1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)

94 892 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình nông thôn hiện nay
Tác giả Ngô Thị Phương Huyền
Người hướng dẫn ThS. Phan Nữ Ngọc Lan
Trường học Đại Học Huế
Chuyên ngành Khoa Xã Hội Học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009 - 2013
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 13,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

KHOA XÃ HỘI HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

“BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG CỦA

PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY”

( NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ SƠN HÓA

HUYỆN TUYÊN HÓA - TỈNH QUẢNG BÌNH )

Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn: Ngô Thị Phương Huyền ThS Phan Nữ Ngọc Lan Lớp: XHH-K33

Niên khóa: 2009 - 2013

KHÓA: 2009 - 2013

Trang 2

Lời Cảm Ơn Khóa luận tốt nghiệp là một giai đoạn rất quan trọng để sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, là cơ hội để vận dụng kiến thức tiếp thu được ở nhà trường vào thực tiễn đồng thời trang bị cho chúng ta những kiến thức, kinh nghiệm nhằm nâng cao chuyên môn nghiệp vụ sau này.

Sau một thời gian làm việc hết sức nghiêm túc, chúng tôi đã hoàn thành báo cáo khóa luận với đề tài: “ Bất

bình đẳng về phân công lao động của phụ nữ trong gia đình nông thôn hiện

nay”(nghiên cứu trường hợp tại xã Sơn huyện Tuyên Hóa-tỉnh Quảng Bình) Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Phan Nữ Ngọc Lan , giáo viên

Hóa-hướng dẫn đề tài, người đã chỉ dẫn cho chúng tôi từng bước đi đến ngày hoàn thành báo cáo đề tài.

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ làm việc tại địa bàn xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa-tỉnh Quảng Bình, cũng như toàn thể người dân trên địa bàn đã phối hợp giúp đỡ chúng tôi hoàn

Trang 3

thành tốt những thông tin cần thiết cho đề tài Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa, các thầy cô giáo cùng tất cả các bạn trong lớp đã giúp chúng tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này.

Mặc dù chúng tôi đã cố gắng hết sức nhưng trong một phạm vi nào đó đề tài nghiên cứu này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến nhận xét, đánh giá của các thầy cô giáo và các bạn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên Ngô Thị Phương

Huyền

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Phan Nữ Ngọc Lan

MỤC LỤC

I PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 8

3.1 Mục đích 8

3.2 Mục tiêu 8

3.2.1 Mục tiêu chung 8

3.2.2 Mục tiêu cụ thể: 8

4 Đối tượng - Khách thể - Phạm vi nghiên cứu 9

4.2 Khách thể nghiên cứu 9

4.3 Phạm vi nghiên cứu 9

5 Giả thuyết nghiên cứu 9

6 Câu hỏi nghiên cứu 10

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu 10

7.2 Phương pháp nghiên cứu 11

7.2.1 Phương pháp quan sát 11

7.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu 11

7.2.3 Phương Pháp thảo luận nhóm tập trung 12

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 12

7.2.5 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 13

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn 15

9.1 Ý nghĩa lý luận 15

9.2 Ý nghĩa thực tiễn 15

10 Kết cấu khóa luận 15

II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 17

Trang 5

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Phan Nữ Ngọc Lan

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 17

1 Các khái niệm liên quan 17

1.1 Giới 17

1.2 Giới tính 17

1.3 Phụ nữ 17

1.4 Bình đẳng giới 17

1.5 Bất bình đẳng giới 18

1.6 Vai trò giới 18

1.7 Định kiến giới 18

1.8 Phân biệt đối xử về giới 18

1.9 Nhạy cảm giới 18

1.10 Trách nhiệm giới 18

1.11 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới 18

1.12 Chỉ số phát triển giới (GDI) 19

1.13 Mục tiêu bình đẳng giới 19

1.14 Nông thôn 19

2 Hướng tiếp cận lý thuyết 19

2.1 Lý thuyết tiếp cận giới 19

2.2 Lý thuyết nữ quyền 20

2.3 Học thuyết nhu cầu của A Maslaw 21

2.4 Thuyết về quyền con người 21

2.5 Lý thuyết cấu trúc - chức năng 21

2.6 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới 22

2.7 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về bất bình đẳng giới 24

2.8 Tình hình bình đẳng giới ở Việt Nam 25

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 27

2 Thực trạng bất bình đẳng giới (BBDG) về phân công lao động trong gia đình ở nông thôn tại xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa - tỉnh Quảng Bình 29

Trang 6

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Phan Nữ Ngọc Lan

3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng BBĐG về phân công lao động trong gia

đình ở nông thôn hiện nay 36

4 Hậu quả bất bình đẳng giới (BBĐG) về phân công lao động trong gia đình ở nông thôn tại xã Sơn Hóa - huyện Tuyên Hóa-tỉnh Quảng Bình 44

5 Giải pháp cho vấn đề BBĐG về phân công lao động trong gia đình ở nông thôn 46

CHƯƠNG III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 51

1 Kết luận 51

2 Khuyến nghị 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC

Trang 7

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Phan Nữ Ngọc Lan

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CTXH- GDCT CÔNG TÁC XÃ HỘI- GIÁO DỤC THỂ CHẤT

UBND ỦY BAN NHÂN DÂN

TLNTT THẢO LUẬN NHÓM TẬP TRUNG

PCLĐ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG

PVBCT PHỎNG VẤN BÁN CẤU TRÚC

Trang 8

Nông thôn là đơn vị hành chính, vùng cư trú từ rất lâu trong lịch sử Ở nước

ta, nông thôn vẫn chiếm phần đông dân cư trong tổng số cả nước Cùng với tốc độphát triển kinh tế đất nước thì nông thôn ngày nay cũng có những thay đổi khámạnh mẽ về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, song song với sự pháttriển đó vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần được quan tâm giải quyết Một

trong những vấn đề đáng quan tâm đó là Bất bình đẳng về phân công lao động của

phụ nữ trong gia đình ở nông thôn.

Bất bình đẳng giới là một trong những vấn đề được đặt ra từ lâu ở nhiều quốcgia trên thế giới, và là vấn đề xuất hiện rất lâu trong lịch sử loài người, đặc biệt là

ở Việt Nam, một nước đi lên từ nền nông nghiệp Vấn đề này xảy ra phần lớn ởnông thôn và chủ yếu là đối với phụ nữ Vốn đi lên từ một nước nông nghiệp lạchậu, trình độ phát triển chưa cao, do vậy phần nào những tư tưởng, những quanniệm đặc thù của nông nghiệp đã làm hạn chế nhận thức của người dân về bìnhđẳng giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là với phụ nữ Mặt khác, ở nước

Trang 9

ta tư tưởng “trọng nam khinh nữ” từ thời phong kiến vẫn còn tồn tại Trong xã hội,người phụ nữ luôn là đối tượng yếu thế, luôn phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so vớinam giới trong gia đình cũng như trong các vấn đề xã hội Họ là người có nhiềucống hiến, hy sinh cho gia đình, xã hội nhưng công lao đó không được công nhận,tôn vinh, mà phải chịu sự bất công, bất bình đẳng Chính sự bất công bằng đó làrào cản làm hạn chế năng lực phát triển của người phụ nữ nói chung và đặc biệt làngười phụ nữ nông thôn nói riêng Dường như những quy định, lễ giáo phong kiến,

nề nếp gia phong của dòng tộc, làng quê đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi ngườidân Việt Nam Người phụ nữ nông thôn từ khi mới sinh ra đã bị giáo dục theo kiểu

áp đặt bất công, nên họ luôn cam chịu số phận, coi điều đó là điều tất nhiên phảituân theo Và cứ như thế, những người phụ nữ nông thôn trở nên nhỏ bé trong giađình và ngoài xã hội, họ bị những quan niệm, thành kiến truyền thống đó đè nặng

mà không sao thoát ra được, hết thế hệ này đến thế hệ khác chấp nhận sự bất bìnhđẳng đó

Hiện nay trong các chính sách của Đảng và Nhà nước đã xây dựng, quy địnhđịa vị, quyền của phụ nữ ngày càng được chú trọng hơn Việt Nam được đánh giá

là một trong những quốc gia có nhiều chính sách tiến bộ về vấn đề phụ nữ và bìnhđẳng giới Tuy nhiên điều đó vẫn thiếu sự nhạy cảm giới, chính sách còn chungchung khó thực hiện Vì vậy Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan cần phảixây dựng những chính sách, cơ chế và chương trình cho phù hợp đảm bảo cho nữgiới được tạo điều kiện tham gia mọi mặt của đời sống xã hội và có thể đượchưởng lợi ngang bằng với nam giới, nhất là trong vấn đề phân công lao động Xãhội hiện đại - xã hội chủ nghĩa cộng sản là xây dựng một xã hội không còn bấtcông, không còn bất bình đẳng giới, nhưng để thực hiện được điều đó không phảiđiều đơn giản có thể thực hiện trong một sớm một chiều được Nó cần có sự nỗlực, hợp tác của tất cả các thành viên trong xă hội, các cơ quan tổ chức có thẩmquyền cùng tham gia giải quyết

Sơn Hóa là một xã miền núi thuộc huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Cùngvới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Sơn Hóa cũng có nhiều thay đổi Đời

Trang 10

sống của người dân được nâng cao, cơ sở vật chất được cải thiện Người dân ngàycàng có cơ hội tiếp cận với thông tin và nâng cao chất lượng cuộc sống của mình.Trong sự phát triển đó, Đảng bộ, chính quyền cũng như người dân ở đây đã quantâm hơn đến vấn đề bất bình đẳng giữa nam và nữ giới trong mọi mặt của đời sống

xã hội Tuy nhiên, bên cạnh đó, tư tưởng phong kiến gia trưởng cùng những sựbiến đổi chậm chạp của ý thức xă hội, của các thiên kiến về giới vẫn bám rễ lâu đờicủa các tầng lớp dân cư nên tình trạng bất bình đẳng giới ở nơi đây vẫn diễn ra rấtphổ biến, đặc biệt là trong phân công lao động theo giới Điều này có ảnh hưởngrất lớn đến việc hưởng thụ các nhu cầu cần thiết của phụ nữ, đồng thời cũng đã đểlại những hậu quả nghiêm trọng đối với đời sống kinh tế xã hội nói chung Vì vậy,việc nâng cao nhận thức cho người dân, đặc biệt là phụ nữ nhằm giảm bớt bất bìnhđẳng về phân công lao động theo giới trong gia đình là một vấn đề cấp thiết, đángđược quan tâm

Đây chính là một số lý do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài “ Bất bình đẳng

về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay ( Qua khảo

sát tại xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình).

