1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn, Tuỳ bút Nguyễn Tuân nhìn từ góc độ tiếp nhận

106 1,1K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 727,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã có nhiều nhà lí luận nghiên cứu về vấn đề tiếp nhậnđặc biệt ở phương Tây, có thể kể đến các học giả tiêu biểu như Roman Ingarden với công trình

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sự ra đời của Mĩ học tiếp nhận (Tiếp nhận văn học) là một trong

những thành tựu đáng chú ý của Lí luận văn học hiện đại Văn bản văn học cần đến người đọc lý tưởng để thiết lập đời sống cho mỗi tác phẩm Với những thành tựu của tư duy lí luận hiện đại, Mĩ học tiếp nhận đã phủ định tính chất khép kín của văn bản văn học, thay vào đó là tính chất mở và dấu ấn sáng tạo cá nhân Mĩ học tiếp nhận cũng nêu lên những giá trị dễ thay đổi, những giá trị đó trực tiếp gắn với cá nhân người đọc qua quá trình đi tìm chủ

ý tác giả Đồng thời nó cũng tìm ra vai trò đích thực của “người đọc – chủ thể

tiếp nhận” “… từ đây lịch sử văn học không chỉ đơn giản là các con số cộng

của tác giả và tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những biến chuyển lịch sử của nó” [8,167]

Những năm đầu thế kỷ XX, trên thế giới đã có nhiều nhà lí luận nghiên cứu về vấn đề tiếp nhận(đặc biệt ở phương Tây), có thể kể đến các học giả

tiêu biểu như Roman Ingarden với công trình “Tác phẩm văn học”;

Heidegger và những đồng nghiệp của ông đã tạo ra những biến thể mới của Hiện tượng học như Tường giải học, Mĩ học tiếp nhận;…Những năm 60 của

thế kỷ XX nổi bật với Hans Robert Jauss với công trình “Lịch sử văn học như

là sự khiêu khích đối với khoa học văn học”; Wolfgang Iser cùng nhiều nhà

khoa học khác… đã đặt ra vấn đề: Sự hiểu văn bản văn học xảy ra như thế nào? Và lí luận văn học sau một thời gian dài chỉ chú ý đến tác giả và văn bản, lần đầu tiên đã quan tâm đến người đọc, nghiên cứu vai trò của chủ thể tiếp nhận đối với sự tồn tại của một tác phẩm văn học

Cùng với xu thế nghiên cứu này, những năm 70 của thế kỷ XX ở Việt Nam cũng bắt đầu có sự nghiên cứu về tiếp nhận văn học Đầu tiên là các bài nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Phan Anh Những năm

Trang 3

sau đó xu hướng nghiên cứu này trở nên sôi nổi hơn với sự đóng góp ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu như Hoàng Trinh, Nguyễn Văn Dân, Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Phương Lựu, Trần Đình Sử, Huỳnh Như Phương,…

GS Trần Đình Sử đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về vấn đề

tiếp nhận như: Mấy vấn đề về tiếp nhận văn học, Lý luận tiếp nhận và phê

bình văn học, Văn học nghệ thuật và sự tiếp nhận,… đã lý giải những vấn đề

cơ bản của lý thuyết tiếp nhận giúp chúng tôi có cái nhìn cụ thể hơn về vấn đề tiếp nhận để có thể vận dụng vào đề tài đang nghiên cứu

PGS.TS Trương Đăng Dung là nhà nghiên cứu tìm hiểu vấn đề tiếp nhận văn học một cách khoa học và hệ thống hơn cả Tác giả đã đặt ra vấn đề: tính chất mở của tác phẩm là điều kiện của sự thưởng thức thẩm mĩ trong

công trình “Từ văn bản đến tác phẩm văn học” Nhà nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của chủ thể tiếp nhận trong bài “Phương thức tồn tại của tác

phẩm văn học” rằng : “Tác phẩm văn học phụ thuộc vào những hoạt động cụ

thể hóa có chủ ý của người đọc, và bản thân tác phẩm cũng hiện ra đúng với diện mạo của nó nếu gặp được sự cụ thể hóa lí tưởng… Như vậy tác phẩm văn học là vật hai lần có ý thức” [7,164] Sau đó là nhiều những công trình nghiên cứu, bài viết đóng góp cho sự đổi mới trong tư duy lí luận văn học ở

Việt Nam, bài viết “Văn bản văn học và sự bất ổn của nghĩa”, “Tác phẩm

văn học như là cấu trúc ngôn từ động”, chuyên luận “Tác phẩm văn học như

là quá trình”, “Trên đường đến với tư duy lí luận văn học hiện đại”,…

Có thể thấy những bài viết, những công trình nghiên cứu về lý thuyết tiếp nhận đã mở ra những hướng nghiên cứu mới, tích cực trong việc tìm hiểu, đánh giá một tác phẩm văn học, trong đó cần thấy rõ vai trò của người đọc đối với việc tạo lập nghĩa cho tác phẩm Đồng thời các công trình nghiên cứu về tiếp nhận văn học cho thấy lý thuyết tiếp nhận tồn tại như một ngành nghiên cứu riêng trong khoa học văn học Chúng tôi trân trọng những kết quả

Trang 4

nghiên cứu đó và xem đó là những gợi ý có giá trị trong quá trình thực hiện

đề tài luận văn của mình

1.2 Nguyễn Tuân là một cây bút đặc sắc, có thể gọi là “đặc biệt” trong

lịch sử văn học Việt Nam Nhà văn Nguyễn Đình Thi đánh giá cao vị trí của

Nguyễn Tuân: “Nguyễn Tuân là một trong mấy nhà văn mở đường và đắp

nền cho văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX,… Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng, mà tôi tin là sẽ chắc bền trong thời gian” Và thực

tế con người, văn nghiệp của Nguyễn Tuân cũng đã khẳng định vị trí “hòn đá tảng” ấy, một cái tôi độc đáo, một phong cách đặc sắc Tuy vậy, việc đánh giá

sự nghiệp của Nguyễn Tuân không phải điều đơn giản, và không phải bao giờ cũng có sự thống nhất Điều này chứng tỏ Nguyễn Tuân là một hiện tượng văn học không đơn nghĩa, thu hút nhiều hướng nghiên cứu khác nhau Vì thế, tiếp nhận văn chương Nguyễn Tuân cũng rất phong phú, đa dạng

Cuộc đời hơn năm mươi năm cầm bút của Nguyễn Tuân đã để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn mang phong cách riêng độc đáo Cho tới nay đã qua một khoảng thời gian dài kể từ ngày tác phẩm đầu tay của Nguyễn Tuân

ra đời, qua nhiều thăng trầm biến động của lịch sử dân tộc, nhiều thế hệ bạn đọc, văn chương của ông vẫn luôn được nâng niu, trân trọng Nghiên cứu về Nguyễn Tuân cũng như các tác phẩm văn chương của ông đã trở thành đề tài rộng lớn, thu hút được đông đảo bạn đọc yêu văn chương

Trong số các nhà nghiên cứu “tâm huyết” với Nguyễn Tuân cần phải nhắc tới GS Nguyễn Đăng Mạnh Ông không phải là người đầu tiên nghiên cứu Nguyễn Tuân, nhưng là người nghiên cứu Nguyễn Tuân khá sâu sắc và toàn diện Có thể kể tên một số bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn

Tuân như “Con người Nguyễn Tuân”, “Nguyễn Tuân viết phê bình văn học”,

“Nguyễn Tuân viết phê bình văn học”, “Tản mạn về Nguyễn Tuân”, “Nguyễn

Trang 5

Tuân viết Yêu ngôn”, “Nguyễn Tuân xê dịch, Nguyễn Tuân ẩm thực”,

“Nguyễn Tuân một phong cách độc đáo và tài hoa,…Các bài viết của ông đã

cung cấp cho người đọc một cái nhìn bao quát về Nguyễn Tuân từ thân thế, sự nghiệp, quan điểm nghệ thuật, phong cách sáng tác, đặc trưng thể loại, nghệ thuật ngôn từ,…

Bên cạnh đó còn có GS Phong Lê, GS Phan Cự Đệ, GS Trương Chính, nhà văn Vũ Ngọc Phan, các nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, Ngọc Trai, Hà Văn Đức, Nguyễn Thị Thanh Minh, Hoài Anh, Tôn Thảo Miên …

Ngoài phần giới thiệu chung về quá trình sáng tác của Nguyễn Tuân, mỗi nhà nghiên cứu lại đi sâu tìm hiểu một vài khía cạnh tiêu biểu của ông Phong Lê nhấn mạnh cái Tôi và thể tùy bút; Phan Cự Đệ tập trung nêu bật phong cách nghệ thuật qua việc phân tích cái tôi Nguyễn Tuân qua các thời

kì, ông cho rằng cái Tôi trước cách mạng của Nguyễn Tuân là cái Tôi “cá nhân lập dị”, sau cách mạng cái Tôi “tự mài giũa đi những nét gai ngạnh bên ngoài để tự làm giàu thêm bằng sự phong phú của tâm hồn bên trong”; nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có nhiều bài viết nghiêng về việc đề cao thể loại

tùy bút Nguyễn Tuân, khẳng định “Nguyễn Tuân- tên tuổi còn mãi với thể tùy

bút” Vũ Đức Phúc, Hoàng Như Mai, Nam Mộc, Văn Tâm, Ngọc Trai ,…

nhấn mạnh đến phong cách nghệ thuật độc đáo, tài hoa của Nguyễn Tuân

Cùng với đó, cái đẹp trong quan niệm, trong văn chương Nguyễn Tuân

cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: tác giả Hà Văn Đức với Nguyễn

Tuân và cái Đẹp, Hoài Anh có bài Nguyễn Tuân, nhà nghệ sĩ đã đưa cái đẹp thăng hoa, Nguyễn Thành có bài Nguyễn Tuân người săn tìm cái Đẹp,

Nguyễn Thị Thanh Minh với Nguyễn Tuân và cái Đẹp,… và hầu hết các ý

kiến đều cho rằng Nguyễn Tuân là nhà văn của chủ nghĩa duy mĩ, trong tư tưởng cũng như trong trang viết của ông cái đẹp luôn gắn với cái tài

Trang 6

Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Nguyễn Tuân và vai trò của nhà văn đối với tiếng Việt cũng là vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm Đáng chú ý

là các bài viết của Mai Quốc Liên, Hà Bình Trị, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Anh Đức,… Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận “Nguyễn Tuân là bậc thày của nghệ thuật ngôn từ”, là người luôn có ý thức trân trọng và mở rộng các khả năng của tiếng Việt

Tuy nhiên giới nghiên cứu phê bình cũng nêu lên cái hạn chế, điểm yếu của văn chương Nguyễn Tuân Họ nhìn nhận Nguyễn Tuân là “nhà văn chủ quan nhất trong các nhà văn”, “nói đến tâm tình hơn là nói đến sự việc, chú trọng cảm giác mình hơn là nhìn thực tế bên ngoài” (Trương Chính) [33,64],

vì trọng cái đẹp hình thức không cần nội dung mà nhiều khi “nội dung tác phẩm Nguyễn Tuân thật phù phiếm, lông bông, không có ý nghĩa xã hội gì đáng kể” (Nguyễn Đăng Mạnh) [33,106],…

