1880 [15], khi xây dựng hệ thống phân loại họ Rau dền Amaranthaceae đã xếp chi Amaranthus vào họ này, khi đó chi Rau dền thuộc tông Amaranteae cùng các chi Acnida, Acanthochiton, Saltia,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
VŨ THỊ LAN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI RAU DỀN (AMARANTHUS L.)
Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Thực vật học
HÀ NỘI - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN
VŨ THỊ LAN
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI
CHI RAU DỀN (AMARANTHUS L.)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ phòng Thực vật – Viện Sinhthái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡtôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ củanhiều tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trântrọng cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốtthời gian tôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Lan
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Rau dền
(Amaranthus L.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Thị Xuyến và TS Hà Minh Tâm.
Các kết quả trình bày trong khóa luận là trung thực và chưa được công bốtrong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Vũ Thị Lan
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.2 Ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.1 Đối tượng nghiên cứu 8
2.2 Phạm vi nghiên cứu 8
2.3 Thời gian nghiên cứu 8
2.4 Nội dung nghiên cứu 8
2.5 Phương pháp nghiên cứu 9
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 9
2.5.2 Phương pháp điểu tra thực địa thu thập mẫu vật 9
2.5.3 Phương pháp so sánh hình thái 9
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 12
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam 12
3.2 Đặc điểm hình thái chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam 12
3.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam
17 3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam 17
3.4.1 Amaranthus caudatus L 1753 - Dền đuôi chồn 17
3.4.2 Amaranthus hybridus L 1753 – Dền lai 21
3.4.3 Amaranthus lividus L 1753 – Dền cơm 24
3.4.4 Amaranthus retroflexus L 1753 – Dền ngược 28
Trang 63.4.5 Amaranthus spinosus L 1753 – Dền gai 31 3.4.6 Amaranthus tricolor L 1753 – Dền tía 35 3.5 Giá trị tài nguyên của các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt
Nam
39
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO 42 PHỤ LỤC
Trang 7Chi Rau dền (Amaranthus L.) còn gọi là Rau Giền, Dền, Giền, thuộc họ
Rau dền (Amaranthaceae Juss 1789) Ở Việt Nam, chi này có 6 loài trong đó
4 loài dùng làm rau ăn và 4 loài làm thuốc, 2 loài làm cây cảnh, 3 loài còndùng để chăn nuôi gia súc và 1 loài chưa rõ giá trị sử dụng Cho đến nay ởViệt Nam đã có một số công trình đề cập đến phân loại chi Rau dền nhưngvẫn chưa đầy đủ và có hệ thống
Vì vậy, để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phânloại chi Rau dền ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết,
sử dụng các loài thuộc chi này, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Bước đầu
nghiên cứu phân loại chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam”.
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Rau dền (Amaranthus
L.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Raudền (Amaranthaceae), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam vàcho những nghiên cứu có liên quan
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chí Việt Nam về họRau dền ở Việt Nam, bổ sung kiến thức cho chuyên ngành phân loại thực vật
và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về chi Rau dền (Amaranthus
L.) ở Việt Nam
Trang 8Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành ứng dụng và sảnxuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,…
Điểm mới của đề tài: Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành
phân loại chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam một cách đầy đủ về số
lượng loài cũng như các thông tin khác
Bố cục khóa luận: Gồm 44 trang, 10 hình vẽ, 6 ảnh, 2 bảng được chia
thành các phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tàiliệu: 5 trang), chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phươngpháp nghiên cứu: 4 trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 29 trang), kết luận
và kiến nghị: 1 trang, tài liệu tham khảo: 26 tài liệu: 3 trang; bảng tra tên khoahọc và tên Việt Nam, phụ lục
Trang 91.1 Trên thế giới
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Người đầu tiên nghiên cứu về chi Rau dền là Linnaeus năm 1753 [26]
trong công trình “Species Plantarum” và đặt tên là Amaranthus L Trong công trình này, tác giả đã công bố chi Amaranthus với 11 loài là: Amaranthus
tricolor, Amaranthus melancholicus, Amaranthus triftis, Amaranthus lividus, Amaranthus gracizans, Amaranthus blitum, Amaranthus caudatus, Amaranthus hybridus, Amaranthus hypochondriacus, Amaranthus retroflexus và Amaranthus fpinafus Khi đó, chi Amaranthus được xếp vào nhóm 5 nhị 1 vòi
nhụy (Monoecia Pentandria) cùng với một số chi khác như: Xanthium,
Ambrosia, Parthenium…
Sau Linnaeus, còn một số tác giả nghiên cứu chi Amaranthus nhưng chủ
yếu là những công bố mới Về hệ thống, không có quan điểm nào khác biệt.Bentham & Hook f (1880) [15], khi xây dựng hệ thống phân loại họ Rau
dền (Amaranthaceae) đã xếp chi Amaranthus vào họ này, khi đó chi Rau dền thuộc tông Amaranteae cùng các chi Acnida, Acanthochiton, Saltia,…
Về sau, nhiều tác giả cũng đề cập đến chi Amaranthus trong các công
trình nghiên cứu như: Cockscombs & Celosias (1996) [17], A Takhtajan
(2009) [27]… Các tác giả đều cho rằng chi Amaranthus nằm trong họ
Amaranthaceae
Các nước lân cận Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về chi
Amaranthus dưới dạng các công trình thực vật chí, như công trình của C A.
