Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc làm rõ quan điểm của Đảng về văn hóa trong giai đoạn tập hợp lực lượng, chuẩn bị đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Tìm hiểu quan điểm của Đảng về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tư liệu trong luận văn được sử dụng và chú thích nguồn trung thực
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 2014
Tác giả
Phùng Thị Mai
Trang 4Tác giả
Phùng Thị Mai
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 THỰC TRẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ KHI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 8
1.1 Chính sách văn hóa của Pháp ở Việt Nam 8
1.2 Thực trạng văn hóa Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945 15
Tiểu kết chương 1 26
Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN NGHỆ VIỆT NAM 28
2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa 28
2.2 Quan điểm của Đảng về văn hóa 38
2.3 Quan điểm của Đảng về văn nghệ 47
Tiểu kết chương 2 55
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ TUYÊN TRUYỀN, VẬN ĐỘNG VĂN HÓA VÀ XÂY DỰNG MẶT TRẬN VĂN HÓA CỨU QUỐC 57
3.1 Quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng về tuyên truyền, vận động văn hóa 57 3.2 Quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng về xây dựng mặt trận văn hóa cứu quốc 65
Trang 63.3 Ảnh hưởng văn hóa của Đảng tới giới văn nghệ sĩ 70
Tiểu kết chương 3 78
Chương 4 MỘT VÀI NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM LỊCH SỬ 80
4.1 Một vài nhận xét về quan điểm văn hóa của Đảng trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 80
4.2 Một số kinh nghiệm lịch sử 86
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 98
Trang 7BẢNG KÝ HIỆU CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ khi thành lập năm 1930 đến trước Cách mạng Tháng Tám năm
1945, Đảng Cộng sản Việt Nam (từ tháng 10/1930 đổi tên là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã từng bước xây dựng hệ thống quan điểm về văn hóa nhằm định hướng cho sự phát triển của văn hóa Việt Nam Đảng đã bước đầu khẳng định văn hóa là một thứ vũ khí sắc bén, một mặt trận quan trọng chống
đế quốc Với quan điểm văn hóa đúng đắn, Đảng đã thu hút được đông đảo trí thức, văn nghệ sĩ tham gia phát triển văn hóa và cứu nước
Giai đoạn 1930 - 1945, ở Việt Nam diễn ra những cuộc tranh luận về triết học duy vật và triết học duy tâm, về “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay
“nghệ thuật vị nhân sinh” trên diễn đàn báo chí Giới trí thức liên tục đưa ra nhiều quan điểm để bảo vệ lập trường, quan điểm của mình khiến cho các cuộc “bút chiến” trở nên “nảy lửa” hơn Từ các khuynh hướng văn hóa khác nhau đã hình thành nên các nhóm phái văn hóa khác nhau Sự đa dạng về tư tưởng, sự ra đời của các nhóm phái văn hóa góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, sự thiếu thống nhất dễ gây mất đoàn kết trong nội bộ trí thức, văn nghệ sĩ nói riêng, quần chúng nhân dân nói chung, nảy sinh xu hướng ly tâm, xa rời thực tiễn dân tộc
Trong bức tranh văn hóa Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945, việc Đảng đưa ra các quan điểm văn hóa là cần thiết Một là thể hiện quan điểm, lập trường của Đảng về văn hóa Hai là qua văn hóa để tập hợp lực lượng chống
đế quốc Do đó, trong quá trình vận động phát triển và lãnh đạo phong trào cách mạng, Đảng đã từng bước xây dựng và đưa ra các quan điểm về văn hóa, văn nghệ, các biện pháp vận động, tuyên truyền văn hóa và xây dựng mặt trận văn hóa cứu quốc Đảng cũng tích cực tham gia những tranh luận
về văn hóa, văn nghệ (chủ yếu thông qua hoạt động văn hóa của một số trí
Trang 9thức tiến bộ) để minh chứng cho sự vững vàng trong lập trường về văn hóa theo chủ nghĩa Mác - Lênin của Đảng Những quan điểm về văn hóa của Đảng đã có sức ảnh hưởng lớn tới đời sống văn hóa trí thức, văn nghệ sĩ và nhân dân khi đó
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc làm rõ quan điểm của Đảng về văn hóa trong giai đoạn tập hợp lực lượng, chuẩn bị đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, từ đó rút ra nhiều bài học về lý luận cũng như thực tiễn quan trọng đối với lịch sử, tôi lựa chọn đề tài: “Tìm hiểu quan điểm của Đảng về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945” làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan điểm, đường lối, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa là một trong những nội dung được một số nhà nghiên cứu quan tâm, phản ánh trong khá nhiều công trình
Năm 1960, để góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử Đảng, Nhà xuất bản Sự thật đã sưu tầm và giới thiệu một số tài liệu trích trong các văn kiện của Đảng và bài viết của các đồng chí lãnh tụ về sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng và văn hóa từ năm 1930 đến năm 1960 Tập đầu của cuốn
sách Về sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng và văn hóa (1930 -
1945) đã tập hợp tương đối đầy đủ các văn kiện của Đảng và bài viết của
những lãnh tụ thể hiện sự lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng và văn hóa giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Trước mỗi phần trích dẫn tài liệu của từng giai đoạn, Ban Biên tập cuốn sách có một phần khái lược
về sự lãnh đạo của Đảng, cũng chính là tóm lược nội dung cốt lõi của các văn kiện được đề cập Đây là một trong những tài liệu quan trọng giúp tôi dễ dàng tiếp cận những văn kiện của Đảng liên quan tới văn hóa một cách có hệ thống
và tổng hợp Tuy nhiên, cuốn sách này mới chỉ dừng lại ở việc sưu tầm, trích
Trang 10lược thuần túy, chưa đi sâu phân tích đường lối, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Năm 1986, cuốn sách Văn hóa văn nghệ trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, Mục tiêu và động lực ra mắt bạn đọc là tập hợp những bài
viết của Trần Độ về nhiều khía cạnh xoay quanh văn hóa mới xã hội chủ nghĩa Trong cuốn sách, Trần Độ đã đề cập tới một số quan điểm của Đảng trong việc xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa và nhiệm vụ của văn nghệ, đồng thời nhấn mạnh việc cần thiết phải tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa, văn nghệ Với đặc thù tập trung vào các vấn đề liên quan tới văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, cuốn sách tuy có đề cập tới quan điểm, sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa nhưng chỉ chủ yếu phản ánh giai đoạn sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công
Công trình tư liệu - biên soạn Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, tập 1 và
tập 2 (giai đoạn đầu thế kỷ XX - 1945) ra mắt độc giả trong năm 2001 và
2002 là hai tập sách cung cấp cho tôi mảng tư liệu “khó kiếm tìm” về những cuộc tranh luận lớn đã diễn ra cách đây gần một thế kỷ Cuốn sách góp phần nhìn nhận lại văn hóa, văn nghệ thế kỷ XX, đồng thời đưa ra những tìm tòi, gợi ý mới, tiếp tục hoàn thiện sự đánh giá xung quanh diễn biến, vai trò của các lực lượng tham gia, ý nghĩa thời đại từ các vấn đề đặt ra trong các cuộc tranh luận văn hóa, văn nghệ Cuốn sách là một nguồn tư liệu quý giúp tôi nghiên cứu về những cuộc tranh luận nghệ thuật “nảy lửa” ở Việt Nam trong những năm 1920 - 1940, từ đó thấy được một phần quan điểm của Đảng về văn hóa thông qua tư tưởng đấu tranh của các nhà văn hóa Mác-xít, tiêu biểu như Hải Triều
Bên cạnh Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX, tập 1 và tập 2, để tìm hiểu kỹ
hơn về một trong những cuộc tranh luận thể hiện được lập trường, quan điểm của Đảng trong văn hóa, nghệ thuật, người đọc có thể tiếp cận cuốn sách