Các bài nghiên cứu, các ý kiến đánh giá về Nguyễn Tuân rất nhiều, khó

có thể kể hết được, nhưng nghiên cứu Nguyễn Tuân và các tác phẩm truyện ngắn, tùy bút của ông từ góc độ tiếp nhận của các nhà nghiên cứu phê bình văn học, từ những thẩm định của họ thì chưa có một công trình nào Với suy

nghĩ như vậy nên chúng tôi chọn đề tài Truyện ngắn, tùy bút Nguyễn Tuân

nhìn từ góc độ tiếp nhận

Mặt khác, để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc, nhiều chiều về con người

và văn chương Nguyễn Tuân nói riêng, văn xuôi Việt Nam hiện đại nói

chung, chúng tôi chọn đề tài Truyện ngắn, tùy bút Nguyễn Tuân nhìn từ góc

độ tiếp nhận

1.3 Nguyễn Tuân là một tác giả quen thuộc và có vị trí quan trọng

trong sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học Các tác phẩm của ông được tuyển chọn vào chương trình Ngữ văn phổ thông gồm:

- “Chữ người tử tù”

Trang 7

- “Người lái đò sông Đà”

Là giáo viên dạy văn, nhận thấy việc giảng dạy các tác phẩm của Nguyễn Tuân còn nhiều hạn chế, chưa khám phá được đầy đủ, trọn vẹn về

tác giả cũng như tác phẩm của ông, nên chúng tôi đã lựa chọn “Truyện ngắn, tùy bút Nguyễn Tuân nhìn từ góc độ tiếp nhận” làm đề tài luận văn

với hi vọng sẽ có cái nhìn bao quát và sâu sắc hơn về văn chương Nguyễn Tuân

2 Mục đích nghiên cứu

- Luận văn khảo sát các ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình về truyện ngắn, tùy bút Nguyễn Tuân một cách có hệ thống, từ đó thấy được các cách tiếp nhận văn chương của ông Đồng thời qua sự tiếp nhận của các nhà nghiên cứu giúp bạn đọc có cái nhìn tổng quát, khách quan về “hiện tượng” Nguyễn Tuân

- Góp phần vào việc giảng dạy tốt hơn các tác phẩm Nguyễn Tuân trong trường phổ thông

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Trong đề tài, chúng tôi tìm hiểu một cách khái quát về lý thuyết tiếp nhận văn học trong sự vận động chung của tư duy lí luận văn học

- Nắm vững tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Tuân qua các sáng tác truyện ngắn, tùy bút ở các thời kì trước và sau cách mạng Đồng thời nắm vững quan điểm đánh giá của giới nghiên cứu phê bình về sáng tác của Nguyễn Tuân để có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn từ góc độ tiếp nhận

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Trong đề tài, chúng tôi tìm hiểu một số vấn đề cơ bản trong lí thuyết tiếp nhận văn học trong sự vận động chung của tư duy lí luận văn học

Trang 8

- Các tác phẩm thuộc thể loại truyện ngắn, tùy bút của tác giả Nguyễn Tuân.

- Những bài nghiên cứu, đánh giá về văn chương Nguyễn Tuân Trong khuôn khổ cho phép của luận văn, chúng tôi chú trọng tìm hiểu các bài nghiên cứu phê bình văn chương Nguyễn Tuân nói chung và thể truyện ngắn, tùy bút

nói riêng được tuyển chọn trong các sách: Nhà văn Nguyễn Tuân – con người

và văn nghiệp, Ngọc Trai tuyển chọn, Nxb Hà Nội, 1991; Nguyễn Tuân – người đi tìm cái đẹp, Hoàng Xuân tuyển chọn, Nxb Văn học, 1997; cuốn

“Nguyễn Tuân về tác gia và tác phẩm” do Tôn Thảo Miên tuyển chọn và giới

thiệu, Nhà xuất bản giáo dục, 2007

- Ngoài ra có một số bài viết được đăng tải trên các trang web, các báo,

tạp chí như Tạp chí nghiên cứu văn học, Văn nghệ quân đội, Diễn đàn văn

nghệ Việt Nam, Ngôn ngữ,…

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, thống kê

- Luận văn cũng nêu lên vị trí, những đóng góp quan trọng của nhà văn Nguyễn Tuân trong nền văn học nước nhà

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:

Trang 9

Chương 1: Một số vấn đề lí thuyết tiếp nhận và khái quát tình hình tiếp nhận văn chương Nguyễn Tuân

Chương 2: Truyện ngắn Nguyễn Tuân nhìn từ góc độ tiếp nhận

Chương 3: Tùy bút Nguyễn Tuân nhìn từ góc độ tiếp nhận

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT TIẾP NHẬN VÀ KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TIẾP NHẬN VĂN CHƯƠNG NGUYỄN TUÂN Một số vấn đề về lí thuyết tiếp nhận

Tác phẩm văn học được sáng tạo ra là để thưởng thức, tiếp nhận – đó là một sự thật hiển nhiên Tuy nhiên, không phải lúc nào vấn đề thưởng thức, tiếp nhận cũng được đặt cho nó một vị trí xứng đáng Đã có những khoảng thời gian lí luận văn học chỉ tập trung nghiên cứu khâu sáng tác hoặc tách rời sáng tác với các quy luật tiếp nhận Nếu lí luận văn học về sáng tác gắn liền với ý thức về cá tính sáng tạo của nhà văn, thì lí luận văn học về tiếp nhận đề cập tới tính sáng tạo của người đọc Tác phẩm văn học tồn tại trong độc giả không phải như một dấu tích mà là một hiện tượng sống nhờ nhu cầu của người đọc, khả năng phát hiện, sáng tạo của chính chủ thể tiếp nhận Bởi vậy

có thể nói, khi nghiên cứu lịch sử của tác phẩm văn học, một vấn đề cần được quan tâm là sự tiếp nhận của người đọc

1.1.1 Khái niệm Tiếp nhận văn học

Tiếp nhận văn học là một lĩnh vực rộng lớn của lí luận văn học còn đang “mở cửa” đón đợi những ý kiến, nhận định, những kết quả nghiên cứu khác nhau Nếu coi hoạt động văn học bao gồm hai lĩnh vực lớn: sáng tác và tiếp nhận thì sự tiếp nhận văn học đã hàm chứa một nửa lí luận văn học

Trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, không quá dài so với lịch sử văn học nhưng đã diễn ra sự vận động mạnh mẽ của tư duy lí luận văn học Vào cuối thế kỷ XIX, lí luận văn học tìm ra vai trò của tác giả, đến đầu thế kỷ XX phát hiện ra yếu tố văn bản và đến giữa thế kỷ XX,

lí luận văn học đã tìm ra vai trò đích thực của người đọc đối với tác phẩm văn học

Trang 11

Theo nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung, tư duy lí luận văn học hậu hiện đại đã đạt được một bước tiến quan trọng trong việc khám phá ra văn bản văn học như một cấu trúc ngôn từ động, tác phẩm văn học như là kết quả của quá trình cắt nghĩa văn bản của người đọc Lí luận văn học tiền hiện đại đã đặt giả thiết về vị trí của ý nghĩa tác phẩm trong mối quan hệ tác giả - tác phẩm, trong sự chủ ý tạo nên văn bản văn học Còn lí luận văn học hiện đại thì thừa nhận tính nội tại của tác phẩm, cho rằng tác phẩm là khách thể, cấu trúc ngôn ngữ chứa đựng ý nghĩa tác phẩm Nhưng tư duy lí luận văn học hậu hiện đại nêu lên ý nghĩa của văn bản văn học trong mối quan hệ mới hơn, mối quan hệ giữa tác phẩm và người tiếp nhận Các lí thuyết hậu hiện đại cho rằng nghĩa của văn bản không ổn định mà nó mang tính quan hệ, được tạo nên do một quá trình Lí luận văn học tiền hiện đại và hiện đại đều xem nghĩa của văn bản văn học là ổn định, có thể tìm thấy ý nghĩa duy nhất của văn bản văn học Các quan điểm của lí luận văn học hậu hiện đại phủ nhận giả thiết về ý nghĩa ổn định của văn phẩm văn học, và cho rằng nghĩa của tác phẩm mang tính chất quan hệ, nó được mở ra từ sự đối thoại giữa văn bản và người tiếp nhận Nghĩa của văn bản văn học trong quan niệm hậu hiện đại mang tính thời gian, tác phẩm văn học là kết quả của quá trình cắt nghĩa văn bản của người tiếp nhận

Theo quan niệm của tư duy lí luận truyền thống, tác giả là người đóng vai trò trung tâm của tác phẩm Tìm hiểu tác phẩm, người đọc đi tìm hiểu chủ

ý của tác giả trước và trong khi sáng tác Những khái niệm của mĩ học sáng tạo như: chủ đề, đề tài, cốt truyện, tư tưởng,… được dùng để thẩm định, đánh giá giá trị tác phẩm Khi tác giả đặt dấu chấm cuối cho văn bản tác phẩm của mình cũng là lúc ý và nghĩa của nó dừng lại Bạn đọc sau khi gấp trang sách lại không phải thắc mắc hay day dứt về tính cách nhân vật, hay số phận nhân vật sẽ đi về đâu,… bởi những thông tin đó đã được “trình bày” khá đầy đủ

Trang 12

trong tác phẩm, độc giả chỉ việc sẵn sàng lĩnh hội Vì thế, sản phẩm mà mỗi người đọc lĩnh hội được là giống nhau – đó chính là cái chủ ý của tác giả Tuy nhiên, lí luận văn học hiện đại đã có bước vượt lên trên lí luận tiền hiện đại bằng việc phát hiện ra sự khác biệt giữa văn bản văn học và tác phẩm văn học Lí luận hiện đại đã nhìn thấy những yếu tố đặc thù của văn bản văn học

và phương thức tồn tại của tác phẩm văn học thông qua người đọc Giữa thế

kỷ XX, với sự xuất hiện của mỹ học tiếp nhận, lí luận văn học quan tâm nhiều hơn đến độc giả - người cụ thể hóa cho văn bản Từ đây văn bản văn học mang thông điệp đối thoại có được vị thế mới: làm đối tác đối thoại Đây là một đóng góp có ý nghĩa lí luận của mỹ học tiếp nhận nói chung và lí luận văn học hậu hiện đại nói riêng Và như vậy, “lịch sử văn học không chỉ đơn giản là con số cộng các tác giả tác phẩm mà còn được hiểu là các tác phẩm và người tiếp nhận trong những chuyển biến lịch sử của nó” [8,167] Tác phẩm không chứa đựng những giá trị và ý nghĩa cố định mà luôn biến đổi trong cuộc đối thoại không ngừng giữa văn bản và những thế hệ độc giả

Xuất phát từ đặc trưng đời sống thẩm mĩ của văn học – loại hình nghệ thuật đặc biệt – nghệ thuật ngôn từ, khi đề cập đến hành động tiếp nhận, các

tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tiếp nhận văn học là

hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản

dịch, chuyển thể,…” [15,325] Định nghĩa này bao gồm ba nội hàm cơ bản:

đầu tiên, đây là khái niệm dùng để chỉ hoạt động đọc và cảm thụ tác phẩm của người thưởng thức Tiếp theo, định nghĩa này khái quát được các cấp độ trong quá trình tiếp nhận: giai đoạn đầu là đọc hiểu văn bản, sau đó phát hiện ra tư tưởng tác phẩm Kế tiếp sự chiếm lĩnh về nghĩa là sự thưởng thức các giá trị

