Tiền đề vật chất của sự phân công lao động trong xã hội là số lượng dâncư và mật độ dân số.phải có một mật độ dân số nào đó để có thể phát triển nột cách thuận lợi cho những giao dịch xã
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Xã hội ngày nay càng phát triển, sự phân công lao động là vấn đề đang được quan tâm trong xã hội, cộng đồng nói chung Như chúng ta đã biết việc phân công lao động nó phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, đồng thời
PHẦN NỘI DUNG
I Một số khái niệm liên quan
1 Phân công lao động
Theo quan niệm kinh tế học : “phân công lao động” là sự chuyên môn
hóa lao động, là sự phân chia quá trình lao động thành các giai đoạn, các khâu, các thao tác kỹ thuật để tăng năng xuất và hiệu quả lao động
Theo quan niệm xã hội học: Xã hội học xem xét “lao động” với tư cách
là hiện tượng xã hội nảy sinh, biến đổi và phát triển trong bối cảnh xã hội
2 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là việc chuyên môn hoá người sản xuất, mỗi người chỉ sản xuất một hoặc một vài sản phẩm nhất định, hay nói cách khác: Sự phân công lao động xã hội là cách điều chỉnh hạn chế một cách thích ứng những
cá nhân vào những lĩnh vực nghề nghiệp đặc thù
Đặc điểm và tác dụng của việc phân công lao động xã hội
Đặc điểm
Trang 2Tiền đề vật chất của sự phân công lao động trong xã hội là số lượng dân
cư và mật độ dân số.phải có một mật độ dân số nào đó để có thể phát triển nột cách thuận lợi cho những giao dịch xã hội, cũng như để phối hợp các lực lượng nhờ thế mà năng xuất lao động tăng lên, khi số lượng công nhân tăng lên( do dân số tăng lên ) thì sức sản xuất của xã hội càng tăng lên theo tỷ lệ kép của sự tăng lên đó, nhân với hiệu quả của sự phân công lao động
Sự phân công lao động được hình thành khi có sự phân tán tư liệu sản xuất vào tay nhiều người sản xuất hàng hoá độc lập với nhau Sự phân công lao động xã hội xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của xã hội và đạt những người sản xuất hàng hoá độc lập " đối diện " với nhau, những người này chịu sự tác động rất lớn của quy luật cạnh tranh
Cơ sở của mọi sự phân công ao động phát triển là lấy trao đổi hàng hoá làm mỗt giá và có sự tách rời giữa thành thị và nông thôn
Đối với sự phân công lao động có một quy tắc chung là :puyền lực càng
ít chi phối sự phân công lao động trong xã hội bao nhiêu, thì sự phân sự phân công lao động trong xí nghiệp sản xuất ngày càng phát triển bấy nhiêu, và ở đấy
nó lại càng phụ thuộc vào quyền lực của một cá nhân
Tác dụng
Sự phân công lao động trong xã hội làm cơ sở chung cho mọi nền sản xuất hàng hoá, chính sự phân công lao động trong xã hội làm cho sức lao động trở thành hàng hoá
Sự phân công lao động đặt cơ sở cho việc hình thành những nghề
nghiệp chuyên môn, những ngành chuyên môn nhằm nâng cao sức sản xuất
Sự phân công lao động theo vùng với ngành sản xuất chuyên môm hoá đặc trưng sẽ là yếu tố quyết định sự khai thác có hiệu quả và phát huy thế mạnh
Trang 3của vùng Sự phân công lao động trong xã hội khi đã phát triển đến một trình độ nào đó thì sẽ dẫn đến sự phân công lao động ở tầm vi mô- các xí nghiệp, các hãng sản xuất - điều này làm cho các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm bị chia nhỏ,sản phẩm được hoàn thiẹn về chất lượng, dễ dàng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Sự phân công lao động áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật làm việc sản xuất đi vào chuyên môn hoá, nâng cao tay ngề của người sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội
Sự phân công lao động trong xã hội nông thôn truyền thống
1 Trong công việc gia đình nam và nữ xã hội truyền thống:
1.1 Nam giới.
Nam giới là người trụ cột của gia đình, một người đan ông phải đi làm việc lớn: thi cử, làm quan, được đi học tại trường ở huyện ở tỉnh bằng cuộc thi đình, thi hương, thi hội, đó là tiền đề để xác định người tài giỏi ra lam quan giúp nhà vua và hệ thống quan lại quý tộc hoạt động chuân chu
Thời kỳ phong kiến với sự du nhập của Nho giáo Trong thời kỳ phong kiến, người đàn ông luôn phấn đấu để trở thành mẫu người quân tử với vai trò
là “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”và đây gần như là một nguyên tắc bởi vậy
mọi hành động đi ngược lại quyền lực của người đàn ông được coi là tội lỗi, người đàn ông vẫn là đại diện duy nhất có bổn phận đại diện cho gia đình, và
Trang 4thế là mặc sức rong chơi với những cuộc nhậu mà không cần biết vợ con mình ở nhà ăn gì, nghĩ gì
Chế độ đa thê tồn tại hàng ngàn năm đã để lại nhiều di hại khó gột rửa, vai trò của người đàn ông trong gia đình và xã hội đã tạo ra lợi thế để xác lập chế độ gia trưởng,
1.2 Phụ nữ
Người phụ nữ xưa phải lo toan chăm sóc chồng và các con từ việc ăn uống, vệ sinh, dọn dẹp nhà cửa, bữa cơm gia đình phụ nữ phải chu tất, người phụ nữ luôn ngồi gần nồi để xới cơm cho các thành viên trong gia đình phải nhường gắp thức ăn ngon cho bố mẹ chồng, các con rồi mới đến lượt mình, tư tưởng Nho gia thì địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội chỉ còn
được gói trọn qua ba trạng thái “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” có nghĩa là cả ba giai đoạn của đời người thời thơ ấu, khi trưởng thành,
lúc xế chiều chỉ gói gọn trong hai chữ phục tùng
Gia đình luôn được xem là cái lõi của Nho gia thế nhưng Nho gia chưa bao giờ coi phụ nữ là trung tâm của gia đình và xã hội, mà chỉ được xem như là một bộ phận bên lề, trở thành một cái bóng ủ dột đến tội nghiệp trong chính gia đình mình
Phụ nữ ngày xưa không được đến trường vì cái lẽ đương nhiên là không bao giờ “đái qua ngọn cỏ”, trong khi đó đàn ông có quyền lực gần như vua trong cái “lãnh địa” có tên gọi là gia đình Quanh năm, suốt tháng mọi việc dù giỗ, tết trong làng hay ở họ sự phản kháng của người phụ nữ gần như là con số không, cho nên cam chịu và lặng lẽ của đa số những người phụ nữ đôi khi vẫn được hiểu sai là sự dịu dàng
Hàng ngàn năm Nho đã tước bỏ lâu dài mong ước được bày tỏ của người phụ nữ dù chỉ là một nổi niềm, họ chỉ được phép nhận những gì đàn ông
Trang 5có thể cho chứ không thể ngược lại, càng ở tầng lớp dưới trong xã hội, sự bất công càng lớn
Ở thời kỳ này, cái tuyệt vọng và cay nghiệt đối với số phận của người
phụ nữ còn ở vấn đề sinh con, đẻ cái với quan niệm của xã hội là“bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”(trong ba điều bất hiếu cái lớn nhất là không có con để nối
dõi tông đường) chuyện sinh con trai hay gái là chuyện của chuyện đó, chuyện may rủi thế nhưng đối với nho giáo lại xem tội lỗi này thuộc về người phụ nữ chứ không phải đàn ông
Rồi những người phụ nữ không may mắn đó chỉ biết suy sụp rất nhanh trước sự vô tri của thời gian, họ chẳng biết làm gì hơn khi không sinh con trai theo đúng “đơn đặt hàng” của xã hội, người phụ nữ chỉ biết phục tùng với chức phận nấu cơm, sưởi ấm và … đẻ con Bị trói buộc với vô vàn các bổn phận và nghĩa vụ như không được ăn cơm cùng mâm với chồng, không được lên nhà thờ
thắp nhang lúc “đến tháng”, phải chịu đựng rất lâu, thật nhiều tình cảnh “ông
ăn chả” mà bà không có điều kiện để “ăn nem”.
