Bài viết trình bày đánh giá kết quả sớm và các tai biến, biến chứng của kỹ thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phương pháp đốt sóng cao tần dưới hướng dẫn chụp cắt lớp vi tính tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
Trang 1ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ BẰNG
PHƯƠNG PHÁP ĐỐT SÓNG CAO TẦN TẠI BỆNH VIỆN UNG BƯỚU NGHỆ AN
PHẠM VĨNH HÙNG1, NGUYỄN VĂN HIẾU2, NGUYỄN QUANG TRUNG1, NGUYỄN PHƯỚC BẢO QUÂN3, NGUYỄN KHÁNH TOÀN1, TRẦN ANH TUẤN1
TÓM TẮT
Mở đầu: Đốt bằng sóng cao tần (RFA) là phương pháp sử dụng dòng điện xoay chiều với tần số cao để
tạo nhiệt phá hủy khối u Tổn thương của mô gây ra do nhiệt phụ thuộc vào nhiệt độ và thời gian tác động Phương pháp này thường được sử dụng điều trị các khối u đặc ác tính, ví dụ u gan,thận, mô mềm, nhưng trên thế giới có nhiều trung tâm sử dụng phương pháp điều trị này để điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ cho hiệu quả đáng ghi nhận[1, 2]
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm và các tai biến, biến chứng của kỹ thuật điều trị ung thư phổi không tế
bà o nhỏ bằng phương pháp đốt sóng cao tần dưới hướng dẫn chụp cắt lớp vi tính tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Phương pháp nghiên cứu: Can thiệp lâm sàng không đối chứng cho 27 bệnh nhân ung thư phổi không
tế bào nhỏ tham gia nghiên cứu được điều trị bằng đốt sóng cao tần Những bệnh nhân này không phẫu thuật cắt bỏ u được vì ung thư phổi giai đoạn tiến xa (n =6) và/ hoặc chống chỉ định phẫu thuật do có bệnh phối hợp (n =17) hoặc từ chối phẫu thuật (n =4) Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có cản quang được thực hiện 1 tháng sau khi đốt u bằng sóng cao tần để đánh giá đáp ứng điều trị về chẩn đoán hình ảnh cũng như theo dõi sự cải thiện triệu chứng lâm sàng
Kết quả và bàn luận: 27 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ với độ tuổi trung bình 62,0, thấp tuổi
nhất 41, cao tuổi nhất 83 Kết quả sớm sau 1 tháng theo dõi cho thấy không có bệnh nhân nào đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần là 25/27 (92,6%) bệnh nhân, bệnh ổn định có 1 bệnh nhân (3,7%), bệnh tiến triển 1 bệnh nhân (3,7%) Có 25/27 (92,6%) BN bị đau tức ngực mức độ vừa và nhẹ trong đó 22/25 (88%) bệnh nhân đau cải thiện rõ rệt triệu chứng Các biến chứng ở mức độ nhẹ bao gồm ho ra máu 14/27 bệnh nhân, tràn khí màng phổi do thủ thuật là 5/27 bệnh nhân, tràn dịch màng phổi chỉ có 1 bệnh nhân Số ngày trung bình nằm viện sau thủ thuật là 4,8 ± 2,0 ngày
Kết luận: Điều trị Ung thư phổi không tế bào nhỏ bằng phương pháp đốt sóng cao tần là có khả thi, hiệu
quả, ít tai biến và biến chứng, thời gian nằm viện ngắn ngày Cần tiến hành nghiên cứu trong thời gian dài hơn
để đánh giá thêm sự đáp ứng và thời gian sống thêm của bệnh
Từ khóa: Ung thư phổi không tế bào nhỏ, đốt sóng cao tần
ABSTRACT
Radiofrequency ablation of pulmonary malignant tumors in inoperablepatients:
case series study on 27 patients Background: Radiofrequency ablation (RFA) is a method of using electric currents with high frequencies to
generate heat that destroys tumors The damage caused by heat is dependent on temperature and duration of action This method is often used to treat hypertonic tumors, such as liver, kidney and soft tissue tumors, but many centers around the world use this treatment to treat non-cell lung cancer
1Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
2Trường Đại học Y Hà Nội
3 Bệnh viện Trung Ương Huế
Trang 2TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 193
Objective: To assess safety complications and efficiency of percutaneous computed tomography (CT)‐
guided transthoracic radiofrequency (RF) ablation for treating inoperable non –small cell lung cancer (NSCLC) was used at Nghệ an oncology hospital
Materials and Methods: 27 patients with non-small cell lung cancer were treated with radiofrequency
wave radiotherapy, with an average age of 62.0, with the lowest age being 41, the highest are 83 These patients did not have a surgical excision because of advanced lung cancer (n = 6) and / or a combination of surgery (n = 17) or refuse surgery (n = 4) Contrast-enhanced computerized tomography was performed 1 month after high frequency radiofrequency ablation for evaluation of visual diagnostic response as well as follow-up of clinical improvement
Results: No patients responding completely, partial responding to 25/27 (92.6%) patients, stable disease
with 1 patient (3.7%) There were 25/27 (92.6%) patients with mild and moderate chest pain in which 22/25 (88%) of the patients with marked improvement in symptoms The complications included coughing up blood 14/27 Patients, pneumothorax due to the procedure is 5/27 patients, pleural effusion only one patient The average number of days after hospitalization was 4.8 ± 2.0 days
Conclusion: This study demonstrates the feasibility, efficacy, and safety of radiofrequency ablation for non
small cell lung cancer Additional trials are needed to determine safety and efficacy
Keywords: Non small cell lung cancer, Radiofrequency Ablation
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư
phổ biến nhất trên toàn thế giới trong những thập kỷ
gần đây Theo GLOBOCAN năm 2012 trên toàn thế
giới có khoảng 1.8 triệu, chiếm tổng số 12,9% bệnh
nhân ung thư, trong đó 58% bệnh nhân ở các nước
đang phát triển[3] Ung thư phổi không tế bào nhỏ
(UTPKTBN) chiếm 75 - 80% số bệnh nhân ung thư
phổi Đối với bệnh nhân giai đoạn sớm, điều trị ngoại
khoa có thể đạt được tỉ lệ sống còn 5 năm đến 40%
Tuy nhiên, đáng tiếc là phần lớn bệnh nhân được
chẩn đoán ở giai đoạn muộn, trong đó giai đoạn III
chiếm khoảng 35%[4, 5] Trong các phương pháp điều
trị ung thư phổi, phẫu thuật cắt bỏ khối u phổi kèm
vét hạch có/ không phối hợp điều trị hóa chất hoặc
xạ trị là phương pháp điều trị tốt nhất Tuy nhiên chỉ
có khoảng 15-20% bệnh nhân còn khả năng phẫu
thuật, còn lại phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn hoặc
có bệnh nội khoa phối hợp và một số bệnh nhân từ
chối phẫu thuật[5] Một phương pháp được lựa chọn
trên những bệnh nhân này là đốt sóng cao tần[6]
Năm 2008 lần đầu tiên phương pháp điều trị
khối u phổi bằng đốt sóng cao tần (Radio frequency
ablation) được Riccardo Lencioni báo cáo thử
nghiệm trên 106 bệnh nhân[7] Cho đến nay phương
pháp này được sử dụng ở nhiều trung tâm trên thế
giới và trở thành 1 lựa chọn trong điều trị ung thư
phổi Tại Việt Nam phương pháp đốt sóng cao tần
điều trị u phổi được triển khai đầu tiên từ năm 2013,
tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch[8].Từ tháng 1/2014
tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An được tiếp nhận