Trang 13

tư tưởng cũng như nghệ thuật Cao hơn là cấp độ bản thể hóa, ranh giới giữa văn bản nghệ thuật và độc giả xóa nhòa Thứ ba, khi khái quát quá trình tiếp nhận, định nghĩa còn nhấn vào sự tương tác qua lại của người đọc và chủ thể sáng tạo: một phần qua sự phản hồi cảm thụ của người đọc những giá trị ẩn trong tác phẩm được phát hiện và ghi nhận; và nhà văn khi quan sát hoạt động tiếp nhận của độc giả giúp họ định hướng được thị hiếu thẩm mĩ của công chúng Đồng thời cũng chính nhờ các sáng tác mà người đọc có điều kiện mở rộng thêm vốn hiểu biết, kinh nghiệm về cuộc sống cũng như năng lực thẩm

mĩ cho cá nhân

Cũng có chung quan điểm với định nghĩa mà Từ điển thuật ngữ văn

học đã nêu, các tác giả của cuốn Giáo trình lí luận văn học, tập 1, Bản chất

và đặc trưng văn học cho rằng “tiếp nhận văn học là hoạt động tiêu dùng,

thưởng thức, phê bình văn học của độc giả thuộc nhiều loại hình, nhiều trình

độ khác nhau”[43,159] Có sáng tác văn học đương nhiên phải có tiếp nhận văn học và chính sự tiếp nhận đã tác động trở lại sáng tác, khiến cho cả hai khâu này thực sự góp phần làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu thẩm mĩ

của con người trong đời sống Bởi tác phẩm văn học là một hiện tượng động,

không nhất thành bất biến, có sự mở rộng ý nghĩa vô tận nhờ độc giả

Có thể thấy, về thực chất, tiếp nhận văn học là một cuộc giao tiếp, đối thoại tự do giữa người đọc và tác giả qua tác phẩm Quá trình này đòi hỏi độc giả phải tham dự với tất cả khối óc, hứng thú, tri thức và sự sáng tạo Trong tiếp nhận văn học người đọc ở vào một tâm trạng đặc biệt, vừa quên mình, nhập mình vào để sống, trải nghiệm nội dung của tác phẩm, vừa duy trì cho mình một khoảng cách thẩm mĩ để đánh giá tác phẩm từ bên ngoài, để đối thoại với tác giả, cắt nghĩa tác phẩm Tiếp nhận văn học là một hoạt động sáng tạo của người đọc, nó thúc đẩy ảnh hưởng văn học, làm cho tác phẩm

Trang 14

không đứng yên mà luôn lớn lên, phong phú hơn Không thể nói đến lịch sử của tác phẩm văn học nếu không có hoạt động tiếp nhận

“Tư tưởng cơ bản của mỹ học tiếp nhận là luận đề của các nhà lãng mạn trường phái Jena: “Độc giả sống, đi tìm gặp nhà văn, tích cực tham gia vào quá trình sáng tác”[22,92] Và với tư tưởng cơ bản này mà đặc trưng cho

mĩ học tiếp nhận là sự từ bỏ các quy phạm và chuẩn mực kinh điển vốn được dùng làm tiêu chuẩn của văn học và phê bình văn học Tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá tác phẩm là thực tiễn xã hội, hiệu quả xã hội của nghệ thuật theo mức độ biểu hiện của nó trong phản xạ của độc giả

Thông thường các nhà lí luận xem phạm vi nghiên cứu của tiếp nhận

văn học bao gồm “toàn bộ quá trình biến văn bản nghệ thuật thành tác phẩm

nghệ thuật”, quá trình thực hiện sự tồn tại xã hội của tác phẩm, sự tác động và

làm phong phú lẫn nhau giữa người đọc và tác phẩm Về bản chất, quá trình này gồm ba phương diện Thứ nhất, nghiên cứu tác phẩm như là một sản phẩm nghệ thuật được sáng tác ra để tiếp nhận, thưởng thức tác phẩm như một văn bản, một thông báo nghệ thuật, một cấu trúc cảm thụ hướng tới sự tưởng tượng của người đọc Thứ hai, về sự đọc, cắt nghĩa tác phẩm các quy luật của giao tiếp nhận, tâm lí học tiếp nhận văn học, giải thích học, sự đồng sáng tạo của người đọc Thứ ba, các quy luật và vấn đề lịch sử - xã hội của tiếp nhận: cách đọc phân tâm học, huyền thoại như một phương tiện của giao tiếp đại chúng

Như vậy, tiếp nhận văn học có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoàn tất quá trình sáng tác – giao tế của văn học Nhờ tiếp nhận văn học, hoạt động sáng tạo nghệ thuật trở nên có ý nghĩa, có mục đích và những giá trị chân chính của tác phẩm được bảo tồn, được phát triển phong phú thêm lên, trở thành một yếu tố hiện thực, một nhân tố tích cực của đời sống tinh thần con người Và nói đến vai trò của tiếp nhận văn học tức cũng là nói đến vai

Trang 15

trò của người đọc Người đọc giúp tác phẩm đi hết vận số của mình và với chức năng đó anh ta trở thành nhân tố không thể thiếu của quá trình văn học

1.1.2 Độc giả với tiến trình văn học

Với lí thuyết tiếp nhận hiện đại, đặc biệt là sự khẳng định vai trò của người đọc như là đồng sáng tạo với nhà văn trong việc tạo ra giá trị mới cho tác phẩm văn học, tư duy lí luận văn học đã có một sự phát triển Đó là sự chuyển dịch trung tâm từ tác giả sang văn bản rồi đến người đọc Với quan niệm này, tác phẩm văn học vừa là sáng tạo của nhà văn, vừa là nơi hoạt động của ngôn ngữ, nhưng đồng thời vừa là nơi tiếp nhận những sáng tạo từ phía người đọc để tạo nên những nét nghĩa mới cho tác phẩm văn học

Tác phẩm là một “quá trình”, tồn tại qua nhiều giai đoạn: ý đồ, tưởng

tượng, văn bản, sự khách thể hóa ý đồ trong một cấu trúc có tính ký hiệu, sự cảm thụ của người thưởng thức Và như thế, một tác phẩm văn học gồm một phần có thực, khách quan và một phần khác do người đọc phát hiện ra, cấu tạo ra, đó là quá trình biện chứng luân hồi: người sáng tác – tác phẩm – người tiếp nhận – tác phẩm – người sáng tác Và như thế người tiếp nhận có vai trò trung tâm trong tiến trình ấy

1.1.2.1 Vai trò của độc giả với tác giả

Trước hết, xét về mối quan hệ giữa độc giả và nhà văn – đó là quan hệ

Trang 16

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê khi bàn về “nghề văn” đã khẳng định: “nhà văn có thể không cần tiền, không cần vàng nhưng nhất định phải cần độc giả”

[25,206]; thêm vào đó ông cũng nhấn mạnh: “tất nhiên có tác phẩm kén độc

giả, có tác phẩm không, có người viết cho đương thời, có kẻ viết cho hậu thế, nhưng đã viết thì ai cũng mong có người đọc mình, nếu không thì viết làm gì?” [25,206] Còn theo Huỳnh Phan Anh thì “trong một ý nghĩa nào đó nhà văn là kẻ qua nhịp cầu của tác phẩm mình, mà tìm đến người đọc” [1,12] Theo ý kiến của PGS Đoàn Đức Phương “Tiếp nhận văn học thực chất là một quá trình giao tiếp Sự giao tiếp giữa tác giả với người tiếp nhận là mối quan

hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc, người bày tỏ và người chia sẻ, cảm thông Bao giờ người viết cũng mong người đọc hiểu mình, cảm nhận được những điều mình muốn gửi gắm, ký thác” [40]

Từ góc nhìn của lý thuyết tiếp nhận, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu, người đọc đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình sáng tạo của nhà văn, là động lực sáng tạo của nhà văn Vì thế nhà văn sáng tác là hướng tới người đọc, là tìm về với người đọc, là đối thoại với người đọc, là người bạn tri âm tiềm ẩn Không chỉ có vậy, người đọc còn là người đồng sáng tạo với nhà văn Người đọc là người sáng tạo nên những ý nghĩa mới cho tác phẩm mà nhiều khi nhà văn - người sáng tạo ra cũng không nghĩ tới Như thế, theo Nguyễn Văn Trung: “Có thể gọi độc giả cũng là một tác giả Độc giả không phải là người biết chấp nhận một cách thụ động, nô lệ, nhưng tự do theo tác giả và sự ưng thuận đó là cần thiết để cho tác giả có thể xây dựng tác phẩm Vì thế tác phẩm là một công trình chung” [59,229] Các tác giả yêu cầu người đọc không còn là người tiếp nhận ngay một thế giới hoàn hảo, đầy đủ đóng kín đối với chính họ mà ngược lại người đọc phải tham gia vào quá trình sáng tác, đến lượt mình người đọc cũng phải sáng tạo

ra tác phẩm Sáng tạo ở người đọc là sáng tạo trong tiếp nhận, sáng tạo trên

Trang 17

nền của một sáng tạo khác nhằm mục đích hiểu, thưởng thức, lí giải, bình giá tác phẩm, khai thác từ tác phẩm những giá trị tinh thần có ích cho mình và cho đời sống, ý thức xã hội, và bằng cách đó làm cho tác phẩm thực sự sống

một cuộc sống đầy ý nghĩa Trong quá trình tiếp nhận, vai trò đồng sáng tạo

với tác giả của độc giả được thể hiện đầu tiên ở chỗ trong khi tiếp nhận tác

phẩm, người đọc đã lấp đầy những “khoảng trống mà nhà văn có ý thức hoặc

vô tình tạo nên” Người đọc bằng hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của

mình đã cụ thể hóa cấu trúc kí hiệu của tác phẩm, làm phát lộ những hàm ngôn, những ẩn ý tiềm tại trong “mạch lạc” của nó, làm dậy lên tiếng nói của những khoảng lặng, tìm ra cái lôgíc của những kết nối bất ngờ Và cao hơn, người đọc còn phát hiện ra những ý nghĩa mới của tác phẩm cùng những mối liên hệ chỉnh thể tương ứng với chúng Như vậy, trong tư duy lí luận văn học hiện đại, quan hệ giữa tác giả và độc giả là mối quan hệ tương tác, có tính chất đối thoại, mang tính bình đẳng, không phải quan hệ phụ thuộc, áp đặt nhau Đây cũng là một quá trình chuyển hóa nội tại, là sự thẩm thấu vào nhau giữa thế giới của người đọc và thế giới của văn bản được tác giả tạo nên

“Người đọc đúng đắn có bổn phận góp phần sáng tạo với tác giả, một tác phẩm hoàn thành bao giờ cũng chỉ xong một nửa, còn một nửa để dành cho người đọc”[62,1] Sự hiện hữu của tác phẩm văn học sẽ là hư vô nếu không

có sự tham dự của người đọc Bởi lẽ vai trò của người đọc không chỉ được xác lập khi văn bản ra đời, thoát ly khỏi nhà văn để bước vào hành trình của hoạt động tiếp nhận, mà sự tham dự của người đọc đã có ngay từ khi bắt đầu hành trình sáng tạo của nhà văn

