THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY THỰC TRẠNG về sự PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI HIỆN NAY
Trang 1BỘ MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI
BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN:
GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN
TÊN ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VỀ SỰ PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỚI, ĐẶC BIỆT LÀ SỰ
PHÂN CÔNG LAO ĐỘNG GIỮA
VỢ VÀ CHỒNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
GVHD: ThS PHẠM THỊ KIM NGỌC
Trang 2MỤC LỤC
Phần dẫn nhập 2
Phần nội dung 4
I.Thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam 4
II.Sự phân cộng lao động giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn hiện nay 6
2.1 Mô hình phân công lao động truyền thống của gia đình 6
2.1.1 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong công việc nội trợ 6
2.1.2 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc sữa chữa các đồ dùng trong gia đình 10
2.2 Trong phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình 10
2.2.1 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong chăm sóc và giáo dục con cái 11 2.2.2 Sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong việc thường xuyên tham gia các công việc cộng đồng 11
2.3.Đã có sự bình đẳng hơn trong việc ra quyết định các vấn đề trong gia đình 12
2.3.1 Quyền quyết định trong công việc kinh doanh – sản xuất 12
2.3.2 Quyền ra quyết định trong các công việc quan trọng trong gia đình 13
2.3.3 Quyền ra quyết định chính trong việc định hướng nghề nghiệp và hôn nhân cho con cái 13
2.3.4 Quyền quyết định trong việc sử dụng biện pháp tránh thai và số con 14
Phần kết luận/ Khuyến nghị 14
Tài liệu tham khảo 16
PHẦN DẪN NHẬP
Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đang được đẩy mạnh có ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Riêng đối với gia đình, công
Trang 3nghiệp hóa, hiện đại hoá đã tạo điều kiện cho người phụ nữ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động xã hội, nâng cao vai trò vị trí của người phụ nữ trong việc ra quyết định các vấn đề của gia đình
Khi đảm nhận vai trò xã hội, người phụ nữ luôn phải cố gắng phấn đấu để khẳng định bản thân, để được xã hội thừa nhận Điều này không thể không ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của họ trong gia đình Việc người phụ nữ không thể làm tốt, làm hết các công việc trong gia đình - công việc mà xã hội quan niệm là của họ
Trong bài viết này tôi mong muốn nói lên thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam trong xã hội hiện nay nói chung Từ thực trạng chung đó tôi muốn nghiên cứu về sự phân công lao động giới Đặc biệt đi sâu vào sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình hiện nay Qua đó có thể thấy được sự bình đẳng giữa nam và
nữ trong các công việc của gia đình, ra quyết định đối với các công việc quan trọng trong gia đình…
Tuy nhiên, bài viết này tôi chỉ nêu ra thực trạng chung của sự bình đẳng trong phân công các công việc trong gia đình chứ chưa nêu ra giải pháp để cải thiện vì còn nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến chính sách, pháp luật khác nhau Cũng rất mong nó sẽ được quan tâm nhiều hơn trong thời gian tới nhằm đạt đến sự bình đẳng hơn nữa giữa nam và nữ ở Việt Nam nói riêng và vì sự tiến bộ trên toàn thế giới nói chung