Backer (1949) [13] đã nghiên cứu phân loại chi Amaranthus ở khu vực Malesian trong “Flora Malesian Vol 4, part 2”, tác giả đã mô tả đặc điểm
chi, xây dựng khóa định loại và mô tả 9 loài có ở vùng Malesian là:
Amaranthus gracilis, Amaranthus lividus, Amaranthus interruptus, Amaranthus spinosus, Amaranthus leptostachyus, Amaranthus dubius,
Trang 10Amaranthus hybridus, Amaranthus caudatus, Amaranthus tricolor Bên cạnh
việc cung cấp thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, tác giả còncung cấp thông tin về giá trị sử dụng của các loài, có hình ảnh minh họa của 1
loài là: Amaranthus tricolor.
Năm 1956, F C How [20] khi nghiên cứu hệ thực vật ở Quảng Châu
trong tác phẩm “Flora Cantonia” đã mô tả đặc điểm, xây dựng khóa định loại
và cung cấp giá trị sử dụng của 3 loài là: Amaranthus spinosus, Amaranthus
viridis, Amaranthus tricolor.
C A Backer & R C Bakhuizen (1963) [14] trong khi nghiên cứu hệ
thực vật của vùng Java (thuộc Inđônêxia) đã xếp chi Amaranthus vào họ Amaranthaceae và công bố chi này có 6 loài là: Amaranthus gracilis,
Amaranthus lividus, Amaranthus tricolor, Amaranthus spinosus, Amaranthus dubius, Amaranthus caudatus Tác giả đã mô tả các đặc điểm hình thái để
phân biệt các loài dưới dạng khóa phân loại, không có danh pháp, mẫu nghiêncứu cũng như hình ảnh minh họa
Cùng quan điểm xếp Amaranthus trong họ Amaranthaceae, tập thể tác giả Authors (1972) [12] trong “Iconographia Cormophytorum Sinicorum” đã
mô tả 7 loài thuộc chi Amaranthus có ở Trung Quốc là: Amaranthus
caudatus, Amaranthus paniculatus, Amaranthus retroflexus, Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor, Amaranthus viridis, Amaranthus ascendens.
Đến năm 1979 Kuan Ke-chien trong tác phẩm “Flora Reipublicae Popularis
Sinicae Tom 25” [23], đã ghi nhận số loài thuộc chi Rau dền ở Trung Quốc
có tới 13 loài là: Amaranthus caudatus, Amaranthus hypochondriacus,
Amaranthus paniculatus, Amaranthus retroflexus, Amaranthus hybridus, Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor, Amaranthus albus, Amaranthus gracilentus, Amaranthus roxburghianus, Amaranthus blitoides, Amaranthus viridis, Amaranthus lividus.Công trình này được viết bằng tiếng Trung Quốc,
có một số hình ảnh minh họa của các loài.