1.1.2.2 Vai trò của độc giả với văn bản

Coi trọng quá trình khám phá ý đồ sáng tạo của tác giả, tác phẩm văn học trong quan niệm của lý luận văn học truyền thống đồng nhất với thế giới

tư tưởng của nhà văn, bị hệ tư tưởng của nhà văn chi phối hoàn toàn Ý nghĩa

Trang 18

của tác phẩm bị chi phối bởi tác giả dựa trên những ấn tượng, phán đoán chủ quan của người đọc Và như vậy, người đọc thụ động hoàn toàn trong việc khám phá tác phẩm Không như vậy, lý luận văn học hiện đại và hậu hiện đại lại có những quan điểm hoàn toàn khác Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu văn học, tác phẩm văn học là một “đề án tiếp nhận”, “một tiềm năng để tiếp nhận”, “một cấu trúc mời gọi”, “một chương trình nhận thức”,

“một mã nghệ thuật”, “một sơ đồ” Nhưng đề án ấy, công trình ấy chỉ được

mở ra, được thực hiện trong thước đo của người đọc, với tính sáng tạo của anh ta

Theo nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung “tác phẩm văn học như một

quá trình”, vì “mọi tác phẩm đều dang dở, luôn đòi hỏi sự bổ sung và không

bao giờ đạt tới giới hạn cuối cùng bằng văn bản, quá trình văn học là quá trình tương hỗ với hai yếu tố: ảnh hưởng thông qua văn bản và sự tiếp nhận thông qua người đọc, người tiếp nhận tái tạo tác phẩm và tác phẩm tái tạo lại người đọc”[7] Còn theo Heidegger “không thể truy bản chất của tác phẩm văn học chỉ từ hoạt động sáng tạo của riêng tác giả Nhà văn, tác phẩm, người đọc gắn kết với nhau không thể tách rời, cái này là xuất xứ và hiệu quả của cái kia và ngược lại” [7,114]

Như vậy, đối với tác phẩm, người đọc có vai trò quan trọng, là người sáng tạo thứ hai và làm cho tác phẩm thực sự “sống” Người đọc là yếu tố nội tại của quá trình văn học Tác phẩm văn học chỉ có được đời sống khi được người đọc tiếp nhận và chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng thẩm mĩ của nó Chỉ khi được tiếp nhận bởi người đọc thì quá trình sáng tạo của nhà văn mới hoàn tất Ngay khi xuất hiện, văn bản văn học là một hệ thống kí hiệu mang tính

“hàm hồ”, là cấu trúc mở hướng đến người đọc Nói cách khác, văn bản văn học không phải là vật thể tồn tại một cách ổn định, không chứa đựng những giá trị và ý nghĩa cố định mà luôn biến đổi không ngừng nghỉ trong cuộc đối

Trang 19

thoại giữa văn bản và người đọc Đây là tính chất mở, là tiền đề để văn bản trở thành tác phẩm văn học Toàn bộ cấu trúc văn bản nghệ thuật gồm ngôn

từ, hình tượng, kết cấu, thể loại, tư tưởng,… nên được khảo sát không phải như một thành quả đã sản sinh mà như một đối tượng của sự cảm thụ, thưởng thức và tiếp nhận Trong quá trình tiếp nhận, cấu trúc văn bản được thổi thêm nguồn sức sống của thời đại mới - những nhân tố xuất hiện khi quá trình sáng tạo của nhà văn kết thúc Người đọc có vai trò tích cực trong việc sản sinh ra

ý nghĩa tác phẩm Trong công trình Lịch sử văn học: một thách thức đối với

lý luận văn học, Hans Robert Jauss đại biểu xuất sắc của trường phái

Konstanz đã viết: “không thể quan niệm đời sống của tác phẩm văn học trong lịch sử nếu không có sự tham gia tích cực của những người mà tác phẩm phục

vụ Chính sự tác động của họ sẽ đưa tác phẩm đi vào dòng chảy liên tục và sinh động của kinh nghiệm văn học, nơi mà chân trời tiếp nhận không ngừng biến đổi, nơi mãi diễn ra sự chuyển đổi từ cách tiếp nhận thụ động sang cách tiếp nhận chủ động, từ việc đọc đơn thuần đến việc lĩnh hội có phê phán, từ chuẩn mực thẩm mỹ đã được chấp nhận sẵn đến chỗ vượt qua nó bằng sự sáng tạo mới…”[43,190]

Như vậy, tác phẩm văn học chỉ “sống thực sự” khi nó được người đọc tiếp nhận Như cách nói đơn giản của Nhật Tiến “một tác phẩm in rồi không đến tay người đọc khác nào một công trình xây dựng đang bị bỏ hoang phế

rồi tàn lụi trong sự quên lãng của mọi người” [52,110]

Trong sự giao tiếp giữa tác phẩm với độc giả, cần chú ý tính chất cá thể hóa, tính chủ động, tích cực của người tiếp nhận Chính ở đây năng lực, thị hiếu, sở thích của cá nhân đóng vai trò rất quan trọng; tuỳ theo lứa tuổi, trình

độ học vấn cao hay thấp, kinh nghiệm sống nhiều hay ít mà có kết quả tiếp nhận cụ thể, riêng biệt cho mỗi người

Trang 20

Có thể thấy, tiếp nhận văn học là một quá trình tích cực, nó làm biến đổi giá trị và ý nghĩa của tác phẩm qua các thế hệ cho đến hiện tại, khi mà ta đối diện với tác phẩm trong chân trời riêng của mình, ở vị thế của người đọc Tính khuynh hướng trong tư tưởng, tình cảm, trong thị hiếu thẩm mỹ làm cho

sự tiếp nhận văn học mang đậm nét cá nhân và chính sự chủ động, tích cực của người tiếp nhận đã làm tăng thêm sức sống của tác phẩm Tác phẩm văn học tuy miêu tả cuộc sống cụ thể, toàn vẹn, sinh động, nhưng vẫn còn rất nhiều điều mơ hồ, chưa rõ Người đọc phải quan sát, tri giác để làm nổi lên những nét mờ, khôi phục những chỗ bị bỏ lửng Không chỉ có tác phẩm tác động tới người đọc, mà còn có việc tác động, tìm tòi của người đọc đối với văn bản Thiếu sự tiếp nhận tích cực của người đọc thì tác phẩm chưa thể hiện lên thật sinh động, đầy đặn, hoàn chỉnh Qua quá trình ấy, có những lớp nghĩa trở nên mòn cũ, ngược lại, có những lớp nghĩa mới được phát hiện, bổ sung, làm cho đời sống của các giá trị nghệ thuật luôn luôn vận động Bởi thế, song song với hoạt động sáng tạo của nhà văn là hoạt động sáng tạo của người đọc,

cả hai tác động và gắn bó mật thiết với nhau

Không dừng lại ở việc khẳng định người đọc là chủ thể tiếp nhận văn học, lý thuyết tiếp nhận còn chỉ rõ vai trò tích cực và chủ động trong toàn bộ tiến trình văn học Bằng sự ẩn mình mà liên tục, người đọc chi phối cả quá trình sáng tạo, biên tập, phổ biến, phê bình và thưởng ngoạn văn học Người đọc có vai trò quan trọng đối với đời sống văn học Nếu xét trên phạm vi cả một nền văn học, có thể nói “văn học nào, người đọc ấy”, đồng thời “người đọc nào thì văn học ấy” Có người đọc tầm thường nên có văn học tầm thường; có người đọc khe khắt thì có văn học quanh co, nói bóng gió; và khi

có người đọc cởi mở thì sẽ có văn học phóng khoáng Và như thế người đọc trở thành một nhân tố của tiến trình văn học bao gồm các khâu sáng tác, phổ biến, thưởng ngoạn và phê bình Tác động đến tư duy nghệ thuật, sự lựa chọn

Trang 21

đề tài, sự thể hiện chủ đề, phương thức xây dựng nhân vật, cách kết cấu và

nghệ thuật ngôn từ của nhà văn là “người đọc tiềm ẩn” ( Wolfgang Iser) Thị

hiếu của người đọc, nhất là những người đọc có thế lực chi phối đời sống văn học và thị trường chữ nghĩa đương thời giữ vai trò quan trọng trong việc công

bố và phổ biến tác phẩm Khi phát hành, tác phẩm lại chịu sự cọ xát giữa dòng xoáy của những luồng dư luận khác nhau mà tiêu biểu là nhà phê bình, nhà báo…đại diện cho những độc giả với những khuynh hướng tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ khác nhau Khi vừa được đưa ra, tác phẩm văn học đi vào đời sống tinh thần của một lớp công chúng cùng thời với nhà văn Tác phẩm

có thể nhận được sự cộng hưởng của lớp độc giả này mà không bị giãn cách quá nhiều bởi không gian và thời gian Những tác phẩm có cuộc sống dài lâu không chỉ đối diện với những độc giả đương thời mà còn với người đọc của các thế hệ sau này

Từ khi ra đời, một tác phẩm văn học có thể có nhiều cách tiếp cận và giải mã khác nhau, trong đó có cả những sự giải mã nằm ngoài tầm kiểm soát

và dự đoán của tác giả, tức không hoàn toàn trùng khớp với ý đồ tư tưởng và nghệ thuật của tác giả, do sự chi phối của những điều kiện lịch sử - chính trị,

xã hội và của nền tảng văn hóa cùng thị hiếu của cá nhân người đọc hay từng thế hệ người đọc Do vậy mà công chúng văn học luôn biến đổi, loại hình này ngày nay chiếm đa số nhưng ngày mai có thể trở thành thiểu số và ngược lại

Sự biến đổi này phụ thuộc vào một nhân tố rất quan trọng được mỹ học tiếp

nhận gọi là tầm đón đợi của công chúng Đó là hệ quy chiếu thuộc về kinh

nghiệm văn học của người tiếp nhận, là tầm hiểu biết về văn học, là nhu cầu, thị hiếu, trình độ thưởng thức kết tinh từ kinh nghiệm sống, hứng thú, quan điểm và lý tưởng thẩm mĩ của người đọc đã có trước khi họ tiếp xúc, tìm hiểu tác phẩm

Trang 22

Là một khái niệm cốt lõi của mỹ học tiếp nhận, “tầm đón đợi” có thể

được diễn giải theo những cách khác nhau, nhưng mọi ý kiến cơ bản đều xuất

phát từ cách hiểu của Hans Robert Jauss Theo ông, tầm đón đợi là “những sự

chờ đợi đặc trưng mà tác giả có thể tính đến ở công chúng, trong trường hợp không có những tín hiệu thể hiện, chúng vẫn có thể xác nhận được nhờ ba yếu

tố nêu trước một cách chung chung: đầu tiên là từ những chuẩn mực đã quen thuộc hoặc từ những thi pháp nội tại của thể loại; thứ hai là từ mối quan hệ ẩn kín đối với những tác phẩm quen thuộc của môi trường văn học; thứ ba là từ đối lập giữa hư cấu và hiện thực, chức năng thi pháp và thực tiễn của ngôn ngữ mà người đọc nhạy cảm thường xuyên có khả năng so sánh Yếu tố thứ

ba bao gồm cả việc người đọc có thể nhận biết tác phẩm mới trong tầm đón đợi văn học hẹp hơn hoặc trong tầm nhìn rộng hơn của kinh nghiệm sống của mình” [7,406]

Khái niệm Tầm đón đợi nói lên khoảng cách và sự đứt quãng trong mối

quan hệ giữa tác phẩm và người đọc đương thời, có thể dẫn đến sự va chạm,

có khi xung đột giữa tầm đón đợi của công chúng với tầm đón đợi mà tác phẩm đề xuất Nghiên cứu tiếp nhận văn học chính là khảo sát mối quan hệ giữa tầm đón đợi của tác phẩm và tầm đón đợi của độc giả Và lịch sử văn học có thể được xem như sự kế tiếp, cọ xát và điều chỉnh của những tầm đón đợi Hans Robert Jauss cũng khẳng định rằng tính lịch sử của tác phẩm có cơ

sở là kinh nghiệm tiếp nhận của độc giả Việc nghiên cứu tác phẩm phải thông qua sự nghiên cứu tầm đón đợi của công chúng