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Vấn đề bình đẳng giới đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lêninnghiên cứu Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngay từ những ngày đầu cách mạng đã quantâm tới vấn đề này, coi việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế của phụ nữ, thựchiện “nam nữ bình quyền” là một trong những mục tiêu đấu tranh cơ bản của sựnghiệp cách mạng Điều đó được thể hiện bằng các văn kỉện của Đảng Cộng sảnViệt Nam, trong hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề bất bình đẳng của phụ nữnông thôn trong gia đình Chẳng hạn như:

Đề tài nghiên cứu khoa học của bộ Kế hoạch đầu tư- Viện nghiên cứu quản

lý kinh tế Trung ương: “ Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt

Trang 11

Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” do Thạc sỹ nguyễn Thị Nguyệt làm

chủ nhiệm Đề tài này đã cho thấy rằng: Xây dựng chiến lược thúc đẩy bình đẳnggiới là nhiệm vụ đầy thách thức Giới có liên quan đến tất cả mọi lĩnh vực và mọicấp độ phát triển Trong nỗ lực xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳnggiới trong lương, tác giả đã cố gắng tập trung vào yếu tố con người, yếu tố liênquan đến việc làm và yếu tố bên ngoài từ đó tập trung vào những giải pháp thực tế

và những dự thảo cụ thể, ưu tiên việc thực hiện các luật và chính sách hiện hành

mà không phải là khuyến nghị những luật và chính sách mới nhằm tiến tới một xãhội công bằng và phát triển bền vững hơn Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ

về giới là một điều kiện tiên quyết quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách Bởicác chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới phải giải quyết những ý tưởng và địnhkiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ tính và nam tính trong xã hội.Những chiến lược nhằm thay đổi thái độ do đó phải đi cùng với những chiến lượcthay đổi chính sách và phân bổ nguồn lực Trong bối cảnh của Việt Nam, sẽ còncần thời gian để có thể đưa ra những dấu hiệu và sự khích lệ cần thiết để giải quyếtmột số những thành kiến và định kiến này Tuy nhiên, đề tài này chỉ đề cập đếnvẫn đề bất bình đẳng giới ở khía cạnh thu nhập, khác nhau giữa nam và nữ về vấn

đề tiền lương, đề tài của chúng tôi sẽ tìm hiểu sâu hơn về một trong những khíacạnh khác của bất bình đẳng giới đó là phân công lao động trong gia đình [1]

Hội thảo “ Giới và những vấn đề của phụ nữ đương đại” của TS Nguyễn

Bảo Thanh Nghi-Trưởng bộ môn và giảng viên bôn môn Kỹ năng và kiến thứctổng quát, trường Đại học Hoa Sen ngày 25 tháng 9 năm 2012 Mục tiêu của Hộithảo tập trung vào vấn đề bình đẳng giới trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội.Quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước đã và đang tạo điều kiện, cơ hội,

và thúc đẩy phụ nữ tham gia ngày càng nhiều những công việc ngoài xã hội Mặc

dù phụ nữ tham gia vào thị trường lao động khá cao, nhưng họ luôn phải gánh chịunhững thiệt thòi như: bất bình đẳng giới trong giáo dục, trong công việc nội trợ,trong công việc và thu nhập, trong đề bạt thăng tiến, trong chính sách của nhà nước

về tuổi hưu, v.v Phụ nữ nhìn chung đều đảm nhiệm chăm lo con cái, nhà cửa, bếp

Trang 12

núc Việt nam nằm trong khu vực Châu Á nên văn hóa trọng nam khinh nữ rất phổbiến, chưa có bình đẳng trong phân công lao động tái sản suất Ngoài ra, do tácđộng của nền kinh tế thị trường, những biến chuyển về chính trị và xã hội, phụ nữngày nay phải vừa đảm việc nước, đảm việc nhà, và tích cực đóng góp thu nhậpcho gia đình Vai trò kép đè nặng trên vai nhưng họ bị đối xử như vai phụ, lép vếhơn so với nam giới trong việc đưa ra những quyết định quan trọng trong cuộcsống gia đình hàng ngày So sánh giữa nông thôn và thành thị , giữa miền nam vàmiền bắc, giữa thế hệ ngày nay và thế thệ đi trước có sự khác biệt Nông thôn khácnhiều so với thành thị do cách tổ chức lao động và tổ chức gia đình Ở nông thôn,

sự phân chia lao động theo giới rõ rệt hơn, những người sống ở thành thì đa sốtham gia vào việc nhà nhiều hơn Tuy nhiên, do ý thức hệ và ảnh hưởng của vănhóa “chồng chúa vợ tôi” nên nhiều phụ nữ trẻ vẫn là người chịu trách nhiệm chínhtrong công việc nội trợ vì đây là “công việc của đàn bà” Vậy, trong đề tài này, tácgiả đã tập trung tìm hiểu hết tất cả những khía cạnh về bất bình đẳng giới nhưtrong giáo dục, trong công việc nội trợ, trong công việc và thu nhập, trong đề bạtthăng tiến, trong chính sách của nhà nước về tuổi hưu, v.v , trong đề tài của mình,chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu hơn về vấn đề phân công lao động trong gia đình đểthấy được giữa nam và nữ có sự khác biệt rõ rệt ngay từ chính những công việcnhỏ nhặt trong gia đình [2]

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Mai Thị Yến, Lớp K57D1 CTXH –

GDCT làm về vấn đề “ Bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga

Giáp, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa” Đề tài tập trung vào khai thác, tìm hiểu

sâu vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình ở nông thôn tại xã Nga Giáp, huyệnNga Sơn, tỉnh Thanh Hóa Từ đó nhằm nâng cao nhận thức của người dân nóichung, người phụ nữ nông thôn nói riêng về vấn đề bất bình đẳng giới trong giađình Thông qua đó áp dụng các biện pháp, mô hình của phát triển cộng đồng đểgiảm thiểu thực trạng bất bình đẳng trong gia đình ở nông thôn, cũng như làm thayđổi nhận thức của mọi người dân trong xã hội về vấn đề này Đề tài này đã làm rõđược thực trạng bất bình đẳng của phụ nữ trong gia đình ở một số khía cạnh và chỉ

Trang 13

ra được nguyên nhân của những bất bình đẳng đó [3] Trong đề tài của mình,chúng tôi sẽ làm rõ hơn về vấn đề bất bình đẳng giữa nam và nữ giới về phân cônglao động trong gia đình để cho mọi người thấy rõ hơn về vấn đề này.

Đề tài “ Vấn đề bất bình đẳng giới và bạo lực gia đình ở huyện An Lão” của

tác giả Kim Nga Đề tài nêu lên trong thời kỳ đổi mới hiện nay, với mục tiêu xâydựng gia đình đạt bốn chuẩn mực “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc” ngàycàng xuất hiện nhiều tấm gương gia đình tiêu biểu xuất sắc trong công tác xâydựng gia đình hạnh phúc Tuy nhiên vẫn còn xảy ra tình trạng bạo lực gia đình,làm ảnh hưởng đến chuẩn mực, đạo đức lối sống, làm tổn hại đến tinh thần, sứckhỏe, kinh tế gia đình và trật tự xã hội Bạo lực gia đình thì nạn nhân nhiều nhấtvẫn là phụ nữ và trẻ em gái Vậy làm gì để giảm khoảng cách về bình đẳng giới vàphòng, chống bạo lực gia đình, đây là một trong những vấn đề cần quan tâm hiệnnay Tuy nhiên, các báo cáo nghiên cứu đều khẳng định nguyên nhân sâu xa củabạo lực gia đình là: nhận thức về vấn đề bình đẳng giới rất hạn chế, bất bình đẳnggiới là gốc rễ của bạo lực gia đình Quan niệm về bất bình đẳng giới đã có từ rấtlâu trong xã hội, chủ yếu là sự phân biệt của nam giới đối với phụ nữ, đẩy chị emvào vị trí yếu thế, phụ thuộc vào nam giới trong tất cả các hoạt động: kinh tế, vănhoá, giáo dục, chính trị và cả trong sinh hoạt gia đình Vì vậy nạn nhân chủ yếucủa bạo lực gia đình là phụ nữ, trẻ em (chiếm khoảng trên 75%) trong số các vụbạo lực Và nhiều vụ việc khác liên quan đến bất bình đẳng như: Không cho vợtham gia các hoạt động xã hội, chính trị tại địa phương Tác giả đã cho ta thấy rõmột vấn đề bất cập hiện nay đó là bạo lực gia đình, mà nguyên nhân sâu xa của nó

là sự bất bình đẳng giới, trong đó có bất bình đẳng về phân công lao động trong giađình [4] Vậy đề tài của chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu về khía cạnh bất bình đẳnggiới về phân công lao động trong gia đình để thấy được sự khác nhau giữa nam và

nữ giới trong vấn đề này

Tọa đàm bàn về vấn đề “Nghĩ về vấn đề bình đẳng giới” nhằm hưởng ứng

ngày Quốc tế phụ nữ 8/3 ở tỉnh Thừa Thiên Huế Sự quan tâm của gia đình - xã hộiđối với nữ giới là điều thấy rõ, nhưng càng nhìn nhận càng dễ thấy sự bất bình