Trang 11Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh? của Nguyễn Ngọc
Thiện (năm 2004) Bên cạnh việc tập hợp các bài “bút chiến” của những người tham gia tranh luận khi đó, Nguyễn Ngọc Thiện còn đưa ra một số nhận định “đắt giá” về cuộc đụng độ này Qua đó, người đọc hình dung được
sự sôi động trong đấu tranh về mặt văn hóa, văn nghệ ở Việt Nam trong những năm 1935 - 1939, đồng thời thấy được những quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ trong thời gian này Cũng bởi chỉ tập trung tổng hợp các tư liệu liên quan tới các cuộc tranh luận nên hai công trình trên mới chỉ phản ánh được một phần quan điểm của Đảng về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Văn nghệ - một bộ phận quan trọng của văn hóa là khía cạnh được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu Nghiên cứu về đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay, Hà Xuân Trường có
công trình Đường lối văn nghệ của Đảng - Vũ khí, trí tuệ, ánh sáng (năm 1972); Hoàng Xuân Nhị có công trình Tìm hiểu đường lối văn nghệ của Đảng
và sự phát triển của văn học cách mạng Việt Nam hiện đại (năm 1975)…
Về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám, một nội dung dành
được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là tác phẩm Đề cương văn hóa
Việt Nam Nhân dịp kỷ niệm 40 năm, 50 năm… kể từ khi Đề cương văn hóa Việt Nam ra đời, các Nhà xuất bản đã liên tiếp xuất bản nhiều cuốn sách viết về
nội dung này Bên cạnh các sách, giáo trình chuyên khảo, nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập tới các khía cạnh khác nhau
của Đề cương văn hóa Việt Nam
Nhóm sách và bài nghiên cứu trên trọng tâm phân tích những giá trị nổi
bật của Đề cương văn hóa Việt Nam - một trong những văn kiện quan trọng
của Đảng về văn hóa, cũng như những ảnh hưởng của Đề cương đối với các giai đoạn của cách mạng Việt Nam Đây là những tư liệu quan trọng giúp tôi
Trang 12tập trung làm rõ quan điểm của Đảng về văn hóa từ năm 1943 - 1945 Tuy nhiên, do đặc thù nghiên cứu riêng các giá trị tiêu biểu của một tác phẩm, do
đó, các cuốn sách và bài viết này chưa đáp ứng được yêu cầu khái quát quan điểm của Đảng về văn hóa Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Đường lối văn hóa, nhất là văn nghệ của Đảng đã được một số nhà nghiên cứu dành thời gian sưu tầm, khảo cứu, phân tích từ lâu, trong đó có nhiều công trình có giá trị lớn Mỗi cuốn sách, mỗi bài nghiên cứu là tài liệu quý báu giúp tôi thực hiện đề tài nghiên cứu của mình Tuy nhiên, các
nghiên cứu trước đây chủ yếu phản ánh quan điểm của Đảng sau khi Đề
cương văn hóa Việt Nam ra đời và quá trình xây dựng nền văn hóa mới xã
hội chủ nghĩa sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 Quan điểm của Đảng
về văn hóa Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cần được nghiên cứu chuyên sâu và hoàn thiện hơn
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu
Trình bày và phân tích một cách có hệ thống các quan điểm của Đảng
về văn hóa trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Nhiệm vụ
- Trình bày thực trạng của văn hóa Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945
- Nêu được những quan điểm của Đảng về văn hóa, văn nghệ Việt Nam
- Nêu được tác động của những quan điểm văn hóa của Đảng tới văn hóa Việt Nam và cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt Nam giai đoạn
1930 - 1945
- Rút ra một số nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 134 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài này, tôi vận dụng cơ sở lý thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về văn hóa
- Các phương pháp mà tôi sử dụng để thực hiện đề tài này là: Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp lô gic, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quan điểm Đảng về văn hóa Việt Nam được thể hiện trong các văn kiện Đảng và trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam trên mặt trận văn hóa giai đoạn 1930 - 1945
Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài bắt đầu từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 đến thời điểm Cách mạng Tháng Tám thành công năm 1945
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các quan điểm và một số chỉ đạo về văn hóa của Đảng
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ quan điểm của Đảng về văn hóa trong giai đoạn
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Thực trạng văn hóa Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Chương 2: Quan điểm của Đảng về văn hóa và văn nghệ Việt Nam
Chương 3: Quan điểm và sự chỉ đạo của Đảng về tuyên truyền, vận động văn hóa và xây dựng mặt trận văn hóa cứu quốc
Chương 4: Một vài nhận xét và kinh nghiệm lịch sử
Trang 15Chương 1 THỰC TRẠNG VĂN HÓA VIỆT NAM TỪ KHI ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM RA ĐỜI ĐẾN CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945
1.1 Chính sách văn hóa của Pháp ở Việt Nam
Trước khi tiếp xúc với nền văn hóa Pháp, Việt Nam đã trải qua một thời Hán hóa về văn hóa Trong bài viết “Tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam
và văn hóa Pháp”, Phan Ngọc cho rằng văn hóa Trung Hoa đã đóng vai trò kiến trúc thượng tầng, nhưng không vì vậy mà nó cấu trúc hóa lại nền văn hóa Việt Nam
Sang thế kỷ XIX, sau khi xâm lược nước ta, bên cạnh các chính sách về kinh tế, thực dân Pháp đã ban hành nhiều chính sách về văn hóa đối với Việt Nam Nhìn một cách tổng quát, trước hết, để truyền bá văn hóa Pháp một cách sâu rộng vào Việt Nam, chúng đã mưu đồ hình thành ở nước ta đội ngũ trí thức Tây học thay thế cho đội ngũ trí thức Nho học thịnh hành trước đây, từng bước đưa trí thức Tây học trở thành bộ phận áp đảo hơn về số lượng trong toàn bộ giới trí thức Việt Nam, có quyền lợi gắn với thực dân Pháp, từ
đó trở thành đội ngũ tay sai phục vụ đắc lực cho lợi ích của nước Pháp
Đi liền với việc xây dựng đội ngũ trí thức Tây học, thực dân Pháp chủ trương từng bước loại bỏ ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở Việt Nam, trong đó quyết liệt nhất là làm rạn nứt và thủ tiêu nền giáo dục Nho học Trên thực tế, khi được giao trọng trách trở thành Toàn quyền Đông Dương, các nhà chính trị gia người Pháp đều lo nghĩ tới việc loại bỏ văn hóa Trung Hoa ra khỏi xã hội Việt Nam, bởi chỉ có như thế, văn hóa Pháp mới xác lập được vị thế trong đời sống xã hội Việt Nam Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer
đã nhận thức sâu sắc về ảnh hưởng của nền giáo dục Trung Hoa đối với người
Trang 16Việt Nam: “Những nguyên tắc làm cho gia đình vững chắc, cha mẹ được tôn kính, chính quyền được tuân thủ đều rút ra từ các sách Hán học Bắt đầu tập đọc những chữ đầu tiên là họ học những nguyên tắc rường cột của luân lý đạo Nho, họ khắc sâu vào lòng những nguyên tắc sẽ hướng dẫn họ suốt cả cuộc đời Chính các trường làng sẽ cung cấp cho họ nền giáo dục đó” [41, 30]
Nhận thức sâu sắc về tầm ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa ở Việt Nam, với nguyện vọng đưa văn hóa Pháp vào Việt Nam, những nhà cầm quyền tại Đông Dương lựa chọn những cách thức khác nhau nhưng nhằm tới mục đích cuối cùng là loại bỏ văn hóa Trung Hoa, xây dựng tầm ảnh hưởng
và sự thống trị của văn hóa Pháp trong đời sống xã hội Việt Nam
Chính phủ Pháp lần lượt ban hành các Sắc lệnh mang tính áp đặt đối với người Việt về mặt văn hóa và có những động thái chính trị mạnh mẽ để từng bước hạn chế sự cố kết về văn hóa của người Việt Ngày 25/5/1881, Chính phủ Pháp ban hành Sắc lệnh quy định: “Dân bản xứ An Nam, sinh ra