chuyển giao kỹ thuật từ bệnh viện Phạm Ngọc
Thạch, phương pháp điều trị ung thư phổi bằng nhiệt
sóng cao tần được tiến hành cho khá nhiều bệnh
nhân Cho đến nay có rất ít nghiên cứu trong nước
về ứng dụng đốt nhiệt cao tần trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ và cũng chỉ dừng lại những nhận xét bước đầu do hạn chế về thời gian và số lượng bệnh nhân Chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ hiệu quả điều trị cũng như các tai biến thường gặp của phương pháp Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu sau:
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ
Đánh giá kết quả sớm, một số tai biến, biến chứng của phương pháp đốt sóng cao tần
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng với cỡ mẫu thuận tiện 27 trường hợp bị ung thư phổi không tế bào nhỏ được điều trị bằng đốt sóng cao tần bằng máy Cool-tip RF Ablation system E series Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Ung bướu Nghệ An từ tháng 11/2014 đến 5/2017 Sau khi hoàn thành thủ thuật đốt u phổi bằng sóng cao tần, chúng tôi tiến hành ghi nhận các tai biến, biến chứng, cũng như ghi nhận sự cải thiện triệu chứng lâm sàng, đánh giá lại thay đổi đường kính khối u và tính chất tăng quang của khối
u sau 1 tháng thực hiện thủ thuật so với trước khi can thiệp
Chúng tôi thực hiện kỹ thuật và đánh giá kết quả đốt u phổi bằng sóng cao tần theo các hướng dẫn tham khảo từ y văn thế giới
Quy trì nh kỹ thuật
Bệnh nhân phải nhịn đói bữa sáng trước thủ thuật và nằm nội trú ở bệnh viện ít nhất một ngày
Trang 3Các bệnh nhân này được kiểm tra toàn bộ các xét
nghiệm thường quy, không có chống chỉ định đốt u
phổi bằng sóng cao tần (u phổi cách phế quản chính
dưới 1cm, u phổi kèm xẹp phổi hoặc viêm phổi tắc
nghẽn, bệnh nhân có rối loạn đông máu không kiểm
soát được, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên
cứu) Thủ thuật được thực hiện tại phòng chụp cắt
lớp vi tính của bệnh viện Bệnh nhân được thở oxy
liên tục từ 5‐8 lít/phút, tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp
Ketorolac 0,5mg/kg, truyền tĩnh mạch Propolol 1‐
2mg/kg/giờ và Remifentanil 0,1mcg/kg/giờ Các dấu
hiệu sinh tồn được theo dõi liên tục trong lúc thực
hiện và một giờ sau thủ thuật Vị trí và hướng đâm
kim vào u phổi được hướng dẫn bởi chụp cắt lớp vi
tính lồng ngực và sự hỗ trợ của robot Maxio định vị
Hướng đưa kim vào u phổi phải được cân nhắc
trước để tránh mạch máu lớn, khí quản, và các cơ
quan quan trọng khác Sau khi tiền mê và bệnh nhân
ngủ yên, thủ thuật viên sẽ sát khuẩn da và gây tê
bằng lidocaine 2% rồi đưa một cây kim điện cực qua
da vào chính giữa khối u Đồng thời hai tấm điện
cực khác được đặt ở hai đùi của bệnh nhân Kim
điện cực này và hai tấm điện cực ở hai đùi sẽ được
nối với máy phát sóng cao tần Sự chênh lệch về
diện tích bề mặt của kim điện cực khá nhỏ so với
diện tích bề mặt khá lớn của hai tấm điện cực ở hai
đùi của bệnh nhân sẽ tạo ra nhiệt năng tập trung
xung quanh kim điện cực nhằm giúp tiêu diệt tế bào
ung thư Căn cứ vào đường kính u phổi mà thủ thuật
viên sẽ điều chỉnh thời gian đốt Điều kiện lý tưởng
là chu vi đốt phải rộng hơn chu vi của khối u từ
0,5‐1cm Kim điện cực được dùng một lần cho mỗi
một bệnh nhân Trước, trong và sau thủ thuật bệnh
nhân luôn được chụp cắt lớp vi tính lồng ngực để
đánh giá tổn thương, hướng kim và các biến chứng