Từ khái niệm tầm đón đợi, khi tìm hiểu về các kiểu người đọc có thể thấy rõ sự tồn tại hai kiểu người đọc cơ bản: Người đọc tầm thường (Trương

Đăng Dung gọi là người đọc ngây thơ) gồm những người đọc không chuyên,

việc đọc tác phẩm văn học như một nhu cầu giải trí đơn thuần Người đọc đặc

biệt (Trương Đăng Dung gọi là người đọc lý tưởng) là những độc giả có trình

Trang 23

độ chuyên sâu, việc đọc mang tính chất nghề nghiệp như nhà văn, nhà phê bình “Tầm đón đợi” của hai kiểu người đọc này có sự khác nhau rõ rệt Đối với kiểu người đọc thứ nhất, trong ý thức của họ, tác phẩm văn học là một khách thể, không có điều gì ẩn kín cần phải suy nghĩ Tác phẩm phản ánh cuộc sống thì nó phải như cuộc sống Còn ở kiểu người đọc thứ hai, tác phẩm gây được hứng thú của họ phải là những tác phẩm buộc họ phải suy nghĩ, trăn trở để phân loại tìm ra giá trị đích thực của tác phẩm văn học và nâng cao tầm đón đợi của mình Như thế có nghĩa, tầm đón đợi không phải cố định Đọc một tác phẩm mới và khó sẽ nâng cao tầm đón đợi của người đọc Và tầm đón đợi mới ấy đòi hỏi văn học không ngừng sáng tạo đổi mới Điều này cho thấy, tiếp nhận văn học không chỉ dừng lại ở việc nó giúp khám phá thêm nhiều mặt, nhiều khía cạnh về nội dung ý nghĩa, về nghệ thuật còn “ẩn náu” bên trong trong tác phẩm, mà tiếp nhận văn học còn góp phần tích cực vào việc nâng cao trình độ đọc, thưởng thức của độc giả, đồng thời là một động lực kích thích sự sáng tạo mới trong văn học

Như vậy, từ những điều đã nêu ở trên, chúng tôi có thể khẳng định tác phẩm văn học không đồng nhất với văn bản, với chính nó, mà là một sản phẩm mang tính quan hệ, nó chỉ thực sự được xác lập đời sống nhờ vào mối quan hệ với người đọc Tác phẩm văn học vì thế là sự cụ thể hóa trong người đọc Không có một tác phẩm duy nhất trong người đọc Mà qua mỗi lần tiếp nhận ở từng độc giả, qua những sự tiếp nhận khác nhau ở những bạn đọc khác nhau, qua sự tiếp nhận từ thời đại này đến thời đại khác tác phẩm được mở ra

vô tận về tầm nhìn, nới rộng và tăng thêm về ý nghĩa Tư duy lí luận văn học hậu hiện đại với lí thuyết mỹ học tiếp nhận đã tìm ra và khẳng định rõ vai trò của người đọc, đúng như nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đã nhận định:

“Với mĩ học tiếp nhận, có thể nói hành trình của một tác phẩm văn học chỉ thực sự bắt đầu khi người ta đọc nó Đó là cuộc hành trình cho thấy không thể

Trang 24

quan niệm một cách đơn giản truyền thống văn học như là lịch sử truyền thống của những giá trị văn học được sắp xếp ổn định và nhất trí theo những tiêu chí bất biến nào đó” [6,176]

1.1.3 Cộng đồng diễn giải

Lý thuyết tiếp nhận ra đời khẳng định vai trò của người đọc đối với tác phẩm văn học, làm thay đổi tư duy lý luận văn học truyền thống trong quan niệm về bản chất của tác phẩm văn học Đến với văn bản văn học, người đọc

trở thành chủ thể tiếp nhận, có ưu thế tự do trước văn bản và tác giả Tuy nhiên các nhà lí luận cũng chỉ ra rằng sự tự do của chủ thể tiếp nhận cũng chỉ

là sự tự do trong ràng buộc Đó là sự ràng buộc của Cộng đồng diễn giải

Cộng đồng diễn giải là một khái niệm quan trọng của Mỹ học tiếp

nhận Trong những năm gần đây, thuật ngữ này đã được một số học giả giới

thiệu ở Việt Nam Cộng đồng diễn giải là khái niệm do Stanley Fish đề xuất Tác giả Trương Đăng Dung trong bài “Những giới hạn của cộng đồng diễn

giải” đã trích ý kiến của Stanley Fish nhấn mạnh vai trò của cộng đồng diễn giải rằng: “Cộng đồng diễn giải chứ không phải văn bản hay người đọc tạo

nên các nghĩa của văn bản” [dẫn theo 17,75] Như vậy có nghĩa các nghĩa của

một tác phẩm được hình thành là do ảnh hưởng của cả một thiết chế cộng

đồng Theo tác giả Diêu Lan Phương trong bài “Tính tưởng tượng của cộng

đồng diễn giải” giới thiệu “cộng đồng diễn giải được Fish quan niệm là những nhóm độc giả chia sẻ một tập hợp các quy ước để hiểu các tác phẩm văn học theo những cách thức nhất định; và các đặc tính hình thức của tác phẩm văn

học chỉ tồn tại khi chúng được kích hoạt bởi các cộng đồng độc giả” [42] Sự

ổn định và đồng nhất của các nhóm người đọc quy định phương thức tồn tại của tác phẩm văn học Cũng theo tác giả này “Cộng đồng diễn giải còn có thể hiểu là tập hợp một nhóm người có chung kinh nghiệm đọc” [42] Tuy nhiên một kinh nghiệm đọc có tính ổn định cao lại không hoàn toàn có lợi cho sự

Trang 25

phát triển văn chương Ở một tác phẩm xuất sắc thường có sự phá vỡ kinh

nghiệm của cả người đọc và tác giả Phá vỡ Tầm đón đợi của độc giả chính là

một trong những thành công của tác phẩm Vượt ngoài tầm đón đợi đồng nghĩa với việc tạo nên bất ngờ, không dự đoán trước được khi người đọc thâm nhập vào thế giới của tác phẩm văn học Cho nên, phá vỡ kinh nghiệm để tiếp tục tạo ra những kinh nghiệm mới luôn luôn diễn ra trong cộng đồng diễn giải; nó khiến cho cộng đồng diễn giải luôn vận động Như vậy, “nghĩa của một tác phẩm trong diễn trình tiếp nhận, trải qua các thời kì có sự thay thế của các cộng đồng diễn giải, sẽ có hai xu hướng: mất đi một số nghĩa nào đó, đồng thời lại có thêm những ý nghĩa mới Tuy thế, dù kinh nghiệm đọc của Cộng đồng diễn giải – được thể hiện và hiện thực hóa trong quá trình viết và đọc, một mặt tạo ra nghĩa cho văn bản; nhưng mặt khác, chính văn bản sẽ có tính độc lập tương đối của nó, nó sẽ không tuân theo sự sai khiến hay là nô lệ của một mặc định cứng nhắc nào”[42]

Dựa trên những thành tựu của lý luận văn học thế kỷ XX, chúng tôi sẽ

cố gắng soi vào diễn trình tiếp nhận truyện ngắn, tùy bút Nguyễn Tuân để từ

đó thấy được hai thể loại văn xuôi nói trên của Nguyễn Tuân được nhìn nhận như thế nào qua sự tiếp nhận của người đọc Đồng thời thấy được những đóng góp của Nguyễn Tuân đối với nền văn học Việt Nam

1.2 Khái quát vấn đề tiếp nhận văn chương Nguyễn Tuân

1.2.1 Nguyễn Tuân cuộc đời và văn nghiệp

1.2.1.1 Cuộc đời nhà văn Nguyễn Tuân

Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10/07/1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội trong một gia đình nho học đã thất thế, mang tư tưởng bất đắc chí dưới chế độ thực dân phong kiến

Nguyễn Tuân sinh ra trong gia đình Nho học nhưng giữa lúc Nho học thất thế, nhường chỗ cho Tây học và ông lớn lên giữa hoàn cảnh xã hội đang

Trang 26

lúc giao thời Tây - Tàu nhố nhăng Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi lại dấu ấn sâu sắc trong cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân Là một trí thức giàu tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân

đã phải trải qua những năm tháng khổ sở, có lúc bế tắc, thất vọng

Nguyễn Tuân sinh ra ở Hà Nội nhưng quãng thời gian thanh thiếu niên

đã cùng gia đình sống nhiều ở các tỉnh miền Trung, Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Huế, Hà Tĩnh, Thanh Hóa Năm 1929, khi đang học trung học ở Nam Định, vì tham gia bãi khóa chống giáo viên Pháp nói xấu người Việt Nam, ông bị đuổi học, không chịu được cảnh sống nô lệ, ông cùng một nhóm bạn vượt biên sang Lào bị bắt ở Thái Lan, đưa về giam ở Thanh Hóa ( 1930) Kể

từ đây, Nguyễn Tuân rơi vào tình trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc, ông đi vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “ đại bất đắc chí”, như một người

“hư hỏng hoàn toàn”

Ở tù ra, Nguyễn Tuân làm thư ký nhà máy đèn và bắt đầu cầm bút Ông

làm báo, viết văn và nổi tiếng từ 1938, 1939 với các tác phẩm Một chuyến đi,

Vang bóng một thời… Ngoài văn học, Nguyễn Tuân còn say mê diễn kịch,

tham gia đóng phim

Năm 1940, cuốn Vang bóng một thời được in Đến 1941 Nguyễn Tuân

bị bắt tại Hà Nội và bị đưa đi trại giam tập trung Khi ở trại tập trung về, Nguyễn Tuân lại bắt đầu viết và cho in một loạt các tác phẩm mới

Cách mạng tháng Tám đã “cứu sống” cuộc đời và ngòi bút Nguyễn Tuân Ông hân hoan chào đón cuộc đổi đời lịch sử, tự “lột xác” và chân thành đứng vào hàng ngũ nhà văn cách mạng

Kháng chiến toàn quốc, Nguyễn Tuân tham gia đoàn văn hóa kháng chiến, làm kịch tuyên truyền ở Thanh Hóa, Vinh 1947, ông làm trưởng đoàn kịch tuyên truyền của khu Bốn Ông được bầu làm Tổng thư ký Hội văn nghệ

Trang 27

toàn quốc từ 1948- 1956, là ủy viên Chấp hành Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam từ 1957 đến lúc mất

Nguyễn Tuân đi nhiều, đã đến mọi nơi xa xôi nhất, bất kể ở đâu, dù là rừng núi hay đồng bằng, tham gia vào cả những trận đánh của bộ đội, cho ra những trang viết hết sức sống động, phản ánh được không khí sôi sục đánh giặc của quân dân

Trong những năm 60, 70, ông còn viết phê bình văn học Ông viết về các tác giả trong nước, ngoài nước, các vấn đề văn học mà ông quan tâm Nguyễn Tuân hoạt động nghệ thuật trên nhiều phương diện: viết truyện, ký, phê bình văn học, dịch thuật, diễn kịch,…

Nguyễn Tuân hăng hái tham gia vao hai cuộc kháng chiến, bằng ngòi bút tài hoa của mình, ông đã có công đóng góp lớn vào việc ngợi ca quê hương đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất xây dựng

