Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chiRau sam ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp
đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
nhất đến các thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Trần Thế Bách cùng tập thể cán bộphòng Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều
tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường Nhân dịp này, tôi xin trân trọngcảm ơn Ban chủ nhiệm khoa Sinh – KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội2; đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời giantôi học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Ngô Thị Tho
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:
Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Rau sam
(Portulaca L.) ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày
trong khóa luận là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trìnhnào trước đây
Hà Nội 2, ngày 10 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Ngô Thị Tho
Trang 51.2 Ở Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 Đối tượng nghiên cứu 7
2.2 Thời gian nghiên cứu 7
2.3 Nội dung nghiên cứu 7
2.4 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11
3.1 Hệ thống phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt
Nam 11
3.2 Đặc điểm phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt
Nam 11 3.2.1 Dạng sống 12
3.2.2 Lá 12
3.2.3 Cụm hoa 12
3.2.4 Hoa 12
3.2.5 Quả và hạt 13
3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L 1753) ở Việt
Trang 63.4.1 Portulaca oleracea L – Rau
KẾT LUẬN VÀ KHIẾN NGHỊ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Portulaca oleracea L 14 Hình 2 Portulaca pilosa (L.) Geesink 18 Hình 3 portulaca quadrifida L – Geesink 20
Trang 8MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Thế giới thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Trên thế giới cũng như
ở Việt Nam đã có rất nhiều chuyên ngành khoa học nghiên cứu về thực vật.Trong đó, chuyên ngành Phân loại thực vật đóng vai trò nền tảng giúp nghiêncứu sâu hơn về từng lĩnh vực cụ thể
Chi Rau sam (Portulaca L.) còn có tên gọi khác là Sam, Mã xỉ hiện thuộc họ Rau sam (Portulacaceae Juss.) bộ Cẩm chướng (Caryophyllales) Ở
Việt Nam, cây rau sam có mặt khắp cả nước như một loài cỏ dại mọc ở nhữngvùng ẩm mát (như bờ ruộng, bờ mương, ven đường hoặc mọc xen kẽ trongnhững luống hoa màu) Từ lâu y học dân gian nước ta đã thường dùng rausam làm thuốc sát trùng nhiều bệnh Cho đến nay, rau sam được coi là nguồnsáng sinh tự nhiên rất quý chữa các chứng viêm nhiễm đường ruột, đườngsinh dục, tiết niệu, …mang lại hiệu quả cho ngành Y Dược Ở Nam Bộ, rausam được dùng như một loại rau bổ dưỡng và ó nhiều vị thuốc
Để chuẩn bị cho việc nghiên cứu một cách toàn diện về phân loại chiRau sam ở Việt Nam và góp phần cung cấp dữ liệu cho việc nhận biết, sử
dụng các loài thuộc chi này, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước
đầu nghiên cứu phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam”
Mục đích nghiên cứu
Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi Rau sam (Portulaca L.)
ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc nghiên cứu họ Rau sam(Portulacaceae Juss.), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam vàcho những nghiên cứu sau này có liên quan
Phạm vi nghiên cứu
Khắp cả nước
Trang 9Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
– Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu phục vụ cho việc viết Thực vật chíViệt Nam về họ Rau sam (Portulacaceae Juss.) ở Việt Nam; bổ sung kiến thứccho chuyên ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu
sau này về chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam.
– Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngànhứng dụng và sản xuất nông nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật
Điểm mới của đề tài (nếu có)
– Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành phân loại chi Rau sam
(Portulaca L.) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ thống.
– Đảm bảo cho quá trình tra cứu thông tin nhanh hơn, chính xác hơn,thuận lợi hơn
Dự kiến kết quả nghiên cứu
– Phân tích được các hệ thống phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) trên
thế giới, từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi Rau sam ở Việt Nam
– Xây dựng được bản mô tả các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L.) ở
Việt Nam”
– Xây dựng được khoá định loại các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca
L.) ở Việt Nam
– Tìm hiểu giá trị các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam.
Từ đó, có cái nhìn tổng quan về giá trị tài nguyên các loài thuộc chi Rau sam
(Portulaca L.) ở Việt Nam.
Bố cục của khóa luận: gồm 24 trang, hình vẽ, ảnh, được chia thành các
phần chính như sau: Mở đầu (2 trang), chương 1 (Tổng quan tài liệu: 4 trang),chương 2 (Đối tượng, phạm vi, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 4trang), chương 3 (Kết quả nghiên cứu: 12 trang), kết luận và khuyến nghị: 1trang), tài liệu tham khảo: 1 trang, phụ lục
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 1 Trên thế giới
Người đầu tiên tìm ra chi này là Linnaeus (1753) trong công trình
“Species Plantarum” [23] Trong công trình này, tác giả đã công bố chi
portulaca với 2 loài: P oleracea & P pilosa.