có thể xảy ra như tràn khí màng phổi, tràn khí dưới
da, tràn máu màng phổi… Nếu các dấu hiệu sinh
tồn ổn định, các xét nghiệm sau đó không có thay
đổi gì đáng kể, không có biến chứng nào được ghi
nhận, bệnh nhân có thể được ra viện sau 24 giờ
thực hiện thủ thuật Nếu có bất kỳ biến chứng nào
được ghi nhận, chúng tôi sẽ kịp thời điều trị hợp lý
cho đến khi bệnh nhân ổn định hoàn toàn mới cho
xuất viện[6]
Xử lý số liệu: Các số liệu sau khi thu thập sẽ
được mã hóa và nhập vào máy vi tính, sử dụng
phần mềm SPSS 16 để xử lý Thực hiện phép kiểm
chính xác của Fisher Ngưỡng ý nghĩa là 0,05
(p < 0,05) để chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống
kê
KẾT QUẢ
Đặc điểm bệnh nhân
Tuổi và giới
Bảng 1 Tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu
Tuổi
Số
Số
Số
≤ 50 0 0 2 15.4 2 7.4
50-59 3 21.4 6 46.2 9 33.3
60 –
69 8 57.2 3 23.2 11 40.8
≥ 70 3 21.4 2 15.4 5 18.5
Tổng
Nhận xét: Từ tháng 11/2014 đến 5/2017 chúng tôi ghi nhận thực hiện thủ thuật sóng cao tần điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ 27 bệnh nhân, tỷ lệ nam/nữ là 1,07/1 Tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 62,0 ± 9,0 tuổi trong đó tuổi thấp nhất
là 41, cao nhất là 83
Giai đoạn bệnh
Về giai đoạn bệnh, có 6 bệnh nhân (22,2%) bị ung thư phổi giai đoạn IV không có chỉ định phẫu thuật, 17 bệnh nhân nhân có bệnh phối hợp như suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay già yếu chống chỉ định phẫu thuật và 4 bệnh nhân không đồng ý phẫu thuật
Kíc h thước u
Bảng 2 Kích thước u
T ỷ lệ % 63.7 21.2 15.1 Nhận xét: Kích thước u phổi trên hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực thấy có 12 (36,3%) bệnh nhân có đường kính u phổi > 30mm, trong đó có 5 bệnh nhân (15,1%) có đường kính u phổi từ
> 50mm
Giải phẫu bệnh
Thể giải phẫu bệnh hay gặp nhất là ung thư biểu mô tuyến với 23 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 85,2%, tiếp theo là ung thư phổi không tế bào nhỏ 3 bệnh nhân, ung thư biểu mô tế bào lớn có 1 bệnh nhân
Kết quả đốt sóng cao tần
Chúng tôi đánh giá hiệu quả điều trị đốt u phổi bằng sóng cao tần dựa vào so sánh đường kính của
u, đặc tính của u, tính chất cản quang của u phổi trước và sau thủ thuật một tháng Đồng thời chúng tôi cũng ghi nhận sự cải thiện về triệu chứng lâm sàng có trước và sau khi thực hiện thủ thuật Trước thủ thuật có 25 bệnh nhân có triệu chứng đau ở mức
độ nhẹ và vừa, kết quả sau đốt sóng cao tần 1 tháng chỉ còn 3 bệnh nhân còn triệu chứng đau Có 24
Trang 4TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 195
bệnh nhân bị gầy sút cân trước khi vào viện, sau đốt
vẫn còn 2 bệnh nhân gầy sút cân, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 Kết quả này cho
thấy có sự cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng
sau 1 tháng RFA
Bảng 3 Số lần đốt sóng cao tần
Nhận xét: Bệnh nhân được đốt sóng cao tần 1
lần chiếm tỷ lệ khá cao 77,7% Trung bình mỗi bệnh
nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ được đốt sóng
cao tần 1,2 lần
Bảng 4 Các loại kim sử dụng, thời gian đốt sóng
Lo ại
kim
(N = 27)
S ố lần sử dụng T l ệ ỷ
%
Th ời gian đốt trung bình (phút)
15*
1cm Không sử dụng lần nào do
kích thước khối u phần lớn
trên 1cm 20*1cm
8,4
13,7
Nhận xét: Thời gian đốt sóng cao tần trung bình
cho 27 bệnh nhân là 10,7 phút
Bảng 5 Đáp ứng điều trị sau một tháng thực hiện