2 Trước đây vai trò của chồng và vợ trong hoạt động cộng đồng.
2.1 Nam giới.
Còn nhiều sự khác biệt, phân biệt người chồng là chủ gia đình và là người tham gia các hoạt động cộng đồng là chủ yếu, còn người vợ còn bị phân biệt, e dè khi tham gia các hoạt động cộng đồng mà người chồng làm Ví dụ: Trong việc tiếp cận các kênh thông tin, nam giới thường đi hội họp, Đình làng
2.2 Phụ nữ.
Còn phụ nữ đảm nhiệm các công việc đồng áng, chăn nuôi, làm nội trợ Hàng ngày phụ nữ ít thời gian được đi họp hội, làng xã do vậy, họ ít được tiếp cận các kênh thông tin đại chúng để nâng cao nhận thức và hiểu biết Trong việc
Trang 6tham gia họp thôn, nam giới thường giành quyền đi họp nhiều hơn phụ nữ vì quan niệm người chồng là chủ hộ và họ có vai trò quan trọng hơn trong việc đại diện gia đình bàn bạc, tham gia ra quyết định công việc thôn như xây dựng cơ
sở hạ tầng, phát triển kinh tế, sửa chữa đình, chùa Trong quan hệ dòng tộc như họp dòng họ, xây mồ mả, nhà thờ họ, giỗ chạp vai trò và sự tham gia của phụ nữ thấp hơn nam giới vì những quan niệm trọng nam khinh nữ còn khá phổ biến
Chữ ‘Công” theo quan niệm xưa kia (nho giáo) được hiểu là nữ công
gia chánh, tề gia nội trợ, may vá thêu thùa, nuôi dạy con cái khỏe mạnh, chăm ngoan
“Vá may giữ nếp đàn bà
Mũi Kim nhỏ nhặt mới là nữ công” (Gia Huấn Cao)
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ chuẩn mực xây dựng người
phụ nữ trong giai đoạn này là: “Trung hậu, đảm đang, trung với nước với nhà, với chồng con đi xa, với nhân dân đồng bào”
Chữ “Dung” theo quan niệm xưa kia (Nho giáo) được hiểu là vẻ đẹp
hình thức, dáng vẻ bề ngoài, “Dung” là “Dung nhan” Chuẩn mực về vẻ đẹp xưa
với người phụ nữ là vẻ đẹp thùy mị, kín đáo, duyên dáng… như ca dao vẫn thường ca ngợi:
“Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con”
“Ngôn” là lời nói nhã nhặn, kín đáo, nhỏ nhẹ, dễ nghe; phải thưa,
dạ,… Lời nói đẹp còn phải gắn liền với cử chỉ phù hợp, nói năng nhẹ nhàng, cử
chỉ đúng phép tắc, thể hiện sự đoan trang “Ngôn” đòi hỏi người phụ nữ phải
biết nói đúng lúc, đúng chỗ, đúng phép tắc Chuẩn mực trong ngôn từ giao tiếp luôn là điều cần thiết đối với tất cả mọi người bởi nó là phương tiện thể hiện nét đẹp văn hóa của con người
Trang 7“Hạnh” là đức thứ tư, được xem là quan trọng nhất của người phụ
nữ, hạnh trong “Tứ đức”: chỉ hạnh kiểm, đạo đức, lòng nhân hậu, thủy chung
son sắt, giàu tình yêu thương, giữ trọn nề nếp gia phong… Đức hạnh của người phụ nữ được thể hiện qua các mối quan hệ: quan hệ vợ - chồng, con cái - cha
mẹ, …
3.Quyền ra quyết định.
