1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Các phương thức sàng lọc ung thư phế quản

7 391 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 133,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ung thư phế quản không tế bào nhỏ (NSCLC) là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các tử vong do các loại ung thư trên toàn thế giới. Mặc dù hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về gen, cơ chế phân tử của bệnh và phát triển điều trị trúng đích, tất cả thành tựu đó đã cải thiện đáp ứng điều trị ở mức độ nhất định nhưng tỷ lệ sống sót sau 5 năm vẫn chỉ khoảng 10 đến 15%. Nguyên nhân chính tỷ lệ sống sót sau 5 năm thấp như vậy do 34 số bệnh nhân được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn muộn, không còn khả năng phẫu thuật. Nghiên cứu về ung thư phế quản, trong thập kỷ qua đã có nhiều cố gắng phát triển các phương thức sàng lọc để chẩn đoán sớm bệnh như xét nghiệm đờm, X quang lồng ngực chụp cắt lớp lồng ngực vi tính liều thấp (LDCT); dấu ấn sinh học và nội soi phế quản huỳnh quang

Trang 1

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ PHẾ QUẢN

PGS TS Nguyễn Chi Lăng

Tóm tắt

Ung thư phế quản không tế bào nhỏ (NSCLC) là nguyên nhân tử vong hàng đầu trong các tử vong do các loại ung thư trên toàn thế giới Mặc dù hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về gen, cơ chế phân tử của bệnh và phát triển điều trị trúng đích, tất cả thành tựu đó đã cải thiện đáp ứng điều trị ở mức độ nhất định nhưng

tỷ lệ sống sót sau 5 năm vẫn chỉ khoảng 10 đến 15% Nguyên nhân chính tỷ lệ sống sót sau 5 năm thấp như vậy do 3/4 số bệnh nhân được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn muộn, không còn khả năng phẫu thuật Nghiên cứu về ung thư phế quản, trong thập kỷ qua đã có nhiều cố gắng phát triển các phương thức sàng lọc để chẩn đoán sớm bệnh như xét nghiệm đờm, X quang lồng ngực chụp cắt lớp lồng ngực vi tính liều thấp (LDCT); dấu ấn sinh học và nội soi phế quản huỳnh quang

Summary

Non-small cell lung cancer (NSCLC) is the leading cause of cancer mortality worldwide Despite the numerous recent studies on genomics, molecular mechanisms of disease and the development of targeted therapies, which improve treatment responses to a certain extent, but the overall 5-year survival rate is only around 10–15% The main reason for such a low 5-year survival rate is that the patient has been diagnosed too late in three quarters of case, resulting in advanced and inoperable diseases Lung cancer studies for decades have attempted to develop screening modalities that allow early diagnosis, such as: sputum test ; chest x-rays, low-dose CT (LDCT) of the chest; biomarker and autofluoresence brochoscopy (AFB).

Key words: Ung thư phổi tế bào không tế bào nhỏ/Non-small cell lung cancer

(NSCLC);

screening early lung cancer diagnosis/ sàng lọc chẩn đoán sớm ung thư phổi; chụp phim lồng ngực/ chest x rays; chụp cắt lớp lồng ngực liều thấp/Low-dose CT

(LDCT) of the chest; dấu ấn sinh học/ biomarker; nội soi phế quản huỳnh

quang/autofluorescent brochoscopy(AFB)

