1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiệu quả sử dụng thuốc ức chế tyrosin kinase trên bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ

4 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 10,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thuốc ức chế hoạt tính tyrosine kinase (TKI, tyrosine kinase inhibitor) của EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor) giúp kéo dài hơn thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa. Bài viết trình bày nghiên cứu hiệu quả và an toàn thuốc TKI trên các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa.

Trang 1

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM

188

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: T huốc ức chế hoạt tính tyrosine kinase (TKI, tyrosine kinase inhibitor) của EGFR (Epidermal Growth Factor Receptor) giúp kéo dài hơn thời gian sống thêm ở bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa

Mục tiêu: Nghiên cứu hiệu quả và an toàn thuốc TKI trên các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ

giai đoạn tiến xa

Phương pháp và đối tượng: Các bệnh nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa (IIIB và IV)

được điều trị bằng TKI tại bệnh viện Ung Bướu Nghệ An từ 1/2014 đến 6/2017

Kết quả: Độ tuổi trung bình của 21 bệnh nhân là 61,5 (33-86) tuổi, lý do vào viện chủ yếu là đau tức ngực

Cơ quan di căn hay gặp là dịch màng phổi và xương, chiếm 31,6%, tiếp theo là gan và não lần lượt là 21,0%

và 10,5% T ỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 66,6%, có 7 bệnh nhân bệnh tiến triển chiếm 33,3% Thời gian sống trung bình bệnh không tiến triển và thời gian sống trung bình toàn bộ tương ứng là 10,0 tháng và 12,0 tháng Tác dụng không mong muốn trên da và niêm mạc chiếm tỷ lệ cao 23,8%, các độc tính ở mức độ nhẹ

Kết luận: Thuốc TKI cho hiệu quả đáng ghi nhân, độc tính thấp đã giúp điều trị nhiều bệnh nhân ung thư

phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa hơn với một kết quả tốt hơn

Từ khóa: Thuốc ức chế TKI, ung thư phổi không tế bào nhỏ

SUMMARY

Abstract results of treating advanced-stage non small cell lung cancer by tyrosine kinase inhibitor Background: The Epidermal Growth Factor Receptor (EGFR) tyrosine kinase inhibitor (EGFR) prolongs

the survival time of patients with advanced stage non-small cell lung cancer

Objective: To study the efficacy and safety of TKI in patients with advanced stage non-small cell lung

cancer

Methods and objects: Patients with advanced stage non-small cell lung cancer (IIIB and IV) were treated

with TKI at Nghe An Oncology Hospital from 1/2014 to 6/2017

Results: The mean age of 21 patients was 61.5 (33-86) years, the reason for hospitalization was mainly

chest pain Frequent metastases are pleural fluid and bones, accounting for 31.6%, followed by liver and brain 21.0% and 10.5%, respectively The rate of disease control was 66.6%, with seven patients with progressive disease accounting for 33.3% Progression-free survival (PFS) and overall survival (OS) was 10.0 months and 12.0 months, respectively Unwanted effects on skin and mucous membranes are high 23.8%, mild toxicity

Conclusion: TKIs have a remarkable effect, low toxicity, which has helped many patients with advanced

stage non-small cell lung cancer with a better outcome

Key words: TKI, non-small cell lung cancer

1TS.BS Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

2ThS.BS Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

3 BS Trưởng Khoa Nội I - Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

Trang 2

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 189

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư phổi là một trong những bệnh ung thư

phổ biến nhất trên toàn thế giới trong những thập kỷ

gần đây Theo GLOBOCAN năm 2012 trên toàn thế

giới có khoảng 1,8 triệu, chiếm tổng số 12,9% bệnh

nhân ung thư, trong đó 58% bệnh nhân ở các nước

đang phát triển[1] Ung thư phổi tế bào không tế bào

nhỏ (UTPKTBN) và ung thư phổi tế bào nhỏ

(UTPTBN) là 2 nhóm bệnh lý chính của ung thư

phổi, trong đó UTPKTBN chiếm khoảng 85-90%[2]

