1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á ĐẠI CƯƠNG

43 410 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 62,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Minh đô hộ nước ta trong 20 năm đã thi hành nhiều chính sách rất tàn bạo với mục đích cướp bóc,vơ vét nhân tài ,vật lực của Đại việt,thủ tiêu nền văn hóa dân tộc,thực hiện chính sách

Trang 1

LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á ĐẠI CƯƠNG

Nước Đại Việt, phát triển rực rỡ vào thời nhà Trần (ở thế kỉ 13),v à cho đến thế 14 nhà Trần có dấu hiệu suy sụp

Năm 1400,Hồ Qúy Ly phế truất vua nhà Trần và lên ngôi,sau đó đổi quốc hiệu là Đại Ngu lập nên triều nhà Hồ (1400-1407).Trong những năm cầm quyền nhà Hồ

đã thi hành nhiều chính sách cải cách tiến bộ về kinh tế-xã hội( đê điều, ruộng đất, tiền tệ và giáo dục).Tuy nhiên vì không được lòng dân nên đã không thi hành được cuộc chấn hưng đất nước.Cùng với tình hình triều chính rối ren, lục đục,nhân dân nổi dậy chống nhà Hồ và lúc này quân Minh kéo sang lật đổ Triều nhà Hồ sau đó chính thức đặt ách đô hộ lên nước ta

Nhà Minh đô hộ nước ta trong 20 năm đã thi hành nhiều chính sách rất tàn bạo với mục đích cướp bóc,vơ vét nhân tài ,vật lực của Đại việt,thủ tiêu nền văn hóa dân tộc,thực hiện chính sách ngu dân và chia rẽ dân tộc.Nhân dân nhiều lần nổi dậy chống lại,tuy nhiên đều bị thất bại cho đến khi Lê Lợi cùng với Nguyễn Trãi đã lãnh đạo 1 cuộc khởi nghĩa diễn ra trong 10 năm (1418-1428) ở Lam Sơn.Năm 1428,đất nước ta được giải phóng và thống nhất,Lê Lợi lên ngôi vua lấy tên nước

là Đại Việt (sử gọi là Hậu Lê) và bắt tay vào công cuộc khôi phục và xây dựng đất nước đất nước.Nằm trong thế kỉ 14 có 4 hoàng đế-Thái Tổ,Thái Tông, Nhân Tông

và Thánh Tông là thời kì thịnh trị :dân no ấm,thái bình.Điển hình nhất là tình hình chính trị-xã hội dưới thời trị vì của vua Lê Thánh Tông,ông đã cho cải cách bộ máy hành chính quan lại từ trung ương đến địa phương,vẽ bản đồ quốc gia-bản đồ Hồng Đức,tổ chức quân đội quy củ,ban hành bộ luật Hồng Đức

Vương quốc Champa,vào đầu thế kỉ 13 thì Champa bắt đầu suy yếu

Trang 2

Năm 1220,Champa khôi phục được chủ quyền của mình vì Campuchia đã tự động rút khỏi Champa Tình hình kinh tế-chính trị trong thời kì này cũng được chú trọng phát triển như đào kênh mương, khai khẩn ruộng đất,phục lại lại sản xuất nông nghiệp;chính sách đối ngoại thân với triều đình Ăngkor,kì thị với Đại Việt.Tuy nhiên, Champa vẫn trong tình trạng suy thoái kéo dài cho đến khi Đại Việt thôn tính.

Năm 1283,quân Nguyên-Mông tấn công Champa và chiếm được thành Vijaya,triều đình Champa rút lên Tây Nguyên để đánh du kích.Lúc này Đại Việt có nguy cơ bị quân Nguyên-Mông thôn tính nếu Champa thua nên Đai Việt đã cùng Champa đoàn kết cùng chống lại quân Nguyên Mông

Sau khi đánh đuổi quân Nguyên-Mông thành công 2 nước này đã tăng cường mối hòa hiếu với nhau.Riêng Champa đã cử sứ thần sang Trung Hoa và Campuchia để khôi phục lại quan hệ ngoại giao bình thường,lúc này lãnh thổ Champa cũng được

mở rộng thêm nhiều về phía Tây.Năm 1307,vua Chế Mân lấy công chúa Huyền Trân và ông phải cắt 2 châu là châu Ô và châu Lí (tức Thừa Thiên Huế) để làm sính lễ,từ đó Champa bị mất phần đất ấy cho đến phía Nam đèo Hải Vân (từ Quảng Nam trở vào).Trong giai đoạn Chế Bồng Nga là 1 ông vua nổi tiếng hiếu

chiến,trong vòng 30 năm ông đã nhiều lần đem quân sang đánh chiếm Đại Việt, thậm chí có lần đã tấn công vào thành Thăng Long,đây là thời kì quân sự mạnh nhất của Champa.Sau khi Chế Bồng Nga mất thì Champa cũng lâm vào suy

thoái Đến giữa thế kỉ 14,Đại Việt nhiều lần đem quân đánh Champa và đến 1471 Đại Việt thôn tính Champa