3.1 Nam giới.
Mọi việc, sinh con đẻ cái, làm ăn, gia đình, họ hàng, làng xóm, nôi gì, làm gi, … đều một minh người đan ông trong gia đình quyết định
3.2 Phụ nữ.
Họ chẳng tự thân làm được một việc nào cả, nên các câu ca dao mà các nhà thơ nói lên tất cả
Thơ Hồ Xuân Hương là những tiếng cười chế giễu, đôi khi như ai oán, phản ảnh số phận nghiệt ngã người phụ nữ và chính cuộc đời mình Thơ của bà muốn vượt qua cái suy nghĩ hẹp hòi của chế độ phong kiến về thân phận người phụ nữ và phải sánh tầm với non sông đất nước.Xót thương cho duyên số cũng như thân phận nghiệt ngã của mình,, , hận chế độ,xã hôi phong kiến bất công với người phụ nữ bấy giờ, bà đã sáng tác rất nhiềubài thơ Nôm thể hiện sự bất mãn, thay tiếng nói người phụ nữ, thậm chí bà chửi :
Kẻ đắp chăn chung kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp cảnh chồng chung
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công
Thân này biết ví đường nào nhỉ
Trang 8Thà trước thôi đành ở vậy không
Qua đó như thay tiếng nói người phụ nữ lúc bấy giờ đòi chấm dứt chế
độ cấm kết hôn thời tang chế để người phụ nữ có thể tìm hạnh phúc mới kẻo lỡ tuổi xuân
trong xã hội phong kiến, người phụ nữ lại phải chịu một số phận đầy
bị kịch và đáng thương:
Đau đớn thay thân phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung,
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) Câu thơ trên đã hơn một lần xuất hiện trong sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du giống như một điệp khúc đau thương
Xã hội học hiện đại
Sự phân công lao động theo giới trong gia đình thể hiện rõ trong công việc sản xuất và tạo thu nhập cho gia đình, với những biến đổi khác so với vai trò giới theo quan niệm truyền thống Phụ nữ Việt Nam hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong hoạt động kinh tế Người vợ ý thức đượctầm quan trọng về sự đóng góp thu nhập đối với gia đình
thực trạng vai trò của chồng và vợ trong hoạt động cộng đồng hiện nay: Hiện nay cùng với sự tiến bộ của xh trong quan niêm về giới, vai trò của chồng
và vợ trong hoạt động cộng đồng ngày một bình đẳng hơn, vợ chồng không những san sẻ công việc gia đình mà còn san sẻ cả những công viêc cộng đồng, công việc ngoài xã hội người vợ ngày một có vai trò trong các công việc mà
Trang 9trước đây gọi là to mà người chồng mới xứng đáng để làm Cụ thể là vai trò của người phụ nữ trong sinh hoạt cộng đồng, giao tiếp với xã hội đã từng bước được
mở rộng Họ đã có thể tham gia sinh hoạt cộng đồng như tham gia các tổ chức
xã hội, các phong trào xã hội, các lễ hội truyền thống, tham gia sinh hoạt văn hoá tại địa bàn sinh sống… Như vậy họ đã hoà nhập với cuộc sống bên ngoài chứ không còn bó hẹp trong bếp núc gia đình và chỉ biết có chồng con
Người phụ nữ hiện đại không chỉ lo cơm nước, chăm sóc chồng con mà
họ còn có thể hoạt động sản xuất, tham gia sinh hoạt địa phương, tham gia vào các cuộc thi, các cuộc hội thảo dành cho phụ nữ để khẳng định vị thế của mình trong gia đình và bên ngoài xã hội