Nguyễn Tuân mất 28/07/1987 tại Hà Nội Ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật năm 1996

1.2.1.2 Văn nghiệp Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa, uyên bác, ông am tường cả Hán học lẫn Tây học, đặc biệt có lòng say mê thiết tha với tiếng Việt Đọc văn ông, người đọc không chỉ có khoái cảm thẩm mỹ từ nghệ thuật ngôn từ mà còn được bồi dưỡng thêm tri thức về nhạc, họa, điệu khắc, kiến trúc, lịch sử, địa lý, điện ảnh…Thực tế ấy chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài năng phong phú, có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật

Đời viết văn hơn nửa thế kỷ của Nguyễn Tuân là một quá trình lao động nghệ thuật thật sự nghiêm túc, ông luôn nghiêm khắc với chính mình Đây là một nhà văn “suốt đời đi tìm cái Đẹp, cái Thật” ( Nguyễn Đình Thi),

tự nhận mình là người “sinh ra để thờ nghệ thuật với hai chữ viết hoa”

Trang 28

Trước cách mạng tháng Tám, trong bối cảnh nước mất, mọi quan niệm giá trị xã hội đảo điên, Nguyễn Tuân đứng hẳn về phía dân tộc và truyền thống, chống lại lối sống xu thời Sáng tác của ông thời kỳ này chủ yếu dồn lực phục hiện lại các giá trị văn hóa thuộc lĩnh vực tinh thần xã hội Trong trang viết của ông , “vẻ đẹp xưa” sống dậy trong niềm xót xa tiếc nuối Ông

kỳ vọng gìn giữ những giá trị thiêng liêng nhất của dân tộc Các tác phẩm

chính của ông trong thời kỳ này gồm: Một chuyến đi ( 1938), Vang bóng một

thời (1939), Ngọn đèn dầu lạc (1939), Thiếu quê hương(1940), Tàn đèn dầu lạc ( 1941), Tùy bút I(1941), Tùy bút II( 1943), Tóc chị Hoài(1943), Những đứa con hoang(1943), Vô đề(1945), Nguyễn(1945)

Sau cách mạng, Nguyễn Tuân càng tỏ ra sâu sắc trong tư tưởng nghệ thuật Nhà văn có dịp đi nhiều, mở lòng đón nhận âm thanh, vẻ đẹp của cuộc sống mới Ông cất cao lời ngợi ca đất nước và con người Việt Nam thời đại

mới Các tác phẩm chính giai đoạn này gồm: Chùa Đàn(1946), Đường vui

(1949), Tình chiến dịch (1950), Thắng Càn (1953), Tùy bút kháng chiến và hòa bình (Tập I-1955,Tập II-1956), Sông Đà (1960), Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi (1972), Ký (1976), Chuyện nghề (1986), Cảnh sắc và hương vị đất nước(1988), Tuyển tập Nguyễn Tuân(1996)

Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Tuân gồm một số lượng lớn các tác phẩm đa dạng về thể loại gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký, tùy bút, phê bình văn học, báo chí Trong đó có không ít tác phẩm đạt tới vẻ đẹp “gần như hoàn mĩ” và đầy ắp những giá trị Tuy nhiên vượt qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian, những sáng tác quan trọng và có giá trị nhất của Nguyễn Tuân vẫn là những truyện ngắn và những trang tùy bút độc đáo tài hoa

Trước cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân chơi “ngông” một cách cực đoan Chủ nghĩa độc đáo đến mức cực đoan trong đời sống cũng như trong nghệ thuật mà biểu hiện là thú chơi ngông của Nguyễn Tuân không chỉ đơn

Trang 29

thuần là phản ứng tâm lý của một cá nhân trước tấn kịch xã hội, mà nó còn bao hàm khí khái của người trí thức yêu nước không cam tâm chấp nhận chế

độ thực dân, muốn tách mình ra và vượt mình lên trên xã hội của những kẻ xu thời Sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân không còn lý do gì để “gây sự”, ném đá vào đời như trước Thói quen và sở thích tìm cách nói mới lạ, không giống ai khiến ngòi bút ông luôn tràn đầy sáng tạo và có sức hấp dẫn mạnh mẽ Cái ngông – biểu hiện của sự độc đáo luôn tồn tại như hạt nhân căn bản, chi phối toàn bộ các phương tiện khác của phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân từ đề tài, hệ thống nhân vật cho đến thể loại, giọng điệu, ngôn ngữ

Mới, lạ, không giống ai là đặc điểm dễ nhận thấy ở hệ thống đề tài Nguyên Tuân “khơi những nguồn chưa ai khơi” nên thường tạo được cảm giác mạnh, để lại ấn tượng rất sâu Qua những trang viết tài hoa, một mặt người đọc thấy say sưa trước cảnh, tình và kiến thức phong phú được thể hiện đẹp, độc đáo, mặt khác người đọc như thấy yêu thêm, tự hào hơn về dân tộc mình, về thời đại mình đang sống

Hệ thống nhân vật của Nguyễn Tuân bao giờ cũng mang dáng vẻ riêng, độc đáo, đẹp - vẻ đẹp của nhân cách, tài hoa Ở cả hai giai đoạn sáng tác, Nguyễn Tuân luôn trân trọng những “đấng tài hoa”, say mê miêu tả, chiêm ngưỡng họ Trước cách mạng tháng Tám, các nhân vật của ông thường sành hơn người về một thú chơi hoặc một ngón nghề mang đầy tính nghệ thuật Sau cách mạng, sự chuyển dịch của ý thức Nguyễn Tuân theo hướng đưa văn học trở về với cuộc sống, phục vụ công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước đã dẫn tới mở rộng thế giới nhân vật của ngòi bút Nguyễn Tuân Say mê phát hiện và ngợi ca những vẻ đẹp tài hoa, khí phách của văn học dân tộc, trong chiến đấu, con người trong lao động, là những kĩ sư, nghệ sĩ đang tự nguyện,

Trang 30

tự hào góp cái tài của mình để đắp xây cuộc sống mới, nền văn học nghệ thuật mới

Tìm đến tùy bút cũng con đường tất yếu của cá tính và phong cách Nguyễn Tuân Đặc điểm nổi bật của giọng điệu tùy bút Nguyễn Tuân chính là

sự phong phú, đa thanh, thỏa mãn đến hoàn hảo những sắc thái tình cảm tinh

tế nhất Nguyễn Tuân có lối ví von, so sánh chính xác, mới lại, sự vật được miêu tả trong trường liên tưởng, cảm giác chuyển đổi tinh tế, bất ngờ

Vẻ đẹp của trang viết Nguyễn Tuân là kết quả tất yếu từ một cách viết mang chiều sâu, bề rộng và tầm cao văn hóa Lòng yêu nước và tinh thần dân tộc, đặc biệt biểu hiện ở thái độ thành kính trân trọng tiếng mẹ đẻ và các giá trị truyền thống chính là độc lực bên trong, thôi thúc nhà văn không ngừng tìm tòi, khơi nguồn cũ và sáng tạo cái mới

Nguyễn Tuân là một cây bút đặc sắc trong lịch sử văn học Việt Nam,

“là một trong mấy nhà văn mở đường và đắp nền cho văn xuôi Việt Nam thế

kỷ XX…Nguyễn Tuân đã đặt viên đá riêng vào cái nền còn mới mẻ của văn xuôi tiếng Việt ta, và viên đá của Nguyễn Tuân là một hòn đá tảng, mà tôi tin

là sẽ chắc bền trong thời gian” ( Nguyễn Đình Thi) [33,606] Và thực tế con người, văn nghiệp của Nguyễn Tuân cũng đã khẳng định vị trí “hòn đá tảng”

ấy, một cái tôi độc đáo, một phong cách đặc sắc

1.2.2 Văn chương Nguyễn Tuân từ góc độ tiếp nhận

Hơn nửa thế kỉ đã trôi qua kể từ khi tác phẩm đầu tay ra đời, Nguyễn Tuân cùng các tác phẩm của ông vẫn luôn thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều thế hệ độc giả Đến nay đã trải qua nhiều chặng đường phát triển với nhiều cuốn sách, hàng chục bài nghiên cứu, phê bình, Nguyễn Tuân vẫn luôn được công nhận như một phong cách văn chương độc đáo, một cây bút tài năng thực sự, bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Qua khảo sát những bài viết về Nguyên Tuân, chúng tôi thấy bạn đọc và các nhà nghiên

Trang 31

cứu viết về Nguyễn Tuân thường xoay quanh các xu hướng chính như: viết về cuộc đời Nguyễn Tuân và những tác phẩm nói chung; viết về phong cách nghệ thuật qua một số tác phẩm cụ thể Bên cạnh đó còn có một số lượng không nhỏ các bài viết là hồi ký của người thân, của những nhà văn đương thời có quan hệ văn chương với nhà văn

Qua nghiên cứu, khảo sát các bài nghiên cứu về Nguyễn Tuân của giới nghiên cứu phê bình - những “người đọc lí tưởng”, chúng tôi tạm chia quá trình tiếp nhận văn xuôi Nguyễn Tuân như sau:

1.2.2.1 Khái quát tình hình tiếp nhận các tác phẩm trước Cách mạng

Nguyễn Tuân bắt đầu cầm bút từ đầu những năm 30, ông làm báo trước khi viết văn Ông viết trên các báo Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu thuyết thứ bảy Và ông thực sự được làng văn biết đến từ 1938 với

Một chuyến đi, tập truyện ngắn Vang bóng một thời,… với những tác phẩm

này, Nguyễn Tuân đã tạo được cho mình một phong cách riêng độc đáo

Điều thể hiện rõ nhất trong các tác phẩm viết trước Cách mạng tháng Tám của Nguyễn Tuân là có sự thống nhất trong phong cách sáng tác nhưng lại có sự đối lập trong quan điểm nghệ thuật Tiếp nhận tác phẩm trước Cách mạng tháng Tám của ông, các nhà nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu cái

“tôi” cá nhân tác giả, phong cách nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật, và lý giải tại sao thời kì này trong quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân lại có sự mâu thuẫn Đáng chú ý có các bài viết của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Văn Đức,…

Bàn về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân giới nghiên cứu có nhận định chung đó là một phong cách nghệ thuật độc đáo Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng “Nguyễn Tuân đi vào làng văn để chơi ngông với thiên hạ”[29,128] Nói về cái “tôi” Nguyễn Tuân, hầu hết các nhà nghiên cứu đều khẳng định đó là cái tôi cá nhân độc đáo, tài hoa, khinh bạc Nhân vật chính

