang, ngoài ra chưa kể tới những tuyển tập khác nhau của những nhà nghiên cứu, nhà xuất bản Sáng tác của Nguyễn Tuân được chia thành hai giai đoạn được đánh dấu bởi mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc đó là cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.2.1 Trước Cách mạng tháng Tám:
Nguyễn Tuân đến với nghiệp văn từ đầu những năm 30 của thế kỷ trước, trong khoảng năm năm đầu từ 1932 đến 1937 có thể gọi đây là giai đoạn thử bút, tìm lối đi cho tác phẩm Đến năm 1938, tên tuổi của ông bắt đầu được chú ý nhiều hơn, phong cách sáng tác bắt đầu được định hình với tác
phẩm Một chuyến đi là kết quả của những ngày dài tham gia cùng đoàn làm phim Cánh đồng ma được quay ở Hương Cảng
Một tác phẩm đánh dấu sự thành công vang dội, đỉnh cao của sáng tạo nghệ thuật trong hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân đó chính là tập truyện
Vang bóng một thời (1939) Nhà văn Thạch Lam sau khi đọc tác phẩm cũng
Trang 25đã rất vui mừng mà khẳng định chắc chắn giá trị xuất sắc của văn chương là đây Tập truyện đã đưa người đọc quay về với những thú vui tao nhã nhưng không kém phần cầu kỳ của những ông Nghè, ông Cử, ông Tú trong một thời
kỳ lịch sử phong kiến đã tàn Tìm về quá khứ với cái Đẹp xưa trong một góc nhìn thi vị, hoài cổ cũng chính là một đề tài chính trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng
Chán ghét xã hội thực tại “ối a ba phèng” của một người dân mất nước
cùng với việc chịu ảnh hưởng tư tưởng của những nhà văn Pháp tiêu biểu là
André Gide, Nguyễn Tuân hoang mang, bế tắc, “xê dịch” bản thân trong
những chuyến đi hoặc cuốn theo những cuộc vui thú hưởng lạc trong lời ca tiếng hát ả đào bên những bàn đèn thuốc phiện Trong quãng thời gian tiếp nối này, ông đã cho ra mắt thêm nhiều những tùy bút, phóng sự, tiểu thuyết,
tập truyện Với hai phóng sự tiêu biểu Ngọn đèn dầu lạc (1939), Tàn đèn dầu
lạc (1941), cộng thêm tùy bút Chiếc lư đồng mắt cua (1941) là những tác
phẩm tiêu biểu cho đề tài về cuộc sống hưởng lạc trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng Viết về đề tài này, Nguyễn Tuân không giống như những nhà văn cùng thời mà ông đã chọn cho mình một lối đi riêng, khác biệt, đánh trả lại xã hội bằng giọng điệu khinh bạc và tài năng của người nghệ
sĩ Chiếc lư đồng mắt cua cùng với Vang bóng một thời “có thể xem như độ
chín của ngòi bút Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám” [26, tr 60]
Trong cuộc sống thường nhật, Nguyễn Tuân đi cũng thật nhiều Đi ở đây không chỉ đơn thuần là thưởng ngoạn mà đã thành căn bệnh cố hữu, đi để
hồ hưởng cho no nê mọi cảnh sắc hương vị đất nước, đi để “thay thực đơn
cho giác quan” Nhà văn đã từng tuyên bố “hạnh phúc có lẽ chỉ tìm thấy ở những sân ga” [26, tr 693] Nguyễn Tuân viết Thiếu quê hương (1940), Tùy bút I (1941), Tùy bút II (1943)
Quay mình tìm về quá khứ một thời hay chuyển mình trong những chuyến đi, hoặc tìm quên trong những cuộc truy hoan hưởng lạc vẫn không
Trang 26thể vùi lấp được thực tại bế tắc, Nguyễn Tuân viết thưa dần và đi vào ngõ cụt
của những Liêu trai chí dị ma quái với Xác ngọc lam, Đới roi, Rượu bệnh,
- Ngọn đèn dầu lạc (phóng sự), Mai Lĩnh, Hà Nội, 1939
- Thiếu quê hương (tiểu thuyết), đăng báo từ 1940, Anh Hoa, Hà Nội,
xuất bản, 1943
- Tàn đèn dầu lạc (phóng sự), Mai Lĩnh, Hà Nội, 1941
- Chiếc lư đồng mắt cua (tùy bút), Hàn Thuyên, Hà Nội, 1941
- Tùy bút I, Cộng sự, Hà Nội, 1941
- Tùy bút II, Lượm lúa vàng, Hà Nội, 1943
- Nguyễn (tập truyện), Thời đại, Hà Nội, 1945
Sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám có thể thâu
tóm trong một chữ “ngông”, sống và viết như để chơi ngông với con người
và thế giới quanh mình Không có phương tiện Nguyễn Tuân đã thổi phồng cái tôi cá nhân lên làm vũ khí, có những lúc đã rơi vào chủ nghĩa cực đoan
Tuy vậy, ở Nguyễn Tuân vẫn giữ lại được những giá trị của một “thiên