Campuchia-thời kì Ăngkor, vào đầu thế kỉ 13 thì vương quốc Campuchia đã không còn mạnh như trước nữa.Năm 1220, Đế quốc Khmer còn cho lui quân khỏi

tây, những tộc người Thái nổi dậy, thành lập vương quốc Sukhothai, đẩy lui người Khmer Trong khoảng 200 năm tiếp theo, người Thái trở thành đối thủ chính của người Khmer Nối ngôi Indravarman II là Jayavarman VIII (trị vì từ 1243-1295) Không như các vua trước, ông theo đạo Hindu và rất quá khích chống lại đạo Phật Ông cho phá hủy phần lớn các tượng Phật trong vương quốc (các nhà khảo cổ ước tính trên 10 ngàn tượng Phật bị phá hủy, chỉ để lại rất ít dấu tích) và biến chùa chiền thành đền thờ của đạo Hindu Từ bên ngoài, đế quốc này bị đe dọa bởi quân Mông Cổ dưới quyền chỉ huy của tướng Sagatu Nhà vua tìm cách tránh nạn binh

Trang 3

đao bằng cách triều cống cho người Mông Cổ, lúc này đang làm chủ Trung Quốc Triều đại của Jayavarman VIII kết thúc năm 1295 khi ông bị con rể là

Srindravarman (trị vì từ 1295-1309) lật đổ Tân vương là người theo Phật giáo Theravada, là trường phái Phật giáo đến từ Sri Lanka, rồi lan tỏa khắp khu vực

vương quốc thời kỳ này Cột đá cuối cùng mang văn khắc được biết đến là từ năm

1327 Không có đền đài lớn nào được xây dựng thêm Các nhà sử học ngờ rằng điều này gắn liền với tín ngưỡng Phật giáo Theravada vốn không đòi hỏi việc xây cất các công trình vĩ đại để thờ phụng Tuy nhiên, việc vắng bóng các công trình lăng tẩm lớn cũng có thể do việc quyền uy của triều đình sút giảm và do đó thiếu nhân công xây dựng Các công trình thủy lợi cũng dần đổ nát, mùa màng do đó cũng bị thất bát khi có lũ lụt hoặc hạn hán, làm đế quốc càng suy yếu Quốc gia Thái láng giềng, vương quốc Sukhothai, sau khi đẩy lùi đế quốc Angkor, bị một vương quốc Thái khác, vương quốc Ayutthaya, chinh phục năm 1350

Lưu vực sông Irrawaddy,sau khi Pagan bị đế quốc Mông Cổ thôn tính và phải hàng phục Và hầu như ở khu vực này không có gì biến đổi đặc biệt

Các quốc gia Hải đảo, cho đến thế kỉ XIV thì vẫn có 2 vương quốc là Mataram ở Java và Sri vijaya ở Sumatra.Tuy nhiên 2 vương quốc này lại xảy ra xung đột kéo dài nên hậu quả là Sri Vijaya suy yếu, cho đến cuối thế kỉ XIII thì Sri Vijaya vẫn là vương quốc riêng.Năm 1293 ở đảo Java, sau khi Vijaya đẩy được cuộc xâm lăng của quân Nguyên sau đó lên ngôi vua và lập nên vương triều mới.Đây là vương triều duy nhất từ trước tới giờ cai quản được 1 vùng đất rộng lớn bao gồm cả đảo Java và Sumatra,bán đảo Malaya và các đảo xung quanh Sang nửa thế kỉ XIV Sumatra trở nên sa sút hơn.Cho đến cuối thế kỉ XIV-đầu thế kỉ 15, Hồi giáo du nhập vào Sumatra và Sri Vijaya,cũng trong lúc này ở đảo Java nhà nước Mê da mất dần vị trí của mình.Vương quốc Hồi giáo được hình thành trên đảo Malaca

Lưu vự sông Mê Nam, vương quốc Ayudthaya trở thành vương quốc rất mạnh ở khu vực ĐNA: kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự Thống nhất về cơ cấu tổ chức

bộ máy nhà nước

Trang 4

Câu 2: Trình bày tình hình chính trị, xã hội Champa giai đoạn 1471-1653.

Đáp án.

Năm 1471, khi đi đánh Champa, lấy được kinh đô Vijaya, Lê Thánh Tông có ý dừng lại, chia làm cương vực ở đó Mặc dù bấy giờ như ta đã biết, vương triều Vijaya đã suy mà Đại Việt thì đang trong thời thịnh trị Nhà Lê ko muốn và chắc chắn ko nghĩ tới việc cố thôn tính một quốc gia khác mà chỉ mong sự yên ổn lâu dài trên biên giới phía nam

Từ sau năm 1471, việc xây dựng đền tháp hầu như bị ngừng hẳn để dồn sức cho việc xây dựng một thành lũy chưa từng có, nằm ở phía tây thị xã Tuy Hòa nằm bên bờ bắc sông Đà Rằng

nên 2 quốc gia đệm ở phương nam- đã hình thành dưới thời vua Lê Thánh

Tông, lại được tiếp tục củng cố tiếp sau đó dưới các triều vua của nhà Lê

Nhưng tình hình đã chuyển biến theo một chiều khác hẳn và dẫn đến sự thay đổi căn bản bộ mặt của đát nước