Trang 11K Larsen (1992) [25] trong công trình “Flora of Thailand Vol 5, part 4”
đã xếp chi Amaranthus thuộc họ Amaranthaceae, tác giả đã xây dựng bản mô
tả, khóa định loại các loài, đề cập đến giá trị sử dụng và địa điểm phân bố 6
loài ở Thái Lan là: Amaranthus spinosus, Amaranthus caudatus, Amaranthus
hybridus, Amaranthus tricolor, Amaranthus viridis, Amaranthus lividus.
Hsieh, Chang-Fu & Hsied, Tsung-Hsin năm 1996 [21], khi nghiên cứu
hệ thực vật Đài Loan công bố trong công trình “Flora of Taiwan” đã xếp chi
Amaranthus vào trong họ Amaranthaceae và mô tả 4 loài thuộc chi này là: Amaranthus lividus, Amaranthus patulus, Amaranthus spinosus, Amaranthus viridis nhưng không đề cập đến giá trị sử dụng của các loài.
Đến năm 2003, các tác giả Bojian Bao & Thomas Borsch & Steven E
Clemants trong Flora of China [16] đã mô tả chi Amaranthus ở Trung Quốc
và phân loại chi này với 14 loài là: Amaranthus viridis, Amaranthus blitum,
Amaranthus blitoides, Amaranthus tricolor, Amaranthus albus, Amaranthus roxbughianus, Amaranthus taishanensis, Amaranthus spinosus, Amaranthus retroflexus, Amaranthus hybridus, Amaranthus caudatus, Amaranthus patulus, Amaranthus hypochondriacus, Amaranthus cruentus.
Trong công trình Flora of Hong Kong của HU Qi-ming (2007) [22] đã mô
tả chi Amaranthus thuộc họ Amaranthaceae cùng với chi Celosia Với chi
Amaranthus, tác giả đã xây dựng bản mô tả, khóa định loại các loài, cung cấp
một số thông tin về danh pháp, đặc điểm phân bố 4 loài ở Hồng Kông là:
Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor, Amaranthus viridis, Amaranthus blitum.
Như vậy, dù dựa vào đặc điểm khác nhau nhưng các tác giả đều thống
nhất xếp chi Rau dền (Amaranthus L.) vào họ Rau dền (Amaranthaceae).
1.2 Ở Việt Nam
Cho đến nay các công trình nghiên cứu họ Rau dền (Amaranthaceae) nói
chung và chi Rau dền (Amaranthus L.) nói riêng ở Việt Nam còn rất ít Người
Trang 12đầu tiên đề cập đến chi Rau dền ở Việt Nam là F Gagnepain (1936) trong
công trình Flore Générale de l'.Indo-Chine [19] Tác giả đã mô tả đặc điểm
của chi Rau dền, xây dựng khóa định loại, cung cấp một số thông tin về danh
pháp và đặc điểm phân bố của 6 loài có ở Đông Dương là: Amaranthus
paniculatus, Amaranthus caudatus, Amaranthus spinosus, Amaranthus mangostanus, Amaranthus gangeticus, Amaranthus viridis Tuy nhiên cho
đến nay 4 loài trong công trình này đều trở thành các tên đồng nghĩa
K Larsen trong công trình Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam [24] đã mô tả 6 loài thuộc chi Amaranthus có ở khu vực Đông Dương là:
Amaranthus spinosus, Amaranthus caudatus, Amaranthus hybridus, Amaranthus tricolor, Amaranthus viridis, Amaranthus lividus và xếp chi này
vào họ Amaranthaceae dựa trên những đặc điểm: hoa đơn tính, chỉ nhị rờidạng sợi, nhị lép không có Trong đó đáng lưu lý có 5 loài có ghi nhận phân
bố ở Việt Nam Trong công trình này tác giả đã mô tả cụ thể đặc điểm của chi
Amaranthus, xây dựng khóa định loại của loài, cung cấp một số thông tin về
danh pháp, đặc điểm phân bố, sinh thái, giá trị sử dụng của các loài và có hìnhảnh minh họa
Năm 1997, Lương y Lê Trần Đức – tác giả cuốn “Cây thuốc Việt Nam” [2] đã đề cập đến 2 loài Rau dền thuộc họ Amaranthaceae là: Amaranthus
viridis, Amaranthus tricolor Tác giả đã mô tả đặc điểm và tóm tắt công dụng
làm thuốc của các loài
Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999) [8].