Sau Linnaeus, còn một số tác giả nghiên cứu chi Portulaca nhưng chủ
yếu là những công bố mới Về hệ thống, không có tiến bộ đáng kể nào
Năm 1789, Jussieu là người nhóm các chi thành họ riêng biệt trong công
trình “Genera Plantarum” Khi đó, ông đã đặt tên cho nhiều họ thực vật, trong đó có họ Portulaceae và xếp chi Portulaca vào họ này.
Bentham G & Hooker J D (1862) [17] khi xây dựng hệ thống phân loại
cho ngành Hạt kín, đã xếp chi Portulaca vào họ Portulaceae do có các đặc
điểm: tràng 4-6, bầu thượng 1 ô, quả hộp mở nắp
Về sau, nhiều tác giả cũng đề cập đến chi Portulaca trong các công trình
nghiên cứu như: A Takhtajan (2009) [26] Các tác giả này đều cho rằng chi
portulaca nằm trong họ portulaceae.
Các nước lân cận Việt Nam có một số công trình nghiên cứu về chi
Portulaca dưới dạng các công trình thực vật chí, như công trình:
Fin & Gagnep (1909) khi nghiên cứu về hệ thực vật ở vùng Paris, họ đã
tìm ra và xếp chi Portulaca vào họ Portulaceae được viết lại trong cuốn
“Flore Générale de l'Indo-Chine” [18] Trong tác phẩm này, Gagnepain đã
mô tả chi, xây dựng khóa định loại và bản mô tả với 6 loài được xác định: P.
oleracea, P quadrifida, P pacbyrrbiza, P talmyana, P lakhonensis, P cyathostyla (không có hình minh họa cho mỗi loài)
R Geesink (1971) đã nghiên cứu phân loại chi Portulaca ở khu vực Malesian trong cuốn “Flora Malesiana Vol 7, part I” [19] Tác giả đã mô tả
Trang 11đặc điểm chi Portulaca, xây dựng khóa định loại và mô tả 5 loài có ở vùng Malesian là: P quadrifida, P oleracea, P lutca, P macrorhiza, P pilosa.
Bên cạnh việc cung cấp các thông tin về danh pháp, về đặc điểm dạng sống,phân bố, sinh thái, tác giả còn đề cập đến giá trị sử dụng của các loài đó và có
hình ảnh minh họa của 3 loài: P quadrifida, P macrorhiza, P pilosa.
Năm 1996, Tang Changlin đã lưu lại tác phẩm “Flora Reipublicae
Popularis Sinicae” của mình và cộng sự, chi Portulaca nằm trong họ
Portulaceae cùng với chi Tianium khi nghiên cứu phân loại chi Portulaca ở vùng Peikin Trung Quốc Tác giả đã phân loại được 6 loài thuộc chi
Portulaca nằm ở khu vực này, đồng thời xây dựng bản mô tả chi Portulaca
cùng khóa định loại và bản mô tả của 6 loài: P quadrifida, P oleracea, P.
grandiflora, P pilosa, P psammotropha, P insularis Có hình ảnh minh họa
cho loài P pilosa.
Cùng với các quan điểm xếp chi Portulaca vào họ Portulaceae Năm
2003, Lu Dequan & Michael G Gilbert đã phân loại và mô tả chi này trong
tác phẩm “Flora of China Vol 5” [22] với 5 loài: P pilosa, P oleracea, P.
insularis, P psammotropha, P quadrifida Tuy chưa kèm hình ảnh minh họa
cho các loài, nhưng tác giả cũng đã cung cấp khá nhiều thông tin về đặc điểmdạng sống, phân bố của các loài này trong tác phẩm của mình
Trong tác phẩm “Flora of Hong Kong” [20] của HU Qi-ming, WU De-lin
và tập thể tác giả XIA Nian-he (2007) đã mô tả chi Portulaca thuộc họ
Portulacea cùng với chi Talinum Và HU Qi-ming đã xây dựng bản mô tả chi,
khóa đinh loại và bản mô tả với 2 loài thuộc chi Portulaca phân bố tại Hồng Kong là: P pilosa, P oleracea.
