1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi tốt nghiệp THPT

29 303 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn thi tốt nghiệp thpt
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Đề thi
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 362 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng - Phong cách nghệ thuật th

Trang 1

Đề 1: câu1 (3 đ ): nêu hoàn cảnh ra đời tác phẩm Nhật kí trong tù Hình tượng Hồ Chí Minh trong NKTT, Phong cách nghệ thuật thơ HCM qua các tác phẩm.

Câu 2 (7 đ): Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc

Gợi ý:

Câu 1:

- Hoàn cảnh ra đời NKTT: Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 Người bị giải qua 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng tây – Trung Quốc tronghoàn cảnh Cách mạng Việt Nam đang từng giờ, từng phút cần đến Người

- Hình tượng HCM trong NKTT:

+ Vừa kiên cường bất khuất vừa mềm mại tinh tế

+ Vừa ung dung tự tại vừa khắc khoải ngóng trông

+ Vừa lo âu trằn trọc vừavừa lạc quan tin tưởng

Tất cả bắt nguồn từ lòng yêu nước ênh mông, một tấm lòng nhân đạo lớn, cốt cách một Đại Trí, Đại nhân, đại dũng

- Phong cách nghệ thuật thơ HCM trong NKTT:

+ Giản dị trong sáng, hồn nhiên

+Hòa hợp bút pháp cổ điển và hiện đại

+ Bản chất chiến sĩ thường được thể hiện qua hình tượng thi sĩ

+ Một nụ cười hài hước tự trào lấp lánh

Câu 2: Phân tích truyện ngắn “ Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc

Mở bài: Tên truyện Vi Hành được Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp: “Incognito”, in trên báo “Nhân

đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, ngày 19-2-1923 Phạm Huy Thông dịch là “Vi hành” in trong tập “Truyện

và ký” của Nguyễn Ái Quốc (1974) Cùng với vở kịch “Con rồng tre”, truyện “Lời than vãn của Bà Trưng Trắc”, truyện ngắn “Vi hành” này nhằm châm biếm sâu cay tên vua bù nhìn Khải Định khi hắn sang Pháp năm 1922

Truyện đã Vạch trần bộ mặt xấu xa, thối nát của tên vua bù nhìn, đồng thời châm biếm chế giễu chế độ

thực dân Pháp

Thân bài:

Nội dung

1 Một trường hợp nhầm lẫn hiếm có Trong toa điện ngầm Paris, đôi nam nữ thanh niên Pháp tò mò, ma

mãnh nhầm lẫn nhân vật “tôi” là hoàng đế An Nam Ăn mặc, trang sức kệch cỡm: “mũi tẹt, da vàng, nhút nhát, lúng ta lúng túng Có cái chụp đèn chụp lên đầu quấn khăn Ngón tay đeo đầy những nhẫn” Vua An Nam đã vi hành, mọi thứ quý giá đã gửi tuốt ở kho hành lí nhà ga, hay đem đến tiệm cầm đồ Trong lúc xem đem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô phải trả nghìn rưởi phrăng nhưng xem vua An Nam ngồi cạnh chẳng mất một tí tiền nào Hắn

là một tên vua bù nhìn, một tên hề mạt hạng, mà ông bầu Nhà hát múa rối định ký giao kèo thuê đấy

2 Một bức thư gửi cô em họ rất hóm hỉnh để bàn về vi hành của các bậc vua chúa Vua Thuấn cải

trang làm dân cày đi dò la khắp xứ Vua Pie cải trang làm thợ đến làm việc ở công trường nước Anh

Họ là “những bậc cải trang vĩ đại” Còn tên vua bù nhìn An Nam đi vi hành là để xem dân Pháp có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện bằng dân Nam Hay vì chán cảnh làm một ông vua to ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của công tử bé để ăn chơi trác táng

3 Tác giả đã châm biếm sâu cay bọn quan thầy thực dân Mọi người da vàng mũi tẹt đều trở thành

hoàng đế ở Pháp, tất cả những ai da trắng ở Đông Dương đều là những bậc khai hóa Quần chúng Pháp

hễ thấy một đồng bào ta thì lầm tưởng là hoàng đế An Nam mà tò mò chỉ trỏ: “Hắn đấy”, hoặc “xem hắn kìa!” Nhân vật “tôi” đi đâu một bước thì được bọn mật thám “bám lấy đế giày dính chặt… như hình với bóng” để theo dõi

Nghệ thuật

Viết dưới hình thức một bức thư, kết hợp tả, kể nêu giả định và bàn luận.

Những giả định, so sánh đầy ý vị để châm biếm sâu cay Một sự nhầm lẫn “chết người” đã vạch trần chân tướng kẻ đang vi hành trên đất Pháp

Trang 2

Giọng văn châm biếm khinh bỉ Cả quan thầy lẫn tên vua bù nhìn bị vạch trần chân tướng: xấu xa, đê mạt và ghê tởm:

“Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không sao che giấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam

và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế!”

Kết bài : Giọng văn hóm hỉnh và giễu cợt, dựngtình huống nhầm lẫn và giả định, cùng với lối viết ngắn

mang màu sắc văn xuôi hiện đại phương Tây, đã tạo nên tính chiến đấu của truyện “Vi hành” “Vi hành” thể hiện sâu sắc tư tưởng chống chế độ thực dân Pháp và bọn bù nhìn tay sai Nó tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật giản dị mà sắc bén, tính hiện đại và chất trí tuệ trong truyện ký của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp

ĐỀ 2

Câu1(2đ): Anh(chi ̣) trình bày hoàn cảnh ra đời bài thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng

Câu 2(2 đ): Trình bày ngắn go ̣n quan điểm sáng tác văn ho ̣c của Hồ Chí Minh

Câu 3 ( 6 đ) Phân tích đoa ̣n thơ sau trong bài thơ “ Tâm tư trong Tù” của Tố Hữu:

Cô đơn thay là cảnh thân tùTai mở rộng và lòng sôi náo nức

Ở ngoài kia vui sướng biết bao nhiêu!