Trang 14

đẳng giới hiện vẫn còn rất phổ biến, nhất là trong gia đình Không như trước, bâygiờ rất ít phụ nữ chỉ ngồi ở nhà lo nội trợ, họ đã cố xoay xở để có một công việc và

có thu nhập, thậm chí, nhiều lúc thu nhập của người vợ và người chồng “ngangngửa nhau” Thế nhưng, ngoài việc làm kinh tế, người vợ còn phải lo việc nhà,nhất là chăm sóc, dạy dỗ con cái Điều đáng nói, chuyện nuôi dạy con cái khôngđơn giản như trước đây, mà với những tác động của mặt trái thị trường và vớimong muốn con cái mình được an toàn, khoẻ mạnh, thông minh, có môi trường, cơhội học tập tốt, đòi hỏi các bậc phụ huynh rất mất nhiều công sức và tiền bạc Côngviệc gia đình chẳng nhẹ nhàng chút nào, vậy mà nhiều đấng lang quân đã giaokhoán và xem đây là việc riêng của vợ Thực ra, nếu người chồng bận nghiên cứukhoa học hay công việc này nọ, âu cũng là chuyện cần thông cảm, song thực tếkhông phải vậy Thay vì dành chút thời gian chia sẻ công việc với người vợ, nhiềuđức lang quân lại chè chén say sưa ở những quán nhậu, nhà hàng…Trong mắt người

vợ, người con, vai trò của người chồng, người bố vì thế đã không còn “hoàn hảo”nữa Sự bất bình đẳng giới còn diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác, nhất là ở các địa bànnông thôn, miền núi Và hậu quả của sự bất bình đẳng giới đã khiến nhiều vụ bạolực gia đình xảy ra… Một số phụ nữ tâm sự rằng, họ rất yêu mến con gái nhưng họvẫn thích sinh con trai hơn vì sau này “đời nó sướng”, “phận đàn bà, con gái chỉ toàn

cơ cực” Suy nghĩ này xuất phát từ sự bất bình đẳng giới hiện nay Buổi tọa đàm đã

cho thấy phần nào toàn cảnh của phụ nữ ngày nay, họ vừa tham gia công việc ngoài

xã hội, vừa phải còn chăm lo việc nhà mà không có sự chia sẻ của người chồng, đâychính là sự bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình [5]

Qua một số tài liệu trên chúng ta có thể thấy được vấn đề bất bình đẳng vềphân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay đã thu hút khánhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Nhìn chung, chủ đề xuyên suốt các tàiliệu này là vấn đề thực trạng bất bình đẳng giới, nổi bật trong đó là bất bình đẳng

về phân công lao động trong gia đình, cách nhìn nhận của mọi người về vấn đềbình đẳng giới hiện nay Các công trình trên đã cho thấy một cái nhìn khái quát vềvấn đề bất bình đẳng giới Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu

Trang 15

một cách cơ bản và có hệ thống về bình đẳng giới ở khía cạnh phân công lao độngtrong gia đình ở nông thôn trong công cuộc đổi mới Chính vì vậy, tôi chọn đề tài

này mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc nghiên cứu "Bất bình đẳng giới về phân công lao động của phụ nữ trong gia đình nông thôn hiện nay"

( nghiên cứu trường hợp tại xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa-tỉnh Quảng Bình) cả về

phương diện lý luận và thực tiễn

3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục đích

- Cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng vấn đề bất bình đẳng củaphụ nữ trong phân công lao động ở nông thôn Những suy nghĩ, nhận thức của mọingười về vấn đề này đồng thời nêu lên những tâm tư nguyện vọng của mọi người,đặc biệt là phụ nữ để giảm bớt tình trạng bất bình đẳng, từ đó phân tích, lý giảinguyên nhân và hậu quả của thực trạng này

- Thông qua việc nghiên cứu đề tài, đây là một cơ hội để chúng tôi được rènluyện những kĩ năng chuyên ngành đã được học Đồng thời chúng tôi được ứngdụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học vào thực tế cuộc sống, từ đó kiểmnghiệm, bổ sung những thiếu sót trong quá trình điều tra, nghiên cứu

3.2 Mục tiêu

3.2.1 Mục tiêu chung

Khai thác, tìm hiểu sâu vấn đề bất bình đẳng giới về phân công lao động tronggia đình ở nông thôn tại xã Sơn Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Từ đó,đưa ra các kiến nghị thiết thực, nhằm nâng cao nhận thức của người dân nói chung,người phụ nữ nông thôn nói riêng về vấn đề bất bình đẳng giới trong gia đình

Trang 16

- Đưa ra những hậu quả do bất bình đẳng giới về phân công lao động tronggia đình ở nông thôn gây ra.

- Đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳngtrong phân công lao động đối với phụ nữ nông thôn hiện nay

4 Đối tượng – Khách thể - Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề bất bình đẳng giới về phân cônglao động trong gia đình nông thôn

4.2 Khách thể nghiên cứu.

- Chủ thể nghiên cứu: phụ nữ trong gia đình ở nông thôn

- Khách thể nghiên cứu: Các gia đình nông thôn tại xã Sơn Hóa-huyện TuyênHóa-tỉnh Quảng Bình

5 Giả thuyết nghiên cứu

Để định hướng cho nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số giả thuyết sau:

- Hiện nay, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao,tuy nhiên, vấn đề bất bình đẳng giới trong phân công lao động vẫn diễn ra rất phổbiến ở khắp mọi nơi, đặc biệt là ở nông thôn tại xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa-tỉnhQuảng Bình

Trang 17

- Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bất bình đẳng giới trong phâncông lao động, trong đó yếu tố nhận thức của người dân có tác động lớn nhất.

- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng nói chung và cho nhóm phụ nữ nóiriêng kết hợp với việc tác động, tuyên truyền của chính quyền địa phương sẽ gópphần cải thiện tình trạng bất bình đẳng trong phân công lao động của phụ nữ nôngthôn nói chung và tại địa bàn nghiên cứu nói riêng

6 Câu hỏi nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi đưa ra một số câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thực trạng vấn đề bất bình đẳng giới về phân công lao động của phụ nữtrong gia đình nông thôn hiện nay diễn ra như thế nào?

- Yếu tố nào tác động làm đến nhận thức, thái độ, hành vi của vấn đề bất bìnhđẳng trong phân công lao động của phụ nữ nông thôn hiện nay? Xác định và chỉ rõcác yếu tố đó?

- Bất bình đẳng giới trong phân công lao động dẫn đến những hậu quả gì?

- Làm thế nào để góp phần hạn chế thực trạng bất bình đẳng về phân công laođộng đối với phụ nữ nông thôn trong gia đình hiện nay?

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.

7.1 Phương pháp luận nghiên cứu.

Những nguyên tắc và quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sởphương pháp luận đóng vai trò nền tảng xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đềtài Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhận thức giải thích các hiện tượng và các quátrình của đời sống xã hội trong mối quan hệ và phụ thuộc lẫn nhau có tính quy luậtgiữa chúng, đi tìm nguồn gốc của quá trình xã hội trong những mâu thuẫn biệnchứng khách quan nội tại của các sự vật, hiện tượng xã hội

Quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng chúng ta khi nhận thức về sựvật và tác động vào sự vật phải chú ý đến điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể, môitrường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Ở nhiều thời kỳ lịch sử

xã hội khác nhau có những lý luận quan điểm, tư tưởng xã hội khác nhau đó là donhững điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quy định Vì vậy khi giải thích

Trang 18

các hiện tượng đang tồn tại trong xã hội và những biến đổi của nó phải xuất phát từđiều kiện hiện thực của con người trong thời đại cụ thể.