Hoa Anh, giết và đuổi những nông dân Việt vào cư trú khai khẩn miền đất này

trong, hầu hết đều do Chúa Trịnh chủ động tấn công Chúa Nguyễn đã kháng cự

và phản công thắng lợi, không những thế còn có lần chủ động vượt sông Gianh lấn đất Nghệ- Tĩnh trong những năm 1655- 1660 và khi rút về đã bắt nhiều nông dân Nghệ - Tĩnh đưa vào khai khẩn và canh tác miền Thuận – Quảng Nhờ

đó lực lượng lao động và quân đội được tăng lên đáng kể vào thời gian này Cuộc chiến tranh giũa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn nổ ra cũng là lúc Po Rome

Trang 5

trở thành một hình ảnh đẹp trong cả giai đoạn hậu kì Champa này, không những thế còn trở thành một nhân vật truyền thuyết.

phí sức lực vào chuẩn bị và tiến hành những cuộc chiến trah lấn đất và chống lại chính quyền chúa Nguyễn Ông đã tranh thủ thời gian thuận lợi để lo lắng tới đời sống của dân, khôi phục nền kinh tế và văn hóa của xứ sở mình

cơ sở của mối quan hệ đó được đặt từ thế kỉ 13 Trong các thế kỉ tiếp theo,

vương quốc Champa tiếp tục củng cố quyền lực của mình trên địa bàn này nhằm xây dựng một không gian sinh tồn cần thiết cho mình, đồng thời có thêm nguồn nhân lực và thuế phú

tản quyền đã làm cho vương quốc tự yếu đi rất nhiều Rồi đén những quan hệ đối ngoại lại cũng có ý nghĩa như một nhân tố quyết định đến vận mệnh của nó Trong gần 10 thế kỉ đầu tiên, khi Champa đang sung sức, đang còn khả năng thuận lợi và phát triển thì mọi cố gắng để tranh một vùng đất phía bắc trong những điều kiện giành giật cực kì khó khăn

lại chủ động tấn công- tung sức ra đối địch cùng một lúc với cả 2 vương quốc mạnh là Đại Việt và Campuchia đang phát triển cực thịnh Sự phung phí năng lực trong giai đoạn này đã đem lại những tổn hại không sao bù đắp được

Câu 3: Trình bày và nêu nhận xét về quan hệ của Ayudthaya với các nước trong khu vực (1350-1767).

Đáp án.

Ayudthaya là tên 1 vương quốc nhưng cũng là 1 giai đoạn-đây là giai đoạn phát triển thịnh vượng nhất của thời kì phong kiến Thái.Nó chịu đựng nhiều sự kiện sôi động về đời sống, chính trị và văn hóa của vương quốc này

Trang 6

Đầu thế kỉ 14 Rama Kamheng qua đời, con và cháu của ông lần lượt là Lô Thay

và Lư Thay lần lượt kế ngôi cho đến giữu thế kỉ 14

1350, vua Ayudthaya lên ngôi với vương hiệu Ramadhipati, cai trị vương quốc, nay bao gồm cả trung và hạ lưu Mê Nam Ayudthaya là tên một vương quốc cũng là một giai đoạn- giai đoạn phát triển thịnh vượng của thời kì phong kiến Thái Nó chứa đựng nhiều sự kiện sôi động trong đời sống, kinh tế, chính trị và văn hóa của vương quốc này

quyền lực của mình chủ yếu đối với Sukhothay, mà ko thể với tới các miền xa xôi Tình hình đó tạo điều kiện cho người Lào trước kia phụ thuộc Sukhothay tách ra lập quốc gia riêng của mình

Na La Na là một quốc gia mạnh ở miền Bắc, trước kia từng có quan hệ liên minh với Sukhothay

nhiều thế kỉ nữa là việc ayudthaya thực hiện tham vọng thôn tính Campuchia

Từ thế kỉ 13, vương quốc Campuchia bước vào giai đoạn suy thoái, đã để mất quyền cai quản đồng bằng sông Mê Nam và cao nguyên Khorat một cách dễ dàng

đều là vương quốc mạnh mới phát triển từ những thế kỉ XI- XIII

tỏ thái độ ủng hộ Lan Xang chống Mianma Mối hiềm khích kéo dài mấy thế kỉ

đó chỉ kết thúc khi cả 2 đã đều suy yếu và đều phải lo toan về những công việc riêng của mình

Trang 7

- Trên bước đường phát triển, Ayudthaya đã thực thi chính sách nước lớn tranh bá quyền khu vực Để có thể theo đuổi chính sách này, Ayudthaya đã hết sức tranh thủ sự ủng hộ của triều đình Trung Hoa.

thành tựu văn hóa Campuchia Lúc đầu giữa thế kỉ 13, nhiều người Thái theo người Khmer tôn thờ cả Ấn giáo và đạo Phật đại thừa, về sau họ chịu ảnh

hưởng của người Môn ở Mianma đã chuyển sang theo đạo Phật Tiểu thừa

phồn thịnh, một thương cảng quốc tế nằm ở khúc cong , gần hạ lưu sông Mê Nam, cách Băng Cốc 80km về phía Bắc