Tác giả đã cung cấp thông tin cơ bản để nhận biết 7 loài và 1 phân loài thuộc
chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam là: Amaranthus hybridus,
Amaranthus caudatus, Amaranthus lividus, Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor, Amaranthus tricolor var splendenss, Amaranthus retroflexus, Amaranthus viridis Công trình “Cây cỏ Việt Nam” tuy có nhiều
Trang 13hạn chế như: Bản mô tả còn sơ sài, không có tài liệu trích dẫn, không có mẫunghiên cứu, còn sử dụng tiếng địa phương,… nhưng cho đến nay đây là tàiliệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam.
Nguyễn Tiến Bân và Dương Đức Huyến (2003) [7], trong “Danh lục các
loài thực vật Việt Nam - họ Rau dền - Amaranthaceae” đã chỉnh lý danh pháp
và đưa ra danh lục 6 loài và một thứ thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở
Việt Nam Tác giả cung cấp một số dẫn liệu về vùng phân bố, dạng sống và
sinh thái, cũng như giá trị sử dụng các loài trong chi Rau dền (Amaranthus L.) Theo tác giả loài Amaranthus viridis trở thành synonym của loài
Amaranthus lividus.
Năm 2003, trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng” [10], tập 1, Võ Văn Chi đã tóm tắt đặc điểm của chi Rau dền (Amaranthus L.) và mô tả một
số loài thuộc chi này cùng hình ảnh và một số đặc điểm
Ngoài ra còn một số công trình đề cập đến các loài thuộc chi
Amaranthus như: công trình của Võ Văn Chi (1997) [9] trong “Từ điển cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 4 loài làm thuốc là: Amaranthus lividus, Amaranthus caudatus, Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor; Nguyễn
Tiến Bân và Bùi Minh Đức (1994) [4] trong “ Một số cây rau dại ăn được ở
Việt Nam” đã mô tả 2 loài thuộc chi này cùng hình ảnh và một số đặc điểm
hayNguyễn Tiến Bân (1997) [6] trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ
thực vật hạt kín ở Việt Nam”, hay Võ Văn Chi (2009) [11] trong cuốn “Cây rau làm thuốc”…
Như vậy, có thể nói rằng cho đến nay số lượng loài thuộc chi Rau dềncủa các tác giả vẫn còn chưa thống nhất, chưa có một công trình nào nghiêncứu một cách đầy đủ về số lượng loài về họ Rau dền (Amaranthaceae) nói
chung và chi Rau dền (Amaranthus L.) nói riêng.
Trang 14CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN,
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam, dựa trên tài
liệu và mẫu vật
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Rau dền (Amaranthus L.) trên thế
giới và của Việt Nam và quan trọng nhất là các tài liệu chuyên khảo
Mẫu vật: Các mẫu vật thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam,
hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật như phòng Tiêu bản thực vật– Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Hà Nội), phòng Tiêu bản thực vật,trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội (HNU) và cácmẫu vật tươi sống được thu thập từ thực địa
Tổng số mẫu nghiên cứu là 38 số hiệu với 141 tiêu bản Việc phân tíchmẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (Viện Sinh thái và Tàinguyên Sinh vật) Ngoài ra, tôi còn tham khảo một số mẫu thu thập đượctrong khi điều tra thực địa và các ảnh chụp mẫu vật trên internet
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Các loài thuộc chi Rau dền phân bố trên khắp cả nước
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2015 đến tháng 5/2017
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Vị trí và hệ thống phân loại chi Rau dền: Phân tích các hệ thống phân
loại chi Rau dền (Amaranthus L.) trên thế giới Từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam.
- Xây dựng bản mô tả chi, các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở
Việt Nam
Trang 15- Xây dựng khóa định loại các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở
Việt Nam
- Tìm hiểu giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.)