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SÀNG LỌC

CHẨN ĐOÁN SỚM UNG THƯ PHẾ QUẢN

Trang 2

1 Sàng lọc bằng xét nghiệm đờm : Xét nghiệm đờm sàng lọc để tìm tế bào ung thư ở những người có nguy cơ cao:.Từ những năm 1930 xét nghiệm tế bào học đờm đã được sử dụng cho việc chẩn đoán ung thư phổi Xét nghiệm tế bào trong đờm có giá trị để phát hiện các khối u trung tâm phát sinh từ các phế quản lớn hơn (ví dụ ung thư biểu mô tế bào vẩy và tế bào nhỏ) Các tế bào bong ra từ khối u ngoại vi, chẳng hạn như các loại ung thư phát sinh từ các đường dẫn khí nhỏ hơn( phế quản nhỏ, tiểu phế quản, phế nang) có thể thỉnh thoảng phát hiện trong các mẫu đờm Liang ST, Huang SQ, 1996 [14], nghiên cứu trong 9 năm chụp phim xquang chuẩn cho 109 533 thợ mỏ tuổi trên 40 làm nghề trên 10 năm họ đã phát hiện 54 bệnh nhân xét nghiệm đờm tế bào k dương tính nhưng phim X quang phổi chuẩn bình thường Kết quả soi phế quản xác định chẩn đoán 42 trường hợp có tổn thương trong lòng phế quản, 53 trường hợp ung thư biểu mô tế bào vẩy và 1 trường hợp tế tế bào nhỏ Tác giả nhấn mạnh rằng sàng lọc ung thư phế quản bằng xét nghiệm đờm là phương pháp hữu ích trong việc chẩn đoán sớm K phế quản ở những người có nguy cơ cao Từ các nghiên cứu sàng lọc cho thấy độ nhậy của xét nghiệm tế bào học trong đờm để chẩn đoán sớm ung thư phế quản chỉ 20-30% [10] Chính vì độ nhạy không cao này, nên việc sàng lọc bằng đờm không được khuyến cáo áp dụng từ năm 1970

2 Sàng lọc chẩn đoán bằng X quang và CT lồng ngực.

Chẩn đoán sàng lọc bằng X quang lồng ngực có độ nhạy, độ đặc hiệu thấp và cũng không làm giảm tỷ lệ tử vong nên cũng không được khuyến cáo để sàng lọc chẩn đoán sớm ung thư phế quản vào những năm 70 của thế kỷ trước

Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực liều thấp (LDCT) là phương pháp sàng lọc được thực hiện trong những năm 2000 đã đưa ra kết quả tăng đáng kể số lượng phát hiện cũng như tăng phát hiện giai đoạn sớm KPQ, nhưng không thấy giảm rõ rệt sự phát triển hoặc tử vong ung thư[16] Theo Bach.2008[1], chẩn đoán sàng lọc bằng LDCT có 2 điều hạn chế: thứ nhất độ nhậy cao nên dương tính giả nhiều dẫn đến đôi khi phẫu thuật không cần thiết, thứ hai là ở giai đoạn sau 2 năm theo dõi bệnh, khi được chẩn đoán ung thư thì bệnh đã tiến triển nặng phát triển di căn xa và tiên lượng xấu

Một nghiên cứu lớn ở Mỹ cho những người nghiện hút thuốc lá nặng được gọi là “Thử nghiệm sàng lọc Quốc gia so sánh CT lồng ngực với X quang lồng ngực”.Các tác giả thu được kết quả: nguy cơ tử vong của sàng lọc bằng CT lồng ngực thấp hơn so với sàng lọc bằng X quang lồng ngực

Vì lý do trên Hội ung thư Mỹ đã thử nghiệm sàng lọc quốc gia cho 50.000 người

đã từng nghiện thuốc và hiện đang hút thuốc lá ( hút 1gói/ngày, thời gian hút ≥ 30 năm), tuổi 55 – 74 Sàng lọc CT và X quang lồng ngực hàng năm, kết quả cho thấy

354 bệnh nhân tử vong do KPQ ở nhóm sàng lọc bằng CT lồng ngực, 442 bệnh nhân tử vong do KPQ ở nhóm sàng lọc bằng X quang lồng ngực Mặc dù kinh phí

Trang 3

sàng lọc này cao, nhưng Hội các nhà lâm sàng Mỹ và Hội ung thư Mỹ đã đưa ra khuyến cáo: Tầm soát KPQ cho người nguy cơ cao ( tuổi 55- 74, hút thuốc lá ngày