Có thể nói gia đình vốn được coi là tế bào của xã hội, nó phản ánh tất cả những gì đang diễn ra ngoài xã hội, các mối quan hệ xã hội của con người đều bắt đầu từ gia đình Trong tiến trình đổi mới của mình, Việt Nam đang chịu tác tộng mạnh mẽ của những chuyển biến về kinh tế – xã hội Sự phát triển của xã hội sẽ làm vai trò và vị trí của người phụ nữ được nâng lên đáng kể Phụ nữ đã có quyền bình đẳng so với nam giới Họ được tự do học hành, được tham gia vào các hoạt động của xã hội theo khả năng của mình, có được quyền bỏ phiếu, ứng cử… Tuy nhiên ở nước ta, các yếu tố truyền thống, đặc biệt là tư tưởng Nho giáo vẫn còn là một nhân
tố đáng kể tác động trực tiếp đến quan niệm và hành vi ứng xử của người dân trong
xã hội Các chuẩn mực xã hội và những lễ giáo phong kiến khiến cho người phụ nữ luôn bị ràng buộc trong gia đình, rơi vào địa vị phụ thuộc, luôn sống bó hẹp trong
Trang 4Quan niệm “trọng nam khinh nữ” và tư tưởng coi thường người phụ nữ vẫn còn đang tồn tại dưới nhiều biến thái khác nhau Chế độ gia trưởng và sự bất bình đẳng thường là những nguyên nhân dẫn đến sự phụ thuộc trong cuộc sống gia đình của người phụ nữ Định kiến hẹp hòi của xã hội đang bao trùm lên người phụ nữ, gán cho người phụ nữ vai trò nội trợ như là một biểu trưng chung của người phụ nữ, khiến họ không thể tách rời khỏi gia đình, khỏi vai trò nội trợ của mình để tham gia hoạt động xã hội
Ngày nay, trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đã có rất nhiều biến đổi và gia đình cũng đang chịu sự tác động mạnh mẽ của sự chuyển biến
đó Điều này dẫn đến một hệ quả tất yếu là sự chuyển đổi về cơ cấu xã hội và cùng với nó là sự phân công lao động Quá trình toàn cầu hoá, khu vực hoá cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ tiên tiến đã tác động đến các giá trị văn hoá - xã hội ở Việt Nam Trong những điều kiện kinh tế và môi trường xã hội như hiện nay, quan hệ giới trong gia đình cũng có sự thay đổi tích cực làm cho gia đình được củng
cố và phát triển, đem lại hạnh phúc cho các thành viên Gia đình hạnh phúc sẽ là nguồn dinh dưỡng cho sự ổn định của cộng đồng, cho quá trình phát triển của xã hội Sự thay đổi trong quan hệ giới như vậy sẽ là biểu hiện trực tiếp xu hướng củng
cố, hoàn thiện vị trí và vai trò của giới trong thiết chế gia đình
Trong phân công lao động theo giới có những hoạt động công việc khác nhau như: công việc nội trợ, chăm sóc và giáo dục con cái, các công việc ngoài cộng đồng, quyền quyết định chính trong các công việc gia đình… vậy sự phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình diễn ra như thế nào? Có hay không cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển của gia đình? Liệu đã có những đánh giá công bằng công lao đóng góp trong việc nuôi sống gia đình của người vợ và người chồng chưa? Hay nói cách khác, qua bài viết này tôi muốn cho mọi người nhận thấy một số vấn đề về sự phân công lao động của giới nói chung và giữa vợ chồng trong gia đình nói riêng
PHẦN NỘI DUNG
I Thực trạng về bình đẳng giới ở Việt Nam
Bất bình đẳng giới chưa có hồi kết khi mà trách nhiệm của phụ nữ đối với gia đình và con cái vẫn rất nặng nề; tình trạng thiếu máu diễn ra phổ biến ở bà mẹ mang
Trang 5thai; nạn bạo hành, phân biệt đối xử tồn tại trong mọi tầng lớp dân cư; cơ hội học tập, vay vốn làm ăn, thăng tiến, kể cả mức lương của chị em vẫn thua xa so với nam giới