Áp dụng vào trong đề tài này, khi tìm hiểu về vấn đề bất bình đẳng về phâncông lao động của phụ nữ nông thôn, cũng phải xem xét trên những khía cạnh, đặtđối tượng nghiên cứu trong những mối quan hệ với các yếu tố khác Quan niệmphụ thuộc vào nhận thức của phụ nữ cũng như từ phía xã hội trong từng thời kỳlịch sử khác nhau

Trong đề tài này chúng tôi sử dụng một số lý thuyết của xã hội học như: lýthuyết tiếp cận giới, lý thuyết nữ quyền, thuyết về quyền con người, học thuyết nhucầu của A.Maslaw làm phương pháp luận cho nghiên cứu

Ngoài ra, đề tài còn sử dụng hướng tiếp cận khác từ quan điểm của Chủ tịch

Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam về bình đẳng giới

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát sử dụng để thu thập thông tin, những cử chỉ hành động,những biểu lộ cảm xúc bên ngoài của đối tượng Nhằm, khẳng định lại thông tin đượcthu thập từ các phương pháp khác, bổ sung những thông tin mà phương pháp phỏngvấn không thể tiếp cận Trong đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp quan sátchuẩn mực để mô tả đối tượng, để kiểm tra giả thuyết và kiểm tra thông tin từ cácphương pháp khác, nhằm làm rõ hơn và bổ sung các thông tin mà chúng tôi thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu của mình Ngoài ra còn quan sát các vấn đề thôngqua những hiện tượng bên ngoài xã hội, kết hợp với một số phương pháp khác nhưphỏng vấn cấu trúc, thảo luận nhóm tập trung, phỏng vấn sâu để thu được nhữngthông tin cần thiết đạt được mục đích nghiên cứu Áp dụng phương pháp quan sát đểquan sát cách tổ chức, sinh hoạt của từng gia đình trong địa phương; quan sát khôngkhí của gia đình; quan sát thái độ của các thành viên trong gia đình…

7.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Phương pháp phân tích tài liệu là một phương pháp được sử dụng rộng rãitrong các công trình nghiên cứu xã hội học Nguồn tài liệu chúng tôi sử dụng trong

đề tài này gồm các tài liệu văn tự và tài liệu phi văn tự

Trang 19

Tổng quan và phân tích các tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài, cụ thể làcác công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được công bố, đăng tải trên cácsách, báo các tạp chí, báo in và báo điện tử, những báo cáo của địa phương nhằm thuthập bổ sung thông tin cho đề tài Sau đó, sử dụng phương pháp phân tích truyềnthống, chúng tôi tiến hành tổng quan, sắp xếp, chia tư liệu thành các tệp nhỏ theo cáctiêu chí về nội dung thông tin, cuối cùng chọn lọc các thông tin có giá trị để làm luận

cứ, luận chứng cho đề tài, phân tích có so sánh, đối chiếu, bổ sung, tránh trùng lặp [6]

7.2.3 Phương Pháp thảo luận nhóm tập trung

Thảo luận nhóm tập trung là phương pháp thu thập thông tin dựa trên quátrình mạn đàm, trao đổi ý kiến giữa các thành viên trong một nhóm người có cungmột mối quan tâm chung

Để bổ sung và làm rõ những thông tin thu thập được ở phương pháp phỏngvấn sâu, chúng tôi tiến hành cuộc thảo luận nhóm tại nhà riêng của một người dân.Với đối tượng tham gia là phụ nữ đã có gia đình gồm có 6 người tham gia

- Chủ đề thảo luận: tìm hiểu về vấn đề bất bình đẳng của phụ nữ nông thôntrong gia đình thông qua phân công lao động trong chính gia đình của mỗi người

- Thời lượng: 45-60 phút

- Những định hướng cơ bản

+Tìm hiểu thực trạng bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình

+Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề bất bình đẳng và những hậu quảcủa nó

+Những mong muốn của người phụ nữ

7.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

Đây là một trong các phương pháp

nghiên cứu chủ đạo của đề tài nghiên cứu

này Mục tiêu của phỏng vấn sâu là giúp

chúng ta có cách hiểu sâu sắc về một vấn đề

nhất định Sử dụng phương pháp phỏng vấn

sâu nhằm thu thập thông tin định tính Khai

Trang 20

Hình ảnh 3 PVBCT chủ tịch phụ nữ xã

thác những thông tin xung quanh vấn đề bất bình đẳng giới trong phân công laođộng ở nông thôn Phỏng vấn sâu được áp dụng cho cá nhân (nam giới, phụ nữ,con cái); gia đình; hàng xóm láng giềng; chính quyền địa phương… Trong đề tàinày, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu với số lượng mẫu là 20 người với 20 bảnphỏng vấn sâu, được tiến hành cho cả hai đối tượng là nam giới và phụ nữ, cụ thểnam giới là 5 người và nữ giới là 15 người

Hình ảnh 2 Phỏng vấn sâu nữ 7.2.5 Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc

Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc là loại hình phỏng vấn có chủ định,trong đó người đi phỏng vấn kết hợp các

câu hỏi có tính định hướng với các câu hỏi

nảy sinh từ người được phỏng vấn để thu

thập thông tin phục vụ mục đích đề tài

nghiên cứu Trong đề tài này, đối tượng

phỏng vấn bán cấu trúc là cán bộ làm việc

tại xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa-tỉnh

Quảng Bình Chúng tôi tiến hành PV BCT

với số lượng mẫu là 3 người gồm Chủ tịch

Hội liện hiệp phụ nữ xã, bí thư đảng bộ

xã và chủ tịch UBND xã

8 Khung lý thuyết

Trang 21

Trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, thực trạng bất bình đẳng

về phân công lao động của phụ nữ nông thôn được biểu hiện trên các khía cạnh:gánh nặng về các công việc trong gia đình, không ngang bằng với nam giới trongcác công việc xã hội, không nhận được sự chia sẻ của nam giới trong các công việcgia đình, không ngang bằng trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái Các yếu tốnhư chủ trương, chính sách về bất bình đẳng, các điều kiện của phụ nữ để thựchiện quyền tự do- dân chủ của mình, công tác vận động tuyên truyền về bất bìnhđẳng, phong tục tập quán của địa phương, đặc biệt là nhận thức về bất bình đẳngcủa bản thân người phụ nữ có ảnh hưởng đến thực trạng bất bình đẳng trong phâncông lao động của người phụ nữ Thực trạng bất bình đẳng trong phân công laođộng của người phụ nữ có liên quan đến khả năng đảm nhiệm vai trò xã hội và khả

Thực trạng bất bình đẳng trong phân công lao động của phụ nữ nông thôn

Vai trò, địa vị xã hội của phụ nữ

Gánh nặng vềcác công việctrong gia đình

Không ngangbằng với namgiới trong cáccông việc xãhội

Không nhậnđược sự chia sẻcủa nam giớitrong các côngviệc gia đìnhKhông ngangbằng trong việcchăm sóc vànuôi dạy con cái

Trang 22

năng đảm bảo địa vị của họ trong gia đình và trong xã hội Ngược lại, vai trò và địa

vị xã hội có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến bất bình đẳng về phân công laođông của nhóm xã hội này

9 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

9.1 Ý nghĩa lý luận

Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội để chúng tôi được trải nghiệm thực tế, ápdụng những kiến thức đã được học, đặc biệt là kiến thức chuyên ngành của xã hộihọc Qua đó, thu được nhiều kinh nghiệm và bài học bổ ích, cần thiết cho bản thân

Và chúng tôi mong rằng những kết luận, nhận định của đề tài sẽ là tài liệutham khảo cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề này sâu hơn và mong được sự đónggóp ý kiến của các thầy cô, các bạn để đề tài của được hoàn thiện hơn

về vị thế, vai trò, quyền lợi và tự khẳng định chính mình trong bối cảnh xã hội hiệnnay Giúp nam giới có cách nhìn khách quan về phụ nữ, đem lại sự công bằng chongười phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ nông thôn nói riêng

10 Kết cấu khóa luận

Khóa luận được trình bày trong 3 phần, 2 chương:

Phần mở đầu bao gồm: Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài; tổng quan tài liệunghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu; giảthuyết nghiên cứu; câu hỏi nghiên cứu; phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu; khung lý thuyết; ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn; kết cấu của khóa luận.Phần nội dung: Trình bày toàn bộ kết quả nghiên cứu, phần này gồm 2 chương:

Trang 23

Chương 1: Trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm cơ bản và các lý thuyết liênquan đến vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Trình bày toàn bộ kết quả nghiên cứu, bao gồm: Vài nét về địabàn nghiên cứu, thực trạng bất bình đẳng trong phân công lao động của phụ nữnông thôn, nguyên nhân của việc bất bình đẳng, hậu quả và đề xuất giải pháp chovấn đề bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn

Phần kết luận và khuyến nghị: trình bày các kết luận được rút ra từ kết quảnghiên cứu và các khuyến nghị đối với xã Sơn Hóa và các ban nghành có liên quantrong xã

Trang 24

II PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Các khái niệm liên quan

1.1 Giới

Giới là quan hệ xã hội giữa nam và nữ và cách thức mối quan hệ đó được xây

dựng nên trong xã hội [7].

1.2 Giới tính

Là sự khác biệt giữa nam và nữ mặt sinh học, y học Sự khác biệt này thểhiện rõ nhất ở cấu tạo bên ngoài cơ thể, sự khác biệt ở chức năng sinh sản [7]

1.3 Phụ nữ

Phụ nữ là một khái niệm chung để chỉ một người, một nhóm người hay toàn

bộ những người trong xã hội mà một cách tự nhiên, mang những đặc điểm giớitính được xã hội thừa nhận về khả năng mang thai và sinh nở khi cơ thể họ hoàn

thiện và chức năng giới tính hoạt động bình thường [4].

Phụ nữ là một lực lượng cơ bản, nhân tố phát triển của xã hội, có chức năng

xã hội cao quý, đóng góp to lớn vào sự phát triển nhân loại song họ được hưởng rất

ít những thành quả vật chất và tinh thần do họ làm ra Lịch sử luôn ghi nhận ngườiphụ nữ là nguồn hạnh phúc, chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già mẹ yếu, là chỗdựa cho gia đình trong nhiều phương diện cuộc sống

- Được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng

- Được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực xã hội [8]

Trang 25

1.5 Bất bình đẳng giới

Là quá trình không ngang nhau giữa cá nhân nam giới và nữ giới; giữa nhómphụ nữ và nam giới trong các cơ hội, việc tiếp cận các nguồn lực và sự sử dụng cácthành quả của xã hội [7]

1.6 Vai trò giới

Là những hành vi và quan điểm, thái độ được một xã hội tạo nên đối với mỗigiới tính, những vai trò này bao gồm quyền, tránh nhiệm được chuẩn hóa đối vớimỗi giới tính Đó là những trông đợi về những hành vi và quan điểm mà nền vănhóa xác định là phù hợp với nam và nữ giới [7]

1.7 Định kiến giới

Là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vaitrò và năng lực của nam hoặc nữ [7]

1.8 Phân biệt đối xử về giới

Là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không coi trọng vai trò, vị trícủa nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống

xã hội và gia giới [7]

Là việc nhận thức được các vấn đề giới, sự khác biệt giới và nguyên nhân của

nó, từ đó đưa ra biện pháp tích cực nhằm giải quyết và khắc phục mọi bất bình

đẳng trên cơ sở giới [8].