1 bao, thời hút ≥ 30 năm), họ cũng khuyến cáo nên sàng lọc bằng CT và X quang lồng ngực cho những người ≥ 50 tuổi đã hút thuốc mỗi ngày một bao, thời gian hút > 20 năm Phương pháp sàng lọc chẩn đoán sớm KPQ bằng X quang và CT lồng ngực vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu về phân loại mô bệnh, tế bào

và giai đoạn của bệnh KPQ

3 Sàng lọc bằng dấu ấn khối u (Tumor marker)

Học viện quốc gia hướng dẫn hóa sinh lâm sàng (NACB) của Mỹ khuyến cáo Neuro specific enolase (NSE) đặc hiệu cho khối u thần kinh, đây là một tumor marker có độ nhậy, độ đặc hiệu cao để chẩn đoán u thần kinh nội tiết, nhưng để sàng lọc KPQ ít có tác dụng, mặc dù vậy NSE có tác dụng hỗ trợ chẩn đoán KPQ

tế bào nhỏ, khi nồng độ NSE >100mg/L ở bệnh nhân nghi ác tính ở phổi thì nghĩ nhiều đến KPQ tế bào nhỏ NSE cũng đã được dùng theo dõi điều trị KPQ tế bào nhỏ

Carcinoembryonic antigen (CEA) cũng là tumor marker có tác dụng chẩn đoán sàng lọc KPQ và chẩn đoán KPQ tế bào tuyến và tế bào lớn Nhưng một số u lành tính và ác tính khác CEA cũng tăng cao Tuy nhiên CEA có tác dụng chẩn đoán phân biệt KPQ tế bào nhỏ với KPQ tế bào không nhỏ, tốt nhất là kết hợp với CYFRA 21-1[6], [17], [15], [2] CEA theo dõi tiên lượng KPQ tế bào không nhỏ, đặc biệt là tế bào tuyến [16], [5], [4], [20] Hơn nữa CEA còn có vai trò quan trọng trong việc theo dõi điều trị giai đoạn bệnh và phát hiện tái phát KPQ tế bào tuyến

Cytokeratin-19 fragment (CYFRA21-1) là một tumor marker nhạy cảm nhất với KPQ tế bào không nhỏ đặc biệt là tế bào vẩy nhưng CYFRA21-1 cũng tăng nhẹ trong huyết thanh của bệnh nhân ung thư tiết niệu, tiêu hóa, phụ khoa và một

số bệnh ác tính,, chính vì vậy CYFRA21-1 dùng trong sàng lọc và chẩn đoán thì

có mặt hạn chế, nhưng nó có hữu ích trong việc chẩn đoán phân biệt khối u ở phổi nghi K, đặc biệt trong trường hợp không sinh thiết được

Nhiều tác giả đã báo cáo CYFRA21-1 có thể hỗ trợ chẩn đoán[6], [18], [17], [11], [3] Về tiên lượng và theo dõi điều trị, 9 trung tâm nghiên cứu đã chứng minh CYFRA21-1 là yếu tố tiên lượng đầu, cuối và theo dõi điều trị KPQ tế bao không nhỏ,

Kết hợp cả xét nghiệm CEA và CYFRA21-1 có hiệu quả cao để chẩn đoán KPQ tế bào không nhỏ

ProGRP xuất hiện nồng độ cao trong máu khi bệnh ở giai đoạn tiến triển và

nó cũng tăng nhẹ ở bệnh nhân mắc khối u lành tính và ác tính khác Nhiều nghiên cứu cho thấy khi ProGRP > 500mg/L thì chẩn đoán KPQ tế bào không nhỏ

Trang 4

Dựa trên độ nhậy, độ đặc hiệu của các tumor marker trong việc chẩn đoán KPQ, NACB đã đưa ra khuyến cáo:

Không nên không nên sàng lọc KPQ bằng CYFRA21-1, CEA và Pro GRP cho những người không có triệu chứng hoặc nguy cơ cao, mà các markers

CYFRA21-1, CEA, NSE hoặc Pro GRP chỉ có tác dụng đối với những bệnh nhân nghi KPQ trước khi điều trị phẫu thuật không có kết quả tế bào mô bệnh Nếu cả 4 xét nghiệm này dương tính nồng độ cao thì nghĩ nhiều đến người bệnh có thể bị KPQ Hơn chục năm qua người ta đã phát hiện Acid micro ribonucleotid (miARRN), miARRN đóng vai trò điều hòa nhiều hoạt động của tế bào trong đó có điều hòa phát triển tế bào, nếu rối loạn chức năng này sẽ phát triển thành ung thư Những miARN có đặc điểm ổn định trong tổ chức của cơ thể và mô ung thư Với tính chất như vậy nó là dấu ấn sinh học có tiềm năng để tiên lượng và dự báo bệnh ung thư Hiện nay, với hiểu biết đột phá quan trọng về sự hiện diện, sự ổn định của miARN trong huyết thanh, và vai trò của nó là những dấu ấn sinh học trong chẩn đoán ung thư không xâm nhập

Sự hiểu biết thấu đáo này tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng rộng rãi trên lâm sàng, tầm soát, theo dõi ung thư phổi và điều trị ung thư phù hợp cho từng cá thể Bianchi F, et al, 2011 [4] cho biết Boeri et al, 2011 đã nghiên cứu và thông báo dấu ấn 13- miARN lưu hành trong tuần hoàn máu của bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ, nó có thể phân định được những khối u tiến triển chậm phát hiện bằng LDCT với độ chính xác 80% Tác giả còn chứng minh rắng dấu ấn này xuất hiện trong huyết tương của người bệnh nhiều tháng trước khi khối u được phát hiện bằng LDCT Hiện nay có gần 500 nghiên cứu báo cáo kết quả về các miARN trong chẩn đoán và sàng lọc phát hiện NSLC sẽ hứa hẹn trong tương lai chúng ta có một dấu ấn sinh học có độ nhậy và đặc hiệu cao để phát hiện sớm ung thư phế quản

4 Sàng lọc bằng nội soi phế quản.

Các phương pháp sàng lọc và chẩn đoán bằng xét nghiệm như đờm, X quang, LDCT và dấu ấn khối u có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao cho từng loại tế bào ung thư phế quản Nhưng tất cả các phương pháp đó vẫn không xác định một cách thật chính xác được týp mô bệnh, tế bào của và giai đoạn của bệnh ung thư phế quản

Một phương pháp được đánh giá có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán sàng lọc và chẩn đoán xác định KPQ, đó là soi phế quản ống mềm Nhưng hạn chế của phương pháp này cũng chỉ phát hiện sớm ung thư phế quản trung tâm

Với tiến bộ của khoa học kỹ thuật ngày nay người ta sáng chế ra nhiều loại máy soi phế quản, trong đó có máy soi phế quản huỳnh quang

Lịch sử phát triển của hệ thống máy soi phế quản huỳnh quang khởi nguồn từ sự tìm được tổ chức mô của người tự phát sáng huỳng quang vào năm 1911 Năm