và cư ngụ ở Nam Kỳ là người Pháp, một khi người dân bản xứ đã chấp nhận
sự thống trị của người Pháp thì họ bắt buộc phải học tiếng của chúng ta và chấp nhận những phong tục, tập quán của chúng ta, chúng ta không thể nào ban bố tất cả những quyền lợi của một công dân cho những ai không hiểu được nền văn minh của chúng ta” [70, tr.31] Năm 1883, Jules Harmand cho rằng người Pháp cần phải chia cắt lãnh thổ Việt Nam để làm tan rã sự cố kết của nước Việt Nam, người Việt Nam nhằm tránh một cuộc nổi dậy của toàn thể dân chúng Trên tinh thần đó, bản Hiệp ước Harmand đã chia cắt lãnh thổ Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ chính trị khác nhau: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ và Bắc Kỳ là xứ bán bảo hộ
Đến năm 1885, lời tuyên bố của Thủ tướng Pháp Jules Ferry: “Bổn phận của các nòi giống thượng đẳng là phải giúp đỡ các nòi giống hạ đẳng để đưa họ thoát ra khỏi sự man rợ” đã cho thấy rõ hơn chính sách “đồng hóa”
Trang 17của thực dân Pháp trong cái vỏ bọc [54, 617] Các viên toàn quyền người Pháp đều cơ bản lựa chọn phương thức tán dương chính sách “khai hóa văn minh” của Pháp Chẳng hạn, toàn quyền Albert Sarraut bày tỏ: “Nước Pháp ta
là nước đã đề xướng ra cái chủ nghĩa nhân quyền, lịch sử chan chứa một cái
tư tưởng công nghĩa…, nước Pháp ra tay nặn cho nên một nhân loại mới… Cái công khai hóa ấy đối với những dân tộc còn kém hèn, không thể một buổi
mà thành được, không thể biến hóa mau cho đến nỗi chỉ trong một thời kỳ ngắn có thể rút lại cái bước đường dài của mấy mươi thế kỷ đã xa cách các dân tộc ấy với ta trong cuộc tiến hóa về trí thức và tinh thần” Toàn quyền Pièrre Pasquier nhấn mạnh đến những thay đổi vật chất to lớn mà người Pháp
đã mang đến cho người Việt Nam, hứa hẹn nước Pháp sẽ còn đem lại những thay đổi vật chất to lớn hơn nữa nhằm biến xứ sở lạc hậu này thành một xứ sở thịnh vượng Trong khi đó, Toàn quyền Martial Merlin coi những thành tựu trong sự nghiệp khai hóa là sợi dây kết nối thuộc địa với mẫu quốc, mà ở đó mẫu quốc có trách nhiệm dẫn dắt, còn thuộc địa phải có trách nhiệm phục tùng [50, 95-102]
Để thực hiện âm mưu “đồng hóa”, thực dân Pháp còn chú trọng phát triển ở Việt Nam các cơ quan truyền bá văn hóa, nhất là sách, báo chí, tạp chí
để vừa biện minh cho hành động xâm lược của chúng, vừa phổ biến rộng rãi các thành tựu văn hóa Pháp đến người dân Việt Ở Nam Kỳ, dưới sự trợ giúp
của Pháp, Trương Vĩnh Ký đứng ra làm chủ bút tờ Gia Định báo, xuất bản từ
năm 1865 Trương Vĩnh Ký còn cho in nhiều tập sách giới thiệu phong tục, tập
quán của nhân dân ta như Gia huấn ca (1882), Phép lịch sử An Nam (1883), về văn học có Lục Vân Tiên, Phan Trần (1889) Bên cạnh đó, Trương Vĩnh Ký
còn xuất bản một số sách hỗ trợ học tiếng Pháp, học chữ Nho và chữ Quốc ngữ
như các cuốn: Pháp - Việt từ điển (1884), Việt - Pháp từ điển (1887), Từ điển
địa lý An Nam (Dictionnaire Géographique Annammité), Đại Nam nhân vật bị
Trang 18khảo (Dictionnaire Biographique Annammité) [40, 16-17] Chính quyền thực
dân còn cho xuất bản Đông Dương tạp chí để truyền bá tư tưởng thân Pháp;
mặt khác bỏ thi chữ Hán, mở trường Hậu bổ, trường Thông ngôn và bắt đầu
mở các trường Pháp - Việt, trường Cao đẳng Y khoa Hà Nội [8, 38]
Chính quyền Pháp ở Đông Dương còn bảo trợ cho các hội văn hóa hoạt động nhằm quy tụ những trí thức thượng lưu thực hiện nhiệm vụ truyền bá văn hóa Pháp Năm 1883, Hội Đông Dương học ra đời tại Sài Gòn Ngày 3/7/1886, Paul Bert (Tổng trú Bắc và Trung Kỳ) đã ký Nghị định thành lập Viện hàn lâm Bắc Kỳ bao gồm 40 nhà khoa bảng Việt Nam và 10 người Pháp Viện có nhiệm vụ truyền bá văn minh nước Pháp, đồng thời giúp cho người Pháp hiểu được văn hóa Việt Nam để dễ bề cai trị
Năm 1919, thực dân Pháp cho lập Hội Khai trí tiến đức Hội thường tổ chức các hoạt động văn hóa như giới thiệu các tác phẩm văn học cổ - kim, dịch sách, in sách, làm từ điển, diễn kịch và diễn thuyết Với ảnh hưởng của mình, chính quyền thuộc địa đã biến một số hội viên trong Hội trở thành tay sai cho thực dân Pháp Sự xuất hiện của các tổ chức này đã tạo điều kiện khuyến khích người Pháp tăng cường tiếp xúc và tìm hiểu phong tục tập quán văn hóa Việt Nam [40, 16-17] để thực hiện âm mưu “đồng hóa”
Ngoài ra, thực dân Pháp còn xây dựng các công trình hạ tầng cơ sở như phố xá, nhà cửa, công sở, nhà máy, khu vui chơi, giao thông… tạo điều kiện cho công cuộc khai thác thuộc địa, đồng thời khuếch trương sức mạnh nền văn minh công nghiệp của nước Pháp, làm bệ đỡ cho sự tồn tại văn hóa Pháp và chinh phục tinh thần nhân dân bản xứ Cũng bởi thế, những chính sách và hoạt động thực tiễn của chính quyền thuộc địa đã tác động đáng kể đến một bộ phận trí thức Việt Nam, chủ yếu là bộ phận người có quyền lợi gắn bó mật thiết với chế độ thực dân
Trang 19Nhìn chung, sau khi đặt ách thống trị lên đất nước ta, thực dân Pháp đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách nhằm “khai thác thuộc địa” Riêng về khía cạnh văn hóa, thực dân Pháp đã âm mưu “đồng hóa” bằng những chính sách về văn hóa nhằm thay đổi diện mạo văn hóa và con người Việt Nam theo
xu hướng “thuộc Pháp” Tuy nhiên, yếu tố Trung Hoa tồn tại trong xã hội Việt Nam từ lâu đời nên mặc dù có nhiều cố gắng nhưng thực dân Pháp không thể ngay lập tức loại bỏ được những ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa Cũng bởi thế, văn hóa thống trị ở Việt Nam dưới thời Pháp thuộc cơ bản vẫn mang đặc điểm chính là: Nội dung lộn xộn, phức tạp, hình thức vừa lai Pháp, vừa lai Trung Quốc [8, 38]
Sự thay đổi mạnh mẽ trong xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX
đã làm cho đội ngũ nhà Nho bị phân hóa Một nhóm nhà Nho đã đầu hàng thực dân Pháp, cam chịu làm tay sai để hưởng vinh hoa phú quý Dưới ảnh hưởng của sự gieo rắc vào đầu óc người trí thức Việt Nam tinh thần phục Pháp, nhiều trí thức đã vào làng Tây, nói tiếng Tây, bắt chước một cách lố lăng từ cách ăn diện đến cuộc sống hưởng lạc và đồi trụy của Pháp Tư tưởng sùng ngoại này dẫn tới đầu óc tự ti dân tộc và miệt thị văn hóa dân tộc Một
số người đã không còn biết đến truyền thống yêu nước, khí phách anh hùng, tính lao động cần cù, sáng tạo, phẩm chất cao quý của dân tộc ta trong suốt mấy nghìn năm lịch sử [74, 15] Chẳng hạn trường hợp của Tôn Thọ Tường
ra sức cường điệu sức mạnh vật chất của phương Tây, đồng thời phân trần ta kém nên không thể nào địch nổi quân thù… Tôn Thọ Tường khuyên những người kháng chiến mau đầu hàng Pháp kẻo “hối không kịp”
Trong khi đó, một nhóm nhà Nho bảo thủ vẫn tiếp tục chống đối văn minh phương Tây và phản đối duy tân Với những ảnh hưởng và ràng buộc sâu sắc của học thuyết và ý thức hệ Nho giáo, nhóm nhà Nho bảo thủ tìm mọi biện cớ để phủ nhận sức mạnh kỹ thuật của phương Tây, chống đối Ki-tô giáo
và phản đối lối sống phương Tây
Trang 20Tuy nhiên, có một nhóm nhà Nho cấp tiến hơn đã từng bước tiến nhận
và tiếp biến văn minh phương Tây để duy tân đất nước Tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản với tư tưởng canh tân đất nước trong giáo dục; Bùi Viện, Đặng Huy Trứ với tư tưởng cải cách đất nước trong phát triển kinh tế, nhất là thương nghiệp Một số trí thức khác lựa chọn dung hòa văn minh Đông - Tây để thúc đẩy dân tộc mau chóng tiến bộ, tiêu biểu như trường hợp của Trương Vĩnh Ký Vào những năm 1920, trong khi Nguyễn An Ninh, Phạm Quỳnh đề cao việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc với những nội dung thiên về chủ nghĩa quốc gia, Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa ra vấn đề bài trừ