Dù mỗi tác giả đưa ra những đặc điểm khác nhau trong công trình nghiên
cứu của mình, nhưng họ đều xếp chi Rau sam (Portulaca L.) vào họ Rau sam
(Portulaceae)
Trang 121 2 Ở Việt Nam
Cho đến nay, các công trình nghiên cứu họ Rau sam (Portulaceae) nói
chung và chi Rau sam (Portulaca) ở Việt Nam còn rất ít.
F Gagnepain (1909) trong công trình “Flore Générale de l'.Indo-Chine”
[18] đã mô tả đặc điểm của chi Rau sam, xây dựng khóa định loại, cung cấp
một số thông tin về danh pháp và đặc điểm phân bố của 6 loài: P oleracea, P.
quadrifida, P pacbyrrbiza, P talmyana, P lakhonensis, P cyathostyla Tuy nhiên cho đến nay thì 4 loài (P pacbyrrbiza, P talmyana, P lakhonensis, P cyathostyla) đã trở thành tên đồng nghĩa.
Kai Larsen (1989) trong công trình “Flore du Cambodge, du Laos et du
Vietnam” [21] đã lần lượt mô tả đặc điểm & xây dựng khóa định loại cho ho
Rau sam (Portulacaceae) Sau đó, ông tiến hành mô tả và xây dựng khóa định
loại cho chi Rau sam (portulaca), cung cấp một số thông về danh pháp và đặc điểm đạng sống và phân bố của 3 loài: P oleracea, P quadrifida &
P pilosa (subsp grandiflora & subsp pilosa).
Năm 1993, GS TS Trần Đình Lý - tác giả cuốn “1900 loài cây có ích ở
Việt Nam” [14] đề cập đến chi Rau sam (Portulaca L.) thuộc họ Portulaceae
có 4 loài là: P oleracea, P quadrifida, P pilosa, P grandiflora Tác giả đã
tóm tắt dạng sống, đặc điểm phân bố của các loài, và công dụng của chúngmột cách khái quát
Năm 1997, lương y Lê Trần Đức khi viết cuốn “Cây thuốc Việt Nam” [9]
để đưa ra bài thuốc dân gian từ các loài cây quen thuộc và gần gũi Ông có
nghiên cứu về loài Rau sam (P oleracea) và đưa ra một số bài thuốc cụ thể về
loài rau này
Trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” [10] của Phạm Hoàng Hộ (2000),
tác giả đã cung cấp các thông tin cơ bản để nhận biết 4 loài thuộc chi Rau sam
(Portulaca L.) ở Việt Nam là: P oleracea, P quadrifida, P pilosa, P.
Trang 13grandiflora Công trình “Cây cỏ Việt Nam” tuy có nhiều hạn chế như: Bản mô
tả còn sơ sài, không có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu, nhưngcho đến nay, đây vẫn được coi là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộcác loài thực vật ở Việt Nam
Nguyễn Tiến Bân (2003), trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”
[3] họ Rau sam (Portulaceae) đã chỉnh lý danh pháp và đưa ra danh lục 4 loài
thuộc chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam Tác giả cung cấp một số dẫn
liệu về vùng phân bố, dạng sống và sinh thái, cũng như giá trị sử dụng các
loài trong chi Rau sam (Portulaca L.).
Năm 2004, trong cuốn “Từ điển thực vật thông dụng”, tập 2 [7], Võ Văn Chi đã tóm tắt đặc điểm của chi Rau sam (Portulaca L.) và mô tả các loài
thuộc chi này cùng hình ảnh và một số đặc điểm
Ngoài ra còn một số công trình đề cập đến chi Portulaca dưới dạng tài nguyên như: Trong công trình “ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” [13]
của Đỗ Tất Lợi, ông đã mô tả khái quát về dạng sống, phân bố, thành phần và
cả công dụng của Rau sam (Portulaca oleracea) Hay Nguyễn Tiến Bân (1997) trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt
Nam” [2] và một số công trình của rất nhiều tác giả khác Đỗ Huy Bích, Đặng
Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thượng Dong, Đỗ Trung Đàm,Phạm Văn Hiên, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị
Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn (2004) với “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở
Trang 14chúng tôi sẽ đi giải quyết các vấn đề còn thiếu, góp phần chỉnh lí và bổ sung
để công trình nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trang 15CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG,
THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở
mẫu vật và tài liệu
Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) trên thế
giới và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo
Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt
Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tàinguyên Sinh vật (HN)
Tổng số mẫu nghiên cứu là 18 số hiệu với 29 tiêu bản
Việc phân tích mẫu vật được tiến hành tại phòng tiêu bản thực vật (ViệnSinh thái và Tài nguyên Sinh vật) Ngoài ra, tôi còn tham khảo một số mẫu thuthập được trong khi điều tra thực địa và các ảnh chụp mẫu vật trên internet
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9/ 2016 – 5/2018
2.3 Nội dung nghiên cứu
– Phân tích các hệ thống phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) trên thế giới.