Trang 5

1913 Sutro -Burmann đã chứng minh sự tự phát huỳnh quang của khối u và mô bình thường có sự khác nhau Năm 1961 Lipson và cộng sự đã tìm ra một chất hấp thụ ánh sáng đó là Hematoporphyrin D (là một chất chuyển hóa nhân Hem của hemoglobin) Ông dùng Hematoporphyrin D (HpD) tiêm vào tĩnh mạch của người bệnh, sau 48 tiếng sau HpD được hấp phụ chọn lọc nhiều ở khối u, sau đó dùng máy soi phế quản bằng ánh sáng laser với bước sóng 63nm chiếu vào khối u, với nguyên lý phản ứng hóa học xảy ra giữa HpD và ánh sáng laser tế bào khối dần dần hoại tử Do tính độc và tác dụng không mong muốn của HpD nhiều (bỏng da, niêm mạc phế quản, người bệnh không được ra ngoài ánh sáng 1 tuần), người ta khuyến cáo không dùng phương pháp này để chẩn đoán sàng lọc ung thư phế quản Năm 1993 Lam và cộng sự đã nghiên cứu và tìm ra sự tự phát huỳnh quang mà không cần đến HpD bằng một hệ thống máy nội soi ánh sáng huỳnh quang (light Imaging Fluorescence Endoscopie - LIFE)

Hệ thống LIFE được phát triển, dựa trên nguyên tắc mô loạn sản và mô ác tính giảm tín hiệu tự phát quang so với mô bình thường Khi nội soi phế quản nếu bằng ánh sáng trắng các tổn thương tiền ung thư (loạn sản vừa, nặng hoặc ác tính tại chỗ (CIS) không thể phát hiện được mà khi phủ ánh sáng huỳnh quang thì thấy

rõ tổn thương thể hiện bằng màu đỏ nâu, qua đó giúp bác sĩ nội soi sinh thiết đúng

vị trí tổn thương để xét nghiệm mô bệnh tế bào chẩn đoán bệnh một cách chính xác

Một số nghiên cứu đã được thực hiện so sánh độ nhậy, độ đặc hiệu chẩn đoán của nội soi phế quản sử dụng ánh sáng huỳnh quang (LIFE) so với ánh sáng trắng trong chẩn đoán tổn thương tiền xâm lấn và xâm lấn sớm

Năm 1998 một nghiên cứu đa trung tâm, Venman et al, 1998 [21], đã nội soi phế quản huỳnh quang cho 33 bệnh nhân có nguy cơ cao mắc KPQ và sinh thiết lấy

139 mẫu bệnh phẩm, xét nghiệm mô bệnh đã phát hiện 9 bệnh nhân loạn sản trung bình, nặng hoặc ung thư tại chỗ và 4 bệnh nhân bị KPQ đã xâm lấn qua màng đáy,

so với soi phế quản ánh sáng trắng, tác giả kết luận: cả 2 phương pháp nội soi phế quản huỳnh quang và ánh sáng trắng cho độ nhạy và độ đặc hiệu cao tương ứng là 98%, 78% và 61% và 88% [21]

Đến năm 1998, Lam và cộng sự đã dụng hệ thống máy này của hãng Olumpus Nhật Bản (có tên thương mại XILLIX) để tiến hành một nghiên cứu đa trung tâm cho 173 bệnh nhân, mỗi bệnh nhân được tiến hành soi phế quản ánh sáng trắng trước, ngay sau đó kiểm tra lại bằng soi ánh sáng huỳnh quang và họ đã thu được

700 mẫu bệnh phẩm sinh thiết Kết quả nghiên cứu đưa ra kết luận: hiệu quả của nội soi phế quản huỳnh quang hơn hẳn nội soi phế quản ánh sáng trắng, đối với tổn thương loạn sản vừa, loạn sản nặng hoặc ung thư tại chỗ có độ nhạy 63%[13]

Để so sánh tính chính xác của soi phế quản huỳnh quang kết hợp với ánh sáng trắng so với soi phế quản ánh sáng trắng đơn độc (WLB) Trong phân tích meta