lương” trong sạch, một tình cảm trân trọng với những giá trị cổ truyền của
dân tộc, những giá trị tinh hoa văn hóa nhân loại được thể hiện theo lối độc đáo riêng của nhà văn
1.2.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Cách mạng tháng Tám thành công không chỉ đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc mà còn đem lại nguồn ánh sáng diệu kỳ cho thế hệ nhà
Trang 27văn nhận đường, tin tưởng đi theo Cách mạng Nguyễn Tuân mang sẵn trong mình tình yêu, sự gắn bó với quê hương đất nước, ông đã nhanh chóng nhận
đường hòa vào niềm vui chung của cả đất nước Ông viết Vô đề (Lột xác)
ngay trong năm 1945 như một tuyên ngôn dõng dạc thông báo với cuộc đời
về sự thay đổi bước ngoặt của bản thân mình: “Nguyễn đã vứt hết lòng kiêu
căng cố hữu của mình Đối với sự sống, Nguyễn trở nên khiêm tốn, và muốn
có ngay một thái độ khuất nhục để nêu rõ sự phục thiện của mình” [28, tr 9]
Tiếp nối đến Chùa Đàn được viết năm 1946 và theo như Hoàng Như Mai nhận xét thì “Với Chùa Đàn, tài năng sáng tạo của nhà văn đã vươn tới
thượng đỉnh” [34, tr 266] Tác phẩm đã dẫn giải một luận đề triết lý “Tự huỷ diệt để tái sinh” [34, tr 267]
Đến năm 1949, Nguyễn Tuân viết Đường vui “một thiên tùy bút được
coi là sự chuyển biến thật sự của ngòi bút Nguyễn Tuân sau Cách mạng” [34,
tr.23] Mê say với phong trào cách mạng, Nguyễn Tuân đã rũ bỏ hoàn toàn cái tôi ngang bướng, phá phách, kiêu bạc để hòa hợp, sẻ chia trong tình đồng chí, đồng bào Ông cũng đi đến những vùng đất quê hương đất nước nhưng không
phải là đi để thỏa mãn cái tôi “xê dịch” chối bỏ hiện tại mà là đi trong tâm thế
dựng xây, là tiếng hát ngân vang, náo nức, tin tưởng vào kháng chiến Trong dòng cảm hứng vui tươi, nhiệt thành đó, Nguyễn Tuân cho ra mắt bạn đọc
thêm tập tùy bút Tình chiến dịch (1950) Qua tác phẩm ta thấy một Nguyễn
Tuân cùng ăn, cùng ở, cùng trèo đèo vượt suối, cùng làm công tác chính trị, dân vận, lội suối đi khai hội với đồng bào, cùng bộ đội đi công đồn vào vùng
chiến dịch Với Tình chiến dịch, Nguyễn Tuân giờ đây đã thực sự là một
“chiến sĩ – nhà văn”
Tình yêu tha thiết gắn bó với hồn quê đất nước, Nguyễn Tuân hăng say khám phá những vùng đất, những con người trong cuộc sống mới Những chuyến đi đến cực bắc của tổ quốc, cảnh sắc thiên nhiên và vẻ đẹp con người qua ngòi bút Nguyễn Tuân hiện lên thật đẹp, thật lộng lẫy mà ông gọi đó là
Trang 28“chất vàng mười của tâm hồn con người” Tập tùy bút nổi tiếng Sông Đà ra
đời năm 1960 là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc đó
Năm 1972, đế quốc Mỹ thực hiện ném bom bắn phá Hà Nội, Nguyễn Tuân luôn bám sát tình hình và đã có những bài ký với số lượng thông tin khá lớn, ca ngợi, cổ vũ tinh thần đấu tranh anh dũng của lực lượng quân đội và
nhân dân Hà Nội Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi ra đời trong hoàn cảnh này Ngoài
ra trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông cũng đã có thêm nhiều bài ký khác nói về cuộc chiến đấu kiên cường của nhân dân miền Nam với một tinh thần yêu nước và tinh thần căm thù giặc sâu sắc của chính bản thân tác giả
Hòa bình lặp lại, Nam Bắc liền một dải, Nguyễn Tuân có dịp đi nhiều hơn nữa, vẻ đẹp quê hương đất nước lại được hiện lên thêm yêu tha thiết, tất
cả được gửi gắm qua những trang viết của Cảnh sắc và hương vị đất nước
(1988) Ngoài ra, ông còn có thêm những chia sẻ chân thành của câu chuyện
nghề nghiệp trong Chuyện nghề (1986)
Tựu chung sáng tác của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám nổi bật với:
- Chùa đàn (truyện), Quốc văn, Hà Nội, 1946
- Đường vui (tập tùy bút), Hội văn nghệ Việt Nam, 1949
- Tình chiến dịch (tập tùy bút), Hội văn nghệ Việt Nam, 1950
- Thắng càn (truyện), Văn nghệ, 1953
- Chú Giao làng Seo (Sách Kim Đồng), 1953
- Bút ký đi thăm Trung Hoa, Văn nghệ, Hà Nội, 1955
- Tùy bút kháng chiến và hòa bình, tập I, Văn nghệ Hà Nội, 1955