Từ đó, lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp để sắp xếp các loài thuộc chi Rau
sam (Portulaca L.) ở Việt Nam.
– Điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thập mẫu vật và các thông tin về phân
bố, sinh thái,…
– Phân tích mẫu vật để định loại và xây dựng bản mô tả các taxon nghiên cứu.– Xây dựng khóa định loại các taxon nghiên cứu
Trang 162.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu phân loại chi Rau sam (Portulaca L.), chúng tôi sử dụng
phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 Mặc dù đây
là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổbiến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quancủa thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quanchặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường
Dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trongcùng một giai đoạn phát triển để tiến hành so sánh (cây trưởng thành so sánhvới cây trưởng thành, nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, )
Để làm tốt phương pháp nghiên cứu hình thái so sánh, cần tiến hànhđồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp và nội nghiệp
Công tác ngoại nghiệp: Được thực hiện trong các chuyến đi thực địa
nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu
ở trạng thái sống, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác
Công tác nội nghiệp: Được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm
việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phântích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫuvật chuẩn, các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và cácnước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại
Việc tiến hành phân loại chi Rau sam (Portulaca L.), được tiến hành
theo các bước như sau:
Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Rau
sam (Portulaca L.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân
loại chi này ở Việt Nam
Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Rau sam (Portulaca
L.) hiện có
Trang 17Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêmmẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quankhác.
Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung củachi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phầndanh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dungkhoa học khác của đề tài
– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thựcvật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [4], thứ tự như sau:
Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công
bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tênkhoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu
ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa, tên Việt Nam khác, mô tả loàityp của chi, ghi chú
Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theotên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tácgiả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệuchính và các tài liệu ở Việt nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc, các tên đồngnghĩa, tên Việt Nam khác, mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫuvật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học vàsinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú
– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắctruyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)
Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đãphân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫutyp (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản
Trang 18chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác(thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có nhữngghi chú bổ sung.
– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựachọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hànhnhư sau: Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tậphợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọnphải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon).Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vàohai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon
Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiệnhành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [4]
Trang 19CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3 1 Hệ thống phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam
Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Rau sam và họ Rau samtrong các công trình thực vật chí ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam như:Bentham & Hook f (1862), Fin & Gagnep (1907), R D Hoogland (1951),
Lu Dequan & Michael G Gilbert (2003), Takhtajan Armen L [Takht.](2009), Phạm Hoàng Hộ (1999), Nguyễn Tiến Bân (2003), .tôi nhận thấyphân loại chi Rau sam là chưa đồng nhất, mỗi tài liệu đưa ra cách phân loạichi thành các loài riêng
Trong công trình này, tôi lựa chọn hệ thống của A Takhtajan (2009) đểphân loại chi Rau Sam ở Việt Nam Vì đây là hệ thống được kế thừa từ các hệthống trước đó, được hầu hết các tác giả trên thế giới sử dụng và phù hợp vớiviệc sắp xếp các taxon ở Việt Nam Trên cơ sở của hệ thống này, chi Rau sam
(Portulaca L.) được xếp vào họ Rau sam (Portulacaceae Juss.) bộ Cẩm
chướng (Caryophyllales), phân lớp Cẩm chướng (Caryophyllales) lớp Ngọclan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledons), ngànhNgọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae).Theo đó, chi này ở Việt Nam có 4 loài
3 2 Đặc điểm phân loại chi Rau sam (Portulaca L.) ở Việt Nam
PORTULACA L – RAU SAM
L 1753 Sp Pl 1: 445; L.1754 Gen Pl 5 Benth & Hook f 1862 Gen Pl.1: 157; Fin & Gagnep 1907 Fl Gen Indoch 1: 273; R D Hoogland 1951
Fl Males 4 (1): 126; Geesink 1969 Blumea 17: 275; T Changlin 1996 Fl.Reip Pop Sin 26(1): 37; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 734; Dequan &Michael 2003 Fl China 5: 442; Guangzhou & Chine 2007 Fl Hong Kong.1: 158; Takht 2009 Flowering Pl 2: 138
− Meridiana L f., Suppl.: 248
(1781)
− Sam, Mã xỉ
hiện.