Điều trị bệnh nhân ung thư phổi không tế bào

nhỏ (UTPKTBN) phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai

đoạn bệnh, mô bệnh học, đặc điểm phân tử, thể

trạng chung và các bệnh phối hợp Đối với giai đoạn

sớm, điều trị bệnh với mục tiêu triệt căn, các

phương pháp cơ bản thường là phẫu thuật, hóa chất

bổ trợ, xạ trị Trái lại, khi bệnh đã ở giai đoạn muộn,

mục tiêu không phải là điều trị khỏi, các phương

pháp điều trị toàn thân được áp dụng với mong

muốn kéo dài thời gian sống, giảm nhẹ triệu chứng,

việc duy trì và nâng cao chất lượng sống cho người

bệnh là ưu tiên hàng đầu Với sự nâng cao hiểu biết

về con đường dẫn truyền tín hiệu tế bào, các đích

phân tử đã được nhắm tới trong điều trị, làm thay đổi

đáng kể tiên lượng của nhiều loại ung thư, trong đó

có UTPKTBN Trong các thử nghiệm lâm sàng lớn,

việc điều trị các tác nhân ức chế tyrosine kinase

(TKIs) tác động vào thụ thể yếu tố phát triển biểu bì

(EGFR) ở những trường hợp có đột biến gen EGFR

cho kết quả về sống không tiến triển bệnh cao hơn

một cách có ý nghĩa thống kê so với hóa trị liệu

Thuốc TKI ức chế mạnh sự phosphoryl hóa nội tế

bào của HER1/EGFR HER1/EGFR được bộc lộ trên

bề mặt của những tế bào bình thường và những tế

bào ung thư Trong những mô hình phi lâm sàng, sự

ức chế EGFR phosphotyrosine gây kìm hãm và/hoặc

gây chết tế bào Từ vài năm trở lại đây, ngày càng

nhiều bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn tiến xa có đột

biến gen EGFR được tiếp cận các TKIs trong điều trị

bước 1 và đã cho kết quả khả quan[3-5] Tại khu vực

Bắc Trung bộ chưa có nghiên cứu đánh giá hiệu quả

điều trị của thuốc TKI, vì vậy chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu sau:

1 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh

nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn

tiến xa

2 Đánh giá đáp ứng thuốc TKI trên bệnh nhân

ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đối tượng nghiên cứu

Gồm 21 bệnh nhân có chẩn đoán xác định là

UTKPTBN giai đoạn tiến xa được điều trị bằng TKI

từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2017 tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An

Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu

Chẩn đoán xác định ung thư phổi không tế bào

nhỏ, typ tuyến

Giai đoạn tiến xa, di căn

Có xét nghiệm đột biến EGFR (+)

Đã điều trị bằng thuốc TKI ít nhất 2 tháng Không có bệnh phối hợp chống chỉ định điều trị hóa chất

Chỉ số toàn trạng PS ≤2

Có hồ sơ lưu trữ đầy đủ

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không đạt các tiêu chuẩn trên

Bệnh phối hợp chống chỉ định hóa chất

BN và gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu cắt ngang theo dõi dọc

- Thu thập số liệu: Theo một mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất có sẵn

- Phác đồ nghiên cứu TKI:

Erlotinib 150mg, ngày uống 1 viên

Hoặc Gerffinib 250mg, ngày uống 1 viên

- Các số liệu thu thập và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 16.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm bệnh nhân

Bảng 1 Đặc điểm bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

Độ tuổi trung bình của bệnh nhân 61,5 (33-86)

Giới tính Nam 5 23,8%

Lý do vào viện

Đau tức

Khó thở 08 38,1%

Thời gian phát ≤ 3 tháng 13 61,9%

Trang 3

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM

190

hiện bệnh 3-6 tháng 07 33,3%

≥ 6 tháng 01 5,8%

Thể trạng chung PS 0-1 15 71,4%

Giai đoạn bệnh III

IV

2

19

9,5%

90,5%

Trong nghiên cứu của chúng tôi 21 bệnh nhân

UTPKTBN được điều trị bằng thuốc kháng TKI tại

Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An Các bệnh nhân từ 33

tuổi trở lên, độ tuổi trung bình là 61,5, bệnh nhân

cao tuổi nhất là 86 tuổi Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của nhóm tác giả như nghiên cứu Đỗ

Huyền Nga (2013) có độ tuổi trung bình là 54,92

(32-80), nghiên cứu của Lê Thường Vũ (2013) là 64,2

Tỷ lệ nam/nữ là 1/3,2, thấp hơn rất nhiều với kết quả

nghiên cứu của Đỗ Huyền Nga (2013) 0,89/1[7]

Lý do vào viện chủ yếu là đau tức ngực 76,2%,

tiếp theo là ho chiếm 66,6% và khó thở 38,1% Theo

nghiên cứu của Trần Văn Thuấn (2014) đau tức ngực

cũng chiếm tỷ lệ cao nhất với 76,5% Nghiên cứu của

chúng tôi thấy thời gian trung bình từ khi xuất hiện triệu

chứng đầu tiên đến khi phát hiện bệnh là 3,3 tháng

Trong nghiên cứu số bệnh nhân có chỉ số toàn trạng

kém PS=2 chiếm tỷ lệ khá cao 28,6% Bệnh nhân giai

đoạn IV là chủ yếu chiếm hơn 90%, lớn hơn rất nhiều

so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thái Hòa và cộng

sự (2016) giai đoạn IV chiếm 88,5%[8]

Bảng 2 Các cơ quan di căn

Cơ quan di căn n T ỉ lệ %

Dịch màng phổi 6 31,6

Ph ổi đối bên 2 10,5

Trong 19 bệnh nhân di căn, có 6 bệnh nhân di căn

hai vị trí, trong đó hay gặp nhất là di căn dịch màng

phổi và xương đều chiếm tỷ lệ 31,6%, tiếp theo là di

căn gan 21,0%, não 10,5% Tỷ lệ bệnh nhân di căn

não trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so

với nghiên cứu của Đỗ Huyền Nga (2013) là 28,7%

Đột biến Exon 19 chiếm tỉ lệ cao hơn 57,1%

Đánh giá đáp ứng và một số độc tính

Bảng 3 Đặc điểm điều trị và đáp ứng

Đặc điểm điều trị và đánh giá

đáp ứng Số bệnh nhân Tỷ lệ

(%)