ở Việt Nam
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa các tài liệu về chi Rau dền (Amaranthus L.) đã được công bố,
đặc biệt là các công trình về phân loại học Bên cạnh đó, tìm hiểu thêm nhữngcông trình về giá trị tài nguyên, tình trạng hiện tại của các loài Rau dền, đểnhằm mục tiêu tìm hiểu về đặc điểm sinh học, sinh thái, tình trạng của loài
2.5.2 Phương pháp điều tra thực địa thu thập mẫu vật
Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật,phân tích mẫu ở trạng thái tươi (ví dụ loài Rau dền), tìm hiểu thông tin vềhình thái, giá trị sử dụng của loài Đối với các loài thuộc chi Rau dền, cónhiều loài thường mọc hoang dại ở ven đường, quanh khu dân cư, làng xóm,bãi đất bỏ hoang, các trảng cỏ,… nên chúng tôi điều tra chủ yếu là các nơi cóghi nhận có thể gặp các cá thể của loài nhiều nhất
nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, quả so sánh với quả, hạt so sánh vớihạt,…)
Trang 16Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hành
đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp:
Công tác ngoại nghiệp: Thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm
mục đích chụp ảnh quan sát thu thập mẫu vật, ngoài ra còn để ghi chép cácđặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống vàcác đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Nhằm mục đích xử lý và bảo quản mẫu vật Việc
nghiên cứu các mẫu vật khó được tiến hành tại các phòng thí nghiệm Tại đâycác mẫu vật sẽ được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vàocác bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thựcvật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh vàđịnh loại
Việc nghiên cứu phân loại chi Rau dền (Amaranthus L.) được tiến hành
theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Rau
dền (Amaranthus L.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc
phân loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Rau dền (Amaranthus
L.) hiện có tại các phòng tiêu bản lưu giữa mẫu vật
Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêmmẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quankhác
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung củachi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phầndanh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dungkhoa học khác của đề tài
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thựcvật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam, thứ tự như sau:
Trang 17Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tênkhoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu ởViệt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếucó), mô tả, loài chuẩn của chi, ghi chú (nếu có)
Thứ tự soạn thảo loài: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giảcông bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bốtên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và tài liệu
ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếucó), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.),mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinhhọc và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có).– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắctruyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành,lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để tra cứu nhận biết họ, tôi căn cứ vào Cẩm nang tra cứu và nhận biết
các họ thực vật Hạt kín ở Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (1997).
Để đánh giá về giá trị tài nguyên tôi căn cứ vào kết quả điều tra thực địa
và từ tài liệu: Từ điển cây thuốc của Võ Văn Chi (1997), Từ điển thực vật
thông dụng 1 của Võ Văn Chi (2003),…
Trang 18CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Hệ thống phân loại và vị trí chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam + Về hệ thống phân loại: Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi
Rau dền (Amaranthus L.) thuộc họ Rau dền (Amaranthaceae), tham khảo các
công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam như:Bentham
& Hook f (1880), C A Backer (1949), C A Backer & R C Bakhuizen(1963), K Larsen (1992), Cockscombs & Celosias (1996), Phạm Hoàng Hộ(1999), Nguyễn Tiến Bân (2003),… chúng tôi thấy hệ thống phân loại chi
Rau dền (Amaranthus L.) là tương đối đồng nhất ở hầu hết các tác giả nghiên
cứu Hầu hết các tác giả đều đưa ra hệ thống phân loại từ chi phân loại trựctiếp đến các loài mà không qua các nhánh hay các phân chi
+ Về vị trí: Trong công trình này, tôi lựa chọn hệ thống của A Takhtajan
(2009) để xác định vị trí, giới hạn chi Rau dền ở Việt Nam Sau đó tôi dựa
vào “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (2003) để xác định số loài Trên cơ sở của hệ thống này, chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam có 6 loài là: Amaranthus caudatus, Amaranthus hybridus,
Amaranthus lividus, Amaranthus retroflexus, Amaranthus spinosus, Amaranthus tricolor, được xếp vào họ Rau dền (Amaranthaceae), bộ Cẩm
chướng (Caryophyllales), phân lớp Cẩm chướng (Caryophyllidae), lớp Ngọclan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngànhHạt kín (Angiospermae)
3.2 Đặc điểm hình thái chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam
AMARANTHUS L – RAU DỀN
L.1753 Sp Pl.: 989; Benth & Hook f 1880 Gen Pl 3(1): 28;Gagnep 1936 Fl Gen Indoch 4: 1060; C A Backer, 1949 Fl Males I,4(2): 75; F C How, 1956 Fl Cantonia.: 144; Back & Bakh f 1963 Fl Jav
Trang 191: 234; K C Kuan, 1979 Fl Reip Pop Sin 25(2): 203; K Larsen, 1992 Fl.Thailand, 5(4): 382; Chang-Fu & Tsung-Hsin, 1996 Fl Taiwan 2:396;Cockscombs & Celosias, 1996 Flowering plants of the world.: 70; Phamh.