Trang 203.2.1 Dạng sống
Cỏ mập, một năm (P oleracea) hay nhiều năm (P grandiflora, P.
pilosa, P quadrifida), thường mọc bò (P oleracea, P grandiflora, P pilosa,
P quadrifida) hơi mọc đứng (P grandiflora) Thân thường màu đỏ hồng;
không có lông (P oleracea) hay có lông (P grandiflora, P pilosa, P.
quadrifida); phân đốt (P oleracea, P pilosa, P quadrifida, P grandiflora).
Mọc rải rác ở các bãi hoang, ven đường (P Oleracea, P pilosa, P.
quadrifida) hay khắp cả nước (P grandiflora)
3.2.2 Lá
Lá đơn, mọc cách (P oleracea, P grandiflora, P pilosa) hay mọc đối
(P oleracea, P quadrifida); có lá kèm dạng vảy hoặc bó sợi lông ở nách lá
(P oleracea, P pilosa, P quadrifida) Phiến lá hình trứng ngược (P.
oleracea), hình thuôn nhọn (P pilosa), hình dải (P grandiflora) hay hình bầu
dục (P quadrifida); mép lá nguyên; chóp lá tròn (P oleracea) hoặc nhọn (P.
quadrifida) hoặc nhọn dài (P grandiflora, P pilosa) Có 2 lá bắc dạng lá đài
(P oleracea); gốc lá hình nêm, hẹp & nhọn dần; gân hình lông chim, gân chính thường nổi rõ (P oleracea).
3.2.3 Cụm hoa
Hoa mọc đơn độc (P grandiflora, P pilosa, P quadrifida) hoặc mọc thành cụm hoa (P oleracea); dạng trứng ngược (P oleracea, P grandiflora,
P pilosa, P quadrifida); đính ở phía trên các lá bắc (P oleracea), được bao
quanh bởi lá bắc và lông ở nách lá ngọn (grandiflora, P pilosa, P.
quadrifida) Lá bắc của hoa nhỏ, đính ở xung quanh hoa (P oleracea, P grandiflora, P pilosa, P quadrifida).
3.2.4 Hoa
Hoa đều, lưỡng tính; mẫu 4-5 Đài 4-5, dạng cánh hoa; thường màu vàng
(P oleracea, P grandiflora, P pilosa, P quadrifida), đỏ, hồng (P.
Trang 21grandiflora, P pilosa) hoặc trắng (P grandiflora) Nhị nhiều (P oleracea, P grandiflora, P pilosa, P quadrifida) ; Bao phấn 2 ô, mở bằng khe nứt dọc.
Bộ nhụy gồm 2 hay nhiều lá noãn hợp thành bầu thượng 1 ô (P oleracea, P.
grandiflora, P pilosa, P quadrifida); mỗi ô có nhiều noãn đính trên giá noãn
trung tâm tự do; núm nhụy gồm (4-)5 thùy (P oleracea) hay 5-18 thùy
(P grandiflora) hay 4-8 (P pilosa) thùy hay (3-)4(-5) thùy (P quadrifida).
3.2.5 Quả và hạt
Quả hộp, mở nắp bằng khe nứt ngang (P oleracea, P grandiflora, P.
pilosa, P quadrifida) Hạt nhiều, đen bóng khi trưởng thành, đính trực tiếp
vào vỏ quả hoặc trụ giữa noãn Phôi nhỏ, không có nội nhũ
Typus: Portulaca oleracea L.
Có khoảng 40 loài, phân bố ở các vùng nhiệt đới và vùng có khí hậu ấm
áp trên thế giới Việt Nam hiện biết có 4 loài phân bố rải rác khắp nơi
3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L 1753) ở Việt
Nam
1A Thân không có lông, hoa mọc thành cụm 1 P oleracea
1B Thân có lông, hoa mọc đơn độc
2A Lá mọc đối, hình bầu dục, hoa màu vàng……… 2 P quadrifida
2B Lá mọc cách, hình thuôn dài, hoa hồng đỏ
3A Tràng hoa to và rộng, vòi nhụy xẻ thùy 5-6…… 3 P grandiflora 3B Tràng hoa nhỏ, vòi nhụy xẻ thùy 4-8………4 P pilosa
3 4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Rau sam (Portulaca L 1753) ở
Việt Nam
3.4.1 Portulaca oleracea L – Rau sam
L 1753 Sl Pl 1: 445; Lour 1790 Fl Cochinch 1: 293; Fin & Gagnep,
1909 Fl Gen Indoch.1: 274; Geesink, 1969 Blumea.17: 292; Geesink 1971
Fl Males 7(1): 129; T Changlin 1996 Fl Reip Pop Sin 26(1): 40; Phamh