1.11 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới

Là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất, do cơ quan nhà nước

có thẩm quyền ban hành trong trường hợp có sự chênh lệch lớn giữa nam và nữ về

vị trí, vai trò, điều kiện, cơ hội phát huy năng lực và thụ hưởng thành quả của sựphát triển mà việc áp dụng các quy định như nhau giữa nam và nữ không làm giảm

Trang 26

được sự chênh lệch này Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới được thực hiện trongmột thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được [10].

1.12 Chỉ số phát triển giới (GDI)

Là số liệu tổng hợp phản ánh thực trạng bình đẳng giới, được tính trên cơ sởtuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người của nam và

nữ [9]

1.13 Mục tiêu bình đẳng giới

Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội nhưnhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực,tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợptác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình [10]

1.14 Nông thôn

Là một phân hệ xã hội có lãnh thổ xác định đã định hướng lâu trong lịch sử,

có hệ thống độc lập tương đối ổn định; là một tiểu hệ thống không gian – xã hội.Các thành phần cơ bản của nó đồng nhất với đô thị, song mặt khác lại tách biệt với

đô thị [17]

2 Hướng tiếp cận lý thuyết

2.1 Lý thuyết tiếp cận giới

Quan điểm giới, xuất phát từ những lý thuyết nữ quyền cho rằng nam giới và

nữ giới trải nghiệm thực tế cuộc sống và cảm nhận về đời sống gia đình rất khácnhau Từ quan điểm giới, gia đình không phải là một đơn vị hài hòa, hợp tác, dựatrên cơ sở lợi ích chung và giúp đỡ lẫn nhau, gần giống quan điểm tiếp cận xungđột mà đây là nơi diễn ra sự phân công lao động theo giới, quyền lực và cơ hội tiếpcận nguồn lực không ngang nhau và luôn bất lợi cho phụ nữ

Trong quá trình phân tích sự biến đổi gia đình, quan điểm giới và phươngpháp luận phân tích giới sẽ được lồng ghép vào các nội dung nghiên cứu Nhữngvấn đề cơ bản sẽ được chú trọng phân tích là: sự phân công lao động theo giới; sựtiếp cận với nguồn lực, quyền ra quyết định, sự đóng góp và thụ hưởng của cácthành viên trong gia đình [10]

Trang 27

2.2 Lý thuyết nữ quyền

Lý thuyết của chủ nghĩa nữ quyền đầu tiên được phát triển vào những năm 1960như là kết quả của sự không bằng lòng với cách giải thích truyền thống của xã hội Vớinhững đại diện tiêu biểu như Kate Millet, Anne Summers và Rosemany Piringe

Lý thuyết nữ quyền thừa nhận sự đóng góp của phụ nữ trong xã hội, họ đãphê phán tư tưởng của những người gia trưởng hay tư tưởng “ phụ hệ” củng cố chomột ý tưởng rập khuôn phổ biếm là nam giới chính là người làm ra tiền, là “ ngườitrụ cột”, còn phụ nữ chỉ là những người phụ thuộc và mong đợi tiêu dùng số tiền

Lý thuyết nữ quyền khẳng định sự đóng góp của phụ nữ trong xã hội, đặc biệt

là trong phát triển kinh tế và chỉ ra những phụ nữ ấy bị phân biệt đối xử, có địa vịthấp hơn nam giới

Lý thuyết nữ quyền chỉ ra nguyên nhân phụ nữ có địa vị thấp hơn nam giới

lý thuyết nữ quyền đưa ra nhiều giải pháp để giải phóng phụ nữ Các nhà lý thuyết

nữ quyền Mác-xít và nữ quyền xã hội chủ nghĩa cũng khẳng định rằng: để giảiphóng phụ nữ cần xóa bỏ thể chế tư bản chủ nghĩa và chế độ gia trưởng Tuy nhiên

về con đường giải phóng phụ nữ của một số nhà nữ quyền có phần cực đoan khikêu gọi “chấm dứt hoàn toàn vai trò nội trợ” của phụ nữ và “vai trò gia đình nơi cưtrú cho sự tồn tạo của chúng ta”

Có thể áp dụng quan điểm của lý thuyết nữ quyền để giải thích các khía cạnhcủa nghiên cứu này Vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện đại là rất quantrọng, nhưng ngày nay nó đang bị đè nặng bởi người phụ nữ vừa tham gia côngviệc ngoài xã hội, lại vừa phải lo toan công việc trong gia đình Người nam giới cóthể chia sẻ hoặc không mà không bị ràng buộc hay bắt buộc thực hiện Trong cộngđồng người ta không chấp nhận những người phụ nữ không làm tròn trách nhiệmcủa mình Họ sẽ bị coi như những người mang tội lỗi và phải cảm thấy xấu hổtrước cộng đồng Ngườichồng có thể tham gia vào quá trình chia sẻ công việc vớingười phụ nữ hoặc không mà không bị lên án Chế độ gia trưởng tồn tại trong xãhội cho phép người chồng có nhiều quyền hơn trong quyết định mọi việc về cácvấn đề trong cuộc sống gia đình cũng như ngoài xã hội [11]

Trang 28

2.3 Học thuyết nhu cầu của A Maslaw

Theo Abraham Maslaw nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từnhu cầu thấp nhất đến nhu cầu cao nhất Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãnthì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa Maslaw xây dựng thápnhu cầu của con người gồm 5 bậc: nhu cầu sinh lý là nhu cầu cơ bản để có thể duytrì sự sống của con người; nhu cầu an toàn là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm vềthân thể; nhu cầu xã hội là sự liên kết và chấp nhận; nhu cầu cần được tôn trọng;nhu cầu về sự phát triển hoàn thiện bản thân Vì vậy, khi làm bất cứ vấn đề gì cũngcần xét đến các nhu cầu của con người [12]

2.4 Thuyết về quyền con người

Con người khi sinh ra đă được tự nhiên ban cho những quyền cơ bản như:quyền sống còn, quyền tự do, quyền hạnh phúc… Trong đó, có quyền thiêng liêngkhông thể xâm phạm được là quyền được tự do, công bằng và bình đẳng, quyềnnày phải được nhà nước, pháp luật công nhận, và quyền con người đó phải đượcphát triển cùng với sự phát triển của xã hội

Quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Đó sẽ

là cơ sở để mọi hoạt động của con người hướng tới và chỉ khi nào quyền của conngười được đảm bảo thì xã hội mới phát triển bền vững

2.5 Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Luận điểm gốc của thuyết cấu trúc chức năng cho rằng mọi sự vật hiện tượngđều tồn tại trong một hệ thống cấu trúc với những chức năng nhất định Trong đó

sự thay đổi của một bộ phận sẽ dẫn đến sự thay đổi của cả cấu trúc

Theo quan điểm của Parson thì trong gia đình, phụ nữ và nam giới giữ nhữngvai trò nhất định Đây là vai trò đã được phân định rõ ràng Nam giới và nữ giớiđều phải học hỏi để thực hiện vai trò đó Lý thuyết cấu trúc chúc năng coi nữ giới

và nam giới như những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội Theo quanniệm này, người phụ nữ và nam giới có sự phân định chức năng riêng biệt, từ đóphạm vi hoạt động của họ cũng khác nhau Cả nam giới và nữ giới đều học cáchnhận diện giới tính sao cho thích hợp, cũng như kỹ năng và thái độ cần thiết để

Trang 29

thực hiện vai trò giới, điều này được hình thành thông qua quá trình xã hội hóa cánhân phù hợp với phụ nữ và nam giới, đáp ứng mong đợi xã hội tùy thuộc vào cácnền văn hóa cụ thể Qua lý thuyết cũng có thể giải thích được tại sao người chồng

ít tham gia vào các công việc mà người ta coi là công việc của phụ nữ Xu hướngcủa mỗi các nhân chỉ là hoàn thành vai trò của mình chứ không phải vai trò củangười khác Họ cũng không được khuyến khích để tham gia thự hiện vai trò củangười khác Vai trò được quy định của mỗi cá nhân hình thành nên những chuẩnmực giới hạn sự phát triển các hoạt động của cá nhân đó và người ta căn cứ vàochuẩn mực đó để đánh giá giá trị của cá nhân trong xã hội Việc duy trì các mốiquan hệ thứ bậc truyền thống vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc đánh giángười phụ nữ Người phụ nữ được yêu mến và phù hợp theo quan niệm của cộngđồng là người phụ nữ trước hết phải tiếp nối được các hình ảnh phụ nữ truyềnthống như đảm đang, biết hi sinh cho gia đình, cư xử đúng mực, phải có khả năngsinh sản và hoàn thành tốt vai trò đó [11]