hủ tục, coi đó là động lực thúc đẩy sự phát triển của văn hóa và xã hội Việt Nam Giới trí thức Việt Nam trong nhóm nhà Nho cấp tiến bên cạnh việc tuyên truyền cho văn minh phương Tây vẫn không quên phê phán những mặt trái của văn minh phương Tây và giữ vững tư tưởng “chống đồng hóa”
Xuất phát từ thái độ mong muốn canh tân đất nước, trước những chính sách văn hóa mang tính áp đặt của thực dân Pháp, các nhà trí thức Việt Nam
đã có những hành động tích cực trong việc dung hòa mối quan hệ văn hóa Đông - Tây, tiếp nhận văn hóa Pháp để duy tân đất nước
Từ trước năm 1914, nhiều nhà Nho cấp tiến đã sử dụng báo chí làm
phương tiện truyền bá văn minh phương Tây và cổ động duy tân trên Lục tỉnh
tân văn, Nông cổ mín đàn, Đăng cổ tùng báo Trong thời gian Chiến tranh thế
giới thứ nhất diễn ra (1914 - 1918), một số tờ báo tiếp tục hoạt động mạnh
như Đông Dương tạp chí, đồng thời một số tờ báo mới ra đời như Trung Bắc
tân văn, Công thị báo, Nam Phong tạp chí Mặc dù chịu sự kiểm soát chặt chẽ
của chính quyền Pháp ở Đông Dương với xu hướng thân Pháp nhưng những
tờ báo này vẫn có đóng góp cho việc truyền bá văn minh Pháp - văn minh của một dân tộc phát triển hơn vào Việt Nam
Trang 21Đến thời gian thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929), giới trí thức Việt Nam đã tham gia viết bài và làm chủ bút của hàng chục tờ báo và tạp chí mới ra đời, trong đó có những tờ báo mang
yếu tố yêu nước rõ rệt như: Tờ La Cloche felée (Chuông rè) do Nguyễn An
Ninh làm chủ bút, công khai tố cáo tội ác của thực dân Pháp ở Việt Nam, đòi các quyền tự do dân chủ và tuyên truyền những tư tưởng tiến bộ; các tờ báo
có xu hướng cách mạng vô sản như tờ Thanh niên, Búi liềm, Công hội đỏ với
nội dung chống đế quốc và tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin
Bên cạnh việc tham gia phát triển báo chí, trí thức Việt Nam còn đi đầu trong việc cải cách giáo dục Nhóm nhà Nho cấp tiến ở Quảng Nam do Phan Châu Trinh đứng đầu đã phát động phong trào Duy tân (1905 - 1908), kêu gọi mọi người học theo phương Tây và từ bỏ hủ tục; Phan Bội Châu khởi xướng phong trào Đông Du (1905 - 1908) với mục đích đưa thanh niên Việt Nam sang học tập tại Nhật Bản để cứu quốc; Lương Văn Can thành lập Trường Đông Kinh nghĩa thục (năm 1907) ở Hà Nội nhằm chấn hưng nền giáo dục nước nhà
Như vậy, khi tiếp xúc với văn hóa Pháp, thái độ chống đối văn hóa Pháp chiếm vị trí chủ đạo trong tư tưởng của tầng lớp trí thức Việt Nam Thái độ này bắt nguồn từ lòng yêu nước và ý thức tự tôn dân tộc Từ nhận thức thực dân Pháp là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhiều trí thức đã cố tình phủ nhận văn minh phương Tây, đôi khi phản ứng rất gay gắt Một số trường hợp sợ hãi trước những thành tựu về văn hóa của một nước phát triển, từ đó hình thành tâm lý đầu hàng, làm tay sai cho thực dân Pháp Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam khi đó vẫn có một bộ phận trí thức có thái độ tiếp nhận văn hóa Pháp trên nền tảng kiến thức, hiểu biết về cả hai nền văn hóa Đông - Tây, nhận ra những yếu tố tiến bộ trong văn hóa Pháp, mong muốn dung hòa những xung đột trong văn hóa Đông - Tây và từng bước canh tân đất nước [50, 84-86]
Trang 221.2 Thực trạng văn hóa Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945
Những biến động về kinh tế theo chiều hướng tiêu cực trong những năm
1929 - 1933 làm cho nền kinh tế của các nước tư bản chủ nghĩa, trong đó có nước Pháp bị khủng hoảng, đình trệ Giới tư bản tài chính Pháp tìm cách trút hậu quả nặng nề của khủng hoảng lên nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa, trong đó có nhân dân Đông Dương Việc đầu tư vốn của tư bản Pháp ở Đông Dương hầu như ngừng lại Từ năm 1934 trở đi, tư bản Pháp tái đầu tư trở lại, tuy nhiên tốc độ và quy mô đầu tư vào các ngành kinh tế giảm hẳn so với những năm 1920 Về chính trị, thực dân Pháp tiến hành khủng
bố một cách tàn bạo ở cả thành thị và nông thôn, nhất là từ sau khởi nghĩa Yên Bái (tháng 2/1930), đồng thời đề cao tư tưởng chống cộng
Trong điều kiện kinh tế, chính trị mới, chính quyền thực dân ở Đông Dương tiếp tục thi hành các chính sách về văn hóa dưới vỏ bọc “khai hóa văn minh” nhằm tăng cường ảnh hưởng của văn hóa Pháp ở thuộc địa, nhất là về giáo dục để tranh thủ lôi kéo các tầng lớp thượng lưu, nhất là trí thức Về cơ bản, đến những năm 1930 - 1935, nền văn hóa Việt Nam vẫn mang đặc trưng của văn hóa thuộc địa, có sự pha trộn giữa yếu tố của văn hóa bản địa, văn hóa Trung Hoa và văn hóa Pháp
Cũng trong những năm đầu thập niên 1930, bộ phận trí thức Tây học nước nhà ít bàn đến vấn đề nên hay không nên tiếp nhận văn minh phương Tây, bởi hầu hết trong số họ đã chấp nhận Âu hóa Sự tiếp biến văn minh phương Tây đã diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội Sau thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng, luồng tư tưởng tư sản đã khiến nhiều người trước đây tin vào con đường cách mạng tư sản bị mất phương hướng, một số tán dương chủ thuyết “Pháp - Việt đề huề”, một số khác lại trở nên tiêu cực, chống phá cách mạng giải phóng dân tộc Thất bại của khởi nghĩa Yên Bái đầu năm 1930 đã chấm dứt vai trò của ý thức hệ tư sản đối với nhiệm
vụ giải phóng dân tộc
Trang 23Trong khi đó, tư tưởng vô sản dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin dần dần chiếm ưu thế Đặc biệt, đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, khác với các tổ chức chính trị đương thời đã thu hút sự chú ý của đông đảo các giai tầng trong xã hội vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Sự lan tỏa của luồng tư tưởng vô sản không chỉ tạo nên một Xô viết Nghệ Tĩnh sôi nổi, mạnh mẽ trong những năm 1930 -
1931 mà còn xác lập vị thế mới cho yếu tố Mác-xít trong bức tranh văn hóa Việt Nam
Sau khi các Xô viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam gặp nhiều khó khăn do bị tổn thất nhiều cả về lực lượng và tổ chức, phương thức hoạt động cũng không còn thích hợp nữa Thực dân Pháp triệt để thi hành chính sách khủng bố trắng đối với những người yêu nước, bắt giam các cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương, đưa đi tù đày ở Hỏa Lò, Kon Tum, Côn Đảo, Lao Bảo, Sơn La… Đồng thời, thực dân Pháp tiếp tục đưa ra những cải cách dân chủ dù rất hạn chế để củng cố nền thống trị ở Đông Dương Chúng ra sức sử dụng các hình thức tổ chức tư tưởng và văn hóa để củng cố nền thống trị Ngoài những sắc lệnh, luật lệ thời kỳ 1930 vẫn giữ nguyên hiệu lực, giai cấp thống trị đặt thêm những luật lệ khắt khe, thi hành chế độ kiểm duyệt gắt gao, tìm cách rút giấy phép hoặc tịch thu báo chí cách mạng Thống sứ, thống đốc, khâm sứ có những nghị định cấm lưu hành, tàng trữ sách báo tiến bộ và cách mạng trong vùng cai trị của chúng
Từ năm 1932, thực dân Pháp tổ chức cải tổ giáo dục sơ học, cấp học bổng cho người bản xứ, xuất bản các sách báo lãng mạn, sách thần tiên, sách bói toán… nhằm tiếp tục thu hút và lôi kéo một bộ phận trong tầng lớp thượng lưu và tiểu tư sản
Trang 24Lâm Mậu Quang đã nhận định về thời kỳ này như sau: “Tình thế kinh
tế, xã hội nằm vào thời kỳ khủng hoảng nguy ngập, chế độ tư bản gần đổ nát, quần chúng ta bị thất nghiệp đói rét, lại sắp bị nạn đế quốc chiến tranh…, các nhà văn phải góp sức vào công việc cứu chữa sự nguy cơ ấy của xã hội, chứ không thể ngồi yên trên đám mây xanh chót vót ở ngang trời mà ngâm nga và bảo quản chúng, ngâm nga theo mấy câu thơ mơ mộng như hồi thái bình, no
ấm được đâu” [72, 35-37]