Nghe chim reo trong gió mạnh lên triềuNghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánhNghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnhDưới đường xa nghe tiếng guốc đi về

Gơ ̣i ý trả lời:

Câu 1 (4 ý):

-Tây tiến là 1 đơn vi ̣ quân đô ̣i được thành lâ ̣p đầu năm 1947, đi ̣a bàn hoa ̣t đô ̣ng ở Tây Bắc Bô ̣ viê ̣t Nam và biêngiới Viê ̣t –Lào

- Chiến sĩ tây tiến phần đông là ho ̣c sinh, thanh niên Hà Nô ̣i Quang Dũng là đa ̣i đô ̣i trưởng

- Đơn vi ̣ Tây tiến chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vâ ̣t chất, bê ̣nh sốt rét hoành hành dữ dô ̣i Tuy vâ ̣y, ho ̣ vẫn phơi phới tinh thần lãng ma ̣n anh hùng

- Khi viết bài thơ này, tác giả đã chuyển dơn vi ̣, đang xa đoàn quân Tây tiến Nhớ đồng đô ̣icũ, ông viết bài thơ

“Tây tiến” năm 1948 ta ̣i làng Phù Lưu Chanh

mở bài: Giới thiê ̣u Tố Hữu và bài thơ Tâm tư trong tù , giới thiê ̣u vi ̣ trí đoa ̣n thơ

- Tháng 4- 1939, giữa lúc đang hoa ̣t đô ̣ng cách ma ̣ng sôi nổi, Tố Hữu bi ̣ đi ̣ch bắt giam trong bốn bức tường

la ̣nh lẽo của nhà giam, ông đã viết Tâm tư trong tù

-Bài thơ là tiếng lòng khát khaotự do của mô ̣t chàng trai trẻ tuổi lần đầu tiên bi ̣ tù đày và cũng là lời tự dă ̣n lòngcủa người chiến sĩ trên con đường cách ma ̣ng đầy chông gai

- Đoa ̣n hai khổ 1 đươ ̣c coi là đoa ̣n hay nhất chiếm được tình cảm người đo ̣c

Thân bài:

- Đoa ̣n thơ miêu tả cuô ̣c sống bên ngoài với bao âm thanh sôi đô ̣ng cuô ̣c sống

+ Nhà thơ lắng nghe được tiếng đời lăn náo nức , tiếng cuô ̣c đời bên ngoài giu ̣c giã, đối lâ ̣p với cuô ̣c sống

nhà tù la ̣nh lẽo, âm u

+ Âm thanh cuô ̣c sống bên ngoàivang lên rô ̣n ràng

+ kết hơ ̣p thính giác và tưởng tượng, tác giả như thấy tất cả cuô ̣c sống bên ngoài thâ ̣t tươi tắn, rô ̣n rã

Tiếng chim hót , tiếng dơi chiều đa ̣p cánh trong bầu trời rô ̣ng rãi, tiếng la ̣c ngựa, tiếng guốc dưới đường xa thâ ̣t

gơ ̣i cảm

Đó chính là những âm thanh bình di ̣ của cuô ̣c sống, những hình ảnh quen thuô ̣c của đời là tiếng go ̣i thiết tha và cảm đô ̣ng

Trang 3

câu thơ kết thúc khổ thơ vang vo ̣ng trong tâm tưởng, đánh thức khao khát tự do.

- Đoa ̣n thơ là cuô ̣c vượt ngu ̣c về tinh thần:

Mă ̣c dù trong cô đơn, trong nhà giam, bi ̣ tách biê ̣t với cuô ̣c sống bên ngoài, nhà thơ vẫn giữ mối liên hê ̣, gắn bó với cuô ̣c sống bên ngoài

- Khổ thơ huy đô ̣ng tối đa thính giác và trí tưởng tượng đã dựng được bức tranh người tù cách ma ̣ng mă ̣c dù bi ̣ giam hãm những vẫn yêu tha thiết cuô ̣c sống Vì vâ ̣y khổ thơ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc

Kết bài: Đoa ̣n thơ trên cùng với cả bài thơ Tâm tư trong tù thể hiê ̣n khát vo ̣ng tự do và sự gắn bó máu thi ̣t với

cuô ̣c sống, không thoát ly ủy mi ̣, không bi quan chán nản Tố Hữu đã khẳng đi ̣nh vi ̣ trí của mình trong thơ ca cách ma ̣ng Những vần thơ tuổi trẻ với những cảm xúc tinh tế đã để la ̣i ấn tượng sâu sắc trong người đo ̣c

ĐỀ 3

Câu1(3đ): Anh(chi ̣) hãy trình bày ngắn go ̣n sự nghiê ̣p văn ho ̣c của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh

Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

Mộ ( chieàu toái)

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không;

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc, Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Di ̣ch thơ:

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhe ̣ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng

Gơ ̣i ý:

Câu1(3đ): Sự nghiê ̣p văn ho ̣c của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh:

- Văn chính luận: có khối lượng lớn và mẫu mực, lâ ̣p luâ ̣n chă ̣t chẽ, lí lẽ xáx đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn

ngữ giản di ̣ trong sáng, có sức thuyết phu ̣c cao

Các tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ Thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vv

- Truyên và kí: Sáng tác chủ yếu từ 1922 đến 1925 Truyê ̣n của Người cô đo ̣ng, ngôn ngữ sáng ta ̣o, kết cấu

đô ̣c đáo, phong cách hiê ̣n đa ̣i

Mô ̣t số tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bô ̣i Châu, Vừa đi đường vừa kể

chuyê ̣n

- Thơ ca Đây là lĩnh vực sáng ta ̣o nổi bâ ̣t trong sự nghiê ̣p văn ho ̣c của Hồ Chí Minh Thơ của người thể hiê ̣n

mô ̣t tâm hồn nghê ̣ sĩ tinh tế, tài hoa, mô ̣t tấm gương nghi ̣ lực phi thường Người sáng tác trên 250 bài thơ được

in trong 3 tâ ̣p: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh.