điều này đã đem lại những kết quả tương xứng về mặt kinh tế và xã hội.Quan

hệ ngoại thương của Ayudthaya được xác lập chủ yếu với Trung Hoa.Như thế,

để tranh thủ bá quyền khu vực, chính sách thân Trung Hoa trở thành quốc sách của Ayudthaya và là điểm nổi bật nhất trong chính trị, kinh tế, văn hóa và quân

sự của cả nước

Ayudthaya sau 1 thời gian bị Mianma thống trị (1569-1590).Ayudthaya trở lại tấn công ,ianma gây cho nước này nhiều tốn thất, sau đánh bại Capuchia và bắt nước này thần phục

Ayudthaya đã có những biến động rõ rệt.Sự phân hóa xã hội đã diễn ra sâu sắc.Việc đống hóa và tiêu giảm thành phần tộc người Môn, sự bần cùng hóa nhân dân và sự lũng đoạn của người Hoa đã làm cho mâu thuẫn xã hội thêm gay gắt.Nhân cơ hội này Mianma đem quân đánh Ayudthaya

số hoàng tộc bị giết Cuộc tàn sát này đã gây thương đau và căm hờn cho người

Trang 8

Thái.Một viên quan người Thái gốc Hoa tên là Trịnh Quốc Anh đã đem 500 quân phá vây để chạy thoát ra ngoài.

còn lại và nhân dân đứng lên đấu tranh ,họ đã nhanh chóng đánh đuổi được Mianma ra khỏi bờ cõi của mình , lập lại chính quyền và ông lên ngôi vua vào năm 1767 lấy hiệu là Tắc Xin và lấy tên nước là Xiêm

Câu 4: Những nhân tố thúc đẩy quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân ở Đông Nam Á (thế kỉ XVI-XIX).

Đáp án:

Đây là giai đoạn các nước p.Tây bước vào thời kì cận đại,chủ nghĩa tư bản ra đời

và thống trị ở p.Tây,cũng trong thời kì này giai cấp vô sản cũng xuất hiện và bị giai cấp Tư Sản cai trị.Trong khi đó ở p.Đông các quốc gia còn đang ở chế độ phong kiến lạc hậu,trì trệ

Các cuộc phát kiến địa lý đem lại nhiều thành quả lớn lao như cung cấp cho các nhà khoa học rất nhiều hiểu biết mới về địa lí, thiên văn, hàng hải, sinh vật

học đặc biệt là nền kinh tế của các nước p.Tây thời kì lúc bấy giờ

Năm 1486, đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha do Bartolomeu Dias chỉ huy đã tới được cực nam châu Phi, họ đặt tên mũi đất này là mũi Hy Vọng

Năm 1497, Vasco da Gama đã dẫn đầu đoàn thám hiểm Bồ Đào Nha tới được Ấn Độ

Năm 1492, một đoàn thám hiểm do Cristoforo Colombo chỉ huy đã tới được quần đảo miền trung châu Mĩ, nhưng ông lại tưởng là đã tới được Ấn Độ Ông gọi

những người thổ dân ở đây là Indians Sau này, một nhà hàng hải người Ý là

Amerigo Vespucci mới phát hiện ra Ấn Độ của Colombo Năm 1519-1522,

Ferdinand Magellan đã cầm đầu đoàn thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đi vòng quanh thế giớikhông phải là Ấn Độ mà là một vùng đất hoàn toàn mới đối với người châu Âu Sau những cuộc phát kiến này, một sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa trên thế giới diễn ra do các cá nhân có nguồn gốc văn hóa khác nhau như các giáo sĩ, nhà buôn, những người khai phá vùng đất mới, những quân nhân

Ở p.Tây lúc này các cuộc cách mạng Tư sản,cách mạng công nghiệp giành được thắng lớn như cách mạng tư sản Hà Lan (1648),cách mạng tư sản Anh (1689),cách mạng tư sản ở Hoa Kỳ (1776),cách mạng tư sản Pháp (1789),cách mạng công nghiệp Anh(thế kỉ XVI-XVIII)…v.v Vào thế kỉ 15, kinh tế hàng hóa ở Tây Âu đã

Trang 9

khá phát triển, nhu cầu về thị trường tăng cao Giai cấp tư sản Tây Âu muốn mở rộng thị trường sang phương Đông, mơ ước tới những nguồn vàng bạc từ phương Đông.

Tại Tây Âu, tầng lớp giàu có cũng tăng lên do đó nhu cầu về các mặt hàng đặc sản, cao cấp có nguồn gốc từ phương Đông như tiêu, quế, trầm hương, lụa tơ tằm (dâu tằm tơ), ngà voi tăng vọt hẳn lên

Trong khi đó, Con đường tơ lụa mà người phương Tây đã biết từ thời cổ đại lúc đó lại đang bị đế quốc Ottoman theo đạo Hồi chiếm giữ, đi qua chỉ có mất mạng, vì vậy chỉ có cách tìm một con đường đi mới trên biển