Ở Việt Nam, bạo lực gia đình không phải là mới, chế độ phụ hệ, tư tưởng trọng nam, khinh nữ đã kéo theo sự bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới Trước đây những người phụ nữ bị hành hạ chủ yếu là sống phụ thuộc vào chồng Khi chuyển sang kinh tế thị trường, vai trò của phụ nữ cũng thay đổi, song thực tế đã ghi nhận rất nhiều trường hợp phụ nữ kiếm được nhiều tiền hơn lại bị chồng đánh Theo nghiên cứu của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam(2005) thì những trường hợp này chiếm 72% trong số những vụ xung đột gia đình
Nếu ai đó có dịp chứng kiến một người chồng ở miền Tây Nam Bộ nhậu say rồi trói vợ vào cột nhà đánh, mới thấu hiểu vì sao mơ ước lấy chồng ngoại, chồng Việt kiều lại có ở nhiều cô gái xứ này đến thế Nếu nhìn cảnh những người phụ nữ ở Hà Tây dậy từ 4 giờ sáng đạp xe đạp cách 30 km về Hà Nội bán hàng rong, đến 6 giờ tối về nhà là "đâm sầm" vào bếp rơm nấu cám heo, trong lúc ông chồng đi đánh tổ tôm thì mới thấy việc các cô gái sẵn sàng chịu khổ, chịu nhục ở xứ người để lấy ít tiền cho mẹ mình đỡ bị cha đánh cũng không có gì là lạ
Bạo lực phụ nữ - về cả thể xác và tinh thần - vẫn diễn ra một cách dai dẳng và công khai ở xã hội Việt Nam, nhất là nông thôn (điều này đã được truyền thông nhiều lần nhắc đến) Gánh nặng âu lo đặt quá lên vai phái nữ - khi mà họ quá ít sức lực (theo nghĩa đen và nghĩa bóng) Thói quen cho mình quá nhiều đặc quyền -trong lúc không tự gán cho mình những trách nhiệm tương đương - của đàn ông Việt Nam có đến 66% các vụ ly hôn liên quan đến bạo hành gia đình 5% phụ nữ được hỏi thừa nhận bị chồng đánh đập thường xuyên 82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực Tỷ lệ phụ nữ bị ngược đãi trong những gia đình khá giả ở mức cao,76%
(Thống kê của Viện Xã hội học, Viện KH-XH VN-02/2006)
Các nhà hoạt động xã hội cho rằng, cả tin là nguyên nhân khiến chị em phụ nữ rơi vào tay bọn buôn bán người Nhưng nếu không quá bất hạnh, không phải sống trong địa ngục gia đình thì người phụ nữ không dễ bị dụ dỗ như vậy Chính sự trọng nam khinh nữ, tư tưởng phân biệt giới khiến chị em bị đối xử tệ bạc, bị rẻ rúng, bị
Trang 6tổn thương nặng nề, do đó chị em luôn mong muốn thoát khỏi tình trạng này Và thật dễ hiểu khi họ mù quáng tin theo người sẵn sàng chia sẻ, hứa hẹn giúp đỡ họ
Có lẽ không ai bỏ nhà khi họ được sống trong một gia đình hạnh phúc Mặc dù hiện tượng bất bình đẳng giới đã được nói đến rất nhiều, nhưng đâu đó tình trạng này vẫn tái diễn và gây nên hậu quả nghiêm trọng, tiếp tay cho nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em
Nhiều bậc cha mẹ đã bộc lộ sự khát khao có con trai của họ đến mức nạo phá những bào thai bé gái hoặc có những người vợ đã lén lút cưới vợ lẽ cho chồng Hậu quả đưa đến cũng khá nghiêm trọng: có người chồng khi có vợ lẽ thì yêu chiều và hắt hủi vợ cả Dường như tâm lý muốn có con trai để nối dõi tông đường vẫn là tâm
lý ăn sâu bám rễ ở mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là những người dân vùng nông thôn, những dân tộc vùng sâu vùng xa nhận thức còn thấp kém Cũng xuất phát từ nguyện vọng muốn có con trai mà trong một cuộc điều tra xã hội học ở Hà Nội thì
có 2/3 số người được hỏi đã nêu nguyện vọng là có mong muốn sinh con thứ ba Theo báo cáo gần đây nhất của Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em Việt Nam,
từ đầu năm đến nay, ở nước ta đã có hiện tượng mất cân bằng giới tính từ khi sinh
Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã khiến số nam giới nhiều hơn nữ giới và điều này cho thấy rằng cách nhìn nhận về người phụ nữ của chúng ta vẫn chưa được cải thiện hoàn toàn Bình đẳng nam nữ đang thực sự là một cuộc cách mạng khó khăn và lâu dài vì sự hạ thấp, khinh miệt đối với phụ nữ đã tồn tại từ hàng nghìn năm nay ăn sâu trong nhận thức của văn hóa người Việt
Số bé trai mới sinh là 289.126 em và bé gái là 216.585 em, tỷ số giới tính là 110,8 nam/100 nữ Ngay từ kết quả Tổng điều tra Dân số năm 1999 cũng đã có dấu hiệu mất cân đối giới tính trên phạm vi cả nước, đặc biệt ở 16 tỉnh, thành phố có tỷ suất vượt quá ngưỡng tự nhiên (106 nam/100 nữ)
Điển hình là: Tỉnh Thái Bình: tỷ số 120 nam/100 nữ; Tỉnh Kon Tum: 124 nam/100 nữ; Tỉnh Trà Vinh: 124 nam/100 nữ; Tỉnh Kiên Giang: 125 nam/100 nữ, Tỉnh An Giang: 128 nam/100 nữ; Sóc Trăng: 124 nam/100 nữ
Ban Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP HCM) khẳng định, hiện tượng sản phụ sinh
bé trai nhiều hơn sinh bé gái là có thật Số liệu ghi chép tại bệnh viện này cho thấy trong 9 tháng đầu năm 2005, có 33.223 trẻ ra đời Trong đó, có 17.410 (chiếm
Trang 752,4%) trẻ trai và 15.813 trẻ gái (chiếm 47,6%) Tại Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương (TP HCM), từ đầu năm đến nay có 19.921 trẻ sơ sinh ra đời Mặc dù không
có số liệu thống kê cụ thể nhưng theo nhận định của lãnh đạo bệnh viện này thì hiện tượng bé gái ít hơn bé trai là có thật
Và, khi Việt Nam đứng thứ 89/143 trong cuộc điều tra về chỉ số phát triển giới, khi Việt Nam còn 70% dân số làm nông nghiệp, với mặt bằng dân trí thấp, có thể kết luận về tình trạng bất bình đẳng là phổ biến
II.Sự phân công lao động giữa vợ - chồng trong gia đình
2.1.Mô hình phân công lao động truyền thống của gia đình
Mô hình phân công lao động truyền thống của gia đình vẫn còn được duy trì, người phụ nữ - người vợ vẫn đảm nhiệm công việc nội trợ và nam giới - người chồng vẫn là người thực hiện chính công việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình
Có thể nói ngay từ buổi bình minh của lịch sử loài người, sự phân công lao động theo giới đã được hình thành Khi ấy nam giới do khoẻ mạnh hơn thì vào rừng, xuống sông để săn bắn, hái lượm, tìm kiếm thức ăn, còn phụ nữ do yếu hơn, phần nữa phải bận bịu với công việc nuôi con nên ở nhà trông con cái và nấu nướng
Xã hội ngày càng phát triển, sự phân công lao động giữa nam và nữ ngày càng chịu sự chi phối của các lề thói và tập tục xã hội Trong gia đình truyền thống người
vợ đóng vai trò lo toan việc nhà, làm nội trợ, sinh đẻ và dạy dỗ con cái Còn người chồng đóng vai trò ông chủ, có quyền sở hữu về đất đai tài sản, là người đảm bảo cho sự độc lập về kinh tế của gia đình
2.1.1.Phân công lao động giữa vợ và chồng trong nhóm công việc nội trợ
“Công việc nội trợ” là một khái niệm cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thật rõ ràng Theo sự tính toán của các chuyên gia thì người nội trợ phải thực hiện
216 dạng hoạt động khác nhau từ đính khuy đến việc chăm sóc người ốm “Công việc nội trợ gia đình” hay còn được xem là hoạt động tái sản xuất liên quan đến việc duy trì gia đình Mặc dù được coi là hoạt động thiết yếu để duy trì sự tồn tại của con người song lại không thường hoặc khó quy đổi thành giá trị kinh tế, vì vậy những công việc nội trợ trong gia đình (còn được gọi là lao động gia đình) cho đến nay vẫn được xem xét là loại hình lao động không được trả công ở nước ta và nhiều quốc