Câu2(7đ): Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh:

Mở bài: “Mộ” (Chiều tối) bài thơ thất ngôn tứ tuyệt số 31 Hồ Chí Minh viết bài thơ này đang trên

đường bị giải tới nhà lao Thiên Bảo Sau một ngày dài bị giải đi, trời tối dần

Thân bài: Hai câu đầu tả cảnh bầu trời lúc chiều tối Cánh chim mỏi (quyện điểu) về rừng tìm cây trú

ẩn Áng mây lẻ loi, cô đơn (cô vân) trôi lững lờ trên tầng không Cảnh vật thoáng buồn Hai nét vẽ chấm phá (chim và mây), lấy cái nhỏ bé, cái động để làm nổi bật bầu trời bao la, cảnh chiều tối lặng lẽ

và buồn Cánh chim mỏi và áng mây cô đơn là hai hình ảnh vừa mang tính ước lệ trong thơ cổ tả cảnh chiều tối, vừa là hình ảnh ẩn dụ về người tù bị lưu đày trên con đường khổ ải mờ mịt vạn dặm:

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Hai câu cuối là hình ảnh Trời tối rồi, tù nhân bị giải đi qua một xóm núi Có bóng người (thiếu nữ)

Có cảnh làm ăn bình dị: xay ngô Có lò than đã rực hồng (lô dĩ hồng) Các chi tiết nghệ thuật ấy làm

Trang 4

hiện lên một mái ấm gia đình, một cảnh đời dân dã, bình dị, “ấm áp” Nếu chim trời, áng mây chiều đồng điệu với tâm hồn nhà thơ thì cảnh xay ngô của thiếu nữ và lò than rực hồng kia như đang làm vợi

đi ít nhiều nỗi đau khổ của người đi đày khi qua nơi miền sơn cước xa lạ Tương phản với màn đêm baotrùm không gian, cảnh vật là “lò than đã rực hồng” Tứ thơ vận động từ bóng tối hướng về ánh sáng Nócho ta thấy, trong cảnh ngộ cô đơn, nặng nề, bị tước mất tự do, bị ngược đãi, người chiến sĩ cách mạng, nhà thơ Hồ Chí Minh vẫn gắn bó, chan hòa, gần gũi với nhịp đời thường cần lao Câu thơ thứ 3 dịch chưa được hay Chữ “cô em” hơi lạc điệu Thêm vào một chữ “tối” đã mất đi ý vị “ý tại ngôn ngoại” vẻđẹp hàm súc của thơ chữ Hán cổ điển:

“Cô em xóm núi xay ngô tối

Xay hết lò than đã rực hồng”

Bài thơ có cảnh bầu trời và xóm núi, có áng mây, cánh chim chiều Chim về rừng, mây lơ lửng Có thiếu nữ xay ngô và lò than hồng Đằng sau bức tranh cảnh chiều tối là một nỗi niềm buồn, cô đơn, là một tấm lòng hướng về nhân dân lao động, tìm thấy trong khoảnh khắc chiều tối

Kết bài: Nghệ thuật mượn cảnh để tả tình Điệu thơ nhè nhẹ, man mác bâng khuâng, vừa đậm đà màu sắc cổ điển vừa toát lên vẻ đe ̣p hiê ̣n đa ̣i

Tinh tế trong biểu hiện, đậm đà trong biểu cảm là vẻ đẹp trữ tình của bài thơ “Chiều tối” này

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng, Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

II

Đông phương bạch sắc dĩ thành hồng,

U ám tàn dư tảo nhất không;

Noãn khí bao la toàn vũ trụ, Hành nhân thi hứng hốt gia nồng

Hồ Chí Minh

Dịch thơ: I

Gà gáy một lần đêm chửa tanChòm sao đưa nguyệt vượt lên ngànNgười đi cất bước trên đường thẳmRát mặt đêm thu trận gió hàn II

Phương đông màu trắc chuyển sang hồngBóng tối đêm tàn quét sạch không

Bóng tối bao la trùm vũ trụNgười đi thi hứng bỗng thêm nồng

Gơ ̣i ý:

Câu 1 :

-Hoàn cảnh ra đời Vi hành: Chính phủ Pháp đưa Khải Đi ̣nh sang MacXây dự cuô ̣c đấu xảo thuô ̣c đi ̣a nhằm lừa bi ̣p dư luâ ̣n về chính sách “Khai hóa” Nhân sự kiê ̣n đó, Nguyễn Ái Quốc sáng tác “Vi hành” Truyê ̣n viết bằng tiếng Pháp đăng trên báo nhân đa ̣o- cơ quan ngôn luâ ̣n của Đảng cô ̣ng sản Pháp năm 1923

Trang 5

-Mu ̣c đích sáng tác “Vi hành” là va ̣ch mă ̣t Khải Đi ̣nh- mơ ̣t tên vua bù nhìn, mơ ̣t con rới trong tay Thực dân Pháp đờng thời tớ cáo những thủ đoa ̣n xảo trá của Thực dân Pháp đới với nhân dân các nước thuơ ̣c

đi ̣a, châm biếm sự bủa vây bắt bớ của mâ ̣t thám Phápđới với những người Viê ̣t Nam yêu nước trên đất Pháp

Câu 2: Phân tích bài thơ “ Giải đi sớm” của Hồ Chí Minh

Mở bài

Tảo giải (Giải đi sớm) là chùm thơ 2 bài 42, 43 trong “Ngục trung nhật ký” của Hồ Chí Minh Trên đường chuyển lao từ Long An đến Đồng Chính, Hồ Chí Minh viết chùm thơ này Như một trang ký sự của người đi đày thế nhưng đằng sau cảnh sắc thiên nhiên hé lộ một hồn thơ khống đạt, mạnh mẽ và tựtin, yêu đời

Thân bài:

Bài I, ngay câu đầu ghi lại thời điểm chuyển lao: “Gà gáy một lần, đêm chửa tan”

Nhất thứ kê đề dạ vị lan,

Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san;

Đĩ là lúc nửa đêm về sáng Chỉ cĩ chịm sao nâng vầng trăng lên đỉnh núi thu Trăng sao được nhân hĩanhư cùng đồng hành với người đi đày Cái nhìn lên bầu trời trong cảnh khổ ải thể hiện một tâm thế đẹp.Hai câu 3, 4 nĩi về con đường mà tù nhân đang đi là con đường xa (chinh đồ)

Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,

Nghênh diện thu phong trận trận hàn.