Trang 32

trong các tác phẩm thời kì này là cái “tôi” ngông nghênh của nhà văn, một cái tôi sau quá nhiều đắng cay tủi cực đã hoài nghi tất cả, chán trường tất cả, chỉ còn tin ở cái vốn tình cảm, cảm xúc của chính bản thân mình Nhà nghiên cứu Trương Chính đánh giá: “Nguyễn Tuân là một nhà văn chủ quan nhất trong các nhà văn của ta Chưa có một người nào chuyên nói về mình một cách lộ liễu không che giấu như thế Tựa hồ ngoài ông, ông không còn nhìn thấy ai nữa”[33,64] Các tác phẩm thời kì này của nhà văn cho thấy sự trọn vẹn và trung thành của một cây bút với chính bản ngã và bản lĩnh của mình Nguyễn Tuân dùng cái tôi cá nhân để tách mình ra khỏi xã hội của những kẻ xu thời, thi vị hóa lối sống khinh bạc của kẻ giang hồ lạc phách, dùng cái tôi của mình như một thứ vũ khí chống trả lại xã hội ô trọc Và trên đường thể hiện cái tôi độc đáo ấy, Nguyễn Tuân đã có những tìm tòi tích cực, đạt những giá trị thẩm

mĩ thật sự

Các nhà nghiên cứu cũng lí giải nguyên nhân của sự mâu thuẫn trong quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Tuân Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Hà Văn Đức, Tôn Thảo Miên,…đều cho rằng nó có nguyên nhân từ xã hội đương thời và chính từ con người nhà văn Do tình hình phân hóa của xu hướng văn học thời kì 30-45, và nguyên nhân cơ bản của sự đối lập ấy là từ

cơ sở tâm lý xã hội cụ thể của ông, đó là sự bất hòa, thất vọng của nghệ sĩ với hoàn cảnh xung quanh Đó là sự “giằng co giữa chủ nghĩa cá nhân và lòng yêu nước”[33,114]

Qua các bài nghiên cứu phê bình của các nhà nghiên cứu, có thể nhận thấy các tác phẩm viết thời kì trước cách mạng của Nguyễn Tuân được tiếp cận từ nhiều khía cạnh: phong cách nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật, cái tôi tác giả, sự đối lập và lí giải sự đối lập trong quan điểm nghệ thuật của nhà văn Qua những sự tiếp nhận này người đọc có thêm nhiều kênh tiếp xúc, đọc, tìm hiểu tác phẩm thời kì này của ông

Trang 33

Vang bóng một thời là tập truyện ngắn làm nên tên tuổi của Nguyễn

Tuân trước cách mạng tháng Tám Đánh giá, tìm hiểu về tập truyện này cũng chiếm phần không nhỏ trong các bài nghiên cứu về Nguyễn Tuân, như các bài của Thạch Lam, Phan Cự Đệ, Trương Chính, Đỗ Đức Hiểu, Vũ Ngọc Phan,…

Các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng Vang bóng một thời là một “sản

phẩm đáng quý”, đã “khơi lại đống tro tàn dĩ vãng, tìm lại cái đẹp của ngày

qua đã một thời vang bóng”[33,271] Đó là “một văn phẩm gần tới sự toàn

thiện, toàn mĩ”[33,47],…Cũng có một số ý kiến cho rằng trong Vang bóng

một thời là cái tôi cực đoan của kẻ ích kỷ, hẹp hòi, trối kệ cuộc đời, cái tôi của

kẻ vô trách nhiệm, thế giới ấy chỉ là một thế giới tù túng, ngột ngạt,…

1.2.2.2 Khái quát sự tiếp nhận các tác phẩm sau Cách mạng

Cách mạng đến đã thay đổi, gột rửa, tạo ra một cuộc vượt dòng ngoạn mục trong con người Nguyễn Tuân cũng như trong văn chương ông Cách mạng đã làm sống dậy trái tim vốn đầy ắp tình yêu quê hương đất nước

Các tác phẩm sau cách mạng của Nguyễn Tuân được đông đảo các nhà nghiên cứu, độc giả đón nhận trong tinh thần thoải mái hơn bằng con mắt

“khâm phục” Các bài viết, các ý kiến đánh giá đều ghi nhận lòng nhiệt thành, niềm tin yêu đối với cách mạng, đối với cuộc đời mới của Nguyễn Tuân, ghi nhận sự thay đổi tích cực trong tư tưởng, quan điểm nghệ thuật của ông, tìm

ra con đường nghệ thuật mới, hướng đi mới của Nguyễn Tuân so với thời kì trước cách mạng Đáng chú ý là các ý kiến đánh giá của Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Trương Chính, Hà Văn Đức, Vương Trí Nhàn,…

Phong Lê trong bài “Nguyễn Tuân với tùy bút” có nhận định: “Trong những tiếp xúc với đời sống thực, lớn lao, cuồn cuộn, nhà văn có dịp đối chiếu, soi lại con người cũ của mình và nhận ra những mặt hư hỏng cho triết

lý sống, quan niệm sống của mình, để hứa hẹn một cuộc đào thải cố nhân trong lòng mình”[33,90] Quả thực Nguyễn Tuân đã trải qua một cuộc đấu

Trang 34

tranh quyết liệt trong tư tưởng để thay đổi nhân sinh quan của mình, một cuộc

“lột xác” đầy đau đớn, để “chân thành làm lành với xã hội”(Nguyễn Đăng Mạnh)

Sau Cách mạng, “cái tôi cá nhân hòa với cái ta chung” (Phan Cự Đệ)

bởi thế lúc này Nguyễn Tuân có thêm một tư cách mới, “tư cách chiến sĩ”

(Vương Trí Nhàn) Thế giới mà ông phản ánh trong các tác phẩm của mình lúc này là “một cuộc sống xã hội tấp nập hơn, sôi động hơn, con người trong

đó được mô tả khách quan hơn”( Trương Chính)

Đồng thời với việc tiếp nhận những mặt tích cực trong văn chương Nguyễn Tuân sau Cách mạng, các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những nhược điểm, hạn chế của văn chương ông thời kì này Đó là “lối tùy bút dài dòng, lê thê, trẻ ngọn tóc làm tư, nói tầm thường hơn là nói sự việc, chú trọng cảm giác của mình hơn nhìn thực tế bên ngoài”[33,64] Hay nói về tùy bút trước cách mạng của Nguyễn Tuân, Phong Lê cho rằng “còn rườm rà những chi tiết phụ, bề bộn câu truyện ngoài lề, chưa chứa đựng những vấn đề mới, dồn tụ những âm vang hơn của đời sống[33,103] Và đây đó trong các sáng tác sau cách mạng vẫn còn rơi rớt “căn bệnh cũ” như coi trọng chủ nghĩa duy mỹ hay

đề cao cái tôi cá nhân,… hay còn để cho bóng đen quá khứ đè nặng lên hiện tại và tương lai, nói quá nhiều đến cái xấu, cái cũ

Ngoài các bài nghiên cứu được in trên sách, báo, tạp chí như đã nêu trên cần tính đến một số lượng không nhỏ những công trình nghiên cứu về Nguyễn Tuân có tính khoa học, đó là những luận văn, luận án, báo cáo khoa học của các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên của các trường đại học trong cả nước

Các bài viết, nghiên cứu về Nguyễn Tuân rất nhiều, giới nghiên cứu phê bình văn học tập trung đi sâu bàn về các vấn đề cơ bản như: về thân thế, con người, sự nghiệp của Nguyễn Tuân; về quan điểm nghệ thuật, phong cách

Trang 35

sáng tác; về sở trường viết tùy bút; nghệ thuật sử dụng ngôn từ; về quan niệm cái đẹp; vai trò của Nguyễn Tuân trong sự thể hiện, tìm tòi vẻ đẹp của tiếng Việt Điều đó khẳng định vị trí vững vàng của ông trong nền văn học Việt Nam

Trang 36

CHƯƠNG 2 TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TUÂN NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TIẾP NHẬN Trong tiến trình văn học Việt Nam, Nguyễn Tuân là một cây bút có sức viết dồi dào Trong cuộc đời văn nghiệp hơn năm mươi năm cầm bút, Nguyễn Tuân đã để lại một khối lượng lớn các tác phẩm văn học có giá trị khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Việt Nam

Vũ Ngọc Phan khi nói về văn chương Nguyễn Tuân đã nhận định “chỉ người ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức”[33,63] Còn với Nguyên

Ngọc, Nguyễn Tuân là một nhân cách, một tài năng lớn Bởi thế nên ở Nguyễn Tuân “luôn chứa đầy mâu thuẫn: nhân hậu và cay độc, tinh tế và sù

sì, thanh nhã và gồ ghề, quyết liệt và dịu dàng, khinh bạc và trân trọng,… mặt nào cũng thái quá, cũng ở ngoài khuôn khổ thông thường Ở ông bao giờ cũng

có một cái gì đó khác lạ, cái lạ mà không có nó thì không còn có nghệ thuật nữa” [33,591]

Có thể nhận thấy, trong số các sáng tác của Nguyễn Tuân, truyện ngắn

là thể loại chiếm một số lượng không lớn Nhưng đây lại là thể loại khiến người ta biết đến Nguyễn Tuân trước hết Nguyễn Tuân bắt đầu cầm bút từ những năm 30, ông làm báo, viết văn, làm thơ Nhưng nhà văn chỉ thực sự nổi

tiếng kể từ tập truyện ngắn Vang bóng một thời, Một vụ bắt rượu lậu,…Với

những tác phẩm này, Nguyễn Tuân đã bước đầu tạo ấn tượng với người đọc bằng một phong cách riêng độc đáo Và sau đó là một loạt các truyện ngắn

khác như: Xác ngọc lam, Nguyễn, Lột xác, Chùa Đàn

Từ khi ra đời cho đến nay, truyện ngắn Nguyễn Tuân được tái bản nhiều lần, trải qua sự khắc nghiệt của thời gian, dưới những cái nhìn nghiêm khắc của công chúng độc giả nhiều thế hệ các tác phẩm thuộc thể loại này của

Trang 37

ông vẫn được coi là những sự thành công lớn, ghi dấu tác giả trên văn đàn Việt Nam Nói tới truyện ngắn Nguyễn Tuân, người ta nghĩ ngay tới cái đẹp, những con người tài tử, tài hoa, với một giọng văn rất riêng không ai bắt chước được Đây cũng là thể loại thu hút được nhiều sự quan tâm đánh giá của các nhà nghiên cứu, phê bình và bạn đọc Khi tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Tuân, mỗi nhà nghiên cứu phê bình có cách tiếp nhận, lý giải riêng, cách chọn đối tượng nghiên cứu khác nhau Qua nhiều ý kiến đánh giá phê bình, chúng tôi thấy truyện ngắn Nguyễn Tuân được giới nghiên cứu tiếp nhận ở những vấn đề cơ bản như sau:

2.1 Tiếp nhận về phương diện nội dung

2.1.1 Sự phục hiện lại các giá trị văn hóa tinh thần của thời đã qua

Trong rất nhiều các sáng tác của Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời là

tập truyện đã để lại dấu ấn sâu sắc nhất, đậm đà nhất cho người đọc Tập

truyện gồm mười hai truyện ngắn: Bữa rượu máu, Những chiếc ấm đất, Thả

thơ, Ngôi mả cũ, Hương cuội, Chữ người tử tù, Một đám bất đắc chí, Chén trà sương, Đèn đêm thu, Trên đỉnh non Tản, Khoa thi cuối cùng Xem xét

trong quỹ thời gian mà tập truyện ngắn này ra đời, Vang bóng một thời nằm

trong xu hướng văn hóa thoát ly hoài cổ đang phát triển đương thời Khi nói

tới truyện ngắn Nguyễn Tuân, Vang bóng một thời dường như đã tạo nên

“một thương hiệu riêng” của Nguyễn Tuân, được giới nghiên cứu phê bình đề cập tới với những luồng ý kiến khác nhau Từ khi ra đời cho tới nay trải qua

sự khắc nghiệt của thời gian, đánh giá nghiêm khắc của độc giả, Vang bóng

một thời vẫn giữ cho mình một giá trị độc đáo, một vị trí quan trọng trong văn

nghiệp Nguyễn Tuân

Vang bóng một thời là tập truyện viết về cái “thời” vừa mới qua, nay

chỉ còn “vang bóng”, ở đó là cái nhìn về quá khứ Mỗi truyện ngắn trong tập truyện ít nhiều đã làm sống lại những phong tục tập quán của dân tộc, những