2.6 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bất bình đẳng giới

Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Nói phụ nữ là nói phần nửa

xã hội Nếu không giải phóng Phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người.Nếu không giải phóng phụ nữ là chỉ xây dựng xã hội một nửa” Nên trước lúcNgười đi xa, trong bản di chúc Người đã viết: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứunước, Phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sảnxuất Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cân nhắc

và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc, kể cả công việclãnh đạo Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên Đó là một cuộc cách mạngđưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”

Với tư tưởng trên, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã khơi dậy sức mạnh tiềm tàng tolớn của phụ nữ thành động lực mạnh mẽ để cách mạng Việt Nam đi lên, làm cho

Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân được tự do, hạnh phúc, phụ nữ ViệtNam được bình đẳng giới, được giải phóng, được sống trong tự do và tiến bộ.Quan điểm của Người cho rằng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp phải gắn

Trang 30

liền với sự nghiệp giải phóng phụ nữ Người đã khẳng định: Sự bất bình đẳng nam

nữ không đơn thuần là bị ảnh hưởng bởi tư tưởng lạc hậu mà chủ yếu là do bản chấtnền kinh tế - xã hội quyết định Đó phải là con đường đấu tranh xóa bỏ áp bức, bóclột, nghèo nàn và bất bình đẳng giới Từ đó Người đã kêu gọi: “Thực hiện nam nữbình quyền”, giải phóng cho người phụ nữ Chính vì vậy, suốt cả quá trình lãnh đạocách mạng Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác phụ nữ,thay đổi nhận thức xã hội thực sự vì bình đẳng và tiến bộ của phụ nữ…

Trong những năm tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranhgiải phóng miền Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã có những giải pháp, chính sách

cụ thể để từng bước đưa phụ nữ tham gia vào những hoạt động chính trị, văn hóa,kinh tế xã hội; thực hiện bằng được giải phóng phụ nữ một cách triệt để Nhằm đưa

vị thế của người phụ nữ Việt Nam ngang bằng với nam giới trong xã hội Ngườicho rằng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội đều có quyền bìnhđẳng giới như nhau, không được trọng nam và coi thường phụ nữ Từ quan điểm tưtưởng đó, Người đã xem công việc giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là độnglực của cách mạng nước ta Ngày nay, trong thời kỳ đổi mới đi lên xây dựng Chủnghĩa xã hội ở nước ta theo tư tưởng của Người, thông qua hệ thống chính trị vàcác chính sách xã hội, Đảng, Nhà nước ta đã luôn quan tâm tạo mọi điều kiện đểPhụ nữ Việt Nam được học tập, lao động, vươn lên khẳng định vai trò là nguồnđộng lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội một cách bềnvững, đưa dân tộc Việt Nam tự hào sánh vai cùng các cường quốc năm châu

Thực hiện "Nam nữ bình quyền", theo Hồ Chí Minh: "Đó là một cuộc cáchmạng khá to và khó" "Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy nghìn năm đểlại Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội"

Để "thực hiện 100% bình quyền, bình đẳng nam nữ", Hồ Chí Minh nhắc nhở chị

em "Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; Phải xoá bỏ tưtưởng bảo thủ, tự ti; Phải phát triển chí khí tự cường ,tự lập", đồng thời Ngườicũng chỉ rõ cho các cấp uỷ Đảng và Chính quyền "phải có phương pháp đào tạo vàgiúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ"

Trang 31

Không chỉ quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong quan hệ xã hội

mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng, Bác khuyênchị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình để tự đấu tranh giải phóngmình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ tôi” Bác phê phán tìnhtrạng chồng đánh vợ và khẳng định đây là tệ nạn về mặt đạo đức và vi phạm phápluật: “Đàn ông là người công dân, đàn bà cũng là người công dân, dù là vợ chồng,người công dân này đánh người công dân khác tức là phạm pháp”

Tư tưởng Bác Hồ về bình đẳng giới đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng vàphát triển một cách toàn diện trong công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước Thực tế hiện nay Đảng và nhà nước ta đang đồng thờitriển khai hai đạo luật về: Bình đẳng giới và chống bạo hành gia đình chính là thựchiện tư tưởng của Bác Hồ trong sự nghiệp đổi mới – hội nhập, xây dựng một xãhội Việt Nam giàu mạnh, văn minh, hạnh phúc [7]

2.7 Quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam về bất bình đẳng giới

Thấm nhuần quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, vì thế ngay từnhững buổi đầu thành lập, Đảng đã khẳng định: trong một nước nửa thuộc địa, nửaphong kiến như Việt Nam, người phụ nữ chịu nhiều tầng áp bức (áp bức của thực

dân, áp bức của phong kiến), lại thêm sự phân biệt đối xử “trọng nam khinh nữ”.

Do vậy, con đường giải phóng phụ nữ không thể tách rời sự nghiệp giải phóng dântộc, giải phóng giai cấp

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1946) quan điểm

bình đẳng nam nữ đã được ghi trong điều 9 “Đàn bà ngang quyền với đàn ông

trên mọi phương diện”, đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng về quan điểm bình

đẳng giới và chống phân biệt đối xử nam - nữ Các văn bản Hiến pháp tiếp theo(1959, 1980, 1992) đều kế thừa quan điểm bình đẳng nam - nữ có từ Hiến pháp

1946 Điều này đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện quyền bình đẳnggiới trong xã hội Việt Nam [13]

Trang 32

2.8 Tình hình bình đẳng giới ở Việt Nam

Rất nhiều báo cáo của các tổ chức quốc tế đều có một nhận xét chung: ViệtNam đã có rất nhiều hành động nhằm giảm bớt sự kì thị và bất bình đẳng giữa namgiới và phụ nữ Những hành động này thậm chí đã được thể chế hóa thành chínhsách nhà nước, thành văn bản luật, đơn cử như Luật bình đẳng giới được ban hànhnăm 2006, và mới đây là Luật phòng chống bạo lực gia đình Cũng không có nhiềunước trên thế giới mà các hành động, biện pháp thực hiện bình đẳng giới được đưathành chương trình hoạt động cụ thể của từng tỉnh thành, từng địa phương như ởViệt Nam

Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2006 cho thấy, mức độ bìnhđẳng giới ở Việt Nam xếp thứ 11 trên thế giới Chỉ số này thậm chí cao hơn nhữngnước có nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới là Anh một bậc

Theo báo cáo Khoảng cách giới tính toàn cầu năm 2007 mà Diễn đàn kinh tếthế giới (WEF) công bố, xét trong khu vực ASEAN và Đông Á, Việt Nam đứng ởngôi vị thứ hai về mực độ bình đẳng giới

Bà Trần Thị Mai Hương, Phó chủ tịch thường trực Ủy ban quốc gia vì sự tiến

bộ của phụ nữ Việt Nam cho biết : “ Báo cáo mới nhất về thực hiện chương trìnhMục tiêu thiên niên kỷ của Chính phủ nêu rõ Việt Nam đã đạt được những tiến bộvượt bậc về bình đẳng giới Đại vị của phụ nữ đã được nâng cao trong các mặt củađời sống xã hội, bình đẳng giới đã được tăng cường trong lĩnh vực lao động và việclàm, giáo dục và đòa tạo cũng như trong bộ máy chính quyền các cấp Chính vì vây

mà Việt Nam được đánh giá là một trong các quốc gia Đông Á có tốc độ khắc phụccách biệt giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây Năm 2007 xếp hạng thứ91/157 về chỉ số phát triển giới (GDI) và 52/93 về số đo trao quyền giới (GEM).Phó giáo sư-tiến sĩ Lê thị Quý, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu phụ nữ đánhgiá: “ công lao của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, kỳ vọng mà xã hội traocho họ là rất lớn.Vì vậy vấn đề phụ nữ là một trong những vấn đề hấp dẫn, nhạycảm và được đề cập nhiều nhất trong xã hội hiện đại Ở Việt Nam, phụ nữ chiếmhơn 51% dân số và 49,5% lực lượng lao động Để có được những thành công như

Trang 33

ngày hôm nay, sự đóng góp của phụ nữ Việt Nam đã được đánh giá là xấp xỉ vớinam giới, thậm chí có những lĩnh vực cao hơn như lao động trong gia đình, sinh đẻ

và chăm sóc, dạy dỗ con cái

Nhưng bên cạnh đó nó vấn đề này còn có những góc khuất cần phải giảiquyết Ông Phạm Ngọc Tiến, Vụ trưởng Vụ bình đẳng giới ( Bộ Lao động thươngbinh xã hội) trong một lần phỏng vấn báo chí vào hồi tháng 6/2008, nhan dịp Bộphối hợp cùng cơ quan hợp tác Quốc tế phát triển Thụy Điển (SIDA) tổ chức diễnđàn “ Bình đẳng giới và giảm nghèo bền vững”, cho biết: “ Phụ nữ Việt Nam vẫncòn chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới, nạn ngược đãi phụ nữ vẫn còn tồn tại ởmột số nơi, đặc biệt là ở những vùng, những khi vực trình độ dân trí chưa cao.Chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, vì vậy định kiến về giới vẫn còntồn tại trong xã hội Việt Nam, kể cả ở một số bộ phận cán bộ