thủ thuật
Đáp ứng hoàn toàn 0 0
Đáp ứng 1 phần 25 92,6
Bệnh tiến triển 1 3,7
Nhận xét: Tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 96,3%, có 1
bệnh nhân tiến triển, chiếm 3,7%
Bảng 6 Các tai biến, biến chứng
Các tai bi ến, biến chứng Số bệnh nhân T ỷ lệ %
Tràn khí màng ph ổi 5 18,5
Tràn khí màng phổi phải 2 7,4
d ẫn lưu Tràn máu màng ph ổi 1 3,7 Viêm ph ổi sau thủ thuật 3 11,1
BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhân
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cũng gần tương đương với kết quả của Sano Y (2007) nghiên cứu trên 137 bệnh nhân cho kết quả
độ tuổi trung bình của bệnh nhân 62,9 tuổi (34-88 tuổi)[9] Không khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi theo giới tính (p > 0,56)
Kích thước trung bình của khối u là 26mm, trong đó khối u có kích thước từ < 30cm chiếm tỷ lệ cao nhất 63,6%, kết quả này cho thấy kích thước trung bình khối u trong nghiên cứu chúng tôi lớn hơn
so với nghiên cứu của Lencioni (2008) trên 106 bệnh nhân với kích thước trung bình của khối u là 15
mm[7] Điều này có thể giải thích một phần do tỷ lệ phát hiện sớm bệnh ở nước ta thấp hơn nhiều so với các nước Châu Âu
Kết quả đốt sóng cao tần
Số lần đốt sóng cao tần trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với báo cáo của Chan
VO (2010) tổng hợp nhiều nghiên cứu với cỡ mẫu là
1584 bệnh nhân với số đợt đốt sóng cao tần là 2905 lần, trung bình mỗi bệnh nhân được RFA 1,8 lần[10] Theo bảng 5: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
có tỷ lệ kiểm soát bệnh cao hơn ít so với nghiên cứu của Pennathur A (2009) trên 100 bệnh nhân là 82,0% Có sự khác biệt này có lẽ một phần do độ tuổi trung bình bệnh nhân trong nghiên cứu Pennathur A cao hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi 73,5 tuổi so với 62,0 tuổi[11]
Sau thủ thuật, có 5 trường hợp tràn khí màng phổi lượng ít, theo dõi sau 24 giờ có 2 (chiếm 7,4%) trường hợp tràn khí màng phổi lượng nhiều phải tiến hành dẫn lưu màng phổi vừa phải đặt ống dẫn lưu kín màng phổi Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Sano Y (2007) có 11,8% bệnh nhân sau RFA phải dẫn lưu khoang màng phổi[9] Nghiên cứu đốt u phổi bằng sóng cao tần của Simon và cộng sự có 52/183 (28,4%) trường hợp bị tràn khí màng phổi, trong đó có 18/183 (9,8%) trường hợp phải đặt ống dẫn lưu kín màng phổi Nghiên cứu đốt
u phổi bằng sóng cao tần của Fernandovà cộng sự
có 7/18 (39%) trường hợp tràn khí màng phổi phải đặt ống dẫn lưu kín nhưng trong nghiên cứu này có
2 bệnh nhân đốt u phổi qua mở lồng ngực tối thiểu[12] Nghiên cứu của Lee có 2/32 (6,2%) trường hợp phải đặt ống dẫn kín màng phổi và 1 trường
Trang 5hợp rối loạn chức năng hô hấp (3,1%) Như vậy, các
biến chứng của đốt u phổi bằng sóng cao tần là
tương đối nhẹ và dễ xử trí[13]
Sau thủ thuật có 1(3,7%) bệnh nhân có tràn
dịch màng phổi lượng ít, theo dõi không thấy dịch
nhiều thêm
Tỷ lệ này cũng tương tự nghiên cứu Pennathur
A cho kết quả có 3/100 (3%) bệnh nhân có tràn dịch
màng phổi Có 3 (11,1%) trường hợp bị viêm phổi có
đáp ứng tốt với điều trị kháng sinh, sau 1 tháng kiểm
tra thấy kích thước tổn thương co nhỏ hơn và có
hoại tử trung tâm cũng như tăng quang nhẹ sau cản
quang[11] Không có tai biến nặng hoặc tử vong liên
quan thủ thuật Số ngày trung bình nằm viện sau thủ
thuật là 4,8 ± 2,0 ngày, ít hơn rất nhiều so với phẫu