1999 Illustr Fl Vietn 1: 726; Bao B., E C Steven & B Thomas, 2003 Fl.China, 9: 417; HU Qi-ming, 2007 Fl Hong Kong 1: 152
Dạng sống: Thảo hàng năm; thân thường màu xanh nhưng đôi khi có
màu hơi hồng (A caudatus, A hybridus, A spinosus) hay tím tía (A tricolor); thân nhẵn hay có lông (A retroflexus) hoặc có lông ở phần non (A spinosus,
A tricolor) hoặc có gai (A spinosus).
Lá: Đơn, nguyên, thường mọc cách; hình trứng-bầu dục (A lividus, A.
spinosus), hình trứng-thoi (A retroflexus, A tricolor), hình bầu dục (A caudatus), hình mũi mác (A hybridus); lá có lông (A caudatus, A hybridus,
A retroflexus) hay không lông (A tricolor); gốc lá bằng nhau hay hơi lệch;
gân lông chim
1 2 3
Hình 3.1 Một số hình thái lá
1 lá hình trứng gốc lệch (A lividus); 2 lá hình bầu dục gốc không lệch (A.
spinosus); 3 lá hình thoi gốc lệch (A tricolor)
(hình theo K Larsen, 1989)
Trang 20Cụm hoa và hoa
- Cụm hoa: Mọc ở ngọn và nách lá hay ở nách lá; dạng bông đơn (A.
hybridus, A spinosus, A lividus, A tricolor) hay thành bông kép (A caudatus) hay cụm hoa hình chùm kép (A lividus).
1 2
Hình 3.2 Một số hình thái cụm hoa
1 cụm hoa dạng bông đơn (A tricolor); 2 cụm hoa dạng chùm kép (A.
lividus) (hình theo K Larsen, 1989)
- Hoa: Đều, nhỏ, đơn tính cùng gốc, không có cuống; Lá bắc thường bao
quanh hoa; lá bắc con 2(-5), tất cả đều dạng vẩy
+ Đài và cánh hoa: Gồm các phiến dạng cánh hoa (tepal) nên gọi là bao
hoa; số lượng các phiến có thể thay đổi là 5 cái (A caudatus, A hybridus, A.
retroflexus, A spinosus) hay 3 cái (A lividus, A tricolor), rời nhau, hình vẩy
mỏng, nhiều màu sắc, thường có dạng khô xác Bao hoa ở cả hoa đực và hoacái của từng loài là giống nhau về hình dạng và kích thước, hiếm khi hình
dạng khác nhau giữa hoa đực và hoa cái (A caudatus) hay kích thước khác nhau (A hybridus).
+ Bộ nhị: Số lượng nhị bằng số lượng của cánh bao hoa, thường 3-5 cái;
chỉ nhị dính nhau một phần rất nhỏ ở phía dưới, chỉ nhị phần trên rời nhau,dạng sợi, nhị lép không có, bao phấn 2 ô
Trang 21+ Bộ nhụy: Gồm 3 lá noãn hiếm khi 2 (A retroflexus hay đôi khi cũng
có ở loài A spinosus) tạo thành bầu thượng có số ô bằng số lá noãn Bầu dạng trứng, mỗi ô có 1 noãn thẳng; vòi nhụy ngắn hoặc không có (A.
- Quả: Hộp (quả nang mở nắp); hình trứng (A retrofexus, A tricolor),
hình bình (A spinosus) hay hình bầu dục (A caudatus, A lividus), hình cầu (A hybridus); vỏ dạng màng, khô, thường nằm trong bao hoa khô xác tồn tại
bền cùng quả
- Hạt: Hình tròn với hai mặt dẹp như dạng thấu kính, màu đen (A.
hybridus, A spinosus, A tricolor) hoặc nâu bóng (A caudatus, A lividus)
hoặc nâu đỏ (A retroflexus); phôi ngắn, hình khuyên Ngoại nhũ bột, bao
quanh phôi
Trang 221 2
3 4
Hình 3.4 Một số hình thái quả và hạt
1 và 3 quả dạng trứng (A spinosus; A tricolor); 2 quả dạng cầu (A lividus);
4 hạt hình thấu kính (A caudatus)
(1,2,3 theo K Larsen, 1989; 4 theo Phạm Hoàng Hộ, 1999)
Typus: Amaranthus tricolor L.