- Tùy bút kháng chiến và hòa bình, tập II, Văn nghệ, 1956
- Sông Đà (tập tùy bút), Văn học, Hà Nội, 1960
- Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, Hội văn nghệ Hà Nội, 1972
- Cảnh sắc và hương vị đất nước, Tác phẩm mới, Hà Nội, 1988
Trang 29Sau Cách mạng tháng Tám không còn là một Nguyễn Tuân kiêu căng,
“chảnh chọe” nữa mà là một Nguyễn Tuân hòa hợp, nhiệt tình, gắn bó trong
tình quân dân, cái tôi cá nhân cực đoan đã hòa cùng cái ta chung của toàn dân tộc, vẻ đẹp con người được khám phá ngay trong cuộc sống thường nhật
1.3 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân
1.3.1 Giới thuyết chung về quan niệm nghệ thuật về con người
Văn học lấy cuộc sống và con người làm đối tượng để phản ánh Các tác giả văn học có nói mây trời non nước thiên nhiên đi chăng nữa thì cuối cũng quy về con người và cuộc sống của con người Để khẳng định chắc chắn
điều này nhà văn Macxim Gorki đã từng nói: “Văn học là nhân học” Con
người hiện lên trong văn học cũng đa dạng, phức tạp và muôn màu muôn vẻ Hầu hết những con người trong văn học đều lấy từ những nguyên mẫu, những tính cách ngoài đời thực nhưng khi đi vào tác phẩm văn chương sẽ tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố thuộc về chủ quan của tác giả Vì mỗi tác phẩm đều là đứa con tinh thần, in đậm dấu ấn, quan niệm, phong cách của chủ thể tác giả Chính những điều này đã góp phần tạo nên sự khác biệt trong sáng tác của nhà văn này với nhà văn khác Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người cũng chính là bước đi cơ bản để khám phá tính độc đáo, chiều sâu tâm lý tư tưởng trong cách thể hiện con người của mỗi nhà văn hay mỗi thời kỳ văn học
Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong nghiên cứu, lí luận và phê bình Xung quanh khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người cũng còn nhiều ý kiến và cách hiểu
khác nhau Từ góc độ thi pháp học, Trần Đình Sử cho rằng: “Quan niệm nghệ
thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên những giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật đó” [50, tr 55] Huỳnh Như Phương cũng đưa ra một ý
Trang 30kiến nhưng thiên về ý nghĩa mà quan niệm nghệ thuật về con người mang lại:
“Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”
Hình tượng con người trong tác phẩm văn học bao giờ cũng thể hiện những quan niệm, cách lí giải, cách cảm cách nghĩ mang màu sắc chủ quan của tác giả Mỗi tác giả sống trong một môi trường, một điều kiện sống khác nhau và là tổng hòa của tất cả các mối quan hệ xã hội cùng với sự tìm tòi cá nhân nên thường đưa vào trong tác phẩm của mình hệ thống nhân vật với những cách nhìn nhận, lí giải khác nhau Như cùng viết về đề tài người nông dân trước Cách mạng tháng Tám nhưng Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng lại có những cách viết khác nhau, xây dựng những hình tượng nhân vật khác nhau Thông qua việc tìm hiểu, phân tích, lí giải các nhân vật được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong tác phẩm văn học của tác giả từ đó sẽ tạo nên những giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật cho tác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn chịu sự chi phối của những điều kiện như văn hóa, xã hội, tư tưởng thời đại mà tác giả sống Những điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến việc xây dựng nhân vật trong các sáng tác của nhà văn qua mỗi thời đại Ngược dòng thời gian quay về với thần thoại khi mà con người luôn phải đấu tranh sinh tồn và khát vọng chế ngự thiên nhiên, con người là những vị thần siêu nhiên mang sức mạnh phi thường
để thực hiện một nhiệm vụ nào đó Con người trong truyện cổ tích lại là hiện thân của một quy ước xã hội, tiêu biểu cho những triết lý sống, mơ ước tốt đẹp của nhân dân, con người cổ tích quan tâm đến số phận cá nhân