Trang 8gia trên thế giới vẫn xếp các công việc nội trợ vào lĩnh vực “không hoạt động kinh tế” và coi là công việc dành riêng cho phụ nữ Trong điều kiện hiện nay liệu quan niệm về sự phân công này đã thay đổi? Trong gia đình, các hoạt động tái sản xuất sức lao động cho các thành viên hay còn gọi là công việc nội trợ gia đình được xem như là một hình thức hoạt động diễn ra hằng ngày, là công việc cần thiết để duy trì cuộc sống của mỗi thành viên và sự tồn tại của gia đình Gia đình sẽ không còn là gia đình nguyên nghĩa nếu như hoạt động này không diễn ra mà thay vào đó là sự chen lấn của các loại hình dịch vụ Ngày nay việc chăm lo cho các thành viên trong gia đình được coi là một công việc quan trọng theo đúng nghĩa của nó, trong đó vai trò của người phụ nữ đặc biệt được đề cao Nhưng điều đó không có nghĩa phụ nữ
là người chịu trách nhiệm chính trong mọi công việc của gia đình Phụ nữ Việt Nam ngày nay đang có mặt trên khắp các lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân, cùng với quá trình học tập, làm việc, trình độ của lao động nữ cũng ngày càng được nâng cao rõ rệt Những người phụ nữ không muốn chỉ được bình đẳng trong hoạt động nghề nghiệp mà còn cả trong công việc gia đình Do vậy cần có sự phân công lao động một cách hợp lí hơn giữa vợ và chồng trong các công việc của gia đình trên cơ sở cùng hợp tác Việc cùng gánh vác trách nhiệm đối với gia đình mang ý nghĩa sâu xa của tình cảm cố kết giữa các thành viên Sự chia sẻ không còn đơn thuần chỉ là trách nhiệm mà còn đánh giá một đời sống hôn nhân tích cực Nói cách khác sự bình đẳng trong công việc gia đình giữa vợ và chồng sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi không chỉ cho nữ giới mà cả nam giới trong việc hoàn thành tốt hơn vai trò của mình trong gia đình và xã hội
Theo nhiều cuộc nghiên cứu và khảo sát gần đây cho thấy một thực tế là hầu như không có thay đổi đáng kể ở sự phân công lao động giữa người vợ và người chồng trong công việc nội trợ Người vợ vẫn đảm nhận hết các công việc thuộc về nội trợ 82,5% Sự tham gia của người chồng chiếm một tỉ lệ nhỏ, chỉ có 3,5% và cả hai vợ chồng cùng tham gia vào công việc nội trợ cũng chỉ ở mức 14,8% Như vậy,
có thể thấy rằng trong các hoạt động thiết yếu của gia đình hiện nay thì dường như vẫn còn duy trì theo mô hình phân công truyền thống: Công việc nội trợ của gia đình vẫn do người vợ đảm nhận
Bảng 1: Sự tham gia công việc nội trợ giữa vợ và chồng trong gia đình
Trang 9Chỉ tiêu Chồng Vợ Cả vợ và chồng Tham gia công việc nội
trợ
(Nguồn: Kết quả nghiên cứu mà Unicef công bố năm 2008)
Sự khác biệt quá lớn giữa vợ và chồng trong công việc gia đình tưởng như bị yếu tố kinh tế trong điều kiện mới bị che lấp, khiến cho họ bị xem nhẹ, làm cho cả nam và nữ đều coi đó là chuyện tất yếu, không có gì quan trọng hay đáng lưu ý cả bởi vì hoàn cảnh buộc người ta phải lựa chọn như vậy để đảm bảo đời sống của gia đình Nhưng thực tế những công việc nội trợ không phải là một công việc đơn giản, nhẹ nhàng như quan niệm của nhiều người, việc này cũng đòi hỏi nhiều thời gian và sức lực của người thực hiện, người phụ nữ vừa phải hoàn thành tốt công việc lao động sản xuất như nam giới, mặt khác lại phải tiếp tục bỏ thêm một lượng thời gian cho công việc bếp núc, dọn dẹp nhà cửa, với sức khỏe của người phụ nữ liệu như vậy có quá sức không?