Quyền quyết định trong gia đình: Trong gia đình VN, có sự phân chia lĩnh vực ảnh hưởng của hai giới, người vợ quyết định những việc liên quan đến cuộc sống bình thường (chi tiêu hàng ngày: ăn uống, tiền sinh hoạt…), còn nam giới thường có tiếng nói trong những điều được coi là lớn, hệ trọng (ví dụ mua sắm những vật dụng đắt tiền, đi du lịch, mua xe, mua nhà…)
Đối với xã hội hiện đại thì sự khác biệt giữa vợ và chồng trong việc quyết định đã có nhiều thay đổi, bình đẳng hơn giữa vợ và chồng Quyền quyết định trong công việc kinh doanh – sản xuất Trong điều kiện sống của các gia đình hiện nay, người vợ – người phụ nữ đã thực sự trở thành người có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng đời sống kinh tế của gia đình Họ cũng tạo
ra thu nhập không thua kém gì nam giới, thậm chí ở không ít lĩnh vực hoạt động kinh tế họ là người tạo ra nguồn thu nhập chính Chính từ thực tế này mà vị thế kinh tế của người phụ nữ trong các gia đình ngày càng được nâng cao, điều này được thể hiện rõ trong quyền ra quyết định đối với các công việc kinh doanh, sản xuất Tuy nhiên phụ nữ không phải ra quyết định các công việc này một mình mà có sự tham gia của nam giới
* Nguyên nhân
Trang 10- Đây là những biến đổi tích cực và nguyên nhân của những biến đổi này một
mặt là do những thay đổi về nhận thức, tình độ văn hóa của cặp vợ chồng, thay đỏi vai trò kinh tế của người phụ nữ trong gia đình
- Mặc dầu vậy, những trở lực phá ra ở cả hai phía xã hội và cá nhân, nam và nữ vẫn là một rào cản đẻ đặt được một sự bình đẳng nam nữ Tuy nhiên chúng ta không thể phủ sạch trơn rằng vị trí của người phụ nữ xưa và nay không có gì thay đổi chúng ta đã có nhiều thay đổi lớ: nếu như trước đây phụ nữ còn phải chịu đựng sự khống chế từ mọi phía “ tại gia tòng phụ, phu tử ” phụ nữ phải chịu bao khổ sở cơ cực thì ngày nay hok đã có nhiều quyền lợi hơn,độc lập hơn trong việc quyết định cuộc sống của mình Vị trí của họđang dần được khẳng định Tuy nhiên, đó vẫn chỉ bước đầu tiên trong quá trình tìm kiếm sự bình đẳng
và chúng ta sẽ còn phải cố gắng nhiều hơn nữa để đạt được đều đó
Giải pháp
* Kết luận
- Gia đình việt nam đã và đang biến đổi dưới tác động của những biến đổi xã hội và giao lưu văn hóa Địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội được nâng cao dần từng bước Song dường như những chuyển biến tích cực đến với người phụ nữ còn rất chậm so với nam giới Họ được hưởng thụ quá ít so với nam giới Mô hình phân công lao động trong gia đình vẫn còn mang đặc trưng của quan niệm truyền thống Hơn thế nữa, vai trò của người phụ nữ là người vợ, người mẹ lại càng nặng nề hơn khi nền kinh tế vào quá trình CNH-HĐH chưa đủ sức giải phóng người phụ nửa khỏi những lo toan vất vả của đời sống gia đình nông thôn hiện nay
Sự phân công lao động trong các gia đình phần nào còn bị ảnh hưởng bởi quan niệm truyền thống, người phụ nữ chưa nhận thức rõ vai trò, vị trí cũng như quyền lợi của mình trong gia đình Vô hình chung họ lại tạo nên sự bất bình đẳng của phân công lao động trong gia đình mà không hề biết