Con người trong văn học Trung đại khá phong phú: Có con người vũ
trụ biểu trưng cho sự hòa hợp giữa “Thiên – Địa – Nhân”; có con người đạo
đức được nhìn nhận trong một hệ thống các giá trị đạo đức luân lí, chuẩn mực của xã hội; có con người ý thức cá nhân, giãi bày tâm tư tình cảm, suy nghĩ
Trang 31cảm xúc của riêng cá nhân hay sự tự ý thức về vẻ đẹp và tài năng; có con người đấng bậc Một quan niệm về con người đã chi phối trong suốt hành trình dài nhiều thế kỷ của văn học Trung đại với số lượng lớn các tác phẩm đó
là con người đấng bậc, những con người thuộc tầng lớp trên của xã hội,
những “bậc anh hùng”, “đấng quân vương”,…
Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những thành tố quan trọng góp phần vào sự vận động phát triển của nghệ thuật, nhà văn miêu tả con người trong sự vận động ấy cũng sẽ làm cho văn học được đổi mới Qua mỗi thời kỳ văn học, con người được nhìn nhận trong đa dạng và nhiều chiều hơn, sâu hơn, toàn diện hơn
Đến giai đoạn văn học 1930 -1945, có sự xuất hiện của phong trào thơ Mới, Tự lực văn đoàn và văn học hiện thực phê phán, quan niệm nghệ thuật
về con người có sự chuyển đổi và được mở rộng hơn Con người cá nhân muốn thoát ra khỏi vòng vây của luân lí xã hội, của hệ tư tưởng cũ, của những mối quan hệ gia đình rằng buộc để thỏa mãn tự do cá nhân, phát huy bản ngã Bên cạnh đó, văn học hiện thực phê phán đã góp thêm một kiểu con người cá nhân ở một bậc phát triển mới có sự kết hợp con người xã hội và con người cá nhân Văn học giai đoạn 1945 -1975, ba mươi năm kháng chiến gian khổ ác liệt chống hai kẻ thù lớn thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để bảo vệ nền độc lập nước nhà, văn học dưới sự chỉ đạo của Đảng tập trung thực hiện nhiệm vụ lớn phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Văn học phải hướng về đại chúng và trước hết là công nông binh Vì thế, con người được nhìn nhận chủ yếu ở góc độ thời đại gắn với thời đại, với cộng đồng Con người trong đời sống cũng như trong văn chương đều được nhìn nhận và đánh giá chủ yếu ở phẩm chất chính trị, kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng được xây dựng lên bằng bút pháp lãng mạn anh hùng ca
Con người trong giai đoạn văn học sau năm 1975, đất nước thống nhất văn học có thêm những nội lực để phát triển đa diện, sâu rộng, nhiều chiều
Trang 32Đặc biệt văn học trong thời kỳ đổi mới sau năm 1986, con người trở về với muôn mặt của đời sống, con người được trở về sống cho cá nhân nhiều hơn, tính toàn diện qua đây cũng được bộc lộ rõ nét Bên cạnh những con người cộng đồng mang phẩm chất chính trị, hồn quê nét Việt còn là những con người đa nhân cách, con người được khai thác dưới góc độ bản năng tính dục, đời sống tâm linh, con người đứng trước những nguy cơ tha hóa Trong con người cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn trái ngược tốt xấu, những tấn bi kịch giữa đời thường
Khi nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn học chúng ta cũng đã thấy những sự khác nhau về quan niệm nghệ thuật về con người qua mỗi thời kỳ, giai đoạn văn học Quan niệm nghệ thuật về con người lại chịu sự chi phối của cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn, người nghệ sĩ thông qua nhân vật của mình để bộc lộ suy nghĩ, nêu lên những tư tưởng cũng như gửi gắm những giá trị nhân văn, do đó càng đi sâu khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thì càng hiểu được phong cách sáng tác cũng như đánh giá được thành tựu của họ
1.3.2 Quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân
Nếu như ở cuộc sống đời thường ta thấy một Nguyễn Tuân độc đáo trong cách sống, cách ăn, cách ứng xử thì khi đi vào trong văn chương Nguyễn Tuân cũng có một quan niệm nghệ thuật về con người độc đáo Các nhân vật của ông luôn được tiếp cận trên phương diện tài hoa nghệ sĩ, là nhà văn của quan điểm duy mĩ nên ông nhìn nhận và đánh giá con người trên tiêu chí thẩm mỹ và văn hóa Chịu ảnh hưởng của A Gide và Nietzche nên trong sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám con người được ông chia ra làm hai loại chính: Những con người tài hoa uyên bác và đối lập với