Trang 6

trên 21 nghiên cứu liên quan đến 3.266 bệnh nhân được phân tích, Sun J, GarfielDH và CS,2011[19] cho thấy độ nhậy của AFB+WLB so với WLB đơn độc tương ứng là 2.04 (Khoảng tin cậy 95% 1,72-2,42) và 1,15( khoảng tin cậy 95% 1,05-1,26) Độ đặc hiệu của AFB+WLB so với WLB là 0,65(khoảng tin cậy 95% 0,59-0,73) Mặc dù độ đặc hiệu của AFB+WLB thấp hơn WLB đơn độc, nhưng AFB+WLB có độ nhậy cao hơn trong phát hiện khối u biểu mô [19] Kết quả ban đầu về sàng lọc chẩn đoán sớm ung thư phế quản bằng nội soi phế quản huỳnh

quang của đề tài cấp nhà nước Mã số KC10.29/11-15 cho thấy 711đối tượng có

nguy cơ cao ung thư phế quản, trong đó có 350 bệnh nhân có dấu hiệu hô hấp tự đến khám bệnh tại Bệnh viện phổi trung ương và 361 trường hợp không có triệu chứng tại cộng đồng: Tất cả được sàng lọc bằng Xquang và nội soi phế quản huỳnh quang

Kết quả cho thấy: Nhóm có triệu chứng phát hiện ung thư phế quản 78/350 (11%) loạn sản 23/350 (3,2%) trong đó 20 trường hợp loạn sản nặng Nhóm không có triệu chứng phát hiện loạn sản 24/ 361 (3,4%: trong đó 11 là loạn sản nặng và vừa )

Cả hai nhóm nội soi phế quản huỳnh quang có dấu hiệu giảm tín hiệu cho kết quả như sau: 29/47 trường hợp là loạn sản vừa và nặng ( tiền ung thư), 72/78 trường hợp ung thư phế quản, như vậy nội soi huỳnh quang có độ nhậy và độ đặc hiêu lần lượt là 91,8% và 89,4% Còn nội soi phế quản ánh sáng trắng phát hiện loạn sản vừa, loạn sán nặng 4/47 trường hợp và 57/78 trường hợp ung thư như và như vậy nội soi ánh sáng trắng có độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 55,8% và 96,8%

Tóm lại soi phế quản huỳnh quang có độ nhạy cao vì nó có khả năng phát hiện những tổn thương niêm mạc phế quản khi độ dày của lớp niêm mạc chỉ hơn

độ dày bình thường 0,2mm và đường kính tổn thương bề mặt niêm mạc phế quản chi 1 vài mm trong khi đó soi phế quản ánh sáng trắng khó hoặc không thể phát hiện được những tổn thương dạng này Chính vì vậy nghiên cứu dùng kỹ thuật nội soi phế quản huỳnh quang cho những đối tượng nguy cơ cao để phát hiện ung thư phế quản giai đoạn sớm (tiền ung thư, tiền xâm lấn hoặc ung thư tại chỗ) mà soi phế quản thông thường khó, hoặc không phát hiện được

Kết luận

Kéo dài thời gian sống còn và thậm chí là chữa khỏi bệnh ung thư phế quản phụ thuộc chủ yếu vào sự phát hiện bệnh giai đoạn sớm.Trong nhiều thập kỷ qua đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này nhưng vẫn chưa đáp ứng được sự mong đợi Thực tế, ba phần tư số bệnh nhân ung thư phế quản khi phát hiện bệnh không còn chỉ định phẫu thuật và số bệnh nhân sống còn sau 5 năm vẫn còn thấp Việc phát hiện ung thư phế quản giai đoạn sớm bằng phương pháp sàng lọc là rất quan trọng

Trang 7

Các phương pháp sàng lọc như xét nghiệm đờm, X quang, LDCT lồng ngực, dấu

ấn khối u, nội soi phế quản huỳnh quang Mỗi phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu khác nhau Nếu phối hợp nhiều phương pháp sàng lọc cho những đối tượng

có nguy cơ cao bị ung thư phế quản thì sẽ tăng tỷ lệ phát hiện bệnh giai đoạn sớm, góp phần cho điều trị bệnh hiệu quả cao hơn

Tài liệu tham khảo

1

Ngày đăng: 02/02/2017, 17:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w