Đông Nam Á là khu vực hấp dẫn, tài nguyên thiên nhiên phong phú, có vị trí địa lí thuận lợi,khu vực địa-chính trị,địa kinh tế quan trọng,dân số khá đông, và khu vực này trở thành một nơi có sức hút các nước châu Âu đang bước vào thời kì cận đại.Lại nói về các quốc gia Đông Nam Á trong thời kì này,trước khi bị thực dân p.Tây xâm nhập thì ở khu vực này các nhà nước trung ương tập quyền đã suy yếu, các quốc gia thường xuyên xảy ra nội chiến Chính điều này tạo cơ hội cho p.Tây dễ dàng xâm nhập vào khu vực một cách dễ dàng

Khu vực này có nền kinh tế tự nhiên,tự cung tự cấp,kinh tế tiểu nông kết hợp với gia đình.Đời sống của dân cư nơi đây vẫn còn lạc hậu

Vào đầu thế kỉ XVIII-XIX,nền kinh tế sản xuất hàng hóa ra đời nhưng nhỏ,và lại

lệ thuộc vào người thu mua hàng hóa,hàng hóa tiền tệ xuất hiện nhưng kém và yếu thế hơn

Tất cả các nhân tố trên đã tạo thời cơ thuận lợi cho thực dân p.Tây tiến hành xâm lược ĐNÁ

Câu 5: Trình bày một số nguyên nhân dẫn đến sự di cư của người Hoa đến các nước ĐNÁ thời kì cận đại và vị trí của họ tại các nước này.

Đáp án:

Xuất phát từ điều kiện của TQ,chiến tranh của các vương triều, mất mùa, đói kém ,các cuộc tấn công của quân Mông-Nguyên,sự xâm nhập của thực dân p.Tây, cuốc chiến tranh giữa Nam triều-bắc triều Bắt đầu từ cuối thế kỉ XVI ,lúc này p.Tây đang bắt đầu thể hiện ý định xâm lược TQ và dần dần khống chế tất cả

Xuất phát từ các quốc gia ĐNÁ :Rất giàu tài nguyên thiên nhiên,thị trường rộng lớn nhưng chưa khai thác nhiều, đây là 1 khu vực hấp dẫn , thu hút đối với người Hoa

Sau thế kỉ X-XIX: là khoảng thời gian mà người Hoa di cư đến ĐNÁ

Trang 10

Khi đến các quốc gia ĐNÁ,hình thành cộn đồng riêng,hoạt động kinh tế riêng,định

cư riêng,họ trao đổi buôn bán,trao đổi và nắm giữ các lĩnh vực hoạt động kinh tế quan trọng (công nghiệp , tài chính, ngân hàng, )

*Nguyên nhân người Hoa di cư đến các nước ĐNÁ trong thời cận đại:

Do điều kiện tự nhiên, mất mùa, đói kém, bệnh tật xảy ra.Vì vậy họ muốn đi tìm vùng đất mới để có cuộc sống tốt hơn ở nơi đây.Với lại, khu vực ĐNÁ là khu vực đồng chủng đồng văn nên có lẽ họ sẽ dễ dàng hòa nhập hơn

Do ĐNÁ là 1 vùng đất trù phú,phì nhiêu và màu mỡ.Không những thế đây là vùng đất giàu tài nguyên, lại ở trên 1 vị trí quan trong trong việc giao thương buôn bán

Do ở chính quốc có biến động về chính trị.Sự cạnh tranh về quyền lực của các triều đại, các cuộc chiến tranh và cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tục xảy ra

Mặt khác, hầu hết các triều đại phong kiến nào cũng có tham vọng mở rộng lãnh thổ về phía Nam để có thể dễ dàng đồng hóa ĐNÁ thành người Hán.Cứ như vậy làng của người Hoa tiếp tục mọc lên ở phía Nam như Imasek của Singapore, đảo Suma của Indo,…

Do chính sách ở chính quốc, các triều đại phong kiến gây khó khăn cho việc buôn bán ngoại thương Đặc biêt là chính sách ngoại thương của nhà Tống đã có ảnh hưởng rất lớn đến việc thúc đẩy người Hoar a nước ngoài làm ăn sinh sống, nhất là tầng lớp thủy thủ,thương nhân.Mặt khác, vào thời nhà Minh (giữa thế kỉ XV) nhà nước ban hành đạo luật ngăn cấm thương nhân ra nước ngoài,tình trạng này dẫn đến sự ra đi lặng lẽ của các thương nhân người Hoa với 1 số lượng lớn của cải, kinh nghiệm sản xuất, được tích lũy nhiều năm để đên ĐNÁ

Sự thành công của nhiều người Hoa ở hải ngoại đã thôi thúc họ đến vùng đất mới

để tìm vận may, và hi vọng cũng sẽ đạt được thành công như những người đi trước

Một phần là do họ được tuyển vào làm trong các đồn điền , công xưởng của các nước thuộc địa của thực dân p.Tây ở ĐNÁ

*Vai trò của người Hoa ở khu vực ĐNÁ:

Trang 11

Vai trò vị trí của người Hoa rất quan trọng: Nắm giữ mạch máu kinh tế chủ chốt trong thời gian dài ,từ đó tạo nên quá trình buôn bán rất sôi động tạo nên xung lực mới cho sự phát triển của ĐNÁ về mọi mặt.

Singapore người Hoa :76,7% và đất nước này rất phát triển,họ quyết tâm 1 quốc gia hoàn toàn mới

Câu 6: Trình bày tóm tắt quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân p.Tây ở các quốc gia ĐNÁ hải đảo (thế kỉ XVI-XIX).