Có khoảng 40 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới Ở nước ta có 6 loài
Trang 233.3 Khóa định loại các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở Việt Nam
1A Thân và cành có gai 5 A spinosus
1B Thân và cành không có gai
2A Số lượng nhị là 5
3A Thân có lông mịn, lá có lông ở cả 2 mặt 4 A retroflexus
3B Thân không có lông, lá có lông ở gân
4A Thân phân nhánh ít, chóp lá không có đầu nhọn, bao hoa dài
5B Chóp lá không có đầu nhọn, gốc nhọn, bao hoa dài 3-6mm, dạng
vẩy; quả hình trứng 6 A tricolor
3.4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Rau dền (Amaranthus L.) ở
Việt Nam
3.4.1 Amaranthus caudatus L 1753 - Dền đuôi chồn
L 1753 Sp Pl.: 990; Gagnep 1936 Fl Gen Indoch 4: 1061; C A Backer,
1949 Fl Males I, 4(2): 80; K.C Kuan, 1979 Fl Reip Pop Sin 25(2): 206; K Larsen, 1992 Fl Thailand, 5(4): 384; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1:
727; N.T.Ban & D.D Huyen, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 299; Bao B., E C Steven& B Thomas, 2003 Fl China, 5: 418
- A sanguineus L 1763 Sp Pl.: 1407.
- Dền đuôi ngắn
Trang 24Hình 3.5 Amaranthus caudatus
1 cành mang hoa; 2 quả; 3 hạt(hình theo Phạm Hoàng Hộ, 1999)Cây thảo hàng năm, mọc thẳng, cao 0,5-0,8(-1,2) m, thân dạng mập, ítphân nhánh, hình trụ hơi có cạnh, thường có màu hơi đỏ hay hồng,không lông Lá có cuống dài tới 15 cm, phiến lá hình bầu dục đến hìnhthoi, màu xanh đậm hoặc hơi đỏ dọc theo mép, cỡ 4-15 x 2-8 cm; chópnhọn đến tù; mép nguyên hoặc hơi lượn sóng; gốc nhọn đến tù, có lông ởgân, các gân bên thường nhạt hay không rõ Cụm hoa mọc ở đỉnh, dạng bôngđơn hay kép, có thể tạo thành bó, dài 2-3 cm Trên trục cụm hoa, các hoathường không liên tục tạo thành các ngấn sâu và đứt đoạn; trục cụm hoamảnh thường rủ xuống Hoa rất nhỏ Lá bắc và lá bắc con cỡ 3 mm, dài hơnhoa, mặt ngoài có 1 gân chính, chóp nhọn Cánh bao hoa 5, màu đỏ tía; ở hoađực hình dạng như vẩy, trứng đến chữ nhật; ở hoa cái dạng vẩy, trứngngược đến dạng thìa, mép xếp đè lên nhau, có đầu nhọn ngắn hơn; dàikhoảng 2- 2,5 mm Nhị 5 Bầu 3 ô; vòi nhụy dài khoảng 0,8 mm; núm nhụy
3, dạng điểm Quả hộp, hình bầu dục, đường kính cỡ 3 mm, khi chín nứt ởgiữa, nắp hộp dài hơn bao hoa; hạt hình thấu kính, rộng 1-1,5 mm, màu đenhay nâu bóng
Trang 25Loc Class: Peru; Typus: Cluf bif 2 p 81 [26]
Trang 26Sinh học và sinh thái: Mọc hoang dại ven đường đi, các bãi hoang, ven
ruộng nương hoặc đôi khi được trồng Mùa hoa hoa quả gần như quanhnăm, chủ yếu vào mùa hè
Phân bố: Cao Bằng, Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang (Quản Bạ, Tráng Kìm), Nam
Bộ Còn có ở Ấn Độ, Trung Quốc, Malaixia…
Mẫu nghiên cứu: CAO BẰNG, Lê Kim Biên 5634 (HN) – LÀO CAI (Sa Pa),
Phạm Cẩm 1613 (HN) – HÀ GIANG (thị trấn phó bảng), Nguyễn Thị Nhan
139 (HN)
Giá trị sử dụng: Ở Ấn Độ, dùng toàn cây làm thuốc lọc máu và lợi tiểu,
trị bệnh trĩ, chữa đái són buốt, bệnh tràng nhạc và đắp các vết loét Ở TrungQuốc, hạt dùng làm lương thực cũng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm (theo
Võ Văn Chi, 1997: 404)
Trang 271 2
3
4 5
Ảnh 3.1 Amaranthus caudatus L.