Giĩ thu táp vào mặt từng cơn từng cơn lạnh lẽo Trong câu thơ chữ Hán, chữ “chinh” chữ “trận” được điệp lại hai lần (chinh nhân, chinh đồ; trận trận hàn), làm cho ý thơ rắn rỏi, nhịp thơ mạnh mẽ Nĩ thể hiện một tâm thế rất đẹp Mặc dù áo quần tả tơi, thân thể tiều tụy nhưng người chiến sĩ vĩ đại vẫn đứng vững trước mọi thử thách nặng nề: đêm tối, đường xa, giĩ rét…

Bài II, nĩi về cảnh rạng đơng Cái lạnh lẽo, cái u ám của đêm thu cịn rơi rớt lại chốc đã bị quét hết sạch

Đơng phương bạch sắc dĩ thành hồng,

U ám tàn dư tảo nhất khơng;

Phương đơng từ màu trắng đã thành hồng Hơi ấm tràn ngập đất trời, vũ trụ Trước một khơng gian bao

la cĩ màu hồng, cĩ hơi ấm của rạng đơng, “chinh nhân” (người đi xa) đã hĩa thành “hành nhân” :

Nỗn khí bao la tồn vũ trụ,

Hành nhân thi hứng hốt gia nồng

(người đi) Hình như mọi đau khổ bị tiêu tan trong khoảnh khắc Người đi đày đã trở thành con người

“tự do”, thi hứng dâng lên dào dạt nồng nàn Niềm vui đĩn cảnh rạng đơng đẹp và ấm áp Một đêm lạnhlẽo đã trơi qua Tứ thơ vận động từ tối qua rạng đơng tráng lệ, từ lạnh lẽo đến hơi ấm Người đọc cĩ cảm giác nhà thơ đi đĩn bình minh, đĩn ánh sáng và niềm vui cuộc đời

Kết bài: Chùm thơ “Tảo giải” cho thấy tinh thần chịu đựng gian khổ làm chủ hồn cảnh và phong

thái ung dung, lạc quan yêu đời của nhà thơ Hồ Chí Minh trong cảnh đọa đầy “Tảo giải” là bài ca của người đi đày, hàm chứa chất “thép” thâm trầm, sâu sắc mà “khơng hề nĩi đến thép, lên giọng thép”

Trang 6

Câu 2:

Mới ra tù, tập leo núi

Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân

Giang tâm như kính, tịnh vô trần,

Bồi hồi độc bộ Tây Phong Lĩnh

Dao vọng Nam thiên ức cố nhân

tứ tuyệt “Mới ra tù, tập leo núi” được Bác Hồ viết vào rìa một tờ báo Trung Quốc, kèm theo dòng chữ:

“Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác Ở bên này bình yên” Ngoài mục đích bí mật nhắn tin về nước, bài thơ thể hiện một tình yêu nước và thương nhớ đồng chí, bạn bè của Hồ Chủ tịch

Hai câu đầu là hai câu thơ tuyệt bút tả cảnh sơn thủy hữu tình Có mây, núi ôm ấp quấn quýt Có lòngsông như tấm gương trong, không gợn một chút bụi nào! Câu thơ dịch khá hay:

“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,

Lòng sông gương sáng bụi không mờ”

Ba nét vẽ chấm phá đã lột tả được cái hồn cảnh vật Nghệ thuật sử dụng điệp ngữ, nhân hóa và so sánh đã làm hiện lên phong cảnh sơn thủy hùng vĩ và hữu tình Bức tranh sơn thủy được miêu tả ở tầm cao và xa, đậm đà màu sắc cổ điển Trong bối cảnh lịch sử bài thơ ra đời, hình ảnh mây, núi, lòng sông mang hàm nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tâm hồn trong sáng, cao cả và thủy chung của con người.Hai câu 3, 4 thể hiện một tâm trạng rất điển hình của người chiến sĩ cách mạng đang ở nơi đất khách quê người Từ Tây Phong Lĩnh (Liễu Châu) đến Nam thiên là muôn dặm xa cách Vừa leo núi, dạo bước mà lòng bồi hồi, bồn chồn, không yên dạ Leo núi đến tầm cao rồi ngóng nhìn xa (dao vọng) trời Nam, quê hương đất nước mà lòng xúc động “nhớ bạn xưa” (Ức cố nhân):

“Bồi hồi dạo bước Tây Phong Lĩnh

Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa”

Ngôn ngữ thơ trang trọng, giàu biểu cảm, mỗi chữ là một nét, một mảnh tâm hồn của người chiến sĩ vĩ đại “Bồi hồi”, “dao vọng”, “Nam thiên”, “ức cố nhân”… đó là tấm lòng của một con người nặng tình non nước “Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước – Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà”…(Chế Lan Viên)

Ức hữu, ức cố nhân,… là cảm xúc đằm thắm được diễn tả trong nhiều bài thơ “Nhật ký trong tù” Lúc thì “Nội thương đất Việt cảnh lầm than” (ốm nặng) Khi thì “Nghìn dặm, bâng khuâng hồn nước cũ – Muôn tơ vương vấn một sầu nay” (Đêm thu)

Tóm lại, “Mới ra tù, tập leo núi” là một bài thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc Tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu đất nước sâu nặng Hàm súc và mầu sắc cổ điển là vẻ đẹp của bài thơ Sắc điệu trữ tình trong thơ Hồ Chí Minh như dẫn hồn ta ngược thời gian nhớ một vần thơ Kiều tuyệt bút, lóng ta mãi rung động bồi hồi:

“Bốn phương mây trắng mộ t màu,

Trông vời Tổ quốc biết đâu là nhà”.

ĐỀ 6

Câu 1(2 điểm) Anh (chị) nêu những đặc điểm văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975

Trang 7

Câu 2( 8đ) Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh là một áng văn chính luận mẫu mực Anh ( chị) hảy phân tích để làm sáng tỏ nhận định trên.