Các chuyên gia đều thống nhất đi đến một kết luận: ở Việt Nam, ngoài cácchương trình hành động của Chính phủ, ngoài sự bảo vệ của pháp luật, để thực sự

có một xã hội bình đẳng giới, còn cần phải thay đổi quan niệm của nhiều người vềvấn đề bình đẳng nam-nữ Một chuyên gia nói: “ Họ đã chịu bao thua thiệt vì gánhthiên chức làm vợ, làm mẹ Biết bao người chồng, người con, người em đã thànhcông từ sự đỡ đần, nâng niu, chăm sóc của họ Không thể vin vào lý do tâm sinh lýcủa nam – nữ khác nhau, vin vào những tập quán cổ hủ để tiếp tục coi họ “ là cáisân sau” của người đàn ông, là người “nâng khăn sửa túi” cho chồng như xã hộiphong kiến đã từng quan niệm hàng ngàn năm” Vì “ Bình đẳng giới là lẽ tự nhiên,như phàm là cây cỏ thì có quyền vươn lên đón ánh nắng mặt trời”, như nhà văn VõThị Hảo đã từng phát biểu vè vấn đề này [15]

Trang 34

Hình ảnh 4 Dãy nhà A, UBND xã Sơn Hóa

CHƯƠNG II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Xã Sơn Hóa thuộc địa phận huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình Xã đượcthành lập vào ngày 01 tháng 07 năm 1999 theo Nghị định số 30 – NĐ/CP v/v củaChính phủ ban hành Xã Sơn Hóa

được hợp thành từ 05 thôn của hai

xã Lê Hóa và Đồng Hóa, phía tây

Bắc giáp Thị trấn Huyện lỵ Đồng

Lê, phía Đông Bắc giáp xã Thuận

Hóa – Đồng Hóa, phía Đông Nam

giáp Nam Hóa, phía Tây Nam

giáp huyện Minh Hóa Xã có tổng

diện tích đất tự nhiên 3.002 ha,

629 hộ với 3.226 khẩu, trong đó có 05 hộ giáo dân 34 khẩu, 04 hộ dân tộc Sách 18khẩu

Xã được thành lập nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện,từng bước phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, CNH - HĐHquê hương đất nước, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”

Đồng thời kế thừa và phát triển những thành tựu sứ mệnh lịch sử đã đượccác thế hệ cha anh đi trước trao lại; tiếp bước theo con đường đi lên CNXH màĐảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn

Với xã Sơn Hóa sau khi chia tách, Đảng bộ lúc bấy giờ là 128 đảng viênsinh hoạt 09 chi bộ, 07 chi bộ nông thôn và 02 chi bộ trường học đứng trước nhữngthuận lợi và khó khăn đan xen Từ khi có tên riêng, Sơn Hóa là một xã nghèo,được hưởng chương trình đầu tư 135 của Chính phủ, thu nhập bình quân đầu ngườithấp, tỷ lệ hộ nghèo cao

Trang 35

Hình ảnh 5 Dãy nhà B, UBND xã Sơn

Hóa

Đến nay, xã đã có được những điểm khởi sắc mới trên con đường phát triển

ở tất cả mọi mặt thuộc các lĩnh vực của đời sống xã hội Sản lượng kinh tế liên tụctăng qua các năm; hệ thống cơ sở hạ tầng đã được từng bước đầu tư đúng mức,khai thác đầu tư triệt để các chương trình dự án; chất lượng giáo dục ngày càngtăng; các hoạt động văn hóa- văn

nghệ- thông tin - thể dục thể thao

đã bám sát nhiệm vụ chính trị, góp

phần nâng cao nhận thức, mức

hưởng thụ văn hóa tinh thần cho

nhân dân, tỷ lệ hộ sử dụng truyền

hình là 90%, phong trào văn nghệ

quần chúng, TDTT phát triển đều,

rộng từ các thôn đến các trường

học, là đơn vị luôn có mặt trong các hội diễn văn nghệ quần chúng, có phong tràomạnh hội thi hội thao từ xã đến huyện Hiện nay, cả xã có 449 hộ đạt tiêu chuẩn giađình văn hóa, chiếm 55% dân số, tỷ lệ tăng bình quân hằng năm là 25,1%, duy trì 02làng văn hóa, 01 khu dân cư tiên tiến, các thôn được xây dựng và hoạt động theohương ước làng văn hóa của từng thôn, hàng năm được điều chỉnh bổ sung phù hợp

xu thế hoạt động từng giai đoạn Về quốc phòng –an ninh (QP -AN): Nhiệm vụ QP –

AN được gắn liền với nội dung phát triển kinh tế- xã hội Công tác giáo dục QP –AN

là nhiệm vụ thường xuyên được quam tâm đầu tư, củng cố của Đảng bộ và nhân dân

từ xã đến thôn, hằng năm công tác huấn luyện quân sự quốc phòng luôn được sự quantâm, động viên hỗ trợ của nhân dân kể cả tinh thần và vật chất, do vậy quân số sẵnsàng tham gia chiến đấu cứu hộ cứu nạn, tập trung huấn luyện luôn đạt tỷ lệ 100%.Mặt trận và các đoàn thể chính trị -xã hội: UBMTTQVN xã có 7 ban công tácMặt trận với 49 thành viên, đã thực hiện tốt vai trò tập hợp các tầng lớp nhân dân,phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Đảng bộ ngàycàng trong sạch vững mạnh, cùng với 5 đoàn thể chính trị có 28 chi bộ và 4 tổchức chính trị xã hội

Trang 36

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị: được quan tâm, triển khai đồng bộ, tạo chuyển biến mới trên nhiều mặt Công tác chính trị tư tưởng của Đảng bộ được chú trọng Việc nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Đảng, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từng bước có sự đổi mới, chặt chẽ, hiệu quả trong học tập ngày càng cao và đã gắn với chương tình hành động cụ thể [14].

2 Thực trạng bất bình đẳng giới (BBDG) về phân công lao động trong gia đình ở nông thôn tại xã Sơn Hóa-huyện Tuyên Hóa - tỉnh Quảng Bình

Qua khảo sát, hầu hết những người dân được phỏng vấn đều cho rằng hiệntượng BBĐG ở nông thôn hiện nay vẫn đang còn gia tăng mạng mẽ và phổbiến ởkhắp nơi Người phụ nữ vẫn phải một mình gánh vác hết tất cả các công việc củagia đình cho dù người đàn ông có chia sẻ hay không, họ làm việc đó thầm lặng như

là một thiên chức của mình, là công việc riêng của mình, mặc dù đó là công việcchung của cả nam giới và phụ nữ

“Hiện nay, một số gia đình vẫn tồn tại tình trạng BBĐG về phân công lao động Thường thì người phụ nữ phải làm các công việc nhà, đàn ông thì đi làm,

ít khi quan tâm giúp đỡ người phụ nữ” Hộp 1

PVS: Nữ,30 tuổi

Trong tổng số 20 người phụ nữ được hỏi về vấn đề này, hầu hết họ trả lời rằngmọi công việc gia đình đều do một tay người phụ nữ đảm nhiệm, cho dù họ làm nôngnghiệp, nội trợ hay kể cả những người làm các công việc xã hội, Người chồng chỉ làmmỗi công việc của họ, còn việc trong gia đình thì cho rằng đó là việc mà người phụ nữphải làm Trong 5 người nam giới được hỏi, có ý kiến còn cho rằng:

Phụ nữ xưa nay vẫn thường được đề cao về các công việc được gọi là

“ Nữ công gia chánh” Chính vì vậy, những công việc “vặt” ở trong gia đình thì đương nhiên là người phụ nữ phải làm, vì họ được xem là những người khéo

léo, đảm đang Hộp 2

PVS: Nam,42 tuổi

Trang 37

Điều đó cho thấy rằng, tại địa bàn điều tra, vấn đề BBĐG về phân công lao độngvẫn đang còn diễn ra rất phổ biến Tư tưởng trọng nam khinh nữ một phần nào đó vẫncòn tồn tại trong tiềm thức của mỗi người dân.

Phụ nữ sản xuất nhiều khi vất vả hơn nam giới nhưng không có tiếng nói quyếtđịnh trong gia đình, từ việc định hướng sản xuất kinh doanh đến việc sử dụng kết quảlàm ra Không chỉ thế, họ lại phải đảm nhiệm gánh nặng lao động gia đình Trong khithời gian sản xuất của phụ nữ cũng như nam giới, thì mỗi ngày họ vẫn phải làm côngviệc nội trợ gấp 3 lần nam giới, một thứ lao động không được trả công, không đượcđánh giá có giá trị như lao động sản xuất, một công việc thầm lặng và được mọi ngườixem đó là công việc hiển nhiên mà người phụ nữ phải làm

Khi được hỏi về sự chia sẻ của nam giới trong các công việc gia đình, thì các kếtquả thu được đều là không hoặc ít khi nhận được sự giúp đỡ Còn khi có sự phân côngcông việc cho nhau, thì lại hay xảy ra tranh cãi vì sự phản đối của nam giới, họ khôngmuốn chia sẻ công việc nhà với người phụ nữ, nhưng sự tranh cãi này cũng chỉ là lờiqua tiếng lại giữa hai người, nó cũng không nảy sinh lớn thành mâu thuẫn nên không

khó để giải quyết (Nguồn: Thảo luận nhóm tập trung)

Theo đánh giá của Uỷ ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ: lĩnh vực phụ

nữ chịu bất bình đẳng nhiều nhất là phâncông lao động trong gia đình Phụ nữ vẫnchịu trách nhiệm chính trong các công việc gia đình như nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa,giặt giũ, đi chợ, dạy con học, tham gia vào quá trình lao động để kiếm thêm thunhập Cũng theo đánh giá này, thời gian lao động của nữ giới thường cao hơnnam giới 3-4 tiếng mỗi ngày Ở vùng nông thôn và miền núi, nơi dân trí thấp, phụ

nữ dân tộc thiểu số còn phải làm việc quần quật từ 5 giờ sáng đến 11-12 giờ đêm (

Nguồn: Tổng cục dân số Việt Nam, công trình nghiên cứu: Vấn đề bất bình đẳng giới của gia đình nông thôn ven đô thành phố Mỹ Tho – tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa).