Đối với các quốc gia hải đảo ,Bồ Đào Nha là nước đầu tiên xâm chiếm khu vực ĐNÁ vào năm 1511,chiếm nước Hồi giáo Malacca.Điều này đã giúp cho buôn bán của BĐN trở nên thuận lợi và sầm uất,sau đó người BĐN lại tiếp tục đi về hướng Đông chiếm đảo hương liệu về phía Đông Nam của Indonesia

Cuối thế kỉ XVI thì ngưởi BĐN đã đến Luxông (vùng đảo Midanao)

Năm 1612 BĐN đã đến Việt Nam

Tiếp sau BĐN là nước Tây Ban Nha,họ đã đến ĐNÁ vào thế kỉ XVI,va 2ho5 phải

đi từ hướng tây.Vì sau các cuộc phát kiến địa lí chỉ có BĐN mới biết con đường sang p.Đông và họ giữ bí mật không cho nước nào biết được lộ trình này

Năm 1521,tàu của Magienlan cập bến 1 đảo nằm trong khu vực lợi ích của

BĐN.Hai nước TBN-BĐN tranh giành quyền khống chế các đảo ở đây

Năm 1529,BĐN-TBN kí hiệp ước thỏa hiệp,người TBN sẽ ngừng thám hiểm lên các vùng đảo của BĐN

Trang 12

Năm 1570, BĐN suy yếu tạo điều kiện thuận lợi cho TBN và TBN nhanh chóng chiếm được hầu như vùng đảo của Philippines.

Sau TBN là Hà Lan thâm nhập vào khu vực này, ban đầu Hà Lan đã tìm cách thâm nhập vào Ấn Độ từ cuối thế kỉ XVI.Trước đó Hà Lan chỉ là đại lí cho BĐN và TBN để tiêu thụ và vận chuyển hàng hóa.(vì lúc bấy giờ BĐN-TBN giấu con

đường sang ĐNÁ,cấm các thương nhân Hà Lan tới đây)

Năm 1596,Hà Lan bắt đầu sang p.Đông.Chuyến đi đầu tiên là đến đảo Java,họ mua bán với những người ở đảo Java.Tuy không thành công nhưng nó đã đặt nền móng cho các cuộc trở lại sau này

Vào thế kỉ XVII, Hà Lan-BĐN cạnh tranh lẫn nhau ở khu vực này

Năm 1603,BĐN chấp nhận thất bại ở khu vực này,(bởi vì lúc này sức mạnh của BĐN suy yếu dần,so với các nước tư bản khác đang dần vươn lên),và điều hiển nhiên là Hà Lan chiếm lĩnh các quốc gia hải đảo

Năm 1609,Hà Lan được quyền xây dựng nhà ở và kho tàng ở Jakarta, và chiếm một số đảo ở phía Đông Nam đảo Java

Câu 7 : Trình bày tóm tắt quá trình xâm nhập của chủ nghĩa thực dân p.Tây ở các

quốc gia ĐNÁ lục địa(thế kỉ XVI-XIX).

Đáp án:

Cũng nằm trong bối cảnh chung của khu vực,các quốc gia lục địa bao gồm bán đảo Đông Dương (Việt Nam-Lào-Campuchia), Miến Điện và Xiêm.Trong đó, trường hợp của nước Xiêm là đặc biệt,vì đây nước duy nhất trong khu vực không bị thực dân p.Tây xâm chiếm và biến thành thuộc địa bởi ví có chính sách ngoại giao mềm dẻo

Trong khi BĐN,thực dân Hà Lan và thực dân Anh đã chinh phục Inđonesia và bán đảo Mã Lai từ Malaca.TBN xâm chiếm Philippines từ Cebu thì ở bán đảo Đông Dương thực dân Pháp mở đầu cho cuộc xâm nhập ở bán đảo Sơn Trà (Việt

Nam).So với các cuộc xâm lược của nước thực dân khác vào khu vực ĐNÁ (thế kỉ XVI) thì có vẻ như là thực dân Pháp thực hiện cuộc xâm lược này muộn hơn hàng thế kỉ (giữa thế kỉ XIX)

Trang 13

Việt Nam, từ thế kỉ XVI Việt Nam đã có quan hệ thông thương với một số nước p.Tây.Tuy nhiên,ta không biết rằng các nước thực dân p.Tây thông qua buôn bán

để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta.Lúc này, BĐN bán vũ khí cho chúa

Nguyễn đúc sung thần công để đánh nhau với Chúa Trịnh, 7/1693 Hà Lan liên minh với chúa Trịnh đánh chúa Nguyễn nhưng bị đánh bại.Năm 1702,Anh chiếm đảo Côn Lôn nhưng sau đó bị quân và dân chúa Nguyễn đánh đuổi khỏi đây Ngày 28-11-1787, Nguyễn Ánh đã kí với Pháp Hiệp ước Véc xây nhưng do cách mạng

tư sản Pháp nổ ra nên không thực hiện được.Ngày 31-8-1858,liên quân Pháp-Tây Ban Nha phối hợp với quân Anh đánh chiếm Quảng Châu (TQ) và ngáy 1-9-1858 bắt đầu đánh chiếm Việt Nam, và Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp.Nhân dân Việt Nam không chịu khuất phục nên đã liên tục nổi dậy chống sự đô hộ của