1 cành mang hoa; 2 cụm hoa; 3 lá; 4 quả; 5 hạt
(ảnh V T Lan, 2017, chụp từ mẫu Biên 5634 (HN))
Trang 283.4.2 Amaranthus hybridus L 1753 – Dền lai
L 1753 Sp Pl.: 990; C A Backer, 1949 Fl Males I, 4(2): 79; K.C Kuan,
1979 Fl Reip Pop Sin 25(2): 210; K Larsen, 1992 Fl Thailand, 5(4): 384;Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 727; N.T.Ban & D.D Huyen, 2003.Checkl Pl Sp Vietn 2: 299; Bao B., E C Steven & B Thomas, 2003 Fl China,5: 419
- A cruentus L 1759 Syst Pl ed 10,2: 1269.
- A paniculatus L 1763 Sp Pl ed 2: 1406; Gagnep 1936 Fl Gen Indoch.
và nách lá, dạng bông đơn hay kép, các cụm hoa đơn vị thường có hình xim
co, dài
Trang 295-15mm, thường phân nhiều nhánh, mọc thẳng đứng hoặc hơi rủ xuống, trụccụm hoa có lông tơ Hoa nhỏ Lá bắc nằm ngay kề dưới các cụm hoa dài 2-4
mm, lá bắc và lá bắc con có đầu nhọn, dài hơn bao hoa Cánh bao hoa 5, màuxanh hoặc tím, dạng như những cái vẩy có đầu nhọn dài, rộng 0,3-0,5 mm; ởhoa đực dài 1-2 mm; ở hoa cái trước lúc nở dài 1-1,5 mm sau đó lên tới 2
mm Nhị 5, dài bằng bao hoa, có chỉ nhị dính nhau ở dưới thành hình cốc,phía trên rời nhau Bầu 3 ô; núm nhụy thường là 3; ở hoa đực bầu chỉ là dạngmột dấu chấm hầu như không thể nhận ra, ở hoa cái bầu hình chữ nhật.Quả hộp, hình bầu dục, nằm trong bao hoa tồn tại với các lá bắc, khi chín mởbằng đường nứt gần ở phía giữa của quả; hạt hình thấu kính, rộng 1-1,5 mm,màu đen
Loc Class: Virginia; Typus: Barr 16 648 [26].
Sinh học và sinh thái: Mọc hoang dại ở các bãi hoang, ven đường đi,
các trảng cỏ hoặc được trồng Mùa hoa tháng 5-8, mùa quả chín tháng 9
7-Phân bố: Lai Châu, Lào Cai, Hà Nội (làng Đại Yên), Khánh Hòa ( Nha
Trang), Kon Tum (thị xã Kon- tum), Gia Lai( An Khê, Sơ Nglang) và nhiều nơikhác Nguyên sản ở Bắc Mỹ
Mẫu nghiên cứu: HÀ NỘI (Đại Yên), Đạt-Bách 207 (HN) – GIA LAI (An
Khê), Nguyễn Thị Nhan 542 (HN) – KON TUM (thị xã Kon Tum), Nhan
213 (HN)
Giá trị sử dụng: Trồng làm rau ăn và làm cảnh khắp các nước Hạt có
thể dùng ăn, làm bánh và cũng dùng làm thuốc Ở Vân Nam (Trung Quốc) hạtđược dùng trị trẻ em thủy đậu, sởi và lị (theo Võ Văn Chi, 2003: 262)