thuật lấy u dài hơn so với nghiên cứu
của Fernando (2,5 ngày)[12] Sự khác biệt này có thể
do một số bệnh nhân thực hiện thủ thuật vào ngày
thứ năm, thứ sáu trong tuần, không thể xuất viện
vào thứ bảy và chủ nhật nên có thể làm kéo dài
thêm ngày nằm viện Ngoài ra có một trường hợp có
biến chứng viêm phổi phải điều trị dài ngày sau thủ
thuật
KẾT LUẬN
Nghiên cứu tiến hành điều trị đốt sóng cao tần
cho 27 bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ tại
bệnh viện Ung bướu Nghệ An chúng tôi rút ra kết
luận sau
- Độ tuổi trung bình độ tuổi trung bình của bệnh
nhân 62,0 tuổi Hầu hết các khối u có kích thước bé,
u ≤ 30mm chiếm tỷ lệ cao nhất 63,6%, có 5 bệnh
nhân có kích thước u > 50mm
- Kết quả bước đầu cho thấy điều trị ung thư
phổi không tế bào nhỏ bằng đốt sóng cao tần là
phương pháp điều trị tương đối an toàn, hiệu quả
đáng ghi nhận với tỷ lệ kiểm soát bệnh sau 1 tháng
cao đạt 96,3%, chỉ có 1 (3,7%) bệnh nhân tiến triển
Các tai biến, biến chứng hay gặp chủ yếu là ho ra
máu, tràn khí màng phổi, chủ yếu ở mức độ nhẹ,
không có trường hợp nào biến chứng nặng hay tử
vong
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Takao Hiraki, Hideo Gobara, and Toshihiro
Iguchi (2014) Radiofrequency ablation for early
stage nonsmall cell lung cancer BioMed
Research International, p.1-11
2 Beland.MD (2010) Interventional procedure
overview of percutaneous radiofrequency
ablation for primary or secondary lung cancers
National istitute for health and clinical excellence, p.1-36
3 GLOBOCAN 2012
4 Nguyễn Bá Đức, Trần Văn Thuấn, Nguyễn Tuyết Mai (2010) Điều trị nội khoa Ung thư, tr 81-93
5 Nguyễn Văn Hiếu (2015) Ung thư học,
tr.153-169
6 Percutaneous radiofrequency ablation for primary or secondary lung cancers, p 9-36
7 Lencioni, R (2008) Lung cancer can be treated with radiofrequency ablation (Rapture study) The Lancet Oncology
8 Đinh Trọng Toàn, Nguyễn Đức Bằng, Nguyễn Huy Dũng và cộng sự (2013) Đốt u phổi ác tính
bằng sóng cao tần ở bệnh nhân không thể phẫu thuật: Nghiên cứu loạt ca lâm sàng trên 32 bệnh nhân Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh, số 3, tr 2017-213
9 Sano Y, Kanazawa S, Gobara H et al (2007) Feasibility of percutaneous radiofrequency ablation for intrathoracic malignancies: A large single-center experience Percutaneous radiofrequency ablation for primary or secondary lung cancers, p.7
10 Chan VO, McDermott S, Malone DE et al (2010) Percutaneous radiofrequency ablation of lung tumors Evaluation of the literature using evidence-based techniques Percutaneous radiofrequency ablation for primary or secondary lung cancers, p.16-36
11 Pennathur A, Abbas G, Gooding WE et al (2009) Image-guided radiofrequency ablation of lung neoplasm in 100 consecutive patients by a thoracic surgical service Percutaneous radiofrequency ablation for primary or secondary lung cancers, p.13-36
12 Fernando HC, Schuchert M, Landreneau R et al (2010) Approaching the high-risk patient: sublobar resection, stereotactic body radiation therapy, or radiofrequency ablation Percutaneous radiofrequency ablation for primary or secondary lung cancers, p.28-36
13 Lee JM, Jin GY, Goldberg SN, et al (2004), Percutaneous radiofrequency ablation for inoperable non‐small cell lung cancer and metastasis: preliminary results, Radiology, 230,