Bối cảnh kinh tế, chính trị có nhiều thay đổi đã khiến xã hội Việt Nam xuất hiện những xu hướng mới trên các lĩnh vực văn hóa, văn nghệ và tư tưởng Trong các chỉnh thể thì trào lưu văn học có ý nghĩa bao quát hơn cả Phương hướng của nó sẽ có tính chất quyết định đối với các chỉnh thể khác [39, 88-89] Trào lưu Thơ Mới, văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán là những dòng văn học ra đời và tồn tại song song trong những năm
1932 - 1935 Đó là những tiếng nói của đội ngũ trí thức tiểu tư sản trước tình thế mới của đất nước
Giai cấp tư sản dân tộc không dám đấu tranh bằng chính trị và quân sự chống đế quốc nữa bèn chuyển sang đấu tranh bằng văn hóa chống phong
kiến quan liêu (các báo Phong hóa, Ngày nay, tủ sách Tự lực văn đoàn) Chủ
nghĩa lãng mạn trong văn học, nghệ thuật đi đôi với phong trào “vui vẻ, trẻ trung” có tính chất trụy lạc của thanh niên, trí thức, tư sản thành thị Phong trào Thơ Mới đã đánh dấu sự chuyển đổi mang tính cách mạng trong văn học
- một bộ phận quan trọng của văn hóa khi khẳng định vai trò của cá nhân, của
“cái Tôi” trước đây vốn chưa có chỗ đứng trong xã hội phong kiến Những đại diện cho phong trào Thơ Mới có Thế Lữ, Xuân Diệu ; đại diện cho văn học lãng mạn là Tự lực văn đoàn và đại diện cho văn học hiện thực có Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…
Trang 25Trên thực tế, thực dân Pháp khuyến khích những khuynh hướng tư sản, cốt đánh lạc hướng quần chúng, nhất là thanh niên Chúng cho mở nhiều tiệm hút và tiệm nhảy ở các thành thị; cho xuất bản các sách kiếm hiệp, thần bí; chấp hưng đạo Phật; ra nhiều sách công giáo chuyên môn “chửi” cộng sản; phát triển phong trào hướng đạo để nắm lấy thanh niên [7, 54-56]
Đánh giá riêng về những đóng góp, cách tân của Tự lực văn đoàn, nhà thơ Tú Mỡ có nhiều nhận xét sâu sắc, song có chỗ chưa chính xác và thỏa đáng: “Đường lối dân tộc, khoa học, đại chúng mà Đảng Cộng sản Việt Nam nêu lên trong Đề cương văn hóa, Tự lực văn đoàn đã thực hành từ trước” Quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” từng trên giấy trắng mực đen, đoàn không nêu trong tôn chỉ, nhưng trong thực tế anh em đã hành động theo quan điểm đó Có nhiều điểm “đồng” với đường lối văn học của Đảng Cộng sản Việt Nam, như vậy, Tự lực văn đoàn đáng lẽ rất có thể đi với Đảng Cộng sản Việt Nam Nhưng đáng tiếc giữa đường đứt gánh” [49] Dù sao, hoạt động của nhóm Tự lực văn đoàn cũng góp phần đẩy phong trào văn nghệ Việt Nam tiến lên một bước
Tuy nhiên, đứng ở một góc nhìn khác, chủ trương của Tự lực văn đoàn được nhận định là “không những không tiến bộ mà còn phản tiến bộ Nó không có công mà có tội với nhân dân Sau thất bại của cách mạng tư sản, nhân dân càng bị áp bức và mê muội, Tự lực văn đoàn tung ra khẩu hiệu “yêu đời”, “vui vẻ, trẻ trung” và gắn nhãn “cải cách” để lôi kéo thanh niên tiểu tư sản đang hoang mang trước thời cục Văn, thơ, tiểu thuyết của nó đưa thanh niên vào con đường lãng mạn, buông thả tự do cá nhân, thoát ly đấu tranh, trốn tránh thực tế Báo chí của nó không dám động đến nền tảng của đế quốc
và phong kiến, chẳng qua chỉ bóng gió nêu một vài nhược điểm của chúng và cạnh khóe một số quan lại Lối trào phúng nhởn nhơ của nó không hề làm lay chuyển chút nào cái uy thế của bọn áp bức, bóc lột nhân dân mà trái lại đã
Trang 26phục vụ bọn này Những uất hận của nhân dân súc tích lại đã một phần lạc hướng không chuyển thành hành động đấu tranh mà chỉ thoát ra những tiếng
cười kiểu Phong hóa Thêm nữa, Ngày nay và Phong hóa đã nói xấu nông
dân ở hai nhân vật Lý Toét, Xã Xệ và do đó đã hướng cho nhân dân quên khả năng cách mạng của nông dân để chỉ mù quáng tin theo luận điệu cải cách của nhóm Tự lực…” [63, 154-155]
Bên cạnh các trào lưu trong văn học, một dòng báo chí xuất bản công khai, hợp pháp tiếp tục phát triển về số lượng đã trở thành một vũ khí đấu tranh cách mạng của nhiều đảng viên cộng sản trên mặt trận văn hóa, văn nghệ Tuy dòng báo chí công khai, hợp pháp vẫn chịu sự áp đặt của chính quyền thuộc địa, tiếng nói của những người có tinh thần dân tộc, theo quan điểm cách mạng vẫn bị chính quyền thực dân kiểm soát song dòng báo chí này đã phản ánh được thực thể xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, giúp cho một bộ phận trong nhân dân giải quyết được những vướng mắc trong tâm trạng, có khả năng tiếp thu những giá trị tinh thần cao đẹp của nhân loại Trong khi đó, dòng báo chí xuất bản không công khai hợp pháp vẫn song song tồn tại, kết hợp với báo chí công khai, hợp pháp tạo thành một mặt trận báo chí cách mạng, chuẩn bị cho sự ra đời nền văn hóa mới Việt Nam
Từ năm 1935 trở đi, ở Đông Dương, cuộc khủng hoảng kinh tế phục hồi chậm Các công ty độc quyền của tư bản Pháp ra sức bành trướng thế lực, làm phá sản hàng loạt các chủ tư bản nhỏ người Pháp và người Việt Tuy vậy, do chính phủ ở chính quốc đã ngả theo xu hướng “cánh tả” nên chính phủ thuộc địa không thể thi hành chính sách khủng bố trắng tàn bạo như trước Các tầng lớp nhân dân và cả một số bộ phận trong giới thượng lưu đều mong muốn có những thay đổi cần thiết trong đời sống kinh tế, xã hội, nhất là khi nghe tin chính phủ Pháp sẽ cử ban điều tra của Nghị viện Pháp sang Đông Dương, nhiều người ở thuộc địa tỏ ý trông chờ hy vọng vào những cải cách dân chủ
Trang 27Trước chuyển biến chung của tình hình, phong trào quần chúng dâng lên mạnh mẽ, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản Đông Dương ngày một lan rộng Thực dân Pháp từ chỗ đối phó thận trọng đã dung túng cho những phần tử phản động thuộc địa, công khai đàn áp phong trào, đồng thời tìm cách lôi kéo, chia rẽ phong trào, xoa dịu quần chúng Chính phủ Pháp buộc phải cho ban hành tại thuộc địa một số quyền tự do, dân chủ hạn chế
Từ năm 1937, theo chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương về việc tận dụng các khả năng công khai hợp pháp, Mặt trận Dân chủ Đông Dương và các tổ chức đoàn thể quần chúng của Mặt trận như Đoàn Thanh niên dân chủ, Hội cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời Ở các thành thị
và nông thôn phát triển các tổ chức hội quần chúng như ái hữu, tương tế, thể thao, âm nhạc, kịch, chèo, hội cấy, hội gặt… Để tập hợp các lực lượng khác, Mặt trận Dân chủ Đông Dương thông qua các nhóm cộng sản công khai (nhóm Tin Tức, Ngày Nay ở Bắc Kỳ, Dân Chúng ở Nam Kỳ, một bộ phận trong viện dân biểu ở Trung Kỳ) đã liên minh với các chi nhánh Đảng Xã hội Pháp, Đảng Lập hiến, Viện Dân biểu lập tổ chức cơ sở của mặt trận
Với việc tập hợp nhiều thành phần xã hội, Mặt trận Dân chủ Đông Dương có vai trò mới trong cuộc đấu tranh, nhất là trong đấu tranh nghị trường Những cuộc bầu cử Viện dân biểu Trung Kỳ, Viện dân biểu Bắc Kỳ, Hội đồng thành phố Hà Nội, Đại hội đồng kinh tế - tài chính Đông Dương trong 2 năm 1937 - 1938 đã lần đầu tiên gây sự chú ý lớn trong các tầng lớp dân chúng hữu quan bởi sự tham gia của Mặt trận Dân chủ Trong cao trào dân chủ những năm 1936 - 1939, đời sống tư tưởng, văn hóa của dân tộc cũng
có nhiều thay đổi, phản ánh sự chuyển biến của đời sống kinh tế, xã hội thuộc địa những năm trước chiến tranh
Trong bối cảnh kinh tế, xã hội như vậy, ngay từ năm 1935, Đảng đã lãnh đạo một cuộc tranh đấu về nghệ thuật chống lại quan điểm tư sản lạc hậu
Trang 28- quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” - lúc đó về mặt khách quan đã ru ngủ quần chúng Những năm 1936 - 1939, khi có Mặt trận Bình dân thành lập ở Pháp, Mặt trận Dân chủ thành lập ở Đông Dương, Đảng Cộng sản Việt Nam lợi dụng hình thức đấu tranh công khai, phát hành rộng rãi sách báo tiến bộ, gây tranh luận náo nhiệt về tư tưởng, về quan điểm (bút chiến giữa hai phái duy tâm và duy vật, giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”) Cuộc tranh luận đề cập nhiều đến vấn đề lý luận, quan điểm (văn nghệ