họ là lớp người hạ đẳng “ngồi xổm lên nghệ thuật” Những con người tài hoa
uyên bác thường được là những nhân vật chính trong tác phẩm của ông, luôn được ông nâng niu trân trọng và đặc biệt luôn hướng tới cái đẹp, đặt cái đẹp
Trang 33lên trên hết Còn những con người hạ đẳng sẽ là nhân vật phụ phản diện, khi được nhắc đến trong tác phẩm chủ yếu để nhân vật tài hoa uyên bác kia đối lập lại qua đó bộc lộ thái độ của tác giả mà thôi Đặc biệt Nguyễn Tuân thù ghét bọn con buôn tôn thờ và phụng sự đồng tiền, chà đạp lên cái Đẹp và
nghệ thuật: “Ai nói với tôi những chuyện kinh doanh kèn cựa không những tôi
dửng dưng mà còn khinh miệt người ta ra mặt nữa” [27, tr 330]
Nhân vật tài hoa nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân vô cùng đa dạng, không phân biệt già hay trẻ, gái hay trai, cậu ấm ông Nghè hay đơn giản
chỉ là một cô đào, một ông chủ nhà hát, những con người “giang hồ lạc
phách” Già thì có cụ Nghè móm, cụ Kép làng Mọc, cụ Sáu, cụ Hồ Viễn, ông
Cử Hai Phụ nữ thì có mợ Cử Hai, cô Tú, phu nhân họ Hồ, chị Lựu, Chị Hoài, Cúc Tiểu Muội, cô đào Tâm, cô Tơ, … Họ là những con người biết sống cho nghệ thuật hay nghệ thuật toát ra từ chính con người họ Một ông Ấm thích
uống trà trong sương sớm pha với thứ nước đọng trên lá sen; một “cụ Kép
nguyện đem cái quãng đời xế chiều của một nhà nho để phụng sự lũ hoa thơm
cỏ quý” [26, tr 553]; một cặp tài tử ông Phó sứ và vợ Mộng Liên bước đi
khắp nơi dọc xứ Trung Kỳ để đánh thơ; một cô đào Tâm kiêu bạc giang hồ nhưng lại có tiếng hát trong trẻo cất lên là tẩy rửa bao nhớ nhớp trong đời; một chị Hoài với mái tóc dài mượt mà đẹp đẽ như kết hợp của thiên nhiên vũ trụ Ở những con người tài hoa nghệ sĩ cái đẹp cứ thế được hội tụ và tỏa sáng
ra thế giới bên ngoài dù thế giới ấy có vẩn đục tối tăm đi chăng nữa Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân đã có sự thay đổi lớn lao, chất tài hoa nghệ sĩ ông đã tìm thấy ngay ở những con người của cuộc sống lao động hiện tại chứ không còn ở lớp người xưa cũ nữa Đó là những chiến sĩ cách mạng, những
người lao động bình thường như người lái đò sông Đà – “một người nghệ sĩ
thiên tài trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh”
Cả một cuộc đời, Nguyễn Tuân luôn khát khao đi tìm cái đẹp, cái đẹp
trong muôn mặt của đời sống, Nguyễn Thành gọi ông là “người săn tìm cái
Trang 34đẹp”, Nguyên Ngọc gọi ông là một nhà văn “sống đẹp từng ngày”, còn
Nguyễn Đình Thi gọi ông là “người đi tìm cái đẹp và cái thật” Trước Cách
mạng tháng Tám do bất mãn, bế tắc và chán ghét cái xã hội đương thời, Nguyễn Tuân quay về với cái đẹp trong quá khứ đã qua gắn với một lớp người cũ cùng những thú vui cầu kỳ của cuộc sống hưởng lạc Hoặc Nguyễn
xê dịch mình đến những miền đất mới lạ nhằm thay đổi “thực đơn” cho bản thân, đạt được những cảm xúc thẩm mỹ, chối bỏ gia đình, hạnh phúc là những chuyến đi trên khắp các sân ga, đường tàu Vẫn không lấp đầy khoảng trống của một cá tính độc đáo, Nguyễn lao vào hành lạc, ngày đêm trong những cuộc truy hoan ả đào thuốc phiện Ngay trong những nơi được coi là mặt trái của xã hội, Nguyễn Tuân đã khám phá được cái đẹp của những con người khinh đời, nhạo đời Nguyễn Tuân chủ trương cái đẹp không mang tính xã hội, tính khuynh hướng giai cấp vì vậy mà cái đẹp có thể là cái thanh cao, có ích nhưng cũng có thể là cái có hại Với quan điểm trên Nguyễn Tuân đã phát
biểu công khai khá nhiều lần trong các tác phẩm của mình: “Mỹ thuật vốn
không bà con với luân lý của thời đại Một thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất gọn và nhanh” [27, tr 1011], hay “Đã bao giờ tôi làm nổi một bài thơ thoát trần Đã bao giờ tôi được viết để ca ngợi cái