Gợi ý:

câu 1: Những đặc điểm chủ yếu của văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến 1975

- Lí tưởng và nội dung yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội là đặc điểm nổi bật của VHVN giai đoạn 1945- 1975

- Nền văn học cách mạng mang tính nhân dân sâu sắc

- Một nền văn học có nhiều thành tựu về sự phát triển các thể loại và phong cách tác giả

Câu 2

Mở bài:

19/8/1945 chính quyền ở thủ đô Hà Nội đã về tay nhân dân ta 23/8/1945, tại Huế trước hàng vạn đồng bào ta, vua Bảo Đại thoái vị 25/8/1945, gần 1 triệu đồng bào Sài Gòn - Chợ Lớn quật khởi đứng lên giành chính quyền Chỉ không đầy 10 ngày, Tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám đã thành công rực rỡ

Cuối tháng 8/1945, tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Và ngày 2/9/1945; tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào ta, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới Độc lập, Tự do

Thân bài:

1 Cơ sở pháp lý và chính nghĩa của bản Tuyên ngôn Độc lập là khẳng định quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phú c của con người Đó là những quyền

không ai có thể xâm phạm được; người ta sinh ra phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi

Hồ Chủ Tịch đã trích dẫn 2 câu nổi tiếng trong 2 bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, trước hết là để khẳng định Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng lớn, cao đẹp của thời đại, sau nữa là “suy rộng ra…” nhằm nêu cao một lý tưởng về quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do của các dân tộc trên thế giới

Cách mở bài rất đặc sắc, từ công nhận Nhân quyền và Dân quyền là tư tưởng thời đại đi đến khẳng địnhĐộc lập, Tự do, Hạnh phúc là khát vọng của các dân tộc Câu văn “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là sự khẳng định một cách hùng hồn chân lí thời đại: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc, Bình đẳng của con người, của các dân tộc cần được tôn trọng và bảo vệ

Cách mở bài rất hay, hùng hồn trang nghiêm Người không chỉ nói với nhân dân Việt Nam ta, mà còntuyên bố với thế giới Trong hoàn cảnh lịch sử thời bấy giờ, thế chiến 2 vừa kết thúc, Người trích dẫn như vậy là để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận tiến bộ thế giới, nhất là các nước trong phe Đồng minh, đồng thời ngăn chặn âm mưu tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa của Đờ Gôn và bọn thực dân Pháp hiếu chiến, đầy tham vọng

2 Bản cáo trạng tội ác thực dân Pháp.

- Vạch trần bộ mặt xảo quyệt của thực dân Pháp “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta”

- Năm tội ác về chính trị: 1- tước đoạt tự do dân chủ, 2- luật pháp dã man, chia để trị, 3- chém giết những chiến sĩ yêu nước của ta, 4- ràng buộc dư luận và thi hành chính sách ngu dân, 5- đầu độc bằng rượu cồn, thuốc phiện

- Năm tội ác lớn về kinh tế: 1- bóc lột tước đoạt, 2- độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, 3- sưu thuế nặng nề, vô lý đã bần cùng nhân dân ta, 4- đè nén khống chế các nhà tư sản ta, bóc lột tàn nhẫn công nhân ta, 5- gây ra thảm họa làm cho hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói năm 1945

- Trong vòng 5 năm (1940 – 1945) thực dân Pháp đã hèn hạ và nhục nhã “bán nước ta 2 lần cho Nhật”

- Thẳng tay khủng bố Việt Minh; “thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng”

Trang 8

3 Quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta

- Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa.Nhân dân ta đã nổi dậy giành chính quyền khi Nhật hàng Đồng minh

- Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân và chế độ quân chủ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị

- Chế độ thực dân Pháp trên đất nước ta vĩnh viễn chấm dứt và xoá bỏ

- Trên nguyên tắc dân tộc bình đẳng mà tin rằng các nước Đồng minh “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”:

“Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do Dân tộc đó phải được độc lập

Phần thứ hai là những bằng chứng lịch sử không ai chối cãi được, đó là cơ sở thực tế và lịch sử của bản Tuyên ngôn độc lập được Hồ Chí Minh lập luận một cách chặt chẽ với những lí lẽ đanh thép, hùng hồn

4 Lời tuyên bố với thế giới

- Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập (từ khát vọng đến sự thật lịch sử hiển nhiên)

- Nhân dân đã quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập ấy (được làm nên bằng xương máu và lòng yêu nước)

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá của dân tộc ta, thể hiện phong cách chính luận của

Hồ Chí Minh

- Mộ t lối viết ngắn gọn (950 từ) Có câu văn 9 từ mà nêu đủ nêu đúng một cục diện chính trị: “Pháp

chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” Những bằng chứng lịch sử về 10 tội ác của thực dân Pháp và quá trình đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta là không ai chối cãi được Sử dụng điệp ngữ tạo nên những câu văn trùng điệp đầy ấn tượng: “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những

bể máu” Cách dùng từ sắc bén: “cướp không ruộng đất”, “giữ độc quyền in giấy bạc”, “quỳ gối đầu hàng… rước Nhật”, thoát ly hẳn… xoá bỏ hết… xoá bỏ tất cả…” Hoặc “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, v.v…

Nghệ thuật lập luận chặt chẽ, đanh thép, hùng hồn: “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của

Pháp hơn 80 năm nay/ một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay → dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!” Một luận điểm, một lý lẽ được trình bày bằng 2 luận cứ, dẫn đến 2 kết luận khẳng định được diễn đạt trùng điệp, tăng cấp

Kết bài: - Cùng với bài thơ “Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt, “Bình Ngô đại cáo” của

Nguyễn Trãi, bản “Tuyên ngôn độc lập” quả là áng văn chính luận mẫu mực thể hiện lòng yêu nước nồng nàn, ý chí quyết bảo vệ nền độc lập, phản ánh đúng diện mạo tinh thần và truyền thống chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam trong trường kỳ lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước

“Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh góp phần làm giàu đẹp lịch sử và nền văn học dân tộc, tô thắm tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta./

Trang 9

Sau hơn một năm chiến đấu trong đoàn binh Tây Tiến, Quang Dũng đi nhận nhiệm vụ mới, mùa xuân 1948, viết “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành “Tây Tiến”.

I Vấn đề “đôi mắt” của Hoàng và Độ có cách nhìn khác nhau về người nông dân.