và chính trị, chức năng của văn nghệ, tính giai cấp, tính văn nghệ, quan hệ giữa nội dung tư tưởng và nghệ thuật trong sáng tác, tự do trong sáng tác), đồng thời cũng bàn về các tác giả Đông - Tây, kim - cổ Đây là một cuộc tranh luận về quan điểm nghệ thuật lớn nhất, diễn ra trên báo chí công khai ở nước ta trong thời kỳ 1935 - 1939, có quy mô rộng rãi, tầm vóc đặc biệt và ý nghĩa vô cùng sâu sắc
Lợi dụng các hình thức hoạt động công khai, cuộc tranh luận về nghệ thuật có dịp mở rộng hơn Đồng thời, các hoạt động khác về văn hóa, nhất là báo chí của Đảng và việc xuất bản sách Mác-xít thời gian này được phát triển
chưa từng thấy Cuốn Vấn đề dân cày của hai đồng chí Qua Ninh (Trường
Chinh) và Vân Đình (Võ Nguyên Giáp) được xuất bản không những có tác dụng đối với cách mạng nói chung mà còn có tác dụng đặc biệt với văn nghệ (có tác dụng tích cực đối với những nhà văn hiện thực phê phán) Bên cạnh các cuốn sách được xuất bản, báo chí cách mạng như một dòng chảy lớn của nền văn hóa Việt Nam Thời kỳ 1936 - 1939 có tới vài ba chục tờ báo cách
mạng ra bằng chữ Pháp hoặc chữ Việt Trong số đó có những tờ như Notre
Voix (Tiếng nói của chúng ta) có thể được xem như “cương lĩnh chung” của
các tờ báo cộng sản trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ
Cùng với báo chí cách mạng, nhiều nhà văn tiến bộ viết những tác
phẩm có giá trị như Tắt đèn, Việc làng của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của
Trang 29Nguyễn Công Hoan… trong dòng văn học hiện thực phê phán Trần Minh
Tước có bài viết ca ngợi tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố Tác giả Như
Phong đề cao tiểu thuyết phục vụ nhân dân lao động, chống lại các biểu hiện của chủ nghĩa lãng mạn tiêu cực trong nhóm Tự lực văn đoàn và một số nghệ
sĩ khác
Cũng từ năm 1938, thơ Tố Hữu bắt đầu chinh phục trái tim quần chúng
Trên báo Mới lúc bấy giờ đăng khá nhiều bài thơ của Tố Hữu và bài giới thiệu
Tố Hữu - nhà thơ của tương lai Những bài thơ của Tố Hữu: Tháp đổ, Dửng
dưng, Tiếng sáo ly quê… mang ý đồ rõ rệt chống lại chủ nghĩa lãng mạn tiêu
cực trong thơ, chống lại khuynh hướng tách nghệ thuật ra khỏi đời sống của nhân dân lao động
Cũng trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, một phong trào văn nghệ dân chủ, văn nghệ nhân dân phát triển mạnh Lần đầu tiên, quần chúng nhân dân Việt Nam được công khai sinh hoạt chính trị một phần nào Lần đầu tiên, văn học, âm nhạc, hội họa cách mạng và tiến bộ lợi dụng khả năng hợp pháp, chiếm lĩnh những vị trí mới để phục vụ quần chúng nhân dân [7, 54-56]
Cuối năm 1937, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương phát động phong trào truyền bá quốc ngữ nhằm giúp nhân dân lao động thoát nạn mù chữ Có thể thấy, sự nghiệp lớn nhất của Đảng trong thời kỳ ấy là gây dựng và duy trì Hội truyền bá chữ Quốc ngữ Nhiều người ủng hộ tiền, giấy, bút, mực, cho mượn nhà làm địa điểm lớp học Thanh niên, học sinh đảm nhiệm dạy học và vận động người đi học Công nhân, nông dân và những người lao động hăng hái đi học
Bên cạnh văn hóa cách mạng có tính chất dân tộc và dân chủ, lúc đó có phong trào văn hóa cải cách gồm hai khuynh hướng: Khuynh hướng tiến bộ của nhân dân lợi dụng khả năng hợp pháp mà thực hành cải cách dân chủ và
Trang 30khuynh hướng phản động của thực dân Pháp và tay sai dùng chính sách cải lương hòng lừa phỉnh, mua chuộc quần chúng
Nhận định về thời kỳ này, đồng chí Trường Chinh viết: “Lần đầu tiên ở nước ta văn chương Mác-xít được phổ biến rộng rãi trong nhân dân qua những tờ báo của Đảng và của Mặt trận Dân chủ, qua những tập sách có khi
là của những người cộng sản hợp tác với những người có tư tưởng yêu nước, dân chủ khác xuất bản” [8, 125]
Năm 1939, Chiến tranh Thế giới lần thứ hai bùng nổ Từ đây, thế giới tiến bộ và cách mạng bắt đầu thời kỳ mới, tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít, mở rộng trận địa cách mạng Từ châu Âu, chiến tranh lan nhanh sang các châu lục khác Năm 1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương Sau đó, Nhật và Pháp câu kết với nhau cùng thống trị và bóc lột nhân dân ba nước Đông Dương
Những khó khăn về kinh tế và căng thẳng về chính trị đã gia tăng mâu thuẫn dân tộc và giai cấp xã hội ở Việt Nam Tình hình đó đã làm phân hóa giới trí thức Việt Nam Một bộ phận trí thức muốn thoát khỏi cuộc sống khổ đau hiện tại bằng cách ẩn mình trong “tháp ngà văn chương, nghệ thuật lãng mạn” Một bộ phận trí thức khác thông qua các tác phẩm văn học, nghệ thuật
để phê phán xã hội đương thời Dù đã rất nỗ lực nhưng trí thức Tây học vẫn không thể xây dựng được một nền văn hóa độc lập dựa trên cơ sở về “dung hòa”, “dung hóa” và “dung hợp” 2 nền văn minh Đông - Tây, bởi thực dân Pháp không muốn trí thức Việt Nam đi quá giới hạn mà chúng cho phép
Từ năm 1940, văn hóa Việt Nam lại chịu ảnh hưởng một phần nào của văn hóa Nhật Trình độ khoa học, kỹ thuật nước ta thấp kém, kinh tế nước ta căn bản là kinh tế phong kiến và nửa phong kiến, còn rất nhiều tàn tích cổ xưa, về chính trị, nước ta khi là nửa thuộc địa, khi là thuộc địa; … cho nên tinh hoa của dân tộc bị kìm hãm và văn hóa nước nhà chưa phát huy được đầy
đủ bản sắc của mình [7, 35-37]
Trang 31Tháp ngà văn chương từng bước sụp đổ Sự trói buộc của thực dân Pháp làm cho nhiều trí thức Việt Nam hiểu ra rằng, chỉ có độc lập dân tộc thực sự mới có thể xây dựng một nền văn hóa độc lập, do đó, phải đấu tranh
để giành lại độc lập dân tộc Nhưng đấu tranh bằng con đường nào lại là một vấn đề lớn và nan giải, nhất là khi ý thức hệ tư sản đã bất lực trước nhiệm vụ
giải phóng dân tộc
Tình hình chính trị và tư tưởng trong xã hội ở thời kỳ này rất phức tạp Một mặt, do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận dân chủ, trong giới trí thức, những văn nghệ sĩ, học sinh muốn tiến bộ, muốn tìm hiểu những cái mới, nhưng họ lại bị che giấu (vì chế độ kiểm duyệt hết sức khắt khe), bị đàn áp Mặt khác, những khuynh hướng về văn hóa lúc đó tương đối hỗn độn: Nhóm Thanh Nghị có tư tưởng dân tộc, nhưng mang tính chất cải lương tư sản; nhóm Tri tân đề cao dân tộc trong văn hóa, nhưng mang tính chất bảo thủ, chỉ chú ý tìm tòi, nghiên cứu những áng văn cổ, bia cổ… Nhóm Tân Việt xuất bản các sách nghiên cứu về Khổng giáo, Phật giáo, Lão giáo đến Nít-sơ, Anh-xtanh, Căng, Đề-các… Nhóm Hàn Thuyên gồm những tay Tờ-rốt-xkít nhận tiền của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật đề ra “tân văn hóa”, xuất bản sách, nghiên cứu về lịch sử loài người, lịch sử thế giới, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, về văn học Việt Nam… ôm đồm thành một mớ hỗn độn, phần lớn dịch
từ sách nước ngoài, từ các từ điển bách khoa… Sách của Hàn Thuyên vẫn tồn tại, trình bày tư tưởng xã hội dài dòng và duy vật máy móc, có phần xuyên tạc học thuyết Mác đã được in ra và thực dân Pháp lợi dụng đặng chế bớt sức mạnh tuyên truyền về chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân chủ của Việt Minh Nhóm Xuân Thu nhã tập có khuynh hướng dân tộc, nhưng xa rời quần chúng
ở chỗ nghệ thuật cầu kỳ, tắc tị và ở khuynh hướng thoát ly của nó
Tình hình chiến tranh, họa phát xít, sự đàn áp của đế quốc, tình trạng đói khổ gây nên một tâm trạng mệt mỏi, u uất, chán chường, bi quan… Các
Trang 32khuynh hướng nghệ thuật tiêu cực, lẩn trốn trước đây trong giai đoạn này trở nên thần bí, điên loạn, trụy lạc, hoài cổ… Nhóm Tự lực văn đoàn lúc này “ôm chân” phát xít Nhật