gì mà người ta cho là vô ích Ca ngợi một thân cây to già nhưng hoàn toàn không ứng dụng được vào việc làm đồ gỗ” [27, tr 813] Quan điểm nghệ
thuật này của Nguyễn Tuân mang màu sắc cực đoan có khi nó được đẩy lên
đến đỉnh điểm khi cho rằng: “Cái người nào trong suốt một đời người mà
không ngắm một mớ tóc tử tế thì cái thẩm mĩ quan của người ấy còn lung lay lắm, chưa lấy gì làm định” [27, tr 657] Thật là một quan niệm phiến diện,
chủ quan, thiếu chính xác Bởi chính những quan niệm như thế mà người ta thường gọi những sáng tác của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám có
thể thâu tóm trong một chữ “ngông” Nếu như thân phận người phụ nữ đẹp trong Truyện Kiều của Nguyễn Du gắn liền với quan niệm “hồng nhan bạc
Trang 35mệnh” như nỗi xót xa thì trong tác phẩm của Nguyễn Tuân một người phụ nữ
đẹp cũng mang màu sắc bất hạnh, yểu vong Tuy nhiên Nguyễn Tuân cho
rằng chính như vậy mới là cái đẹp: “Người đàn bà đẹp chỉ nên chết trẻ
Những trang giai nhân tuyệt thế mà phải sống lâu cho đến bạc đầu thì thực cũng là một điều đại bất hạnh lây cho người đồng thời” [27, tr 573]
Sau Cách mạng, Nguyễn Tuân vẫn đồng hành trên con đường tìm kiếm cái đẹp Ông đã tìm thấy cái đẹp trong cuộc sống của cả dân tộc dưới quan điểm giai cấp và dưới góc độ của những vấn đề xã hội với lời tuyên ngôn:
“Mày hãy lấy mày ra làm lửa mà đốt cháy hết những phong cảnh cũ của tâm tưởng mày” [28, tr 16] Nguyễn Tuân hồ hởi đi theo Cách mạng, tích cực
tham gia vào cuộc sống
Nguyễn Tuân xuất hiện trên văn đàn trong thời kỳ văn học lãng mạn và đặc biệt là phong trào Thơ mới với sự trỗi dậy mạnh mẽ của cái “tôi” cá nhân
cá thể Ta bắt gặp trong thơ Mới “một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng
như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên, và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu Từ người này sang người khác, sự cách biệt rõ ràng Cá tính con người bị kiềm chế trong bao nhiêu lâu bỗng được giải phóng” [51, tr 31] Con người trong Thơ mới đã rũ
bỏ những gánh nặng nghiêm ngặt về luật thơ và những giáo điều, luân lý của thời kỳ văn học trước, con người đó hướng đến những cảm xúc cá nhân cá thể của chính bản thân mình, trực tiếp đối diện với cuộc sống
“Tôi là con chim đến từ núi lạ Ngứa cổ hót chơi”
Lời tựa “Gửi hương cho gió” – Xuân Diệu
Còn trong văn xuôi “ta bắt gặp một Nhất Linh đang đau khổ, dằn vặt
trên con đường đi tìm lý tưởng và hạnh phúc, một Nhất Linh tinh tế trong việc diễn tả những cảm xúc và diễn biến tâm lý; một Khái Hưng sôi nổi, yêu đời,
Trang 36duyên dáng, vui vẻ lạc quan một cách dễ dãi với những ảo tưởng lãng mạn và ngây thơ, vui ngay trong nỗi buồn man mác, trong những xao xuyến băn khoăn của một lớp thanh niên cùng thế hệ” [8, tr 525] Riêng đối với Nguyễn
Tuân, ông cũng nhìn con người với tư cách là một con người cá nhân với sự thức tỉnh của cái “tôi” và cá tính phát triển mạnh mẽ Nguyễn Tuân chủ
trương “Phải làm cho trọn bổn phận tối thiểu của những thằng đời người
Nghĩa là phải sống với thị dục, sống với giác quan, sống bằng xác thịt Chỉ có thế là hợp ý muốn của Đấng Sáng Tạo tối cao và tối linh đã sinh ra hết thảy muôn vật trên thế gian này” [26, tr 457] Để mở rộng và phát triển giác quan,
Nguyễn Tuân đã đưa mình đi nhiều nơi đến những miền đất lạ Các nhân vật của ông là những con người ưa xê dịch, thích ngao du thiên hạ, tự do phóng khoáng, thưởng ngoạn cảnh sắc Đó là những chàng trai tuổi trẻ Nguyễn, Vi, Hoàng, Bạch … họ ham đi, ham khám phá, có khi xê dịch trở thành một căn bệnh mà nếu không đi họ thấy buồn bã, mệt mỏi, đau đớn, chán ghét gia đình,
vợ con Và cũng chính vì đề cao cá nhân, nhân vật của Nguyễn Tuân rất sợ phải hòa nhập với cộng đồng, nhiều khi đánh mất niềm tin vào cuộc sống, chỉ