Số CK < 6 tháng 07 33,3%

hóa trị 6-12 tháng

>12 tháng

11

03

52,3% 14,6% Đánh giá

đáp ứng Đáp ứng hoàn toàn

Đáp ứng 1 phần Bệnh ổn định Bệnh tiến triển

0

07

07

07

0 % 33,3% 33,3% 33,3% Tổng số đợt sử dụng thuốc TKI để tiến hành điều trị cho 21 bệnh nhân trong nghiên cứu là 196 tháng, trung bình mỗi bệnh nhân được điều trị 9,3 tháng Tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 66,6%, kết quả này cũng thấp hơn nghiên cứu Mok và cộng sự (2011) là 71,2%, nhưng cao hơn các nghiên cứu của Mitsudomi (2013) và Rosell (2014) lần lượt là 62,1%

và 58,0%[3,5]

Bảng 4 Thời gian sống thêm bệnh không tiến triển

Nghiên cứu cho kết quả thời gian sống thêm bệnh không tiến triển là 10,0 tháng, cao hơn ít so với nghiên cứu của Seto T (2014) và Đỗ Huyền Nga (2017) lần lượt là 9,7 tháng và 8,15 tháng

Bảng 4 Thời gian sống thêm toàn bộ

Thời gian sống thêm trung bình toàn bộ là 12,0 tháng, kết quả này cũng tương đương với nghiên cứu của Đỗ Huyền Nga (2013) là 12,24 tháng

Bảng 5 Độc tính và tác dụng không mong muốn

Độc tính Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4

Hạ BCTT 1 (4,8) - - - Thiếu máu 3 (14,3) - - -

Trang 4

TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 191

Tác dụng không mong muốn Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 4

Trên da, niêm mạc 5 (23,8) 1(4,8) - -

Tiêu chảy 3 (14,2) - - -

Viêm cận móng 2 (9,6) - - -

Kết quả của chúng tôi cho thấy độc tính chỉ gặp

ở mức độ nhẹ, trong đó hay gặp là thiếu máu và

tăng men gan lần lượt là 14,3% và 19,0% Tác dụng

không mong muốn hay gặp trên da và niêm mạc,

nhung chủ yếu ở mức độ nhẹ, chỉ có 1 bệnh nhân ở

mức độ vừa chiếm 4,8% Kết quả này thấp hơn rất

nhiều so với nghiên cứu của Sero T(2014) viêm da

niêm mạc độ III có 19% bệnh nhân, da khô có 58%

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu trên 21 bệnh nhân UTPKTBN

giai đoạn tiến xa được điều trị bằng thuốc TKI tại

Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An trong khoảng thời

gian từ tháng 1/2014 đến hết tháng 6/2017, chúng

tôi rút ra một số kết luận sau:

- Tuổi mắc UTPTBN cao, trong nghiên cứu của

chúng tôi tuổi trung vị là 61,5 (33-86) Triệu chứng

chủ yếu khiến bệnh nhân đi khám là đau tức ngực

chiếm 76,2%, tiếp theo là ho chiếm 66,6%

- Tỷ lệ kiểm soát bệnh là 66,6%, thời gian sống

trung bình bệnh không tiến triển 10,0 tháng, thời

gian sống trung bình toàn bộ đạt 12 tháng

- Độc tính và tác dụng không mong muốn chủ

yếu gặp ở mức độ nhẹ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Globocan (2012)

2 Ronan Kelly (2010) Non Small Cell Lung Cancer The Bethesda Handbook of Clinical Oncology p.35-46

3 Mok T S, Wu Y L, Thongprasert S, et al Gefitinib

or carboplatin-paclitaxel in pulmonary adenocarcinoma N Engl J Med 2009; 361 (10):947

4 Zhou C, Wu YL, Chen G, et al Erlotinib versus chemotherapy as first-line treatment for patients with advanced EGFR mutation-positive non-small-cell lung cancer (OPTIMAL, CTONG-0802): a multicentre, open-label, randomised, phase 3 study Lancet Oncol 2011; 12 (8): 735

5 Rosell R, Carcereny E, Gervais R, et al Erlotinib versus standard chemotherapy as first-line treatment for European patients with advanced EGFR mutation-positive non-small-cell lung cancer (EURTAC): a multicentre, open-label, randomised phase 3 trial Lancet Oncol 2012;

13 (3): 239

6 Le Thuong Vu, Tran Van Ngoc Kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn tiến xa

bằng erlotinib (tarceva) tại khoa phổi bv chợ rẫy

7 Đỗ Huyen Nga (2013) Đánh giá hiệu quả điều trị

của Elortinib (Tarceva ®) trong bệnh ung thư

phổi thể biểu mô tuyến

8 Nguyễn Thị Thái Hòa (2016) Đánh giá kết quả điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn III, IV sau kháng thứ phát với thuốc ức chế tyrosine kynase

Ngày đăng: 30/07/2021, 09:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w