Trong bối cảnh văn hóa có nhiều phức tạp, bên cạnh nền văn nghệ hợp pháp, văn học bí mật của cách mạng Việt Nam vẫn phát triển mạnh
mẽ Tại nhà tù Quảng Tây (Trung Quốc), Hồ Chí Minh viết Nhật ký trong
tù Người đòi hỏi “trong thơ nên có thép” Với bài Là thi sĩ, Sóng Hồng
(Trường Chinh) đã phê phán thái độ ủy mị của nhiều nhà thơ lúc đó, kêu gọi các nhà thơ “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ” và dùng thơ làm “bom đạn phá cường quyền”
Thời gian này, văn hóa Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong bóng tối và chiếu rọi ánh sáng ra ngoài của một nền văn học cách mạng
có tính chất dân tộc và dân chủ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Mặt trận Việt Minh Bên cạnh những sách xuất bản bí mật có cả một “rừng” báo chí
bất hợp pháp lưu hành khắp đất nước: Giải phóng, Cứu quốc, Cờ giải phóng,
Tạp chí Cộng sản, Việt Nam độc lập (Việt-lập), Hồn nước, Bãi Sậy, Đuổi giặc nước, Bẻ xiềng sắt, Gái ra trận, Tiền phong, Kèn gọi lính, Lao động, Hiệp lực, Mê-linh, Kháng địch, Khởi nghĩa, Quyết thắng, Độc lập, Nước Nam mới, Quân giải phóng…
Trong nhà tù, anh chị em chính trị phạm cũng tìm cách ra báo Báo của anh chị em chính trị phạm xuất bản trong nhà tù vào hồi này cũng đáng chú ý
Chẳng hạn như các tờ Suối reo (ở Sơn La) và Giòng sông Công (ở Bá Vân)…
[7, 54-56] Loại báo chí này tuy không nhiều bằng thời kỳ trước nhưng về chất lượng, nội dung bài viết, hình thức trình bày đến “tuổi thọ” của một số tờ báo thì tốt và lâu dài hơn Điều đó chứng tỏ cơ sở vững chắc cho một nền báo
chí cách mạng Các tờ Việt Nam độc lập, Cờ giải phóng, Cứu quốc phản ánh
trung thực, sinh động hoạt động báo chí và tư tưởng văn hóa mới của Đảng,
Trang 33Mặt trận Việt Minh từ Trung ương đến các địa phương Báo chí cách mạng không những khẳng định từng bước đi vững chắc trong quá trình hình thành nền báo chí cách mạng Việt Nam mà còn góp sức vào việc khẳng định những yếu tố văn hóa, văn nghệ mới thông qua việc đăng tải nhiều bài thơ, ca dao, các thể loại văn học như tùy bút, phóng sự [56, 85]
Đầu năm 1943, Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định thành lập “tổ văn hóa cứu quốc” mà hạt nhân của nó là một số văn sỹ trí thức cách mạng tuyên truyền chủ nghĩa Mác và lôi kéo học sinh, sinh viên Cũng trong năm, Đảng
Cộng sản Việt Nam phát biểu Đề cương văn hóa Việt Nam, xây dựng và phát
triển Hội Văn hóa cứu quốc Các báo của Mặt trận Việt Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam phê bình nghiêm khắc những khuynh hướng sai lầm, phản động của văn nghệ hợp pháp…
Tiểu kết chương 1:
1 Sự hiện diện của văn hóa Pháp ở Việt Nam trước năm 1930 đã tạo nên một bức tranh văn hóa Việt Nam bao gồm cả 3 yếu tố: Văn hóa bản địa, văn hóa Trung Hoa và văn hóa Pháp Trên nền tảng sự phân hóa trong tư tưởng, thái độ của tầng lớp trí thức trước những chính sách về văn hóa của thực dân Pháp, một bộ phận trí thức cấp tiến đã dần đưa nền văn hóa Việt Nam chuyển mình và mang những sắc thái mới trong giai đoạn 1930 - 1945
2 Giai đoạn 1930 - 1935, trong khi vai trò của ý thức hệ tư sản đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã sụp đổ thì văn hóa tư sản, với khẩu hiệu “vui
vẻ, trẻ trung” lại đang trong thời kỳ đỉnh cao Thực trạng này đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam cần quan tâm định hướng sự phát triển của văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam nhằm tới mục đích lớn nhất là giải phóng dân tộc
3 Giai đoạn 1935 - 1939, những cuộc đấu tranh về tư tưởng, văn hóa diễn ra quyết liệt hơn Những người cộng sản đã giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đấu tranh không khoan nhượng trên mặt trận văn hóa,
Trang 34chống lại tư tưởng phong kiến và tư sản Từ năm 1939, đời sống tư tưởng, văn hóa của dân tộc cũng có nhiều thay đổi, phản ánh sự chuyển biến của đời sống kinh tế, xã hội thuộc địa những năm trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra Điểm nổi bật trong bức tranh văn hóa Việt Nam giai đoạn 1939 -
1945 là sự thắng thế tư tưởng văn hóa vô sản trong các cuộc tranh luận về văn hóa, văn nghệ, ngược lại là sự “lụi tàn” của tư tưởng văn hóa tư sản Quá trình vươn lên mạnh mẽ của tư tưởng văn hóa vô sản đã góp phần hình thành dòng báo chí cách mạng tiến bộ, một nền văn học cách mạng dồi dào sức sống và những tổ chức tuyên truyền văn hóa Mác-xít Trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước xây dựng các quan điểm về văn hóa Việt Nam phù hợp với từng bối cảnh kinh tế, xã hội
Trang 35Chương 2 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ VĂN HÓA VÀ
VĂN NGHỆ VIỆT NAM
2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về văn hóa
Trong khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất” và “sản xuất tinh thần”
Do đó, trên cơ sở định nghĩa văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, văn hóa được hiểu bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Trong đó, văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất; văn hóa tinh thần là tổng thể các
tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người Nói tới văn hóa là nói tới con người, bởi vậy, văn hóa có mặt trong mọt hoạt động của đời sống con người
Một trong những phát kiến lớn của C.Mác và Ph.Ăng-ghen là tính giai cấp của văn hóa Văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp Sự phát triển của văn hóa bao giờ cũng chịu sự quy định về cơ sở kinh tế, chính trị của một chế độ xã hội nhất định Điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi xã hội và mỗi giai cấp là khác nhau, đặc biệt là của giai cấp thống trị,
là yếu tố quyết định hình thành các nền văn hóa khác nhau Do đó, nền văn hóa là biểu hiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành
và phát triển trên cơ sở kinh tế, chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệ của giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định
hệ thống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa Văn hóa
Trang 36luôn có tính thừa kế Sự kế thừa trong văn hóa luôn mang tính chất giai cấp và được biểu hiện ở nền văn hóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó Chính quan điểm về tính giai cấp của C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã
“xua tan đám hỏa mù trong văn hóa, văn nghệ và biến văn hóa, văn nghệ thành vũ khí đấu tranh của giai cấp công nhân” [75, 73]
Theo quan điểm của C.Mác, một nền kinh tế lành mạnh được xây dựng trên những nguyên tắc công bằng, thật sự vì đời sống của người lao động sẽ là điều kiện để xây dựng một nền văn hóa tinh thần lành mạnh và ngược lại, một nền kinh tế được xây dựng trên cơ sở bất bình đẳng của chế độ tư hữu với sự phân hóa sâu sắc thì sẽ không có được nền văn hóa lành mạnh Nếu kinh tế
là cơ sở vật chất của nền văn hóa thì chính trị là yếu tố quy định khuynh hướng phát triển của nền văn hóa, tạo nền nội dung cho ý thức hệ của văn hóa Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị của mỗi thời kỳ lịch sử đều in dấu ấn trong lịch sử phát triển của văn hóa và tạo ra nền văn hóa của
Trang 37với sách báo có tính chất kinh doanh, buôn bán của giai cấp tư sản, đối lập với chủ nghĩa hám danh vị và chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vô chính phủ theo lối ông tướng và cái tệ chạy theo lợi lộc về mặt văn học của giai cấp tư sản - giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa phải đề ra nguyên tắc văn học có tính Đảng, phát triển nguyên tắc đó và thể hiện nguyên tắc đó dưới hình thức càng hoàn bị và càng trọn vẹn chừng nào hay chừng ấy… Sự nghiệp văn học phải biến thành một bộ phận trong sự nghiệp chung của giai cấp vô sản…” [39, 88-89]