nhất nhất tin vào bản thân mình: “Rồi tôi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời mình
như một viễn khách không có quê hương nhất định Cái gì cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái kho cái vốn tình cảm và cảm giác của mình” [27, tr 655-
656] Vì vậy mà cái “tôi” trong sáng tác của Nguyễn Tuân rất dễ bị đẩy đến
chủ nghĩa cá nhân cực đoan mang “cái Tôi lập dị, ngang chướng đi lù lù
giữa cuộc đời, ném đá vào những kẻ xung quanh, khiêu khích với xung” [7, tr
200] xem đó như là một vũ khí chống trả lại cái xã hội kim tiền ô trọc
Sống hay viết đối với Nguyễn Tuân cũng chỉ là để tìm mình, để thực hiện cái tôi cá nhân của mình cho đến cùng Nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Tuân có thể có nhiều tên gọi khác nhau nhưng thực ra đó cũng chỉ là biến thể của cái “tôi” tác giả Nhân vật “tôi” chủ thể tác giả dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều giữ vai trò quan trọng trong việc phát biểu và thể hiện quan
Trang 37điểm tư tưởng của nhà văn Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Tuân không
ngần ngại mà tự thú rằng: “Lòng kiêu căng của ta xui ta chỉ có một lối độc
tấu” [28, tr 17] Lời tự thú ấy, Nguyễn Tuân không chỉ nói đến thể tài tùy bút
mà ông sử dụng rất nhiều mà đó còn là các nhân vật hiên lên trong sáng tác của ông Có một nhân vật “tôi” ngang bướng, phá phách không tin tưởng bất
cứ ai và điều gì trong tác phẩm của ông Thông qua nhân vật của mình Nguyễn Tuân muốn khẳng định một chân dung con người mình khác lạ với
tất cả xung quanh Vương Trí Nhàn đã từng nhận xét trong cuốn Nhà văn tiền
chiến và quá trình hiện đại hóa trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho tới 1945 của mình rằng: “Niềm say mê mà nhân vật Nguyễn Tuân và chính ông để cả cuộc đời theo đuổi, là say mê tìm hiểu chính mình và khắc họa bức chân dung tinh thần khác người của mình trước đồng loại” [38, tr 132] Trực
tiếp sống trong cái xã hội cái xã hội thốt nát, trưởng giả ô trọc, mang trong mình mối bất hòa và chán ghét hiện tại nên Nguyễn Tuân luôn muốn tạo dựng cho mình cái tôi cá tính độc đáo như vậy cũng chỉ để phản ứng lại, chống trả
lại xã hội cùng những con người trọc phú kia mà thôi: “Nguyễn đã dùng một
quyển sách in để tỏ rõ cá tính mình Cuốn sách đã đánh dấu sự chàng có mặt
ở cuộc sống này – một cuộc sống đầy bất mãn và uất kết của người trong cuộc, phản lại nỗi lèm nhèm, lẹt đẹt, lờ mờ, luộm thuộm và bằng lòng của tất
cả chung quanh” [27, tr 969] Cái “tôi” của Nguyễn Tuân phản ứng lại xã hội
đương thời không phải trên phương diện các mặt của đời sống xã hội mà là trên phương diện mỹ học mang bản chất của cái tôi kiêu căng, lập dị, khác người cùng thái độ cực đoan
Tuy nhiên, bên cạnh cái tôi cực đoan đó còn là một cái tôi Nguyễn Tuân chưa hẳn đã khép lại với đời, một phần trong con người ông vẫn muốn
mở rộng cánh cửa đón nhận những thanh âm, màu sắc tươi đẹp của thiên
nhiên, đất nước và con người Nhà văn Vũ Bằng đã từng nói: “Con người của
Nguyễn Tuân là con người đa diện, con người Nguyễn Tuân là sự kết tinh của
Trang 38không biết bao mâu thuẫn, con người Nguyễn Tuân là cả bài tính đố mà một người nhất kiến vi kiến với anh không thể nào hiểu nổi” [15, tr 311] Phải
chăng bởi vậy mà con người đi vào trong các tác phẩm của ông cũng phức tạp
đa chiều Đó là những con người phân thân, con người luôn chứa đựng bên trong biết bao mâu thuẫn, nhiều khuôn mặt tốt xấu Nhân vật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân luôn có những tâm sự giằng xé, dường như khi nhân vật
đó có ý định làm một việc gì đó thì luôn có một con người khác trong nhân vật đó nổi lên, dẫn đến việc nhân vật luôn phải tự vấn Là nhân vật Tôi trong
Chiếc lư đồng mắt cua, đêm đêm đắm mình trong những nhà hát cô đầu và