Trước đây, người đàn ông nào muốn phụ giúp vợ, chia sẻ với vợ một vài công việc nội trợ trong nhà thường rất sợ người khác nhìn thấy sẽ chê cười vì cho rằng như vậy sẽ làm mất mặt đàn ông, đàn ông chỉ làm những chuyện lớn bên ngoài, không làm những chuyện vặt vãnh của phụ nữ Thậm chí, có thành kiến nặng nề cho rằng, những người đàn ông hay làm công việc gia đình thì có tính đàn bà v.v… Tuy nhiên hiện thời, có sự thay đổi nhiều trong cách nhìn nhận về người đàn ông biết chia sẻ công việc với vợ Có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là nhờ
sự hiện đại, tiến bộ và quan điểm bình đẳng giới trong suy nghĩ của người đàn ông thời nay
Cùng với nhận thức về sự bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ thì nhiều người đàn ông cũng có sự cảm thông sâu sắc về gánh nặng công việc gia đình mà người phụ nữ phải đảm trách, từ đó, họ tình nguyện phụ giúp các công việc gia đình bằng tất cả tình cảm của mình Khi đó, người phụ nữ có điều kiện làm tốt vai trò bên ngoài xã hội, cùng phát triển và cũng có điều kiện xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc, người đàn ông cũng tự hào vì mình cũng có thể làm tốt những công việc gia đình, tự hào vì mình có thể phụ giúp và chia sẻ với vợ mình
Trang 10Bên cạnh sự tự nguyện, tự giác, sự cảm thông sâu sắc của người đàn ông để có thể đỡ đần, phụ giúp công việc trong gia đình thì nhiều chị em phụ nữ cũng tạo điều kiện, cơ hội để người đàn ông nhận thấy được trách nhiệm của mình mà làm những công việc đó Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để có thể xây dựng nên một gia đình có sự bình đẳng về vai trò, trách nhiệm của người đàn ông và phụ nữ
Trong quá trình phát triển không ngừng của xã hội, nhận thức của mọi người cũng được nâng cao, nhu cầu xây dựng gia đình bình đẳng để theo kịp tiến trình phát triển của xã hội cũng trở nên cấp thiết và trở thành nhu cầu đương nhiên Biết gánh vác, chia sẻ với nhau những công việc trong gia đình để cùng phát triển tốt là điều kiện quan trọng để đạt được sự bình đẳng tiến bộ cần phải có trong đời sống đương đại
Dù bất kì là nam hay nữ, độ tuổi trẻ hay già, trình độ học vấn cao hay thấp, các dân tộc khác nhau, hầu hết người trả lời đều thừa nhận vai trò của người phụ nữ trong công việc nội trợ Điều đó cho chúng ta thấy mô hình phân công lao động truyền thống của gia đình vẫn còn được duy trì, người phụ nữ, người vợ vẫn đảm nhiệm công việc nội trợ
Cũng theo quan niệm truyền thống, tương ứng với sự phân công lao động đó là quyền quyết định của người vợ trong các khoản chi tiêu hằng ngày Quan niệm về chức năng “tay hòm chìa khoá” của người phụ nữ vẫn tồn tại trong xã hội Việt Nam
Tuy nhiên vấn đề đáng lưu ý ở đây là việc đảm nhiệm chủ yếu việc giữ tiền của phụ nữ lại có liên quan mật thiết tới các chi tiêu cho sinh hoạt hằng ngày của gia đình Do đó có thể nhận thấy sự bất bình đẳng ngay cả trong một vấn đề mà bề ngoài dường như là có lợi thế cho phụ nữ Trên thực tế việc giữ tiền trong gia đình gần như ngầm định người vợ là người thực hiện các công việc tiếp theo trong chuỗi các công việc nội trợ
2.1.2 Phân công lao động trong việc sửa chữa các đồ dùng trong gia đình.
Trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình, hầu như ở các gia đình, người chồng là người đảm nhận chính trong việc sửa chữa đồ dùng trong gia đình Thế