Lênin cũng đã bắt đầu đề cập đến tính Đảng của người nghệ sĩ về mặt
tư tưởng, cũng như về mặt tổ chức, mặc dù chưa thật tỷ mỷ: “Đả đảo những nhà văn không có tính Đảng Đả đảo những nhà văn siêu nhân… Đảng là một đoàn thể tự nguyện, nếu như nó không tẩy sạch khỏi bản thân nó những đảng viên tuyên truyền quan điểm chống Đảng thì nó không tránh khỏi tan rã, tiền tan rã về tư tưởng, sau tan rã về vật chất Lênin còn có chủ trương nhà văn phải có quan hệ gắn bó và chịu trách nhiệm trước tổ chức Đảng: “Các nhà văn nhất định phải tham gia tổ chức Đảng” Lênin đặt vấn đề tự do sáng tác trên những bình diện khác nhau: “Tự do không những theo cái nghĩa thoát khỏi sự
áp bức của cảnh sát, mà còn tự do với ý nghĩa thoát khỏi chủ nghĩa hám danh vị…” Tự do chân chính và tự do chủ nghĩa (cá nhân, vô chính phủ) là hai việc khác nhau Tính Đảng hoàn toàn thống nhất với tự do chân chính, nhưng hoàn toàn đối lập với tự do chủ nghĩa…
Lênin muốn nhấn mạnh tính Đảng cộng sản trong văn học là vô cùng gắn bó với tính giai cấp vô sản Cái trước chính là biểu hiện chế độ của cái sau… Trong thực tiễn phong trào văn học vô sản thế giới cũng không phải không có hiện tượng nền văn học mang danh “tính Đảng cộng sản” nhưng lại rất xa lạ với tư tưởng giai cấp công nhân Nền văn học có tính Đảng mà Người đề xuất phải nhằm phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân lao động và nâng cao sự giác ngộ của nhân dân về mọi mặt, không những về
Trang 38chính trị mà còn về văn hóa thẩm mỹ… Đó sẽ là văn học tự do vì rằng nó sẽ không phải là để phục vụ các bà ăn uống phè phỡn, không phải là để phục vụ mấy vạn người lớp trên béo phị đến phát chán, phát khổ ra, mà là để phục vụ hàng triệu và hàng chục triệu nhân dân lao động tức là tinh hoa, lực lượng tương lai của đất nước”
Bên cạnh đó, Lênin cũng nhấn mạnh nền văn học có tính Đảng phải phản ánh chân thật hiện thực đấu tranh cách mạng: “Đó sẽ là văn học tự do,
nó dùng kinh nghiệm và công tác sinh động của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa để làm giàu những thành tựu cao nhất của tư tưởng cách mạng của nhân loại Nó xây dựng tác dụng qua lại thường xuyên giữa kinh nghiệm quá khứ
và kinh nghiệm hiện nay”
Với Lênin, một nền văn học có tính Đảng phải được vũ trang bằng tư tưởng của giai cấp công nhân, phải phục vụ tuyệt đại đa số nhân dân lao động, bồi dưỡng họ Và cuối cùng, một nền văn học có tính Đảng không phải chỉ là thể hiện tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng ở dạng quan niệm, một cách tư biện, cũng không phải phản ánh nguyện vọng của quần chúng một cách ảo tưởng, mà phải kết hợp chặt chẽ với việc phản ánh chân thật cuộc sống Tính Đảng, do đó là thống nhất với tính giai cấp, tính nhân dân và tính chân thật Nhưng là một sự thống nhất biện chứng [39, 90]
Lênin đề cập tới việc xây dựng một nền văn hóa có nội dung tư tưởng mới, một nền văn hóa có ý nghĩa mới và chưa từng thấy trong đời sống nhân dân Nếu không nhìn thấy nội dung mới, xã hội chủ nghĩa có tính chất nhân dân của văn hóa Xô-viết thì sẽ không hiểu được đặc điểm lịch sử của nó là nền văn hóa của chế độ mới…
Sau khi giành được thắng lợi hồi tháng Mười, Đảng đã đề ra nhiệm vụ làm cho nhân dân thực tế trở thành chủ nhân của mọi của cải văn hóa, dân chủ hóa văn hóa, giúp đỡ cho hàng triệu quần chúng lao động hấp thụ được
Trang 39thành tích của văn hóa, lợi dụng mọi thành tích của khoa học và văn hóa để xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa Đảng đã có thể bắt tay vào giải quyết nhiệm vụ ấy một cách mạnh dạn, kiên quyết theo tinh thần cách mạng và trong phạm vi cả nước bởi vì ngay trước Cách mạng Tháng Mười, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề ra những nguyên tắc hoạt động quan trọng nhất về mặt văn hóa
Trong các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen đều xác định thái độ của chủ nghĩa cộng sản khoa học đối với văn hóa quá khứ và đều vạch ra nhiệm vụ xây dựng một nền văn hóa mới, dân chủ, gắn liền với cuộc sống và đấu tranh của nhân dân lao động Lênin đã phát triển tư tưởng của C.Mác về xây dựng một nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa Lênin đã phê phán một cách sâu sắc và khoa học quan niệm duy tâm của giai cấp tư sản cho rằng có một nền văn hóa dân tộc tựa hồ như thống nhất và đứng trên các giai cấp Đồng thời, Lênin đưa ra nguyên lý về hai dòng văn hóa trong nền văn hóa của mỗi
xã hội: Văn hóa nhân dân dân chủ và văn hóa của các giai cấp bóc lột Lênin chỉ rõ, trong mỗi nền văn hóa dân tộc đều có nhân tố của văn hóa dân chủ và
xã hội chủ nghĩa, mặc dù những nhân tố ấy chưa phát triển [57, 3-4]
Đánh đuổi địa chủ và tư bản - đó là tiền đề quan trọng nhất của văn minh Nhưng nếu cách mạng là tiền đề mạnh mẽ của sự phát triển văn hóa thì
sự phát triển của văn hóa lại trở thành lực lượng mạnh mẽ nhất thúc đẩy xã hội mới, xã hội chủ nghĩa tiến lên… Văn hóa xã hội chủ nghĩa là sự phát triển hợp với quy luật của kho tàng trí thức mà loài người sáng tạo ra trong suốt thời kỳ phát triển của mình Lênin nói: “Chủ nghĩa Mác sở dĩ được toàn thế giới công nhận là hệ thống tư tưởng của giai cấp vô sản cách mạng, chính là
vì chủ nghĩa Mác hoàn toàn không vứt bỏ những thành quả quý giá nhất của các thời đại trước, mà trái lại, chủ nghĩa Mác hấp thu và chế biến mọi cái quý giá mà tư tưởng loài người và văn hóa nhân loại tích lũy được trong hơn 2.000 năm phát triển”
Trang 40Lênin chống lại quan điểm của giai cấp tư sản tự do về tính kế thừa lịch
sử, quan điểm ấy coi văn hóa của một nước nào đó là một dòng suối duy nhất hòa lẫn văn hóa dân chủ và văn hóa của giai cấp bóc lột… Chủ nghĩa Mác không điều hòa với những quan điểm duy tâm về văn hóa và nghệ thuật, nó bóc trần mưu mô tách rời lịch sử văn hóa, khoa học, nghệ thuật khỏi xã hội, khỏi các cuộc đấu tranh xã hội Nhưng chủ nghĩa Mác cũng đấu tranh không điều hòa với thái độ thô sơ, tầm thường đối với vấn đề phức tạp và tế nhị về mối liên hệ giữa sinh hoạt tinh thần và hoạt động của các giai cấp xã hội… Trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật tầm thường, Lênin đã nêu gương về thái độ trân trọng, thái độ săn sóc đối với cái truyền thống văn hóa và thái độ bảo vệ nó chống sự xâm phạm của kẻ thù phản động của văn hóa… Lênin cũng hết sức chú ý và hết sức trìu mến những hiện tượng văn hóa mới Người đánh giá rất cao nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa trung thành với đời sống [57, 10-17]
Về xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng từ hai tiền đề: Sau khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất chủ yếu được thiết lập sẽ tạo điều kiện cho sự ra đời của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Đây
là nền văn hóa của xã hội mới cần được hình thành trong tương lai
Nền văn hóa xã hội chủ nghĩa là nền văn hóa có ba đặc trưng cơ bản Thứ nhất, nền văn hóa có hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là nội dung cốt lõi, giữ vai trò chủ đạo, quyết định phương hướng phát triển của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa, sau khi giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền thì ý thức hệ của nó trở thành nhân tố giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội
Thứ hai, nền văn hóa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc, từng bước loại bỏ tư tưởng “văn hóa thượng lưu”, đưa giai cấp công nhân,