thuốc phiện, bỏ bê gia đình, người thân nhưng sau những ngày sa ngã anh ta vẫn luôn thấy xấu hổ, hối hận, nhận ra bao giá trị đã mất và muốn làm lại cuộc đời Nhưng đến khi muốn làm lại cuộc đời thì anh ta lại không đủ nghị lực và nhanh chóng sa ngã vào con đường cũ Trong mảng đề tài xê dịch, con
người phân thân được thể hiện rõ nhất Nổi bật với nhân vật Bạch trong Thiếu
quê hương, một con người mắc bệnh xê dịch chỉ thích đi, luôn luôn thèm đi,
miễn là đi bất cứ đâu đều được, đi không cần mục đích Nếu không đi được Bạch đau khổ, bực tức, cáu gắt cố tìm ra những lí do để ghét bỏ những người thân quanh mình Nhưng đến khi được đi rồi Bạch lại tỏ ra buồn chán thất
vọng, đi không mục đích thì buồn lắm “ta đi để mà đau khổ cả lúc đi lẫn
lúc nghỉ, ối ta ơi là ta ơi” Luôn tìm ra những lí do để ghét bỏ gia đình, vợ
con ấy vậy mà khi được thoát khỏi gia đình rồi thì Bạch lại dằn vặt: “Ngồi
trên một con tàu mà cứ phải lo nghĩ băn khoăn về một người có quyền nhớ mình, có quyền buồn bã về mình và nếu người ly phụ ấy lại ốm tương tư nữa thì bao nhiêu trách nhiệm sẽ đổ lên đầu tên lữ khách đã phạm vào cái tội lãng mạn thèm nhớ một con đường dài, mơ tưởng đến vùng nước rộng”
[26, tr 869-870] Trong con người Bạch song song tồn tại hai con người khác nhau, một con người ham sống, ham đi, muốn sống hết mình với cá tính của mình, một con người khác dường như lại muốn gắn bó với gia
Trang 39đình như một con người có giáo dục ký lưỡng, nhạy cảm với hạnh phúc Cũng chính bởi trong con người Nguyễn Tuân luôn có sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mâu thuẫn như vậy nên dù cái tôi có rơi vào chủ nghĩa cá nhân cực đoan thì trong con người đó vẫn còn cái gì đó gần gũi với mọi người xung quanh, với cộng đồng và xã hội
Nguyễn Tuân độc đáo và tài hoa trong văn cũng như trong đời, ông là một nhà văn kiểu mẫu đã lấy mình ra làm điểm tựa để nói về cuộc đời mình với nhiều ý tưởng mới mẻ, sáng tạo, ông đã đưa con người vào trong văn chương với những góc nhìn cũng rất độc đáo có cá tính khác biệt Có hiểu được quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân thì mới có thể hiểu được chiều sâu ý nghĩa của tác phẩm văn chương của ông và đây là một bước tiếp cận tác phẩm vô cùng quan trọng
Tiểu kết chương 1 : Trong chương này, chúng tôi đã tiến hành tìm
hiểu khái quát về hành trình sáng tác của Nguyễn Tuân, đặc điểm về con người, quan điểm nghệ thuật về con người, hệ thống các tác phẩm chính trong
sự nghiệp sáng tác của nhà văn Là một nhà văn có quan niệm về con người độc đáo, Nguyễn Tuân luôn tiếp cận con người trên phương diện tài hoa nghệ
sĩ, lấy cái đẹp, văn hoá làm tiêu chí đánh giá, phân loại con người Cầm bút từ những năm đôi mươi của tuổi trẻ, bắt đầu viết trong một thời kỳ xã hội tù túng, ngột ngạt của chế độ thực dân nửa phong kiến cùng với một trào lưu văn học lãng mạn đang bước vào những ngày tháng hấp hối Với sự tự ý thức mạnh mẽ của cái tôi, tất nhiên Nguyễn Tuân không thể chịu sống gò bó, chật chội trong khuôn khổ xã hội đó được Nguyễn Tuân đã đi tìm con đường giải thoát cho bản thân Là một trí thức Tây học chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, trước tiên Nguyễn Tuân tìm đến đề tài xê dịch với những chuyến
đi của tự do, phóng khoáng, thỏa sức vẫy vùng làm phong phú tâm hồn Nhưng đi mãi cũng không khỏa lấp được nỗi buồn mất nước, nỗi tủi nhục của thân phận nô lệ Nguyễn Tuân lại tìm đến một con đường khác là quay về quá
Trang 40khứ mong tìm lại chút hơi ấm của một thời đẹp đẽ đã qua nay chỉ còn lại vang bóng Quay về quá khứ, tưởng nhớ quá khứ xét cho cùng cũng là một khía cạnh của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực và đỉnh điểm của sự tiêu cực đó chính
là khi Nguyễn Tuân vùi mình vào cuộc sống hưởng lạc bên bàn đèn thuốc phiện và tiếng hát ả đào Tuy rằng là thoát ly tiêu cực nhưng những sáng tác của Nguyễn Tuân viết về chủ đề cuộc sống hưởng trước Cách mạng tháng Tám vẫn giữ được những giá trị tốt đẹp riêng