Vấn đề “đôi mắt” là thái độ, là cách nhìn người, nhìn đời, là cách ứng xử với thời cuộc, với cuộc kháng chiến của dân tộc Cũng là nhà văn nhưng Hoàng và Độ sống rất khác nhau “đôi mắt” của họ không giống nhau ở cách nhìn đời, nhìn người và cách sống…

1 Nhân vật Hoàng có cái nhìn rất phiến diện, sai lệch, tàn nhẫn về người nông dân

- Hoàng chỉ nhìn thấy “Một phía”- cái phía ngu độn, lỗ mãng ích kỉ, tham lam, bần tiện” của người nông dân Anh ta nói về người nông dân với thái độ quá bất nhẫn Tản cư về nông thôn nhưng khinh bỉ nông dân, kể xấu họ đủ điều, “mũi nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối”

- Hoàng “ không nhìn thấy cái nguyên cớ đẹp đẽ bên trong” Đó là bản chất yêu nước, tinh thần quật

2 Nhân vật Độcó cách nhìn toàn diện, đúng bản chất của người nông dân

- Một mặt, Độ nhìn thấy ở họ “ Phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương”

- Mặt khác, Độ lại nhìn thấy họ “có thể làm cách mạng được, mà làm cách mạng hăng hái lắm” Đó là bản chất yêu nước và cách mạng của người nông dân

- Sống giản dị, gần gũi quần chúng

• Có một tấm lòng nhân hậu, một cái tâm đẹp, nhìn quần chúng, phát hiện ở họ những phẩm chất tốt đẹp: yêu nước, dũng cảm, nhiệt tình tham gia kháng chiến, v.v…

Độ là một nhà văn, một trí thức tiến bộ Giàu nhân cách Tích cực tham gia kháng chiến Khẳng định một tam thế: “Sống đã rồi hãy viết” và Độ đã hăng hái tham gia và phục vụ kháng chiến

• Sở dĩ Độ và Hoàng có cách nhìn khác nhau là vì chỗ đứng của hai người khác nhau Hoàng xa cách với nông dân, dửng dưng với kháng chiến Trái lại, Độ gắn bó với nông dân Anh hăm hở dấn thân: theo nông dân “đi đánh phủ” cướp chính quyền, làm phóng viên mặt trận, làm anh tuyên truyền nhái nhép…

II ý nghĩa tư tưởng của tác phẩm:

Thông qua cách nhìn khác nhau của hai nhân vật Hoàng và Độ về ngườinông dân, Nam cao khẳng định:

- Muốn có cách nhìn đúng phải có lập trường đúng, phải đứng về phía nông dân, gần gũi, gắn bó họ mới nhìn đúng về họ cũng như nhìn đúng cuộc kháng chiến, nhìn đúng cuộc đời này

- Không thể nhìn thấy bề ngoài mà phải nhìn thấu bên trong của sự vật

Kết luận “Đôi mắt” trở thành một tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn sau Cách mạng buổi

nhận đường”

Trang 10

ĐỀ 8

Câu 1 (3 đ) Anh (chị) hãy tóm tắt truyện “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao

Câu 2 (7 đ): Anh ( chị) phân tích đoạn thơ sau đây trong bài thơ “ Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng.Gợi ý:

Câu 1: tóm tắt truyện “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao:

Độ và Hoàng là đôi bạn văn chương ở Hà Nội trước Cách mạng Kháng chiến bùng nổ, Độ trở thành một cán bộ tuyên truyền nhãi nhép Còn Hoàng đưa vợ con đi tản cư về một làng cách xa Hà Nội hàng trăm cây số Vợ chồng anh được người quen cho ở nhờ 3 gian nhà gạch sạch sẽ Vẫn nuôi chó béc giê

Độ đi bộ hàng chục cây số đến thăm Hoàng Vợ chồng Hoàng đón tiếp Độ thân tình, cởi mở Hai vợ chồng anh thi nhau kể xấu người nhà quê đủ thứ: ngu độn, lỗ mãng, ích kỷ, tham lam, bần tiện cả hay hỏi giấy tờ

Viết chữ quốc ngữ sai vần mà lại cứ hay nói chuyện chính trị rối rít cả lên Hoàng kể cho Độ nghe chuyện anh thanh niên vác bó tre làm công tác phá hoại cản cơ giới địch, đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn” dài đến năm trang giấy Chuyện một ông chủ tịch khu phố xuất thân bán cháo lòng, một ông chủ tịch “làng này” cho rằng phụ nữ thì phải “thị này thị nọ”

Người ta mời Hoàng dạy Bình dân học vụ hay làm tuyên truyền, nhưng anh không thể nào công tác với

họ được, thà bị họ gọi là phản động Vợ chồng anh đóng cổng suốt ngày, chỉ giao du với đám cặn bã của giới thượng lưu trí thức cùng tản cư về Hoàng tâm sự với Độ là anh bí lắm nhưng chưa nản vì còn tin vào ông Cụ:

“Dù dân mình có tồi đi nữa, ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường”

Buổi tối hôm ấy, nằm trong màn tuyn trắng muốt, chủ và khách nghe chị Hoàng đọc Tam Quốc Tiếng chị Hoàng thanh thanh Hoàng hỏi Độ là Tào Tháo có giỏi không? Mỗi lần đến đoạn hay, Hoàng

vỗ đùi kêu: “Tài thật! Tài thật! Tài đến thế là cùng! Tiên sư anh Tào Tháo!”

Câu 2: Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài thơ “ Tây Tiến” của nhà thơ Quang Dũng

Tây Tiến đoàn binh không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùmMắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơmRải rác biên cương mồ viễn xứChiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đấtSông Mã gầm lên khúc độc hành

Mở bài: Tây Tiến là phiên hiệu của một đơn vị quân đội ta được thành lập vào đầu năm 1947, gồm nhiều thanh niên học sinh Hà Nội ( trong đó có Quang Dũng), họ chiến đấu trên núi rừng rộng lớn và hiểm trở từ miền Tây Thanh Hóa, tỉnh Hòa Bình tiếp giáp với Sầm Nứa, Lào Sinh hoạt của các chiến sĩ

vô cùng thiếu thốn gian khổ, đặc biệt là bệnh sốt rét hoành hành dữ dội Tuy vậy họ vẫn lạc quan, dũng cảm chiến đấu

Sau hơn một năm chiến đấu trong đoàn binh Tây Tiến, Quang Dũng đi nhận nhiệm vụ mới, mùa xuân 1948, viết “Nhớ Tây Tiến” sau đổi thành “Tây Tiến” Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ

Ở đoạn một là nỗi nhớ về những ngày hành quân gian khổ Đoạn hai là nỗi nhớ về đêm “Hội đuốc hoa”thắm tình quân dân

Đến đoạn này, trong kí ức,Quang Dũng đã vẽ đầy đủ nhất về người chiến sĩ Tây Tiến Cảm hứng chủ đạo nhất ở đoạn này là là cảm hứng bi tráng về cuộc đời chiến đấu đầy gian khổ, sự hy sinh anh dũng của người chiến sĩ Tây Tiến

Những câu thơ trong đoạn này như đã truyền thần được vẻ đẹp độc đáo của đoàn cây tây Tiến:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tócQuân xanh màu lá dữ oai hùmCái độc đáo ở đây là tác giả đã lãng mạn hóa những nét gian khổ để tạo nên biểu tược của sức mạnh, lòng dũng cảm của đoàn quân Trong cái nhìn lãng mạn của nhà thơ, không còn những người lính sốt rét đến rụng tóc mà chỉ còn hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc” lẫm liệt Trong cái nhìn của ông

Trang 11

không có những người lính xanh xao vì đói rét,bệnh tật mà chỉ hiện lên “Quân xanh màu lá dữ oai hùm” Cái hùng đã thay thế cho cái bi Sự hùng tráng thay cho gian khổ hy sinh Cách sử dụng thế đối lập và dùng từ cùng giọng điệu thơ đã làm cho hình ảnh người chiến sĩ đẹp biết bao! Những gian khổ

hy sinh bỗng trở nên thành những biểu tượng hùng dũng hiên ngang của đoàn quân Nét đẹp hào hoa, hào hùng của chiến sĩ tây Tiến là ở đó

Những người lính của đoàn binh không mọc tóc ấy cũng được Quang Dũng tô đậm với những nét không bao giờ quên được:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giớiĐêm mơ Hà Nội dáng kiều thơmHình ảnh mắt trừng là hình ảnh mang vẻ đẹp dữ dội của những tráng sĩ xưa Quang Dũng đã mượn nét đẹp đó để tạo hình cho thế hệ ông Đó là vẻ đẹp mạnh mẽ hào hùng của những người quyết chí ra đi thực hiện nghĩa lớn nhưng trong lòng họ lại đầy ắp những mộng mơ, vẫn mơ về những bóng dáng yêu kiều xứ Hà Nội Hai nét ấy kết hợp với nhau tạo nên chân dung độc đáo của người tây Tiến Họ có ý chínghị lực vượt qua khó khăn lại vừa trữ tình đằm thắm

Người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp bi tráng Họ lặng lẽ hy sinh nơi chiến trường:

Rải rác biên cương mồ viễn xứChiến trường đi chẳng tiếc đời xanhHai câu thơ này thật xúc động rải rác những nấm mồ chiến sĩnằm xuống dọc đường hành quân khiến lòng người bao xót xa tái tê Nhưng họ là người chiến sĩ, họ nhận thức đầy đủ nghĩa vụ của người trai thời chiến Họ sẵn sàng hy sinh “ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Họ coi cái chết nhẹ như như giấc ngủ Hình ảnh “ Chẳng tiếc đời xanh” là thể hiện khát vọng lí tưởng của người chiến sĩ Chính cái lítưởng cao cả đã làm cho câu thơ không còn nhuốm màu bi thương dù hình ảnh những nấm mồ viễn xứ vẫn ám ảnh người đọc

Người lính đã hy sinh, về với đất mẹ:

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Hai câu thất ngôn cân xứng từ ngữ, đăng đối cùng những từ Hán – Việt trang trọng, Quang Dũng đã nói về cái chết bi hùng của người chiến sĩ thật sâu sắc ám ảnh người đọc mãi không nguôi ngoai

Họ nằm xuống trong manh chiếu liệm Nhưng Quang Dũng đã tiễn họ bằng những hình ảnh thật đẹp

“Áo bào thay chiếu anh ” và tiễn các anh bằng “ khúc độc hành” của dòng sông Mã

Người lính nằm xuống với đất đai Tổ Quốc thật lãng mạn, hào hùng

Kết bài: Những bài thơ dựng chân dung người lính độc đáo như Tây Tiến không nhiều Ông miêu tả

họ không phải bằng ngôn từ mà bằng cả những ngày gắn bó cùng đoàn quân Tây Tiến Đã bao năm tháng qua đi, bài thơ tây Tiến và hình ảnh về người lính Tây Tiến một thời gian khổ mà anh dũng mãi mãi không phai trong tâm trí người đọc

ĐỀ 9

Câu 1(2 đ) Nêu tóm tắt giá trị lịch sử và giá trị văn học của bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ

Chí Minh

Câu 2 (8 điểm) Anh (chị) phân tích đoạn thơ sau trong bài “ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm”

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

Xanh xanh bãi mía bờ dâu

Ngô khoai biêng biếc

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc

Sao xót xa như rụng bàn tay

bên kia sông Đuống

Trang 12

quê hương ta lúa nếp thơm nồng

Tranh Đông Hồ gà, lợn nét tươi trong

Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngả

Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã

Bây giờ tan tác về đâu

Gợi ý:

Câu 1 : Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn: tuyên bố chấm dứt chế độ thực dân,

phong kiến ở nước ta và mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do của dân tộc

Tuyên ngôn độc lập là một bài văn chính luận ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục.