Pháp,tuy nhiên do Pháp mạnh,triều đình nhu nhược,phong trào đấu tranh của nhân dân diễn ra lẻ tẻ,không đoàn kết,…nên thất bại.Và nước Việt Nam bị Pháp đô hộ gần 1 thế kỉ

Campuchia trở thành đối tượng xâm lược của thực Pháp, khi chúng tiến hành đánh chiếm Việt Nam.Năm 1863, sau khi đánh chiếm 3 tình miền Đông Nam Kì,quân Pháp kéo sang Campuchia gây áp lực để đặt nền bảo hộ ở nước đó, quy định triều đình Phnom Penh công nhận sự bảo hộ của Pháp.Bước đầu ,thực dân Pháp kiểm soát toàn bộ quan hệ ngoại giao của Campuchia.Vào cuối những năm 70 của thế kỉ XIX ,thực dân Pháp đã can thiệp sâu hơn vào việc can thiệp mọi công việc nội bộ của Campuchia.Triều đình Campuchia đặt dưới sự kiểm soát của Pháp nhưng nhà vua Campuchia vẫn nắm quyền lực trong tay,và sở hữu nhiều đất đai.vì vậy thực dân Pháp kiên quyết biến Campuchia thành một thuộc địa thật sự của mình.Ngày 17-6-1884, Pháp dùng vũ lực để ép vua Campuchia kí hiệp ước thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Campuchia.Qua hiệp ước này Pháp căn bản đã hoàn thành việc đặt nền bảo hộ của mình ở đây

Lào vào cuối thế kỉ XIX là nước kém phát triến nhất ở Đông Dương.Ngay sau khi chiếm Nam Kì và Campuchia ,thực dân Pháp tìm cách phát triển lên vùng thượng lưu sông Mê Kông.Năm 1874,Harmand dẫn đoàn đi khảo sát Trung Lào và Hạ Lào.Trong những năm 70,80 của thế kỉ XIX hoạt động của các giáo sĩ ở Lào được tăng cường.Năm 1873,20 giáo sĩ Pháp truyền giáo ở miền Đông và Bắc Lào và năm 1880 bổ sung thêm 30 giáo sĩ nữa.Đến cuối năm 1883,ở Đông Lào đã có 5000 giáo dân.Ngày 11-11-1885,A.Pavi được cử làm phó lãnh sự tại Luong phabang bên cạnh lãnh sự người Xiêm.Và Pavi bắt đầu thực hiện kế hoạch xâm lược Lào của

Trang 14

chính phủ Pháp,công việc này gặp phải sự kháng cự của Xiêm.Ngày

3-10-1893,Xiêm buộc phải kí với Pháp hiệp ước từ bỏ quyền lực với lãnh thổ của Lào ở

tả ngạn sông Mê Kông và các đảo trên sông.Thông qua hiệp ước năm 1893 thì chế

độ cai trị thực dân của Pháp được chính thức thiết lập ở Lào.Năm 1897 ,Lào trở thành một xứ trong Liên bang Đông Dương

Miến Điện,từ cuối thế kỉ XVII,Anh, Hà Lan, sau đó là Pháp cạnh tranh mạnh mẽ ở vùng bán đảo Đông Dương, đặc biết là Miến Điện và Xiêm.Năm 1686, không thuyết phục được Miến Điện công nhận quyền đô hộ của mình, Anh đã thực hiện cuộc xâm chiếm toàn bộ Miến Điện.Cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất (1824-1826), cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ 2 (1/1852), cuộc chiến tranh xâm lược lần 3 (11-1885) qua 3 cuộc chiến tranh này Miến Điện đều tổ chức đánh trả nhưng đều thất bại.Ngày 28-11-1885, toàn bộ Miến Điện trở thành 1 tỉnh của Ấn Độ

Xiêm, là trường hợp đặc biệt và duy nhất trong khu vực không bị các nước thực dân thôn tính.Trong khi các nước khác đều bị thực dân p.Tây xâm lược thì Xiêm đã khôn khéo thực hiện các chính sách ngoại giao mềm dẻo đưa đất nước thoát khỏi cảnh bị đô hộ

Câu 8: Chính sách thống trị của thực dân Hà Lan đối với Indonesia và hệ quả của nó.

Đáp án.