Tại điạ bàn khảo sát, khi được hỏi về thời gian biểu cho một ngày làm việc,thì hầu như người phụ nữ không có thời gian rãnh rỗi để nghỉ ngơi, dù là một chút

Trang 38

nghiệp, họ hầu như bận với những công

việc đồng áng, nhưng những công việc

nhà vẫn có thể tranh thủ thời gian rảnh để

làm, họ có thể ra đồng muộn giờ một tí vì

lo việc ở nhà, như vậy cũng không ảnh

hưởng đến hiệu quả làm việc là mấy

Nhưng những người phụ nữ làm việc nhà

nước, họ như bị cuốn sâu vào công việc

mà không có thời gian nghỉ ngơi Họ phải đảm bảo công việc cơ quan đúng giờ, lạiphải làm hết việc nhà trọn vẹn Đây đang là một vấn đề “ đau đầu” đối với những người phụ nữ “ giỏi việc nước, đảm việc nhà”, họ phải làm việc “kép” một mình trong gia đình mà không nhận được một sự giúp nào từ phía nam giới

Sáng dậy sớm, lo cho con, chở con đi học, rồi mới đi làm Trưa tan ca ở cơ quan là phải chạy ngay về đi chợ, nấu nướng, dọn dẹp, ăn trưa xong giặt một đống đồ, làm xong lại đúng giờ đi làm, nhiều khi nghỉ mà chẳng kịp thở nữa Trong khi ông chồng mình chỉ mỗi việc đi làm, về ăn cơm, rồi nghỉ ngơi, đúng

cái số phụ nữ, quá bất công Hộp 3

PVS nữ, 32 tuổi

Lao động sản xuất là bao gồm các công việc do nam giới và nữ giới đảmnhận để lấy tiền hoặc công hoặc hiện vật Qua khảo sát, quan hệ giữa nam và nữtrong cộng đồng thoạt nhìn cũng theo kiểu truyền thống, người đàn ông được trôngđợi là trụ cột của gia đình, được coi là ông chủ, người chịu trách nhiệm về kinh tếcho gia đình và cũng có mọi quyền hành Người vợ được kỳ vọng là đảm đang mọicông việc cho gia đình như sinh con đẻ cái, chăm sóc và nuôi dạy chúng, đồng thời

Trang 39

lo lắng chăm sóc về thể chất cho mọi thành viên trong gia đình, nhưng trong bốicảnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa thì sự phân công lao động đó có sự thay đổi.Theo kết quả khảo sát cho thấy: ngoài công việc nội trợ, người phụ nữ cũngtham gia lao động kiếm sống như làm việc tại công sở, nhà máy, trên đồng ruộng,buôn bán, chăn nuôi, làm mướn người phụ nữ thường chọn những công việc nhưđồng áng, buôn bán nhỏ vì những công việc này có thời gian chăm sóc con cái,quán xuyến nhà cửa và có thể tạo thêm thu nhập cho gia đình Ngoài ra họ cònchăn nuôi heo, gà, làm vườn để tạo thêm thu nhập.

Người vợ cũng phải làm việc để tạo thêm thu nhập, một mình chồng làm thì lúc nào kinh tế gia đình mơi vững được Có thể là vì công việc nội trợ, người vợ sẽ làm ít hơn và chỉ cần tạo ra thu nhập đủ chi tiêu trong ngày Còn người chồng kiếm

được bao nhiêu để cất giành chi tiêu cho những công việc quan trọng Hộp 4

PVS, nam 49 tuổi

Trong việc nuôi dạy con cái, người đàn ông cũng giao hết trách nhiệm cho

người phụ nữ Từ xưa ông cha ta đã có câu “ Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”,

người đàn ông ra ngoài làm, đảm nhận việc kiếm tiền nuôi gia đình, còn người phụ

nữ thì ở nhà chăm sóc, dạy bảo con cái, lo toan công việc nhà Chính vì thế màngười vợ, người mẹ luôn gần gũi, thường xuyên tiếp xúc với con cái, dạy bảochúng học hành, chăm lo cho chúng Người chồng ít quan tâm đến vấn đề họchành của con cái hơn là người vợ Trong gia đình, người phụ nữ là người chăm sóc

và nuôi con cái chủ yếu Những đứa con từ khi sinh ra tới lúc trưởng thành, phầnlớn thời gian là gần gũi và thường chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn là người cha.Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống,chăm sóc rất nhiều khi ốm đau Với việc nhận thức thông qua quá trình bé tự quansát, học hỏi tự nhiên hằng ngày và ảnh hưởng dặc biệt đức tính từ người mẹ, đã

hình thành dần dần đức tính của người con theo kiểu “mưa dầm, thấm lâu” Ngoài

ra, những đứa trẻ thường là thích bắt chước người khác thông qua những hànhđộng của những người gần gũi nhất, đặc biệt là người mẹ

Con cái chủ yếu là theo mẹ thôi, bố đi làm cả ngày, đâu có thời gian gần

Trang 40

gũi chăm sóc chơi với con như người vợ Có khi nhìn thấy bố chúng còn sợ nữa huống hồ là chơi Vì vậy, chăm sóc con, chơi với con, nuôi dạy con hầu hết là

người mẹ làm, bố chúng ít quan tâm đến những vấn đề như thế này Hộp 5

PVS nữ, 42 tuổi

Người phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình như vậy, thế nhưng, họ lạikhông có tiếng nói trong quyền ra quyết định trong nhà, người đàn ông vẫn cóquyền quyết định hơn người vợ Mặc dù trong gia đình, người vợ là người đảmnhận hết các công việc, thậm chí họ còn là người mang lại thu nhập chính, nhưngphần lớn quyền quyết định thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thicác quyết định đó Lý giải cho điều này các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng đây là dođịnh kiến giới vẫn còn tồn tại trong gia đình nông thôn, do tư tưởng trọng namkhinh nữ, đề cao vai trò địa vị của nam giới

Mọi việc trong nhà một mình tôi làm, kinh tế gia đình do tôi cất giữ, thế nhưng tôi chỉ có quyền chi tiêu những việc lặt vặt trong nhà, còn mọi chi tiêu quan trọng trong gia đình phải hỏi ý kiến của chồng Cũng như những việc lớn, chồng nói một tiếng thì vợ phải nghe và làm theo, hầu như quyền quyết định

trong nhà không dành cho phụ nữ mình thì phải Hộp 6

PVS, nữ 30 tuổi

Vai trò của người phụ nữ trong gia đình chưa được đánh giá đúng mức Bất

kỳ lúc nào, ở đâu người ta cũng nhìn thấy sự đóng góp to lớn của nữ giới trong cáchoạt động gia đình Những đóng góp của họ được xem là “quan trọng”, thế nhưngđịa vị của họ trong gia đình không được cải thiện so với nam giới tương ứng vớinhững đóng góp đó Những đánh giá về vai trò của nữ giới còn mang tính chấtkhuôn sáo, chiếu lệ chứ chưa thật sự ghi nhận đúng mức những đóng góp của họ.Nhiều trường hợp khi ông chồng làm việc mọi người ghi nhận đóng góp của anh tanhưng khi người vợ làm việc đó người ta cho là việc tất nhiên Nhất là trong cáccông việc nội trợ, bởi nhiều người cho rằng “nội trợ và chăm sóc con cái là thiênchức của người phụ nữ chứ không phải là công việc của đàn ông” Kể cả khi người

vợ tham gia những công việc tạo ra thu nhập đáng kể cho gia đình nhưng dường

Ngày đăng: 03/09/2013, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh 1. Phỏng vấn sâu nam - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 1. Phỏng vấn sâu nam (Trang 19)
Hình ảnh 3. PVBCT chủ tịch phụ nữ xã - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 3. PVBCT chủ tịch phụ nữ xã (Trang 20)
Hình ảnh 2. Phỏng vấn sâu nữ 7.2.5. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 2. Phỏng vấn sâu nữ 7.2.5. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc (Trang 20)
Hình ảnh 4. Dãy nhà A, UBND xã Sơn Hóa - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 4. Dãy nhà A, UBND xã Sơn Hóa (Trang 34)
Hình ảnh 7: Tuyên Truyền bình  đẳng giới cho  người dân  ( Nguồn: sưu tầm – internet) - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 7: Tuyên Truyền bình đẳng giới cho người dân ( Nguồn: sưu tầm – internet) (Trang 55)
Hình ảnh 8. Người bố vào bếp là hình ảnh đẹp  cho các con noi theo - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 8. Người bố vào bếp là hình ảnh đẹp cho các con noi theo (Trang 56)
SƠ ĐỒ CHỖ NGỒI THẢO LUẬN NHểM TẬP TRUNG - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
SƠ ĐỒ CHỖ NGỒI THẢO LUẬN NHểM TẬP TRUNG (Trang 88)
Hình ảnh 9: Phỏng vấn sâu nam ( Nguồn: tác giả) - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 9: Phỏng vấn sâu nam ( Nguồn: tác giả) (Trang 93)
Hình ảnh 11. Phỏng vấn bán cấu trúc ( Nguồn: tác giả) - Bất bình đẳng về phân công lao động trong gia đình của phụ nữ nông thôn hiện nay  ( qua khảo sát tại xã sơn hóa, huyện tuyên hóa, tỉnh quảng bình)
nh ảnh 11. Phỏng vấn bán cấu trúc ( Nguồn: tác giả) (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w