Câu 2 phân tích đoạn thơ sau trong bài “ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm”

Mở bài:

Hoàng Cầm - nhà thơ Kinh Bắc, nổi tiếng tài hoa Có nhiều kịch thơ trước năm 1945: “Kiều Loan”;

“Hận Nam Quan”, “Lên đường” Một số tập thơ, tiêu biểu nhất là “Mưa Thuận Thành”, “Về Kinh

Bắc”…

Kháng chiến bùng nổ, Hoàng Cầm đi bộ đội, làm công tác văn nghệ trong Quân đội

Một đêm tháng 4/1948, tại Việt Bắc, được trực tiếp nghe tin giặc đánh phá quê hương mình, Hoàng

Cầm xúc động và ngay đêm ấy viết bài thơ “Bên kia sông Đuống”, một trong những bài thơ hay nhất

của ông

Bài thơ thể hiện tình yêu mến, thương nhớ và tự hào đối với quê hương kinh Bắc; căm giận quân xâm lược đang giày xéo quê hương; niềm tin vào một ngày mai giải phóng, quê hương trở lại thanh bình

Đoạn trích là phần mở đầu của bài thơ “Bên kia sông Đuống” toát lên niềm tự hào về quê hương và nỗi đau xót khi quê hương bị kẻ thù tàn phá

Thân bài:

1 Tự hào về quê hương tươi đẹp giàu truyền thống văn hóa:

- Hai câu thơ mở đầu với tiếng “em” thần tình Không xác định Có thể là người thương trong nỗi

nhớ đồng vọng Có thể là một nhân vật trữ tình xuất hiện mơ hồ trong tâm tưởng thi nhân? Cũng có thể

là sự phân thân của tác giả? “Em” xuất hiện, gợi nhớ gợi thương, để vỗ về an ủi và chia xẻ nỗi đau buồn, thương nhớ Cũng là để thi sĩ khơi nguồn cảm xúc đang dào dạt trong lòng Ý vị đậm đà chất thơ của bài “Bên kia sông Đuống” là ở tiếng “em” và 2 câu thơ này:

“Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống”

Quê hương thanh bình tươi đẹp

* Có dòng sông tuổi thơ

Với Hoàng Cầm thì sông Đuống là dòng sông thơ ấu với bao thương nhớ

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

Xanh xanh bãi mía bờ dâuNgô khoai biêng biếcĐứng bên này sông sao nhớ tiếc

Trang 13

Sao xót xa như rụng bàn tayCon sông đã gắn bó với tâm hồn nhà thơ Nhớ không nguôi “cát trắng phẳng lì”, nhớ nao nao lòng

“Sông Đuống trôi đi - Một dòng lấp lánh”; lấp lánh ánh bình minh, lấp lánh trăng sao soi vào gương sông trong xanh Nhớ về dáng hình, về thế đứng của nó trong lịch sử: “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ” Câu thơ mang hàm nghĩa thế đứng hiên ngang của quê hương trong kháng chiến

* Quê hương trù phú, xinh đẹp Đôi bờ dòng sông quê hương là một màu “xanh xanh” bát ngát, là sắc

“biêng biếc” của bãi mía, bờ dâu, của ngô khoai, là “lúa nếp thơm nồng”

* Có truyền thống văn hóa, là nơi sản sinh những bức tranh Đông Hồ:

Quê hương ta lúa nếp thơm nồngTranh Đông Hồ gà, lợn nét tươi trongMàu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp

2 Quê hương đó đang bị quân thù giày xéo tàn phá

- Nhà thơ sử dụng nghệ thuật tương phản đối lập để làm nổi bật nỗi nhớ tiếc, nỗi xót xa, nỗi đau đớn căm hờn… Tương phản xưa và nay, thuở bình yên với từ ngày khủng khiếp, đối lập giữa cảnh tưng bừng rộn rã với bây giờ tan tác về đâu…

- Giặc Pháp cướp nước là kẻ đã gây ra cảnh chém giết đau thương và điêu tàn khủng khiếp:

- Đây là hình ảnh quê hương bị tàn phá:

“Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

Lưỡi dài lê sắc máu…”

- Tất cả tan tác chia lìa

Mẹ con đàn lợn âm dương

Chia lìa đôi ngảĐám cưới chuột đang tưng bừng rộn rãBây giờ tan tác về đâu

Đó là nỗi đau xót tinh thần lớn lao khiến tác giả “như rụng bàn tay”

Kết bài: Đoạn thơ thể hiện sự gắn bó,niềm tự hào về quê hương xinh đẹp, trù phú, giàu bản sắc dân tộc

và nỗi xót xa, nuối tiếc của Hoàng Cầm khi quê hương bị tàn phá

ĐỀ 10

Câu 1 (2 đ) trình bày ngắn gọn sự nghiệp văn học của Nguyễn ái Quốc – Hồ Chí Minh

Câu 2 (8 đ) Anh ( chị ) hãy phân tích đoạn thơ sau trích trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa đất trời

Gió thổi rừng tre phất phới

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Rừng xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Trang 14

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

Gợi ý

Câu 1 Sự nghiê ̣p văn ho ̣c của Nguyễn ái quốc-Hồ Chí Minh:

- Văn chính luận: có khối lượng lớn và mẫu mực, lâ ̣p luâ ̣n chă ̣t chẽ, lí lẽ xáx đáng, chứng cứ hùng hồn, ngôn

ngữ giản di ̣ trong sáng, có sức thuyết phu ̣c cao

Các tác phẩm tiêu biểu: Bản án chế độ Thực dân Pháp, Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến vv

- Truyên và kí: Sáng tác chủ yếu từ 1922 đến 1925 Truyê ̣n của Người cô đo ̣ng, ngôn ngữ sáng ta ̣o, kết cấu

đô ̣c đáo, phong cách hiê ̣n đa ̣i

Mô ̣t số tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, những trò lố hay là Varen và Phan Bô ̣i Châu, Vừa đi đường vừa kể

chuyê ̣n

- Thơ ca Đây là lĩnh vực sáng ta ̣o nổi bâ ̣t trong sự nghiê ̣p văn ho ̣c của Hồ Chí Minh Thơ của người thể hiê ̣n

mô ̣t tâm hồn nghê ̣ sĩ tinh tế, tài hoa, mô ̣t tấm gương nghi ̣ lực phi thường Người sáng tác trên 250 bài thơ được

in trong 3 tâ ̣p: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh.

“Gió thổi rừng tre phấp phới.

Trời thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha”

Cả đất trời “mát trong” ngào ngạt “hương cốm mới” mang theo trong làn gió thu nhẹ:

“Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

Cái hay của đoạn thơ là giàu cảm xúc hoài niệm hiện về trong hiện tại, “những ngày thu đã xa” sống lại trong “mùa thu này”, tạo nên chất thơ ngọt ngào

2 Đất nước hùng vĩ tráng lệ Vui sướng tự hào trong tâm thế của người chiến sĩ đang làm chủ đất nước.Diễn đạt trùng điệp khẳng định tạo nên âm điệu hào hùng, đĩnh đạc:

“Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Ngày đăng: 24/06/2013, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w