Trang 38

thú chơi tao nhã gắn liền với những ông Nghè, ông Cử đã thất thế, song vẫn

cố giữ thói quen thanh cao, lịch lãm trong một xã hội nhiều nhiễu nhương

Những chiếc ấm đất kể về một ông cụ Sáu mê uống trà tầu, mà nước

pha trà phải là thứ nước lấy ở cái giếng tận trên chùa Đồi Mai Con người này xem việc pha tra, uống trà như một công việc quan trọng nhất của đời mình ấy

đã có lúc phải ngồi bán đi lũ ấm đất của mình, lũ ấm đất ấy “ngày trước giá có chồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy chưa chắc cụ đã bán cho một chiếc” [36,55] Đằng sau cái cười “hề hề” của ông cụ khi tiết lộ cái mẹo nhỏ là bán thân ấm trước rồi mới bán đến nắp ấm, ta thấy cả một nỗi lòng xót xa, đứt

ruột Chén trà sương còn miêu tả tỉ mỉ hơn cái thú uống trà của lớp người xưa cũ ấy Cụ Ấm trong truyện có thói quen uống trà từ sớm, từ khi “trời còn

tối đất” Cách uống trà của ông cụ quả rất cầu kì, giống như “một thứ lễ nghi” Chưa bao giờ ông cụ dám cẩu thả trong cái “thú chơi thanh đạm” ấy,

mà để vào đó bao nhiêu công phu, bởi theo cụ “trong ấm trà pha ngon, người

ta nhận thấy một mùi thơ và một vị triết lí” [36,114] Đối với gia đình cụ Ấm, uống trà còn gắn liền với việc bình văn, ngâm thơ buổi sớm Việc này theo cụ

Ấm còn là một cách “vận động thần khí kì diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong Mỗi buổi ngâm như thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu tiên của trời đất”

[36,116] Với Chén trà sương, Nguyễn Tuân giúp ta hiểu thêm về một thú

chơi nhã đạm của cha ông trong quá khứ và không phải chỉ Nguyễn Tuân, mà ngay cả người đọc ở thế kỷ XXI này cũng không khỏi bâng khuâng nhớ tới

Hương cuội cũng làm người đọc thích thú bởi một kiểu tiêu khiển khác, vừa

quen thuộc lại độc đáo của cụ Kép, người “nguyện đem cả quãng đời xế chiều của một nhà Nho để phụng sự lũ hoa thơm cỏ quý” Hình ảnh cụ Kép trong truyện tạo cho người đọc cảm giác về sự ẩn dật, lánh đời, thoát tục Với truyện ngắn này, Nguyễn Tuân giúp người đọc hình dung được cái không khí

Trang 39

đặc trưng của những ngày tết cổ truyền Việt Nam, những công việc chuẩn bị ngày ba mươi tết Công việc chuẩn bị cho bữa tiệc rượu kẹo mạch nha nhân

đá cuội ủ trong những chậu lan thơm ngát được nhà văn miêu tả tỉ mỉ Phải là người có vốn sống phong phú, có sự hiểu biết sâu sắc và yêu mến những phong tục tập quán cổ truyền dân tộc mới có thể có được những trang văn tinh

tế đượm tấm lòng trìu mến như Hương cuội

Nguyễn Tuân còn đặc biệt thích thú tục đánh thơ, thả thơ Vì vậy, trong

Vang bóng một thời, ông đã dành hai truyện ngắn cho đề tài này Cũng như

các truyện ngắn khác trong tập truyện, Thả thơ, Đánh thơ - nói như giáo sư

Hoàng Như Mai đã tạo cho ta “những khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt”, bởi vì nhà văn “đã dạy cho ta nghệ thuật sống để tận hưởng ý vị tinh túy, sâu sắc của cuộc sống” Đây là hai truyện ngắn tiêu biểu đã đề cao, làm sống lại một thú chơi tao nhã đã dần mai một trong hiện tại Qua những truyện ngắn này, người đọc biết được, hiểu được thú tiêu khiển cổ xưa mang đậm chất bác học, tài hoa dân tộc của cha ông

Ngay từ khi mới được xuất bản 1940, Vang bóng một thời đã đựơc

Thạch Lam đánh giá là “một sản phẩm đáng quý, đánh dấu bước đường trở lại tìm những cái đẹp xưa mà các nhà văn thường sao nhãng” [33,268] Cũng theo nhà văn này, Nguyễn Tuân phải yêu mến dĩ vãng, phải tiếc thương và muốn vớt lại những vẻ đẹp đã qua, mới có thể làm sống lại cả một thời xưa

được Quả thực, với Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân thể hiện sự yêu mến,

tham tiếc cái đã qua, cố sức làm sống lại cả một thời xưa cũ

Vũ Ngọc Phan đánh giá Nguyễn Tuân là nhà văn đứng hẳn ra “một phái riêng, cả về lối văn lẫn tư tưởng” [33,47], một nhà văn có lối hành văn đặc biệt, những ý kiến, tư tưởng được “phô diễn bằng những giọng tài hoa, sâu cay, khinh bạc, lúc thì đầy nghệ thuật, lúc thì bừa bãi, lôi thôi, như một bức phác họa, nhưng bao giờ nó cũng cho người ta thấy một trạng thái tâm

Trang 40

hồn” [33,47] Có lẽ cũng bởi vậy mà nhà nghiên cứu này cho rằng “chỉ người

ưa suy xét đọc Nguyễn Tuân mới thấy thú vị vì văn Nguyễn Tuân không phải thứ văn để người nông nổi thưởng thức” Khi nói tới tập truyện “ Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân, Vũ Ngọc Phan khẳng định “đó là một văn phẩm gần tới sự toàn thiện, toàn mỹ” [33,47] Đi theo hướng nghiên cứu về văn phẩm này của Vũ Ngọc Phan, ta nhận thấy rằng chỉ nên đặt nó trong khuôn khổ nghệ thuật, không nên dùng một quan niệm luân lý hay xã hội nào để xem xét nó Bởi nếu dùng chủ nghĩa tương lai độc giả có thể nói tập truyện ngắn “là cái gương phản chiếu một xã hội cổ hủ, kém hèn”[33,48]; còn ngược lại, ai tôn sùng quá khứ lại nói đây là một quyển sách “ghi chép những cái phong nhã, thanh cao, làm cho người thời nay phải tiếc, phải ngậm ngùi và

muốn quay về lối cũ”[33,48] Cho rằng Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân

như một bức họa cổ, tác giả vẽ lại cảnh xưa bằng những nét êm dịu, những nét rầu rầu, những màu xanh xám, không chỗ nào lộ ra những cái rực rỡ, Vũ

Ngọc Phan giải thích với Vang bóng một thời tác giả của nó “chỉ định dùng

những nét đơn giản để ghi lại mấy cảnh ngày xưa có tính cách đặc Việt Nam”,

“chỉ là người khơi đống tro tàn của dĩ vãng để bày lại trước mắt ta những cái

ta đã biết qua hay chưa biết rõ” [ 33,48] Và nó đặc sắc ở chỗ cho ta thấy một vài đặc tính người Việt Nam trong thời kì chưa bị ảnh hưởng bởi cái mới do Tây phương đem lại, thấy được cái sống về đường tinh thần thanh đạm Cũng

theo ông, Vang bóng một thời là một tập rất quý, “cái quý giá ấy sẽ còn tăng

lên nữa với thời gian như một thứ đồ cổ vậy” [33,52]

Giáo sư Phan Cự Đệ trong bài “Đọc lại Vang bóng một thời của

Nguyễn Tuân” năm 1971, đã có ý kiến đánh giá lại tập truyện ngắn này Ông nhận định tác giả của tập truyện đã “tìm về quá vãng với thái độ của một người đi tìm những cảm giác lạ, đi tìm cái đẹp thuần túy” [ 33,271] Nguyễn Tuân kể về cuộc sống, nếp sinh hoạt, thú vui của những ông Phủ, ông Nghè,

Ngày đăng: 23/07/2015, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Huỳnh Phan Anh(1972), Đi tìm tác phẩm văn chương, Nxb Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm tác phẩm văn chương
Tác giả: Huỳnh Phan Anh
Nhà XB: Nxb Đồng Tháp
Năm: 1972
[2] Antoine Compagnon, Bản mệnh của lý thuyết – Văn chương và cảm nghĩ thông thường (Tài liệu dịch của Lê Hồng Sâm và Đặng Anh Đào), Nxb Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản mệnh của lý thuyết – Văn chương và cảm nghĩ thông thường
Tác giả: Antoine Compagnon, Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Đại học Sư Phạm
[3] Nguyễn Minh Châu(1987), “Người cầm bút ấy”, Báo Văn nghệ số 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người cầm bút ấy”, Báo "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[4] Nguyễn Văn Dân(2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
[5] Nguyễn Văn Dân(2010), “Người đọc qua các chặng đường lý thuyết tiếp nhận”, Hội thảo khoa học Người đọc và công chúng nghệ thuật đương đại, khoa Văn học, ĐH KHXHNV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đọc qua các chặng đường lý thuyết tiếp nhận
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Hội thảo khoa học Người đọc và công chúng nghệ thuật đương đại, khoa Văn học, ĐH KHXHNV
Năm: 2010
[6] Trương Đăng Dung(2002), “Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học”, Tạp chí Văn học số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức tồn tại của tác phẩm văn học”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2002
[7] Trương Đăng Dung(2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
[8] Trương Đăng Dung(2004), “Trên đường đến với tư duy lí luận văn học hiện đại”, Tạp chí Văn học số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường đến với tư duy lí luận văn học hiện đại”, Tạp chí "Văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2004
[9] Phan Cự Đệ (chủ biên)(2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
[10] Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng(2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: Nxb giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
[11] Vũ Minh Đức(2010), “Không gian kí vãng trong văn xuôi Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng tám”,http://yume.vn/thaygiaovanchuong Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian kí vãng trong văn xuôi Nguyễn Tuân trước cách mạng tháng tám
Tác giả: Vũ Minh Đức
Năm: 2010
[12] Hà Văn Đức(1991), “Nguyễn Tuân – một bậc thầy về ngôn ngữ”, Tạp chí Khoa học số 4, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tuân – một bậc thầy về ngôn ngữ
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Tạp chí Khoa học số 4
Năm: 1991
[13] Nguyễn Thị Hồng Hà(2010), “Tùy bút Nguyễn Tuân”, http://honvietquochoc.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tùy bút Nguyễn Tuân
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Hà
Năm: 2010
[14] Trần Thanh Hà(2007), Tam diện tùy bút, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam diện tùy bút
Tác giả: Trần Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2007
[15] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi(chủ biên)(2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[16] Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương(1998), Lý luận văn học, Vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học, Vấn đề và suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[17] Trần Thị Diễm Hằng(2010), Vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tiếp nhận truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Trần Thị Diễm Hằng
Năm: 2010
[18] Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá(2004), Từ điển văn học, bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
[19] Nguyễn Thanh Hùng(1990), “Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học”, Văn nghệ số 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao đổi thêm về tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Văn nghệ
Năm: 1990
[20] Triệu Thị Huệ(2011), “Tìm hiểu quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời”,http://khoavanhocngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời
Tác giả: Triệu Thị Huệ
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w