đến cuối thế kỉ XVII, người Hà Lan cũng mới chỉ làm chủ được vùng đảo Molucu, Macaxa và phần lớn đảo Giava chứ chua làm chủ được ở Sumatra và Calimantan

miền đông Indonexia Cùng với sự tàn phá các vương quốc ở Bali năm 1905

và sự bai trận của vương quốc Ache năm 1911, quá trình thuộc địa hóa

Indonexia của Hà Lan đã hoàn thành

Chính sách thống trị của thực dân Hà Lan đối với Indonesia :

Trang 15

*Về chính trị:

Sau khi công ti Đông Ấn của Hà Lan giải thể thì Hà Lan đã trực tiếp cử thống đốc tới cai trị và duy trì chế độ lãnh đạo địa phương để phục vụ cho công cuộc bóc lột.Năm 1918, chính quyền thực dân thiết lập hội nghị quốc dân Đông Ấn để làm cơ quan tư vấn

Trong quá trình thống trị Indonesia thì tăng cường sử dụng tầng lớp quý tộc phong kiến theo Tây học bao nhiêu thì họ hạn chế sức mạnh quý tộc Hồi giáo bấy nhiêu

*Về kinh tế:

Đề ra chính sách ruộng đất, quy định quyền chiếm hữu ruộng đất của nhân dân nhưng đồng thời cũng quy định ruộng đất thuộc chính quyền thực dân.Chính sách này này nhằm nâng cao sản xuất, mở rộng thị trường khai thác nguyên, nhiên liệu; khu vực ruộng đát của chính phủ được các nhà tư bản Hà Lan thiết lập đồn 9die6n2 trồng cây công nghiệp như cao su, thuốc lá, mía, ô liu, cà phê,… Bắt ép người dân trồng các cây hương liệu, hi vọng hương liệu của các quần đảo và sản phẩm nhiệt đới sẽ tràn ngập châu Âu và mang về cho họ 1 nguồi lợi nhuận khổng lồ

Việc đầu tư tư bản cũng được đầu tư mạnh ở đây.Năm 1900, ở Indonesia việc kinh doanh buôn bán và ngân hàng chủ yếu nằm trong tay giới tư bản Hà Lan

Hà lan thực hiện công cuộc tích lũy tư bản ở Indonesia :đầu tiên người Hà Lan thực hiện chính sách độc quyền thu mua hương liệu và sau đó ép nông dân trồng những cây công nghiệp và đặc sản để phục vụ cho xuất khẩu, sau đó bắt tay vào trực tiếp khia thác: bóc lột, bắt lao dịch, thu thuế, độc quyền mua bán gạo, muối và những mặt hàng có liên quan chặt chẽ tới đời sống của nhân dân Năm 1870 “Luật mía đường” và “Luật ruộng đất” được ban hành

Năm 1905, chính quyền Hà Lan thực hiện chính sách mở cửa cho các nước tư bản p.Tây vào Inđonesia.Tư bản thi nhau khai thác Indonesia và biến Indonesia thành nơi cung cấp cho thị trường thế giới 1 khối lượng lớn sản phẩm nhiệt đới rất lớn

*Về văn hóa – xã hội:

Trang 16

Hà lan thực hiện chính sách đạo đức, dành 1 phần ngân sách được cấp cho giáo dục.Một số trường học có mở nhưng chỉ đào tạo cho đội ngũ công chức chỉ phục

vụ cho chính quyền thực dân và chỉ có những con em của quan chức bản xứ mới mới được đến trường

Năm 1940, thống kê ở Indonesia có 60 triệu dân thì có khoảng 88.000 người học đến tiểu học, 240 người tốt ngiệp trung học, còn số bác sĩ, kĩ sư thật hiếm hoi

Sở dĩ Hà Lan đưa ra chính sách đạo đức này là vì người dân bị bóc lột nặng nề, người dân bị bần cùng hóa, đói kém, đau ốm nhiều sẽ ảnh hưởng đến quá trình bóc lột của chính quyền thực dân Hà Lan ở đây

Hệ quả của chính sách thống trị:

Về mặt kinh tế:

địa trong khu vực ĐNÁ nói chung Indonesia nói riêng

Nạn trộm cướp,đói kém,thất nghiệp,phong trào đấu tranh chống lại chính sách cai trị của thực dân p.Tây

Về mặt văn hóa-xã hội :

dân p.Tây mang lại

Câu 9: Trình bày và nên nhận xét về chính sách cai trị ,bóc lột của chủ nghiã thực dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á.

Đáp án.

Trang 17

Sau khi hoàn thành công cuộc thâm nhập vào khu vực ĐNÁ thì các nước thực dân p.Tây bắt đầu tiến hành thực hiện các chính sách cai trị, bóc lôt thuộc địa.Mặc dù hình thức thức thống trị của các nước thực dân ở mỗi thuộc địa là không giống nhau, tính chất thuộc địa ở mỗi nước cũng có nét khác nhau nhưng điểm chung của các nước đế quốc thực dân là xem các thuộc địa là nơi cung cấp nguyên nhiên liệu,

là thị trường tiêu thụ và là nơi đem lại lợi nhuận cao cho chính quốc.Các nước thực dân p.Tây đã thực hiện chính sách thống trị toàn diện về tất cả các lĩnh vực ở các nước thuộc địa

*Về chính trị :

Sau khi chiếm được ĐNÁ , để dễ thống trị và tiến hành khai thác thuộc địa hiệu quả, các nước thực dân đều tiến hành xây dựng bộ máy cai trị,mặc dù ở mức độ và hình thực bộ máy thuộc địa của mỗi nước thực dân hay mỗi thuộc địa có những nét khác nhau.Nhìn chung thì có 2 hình thức cai trị : Cai trị trực tiếp và cai trị gián tiếp

của Anh đều chịu hình thức cai trị trực tiếp ( các nước tư bản p.Tây bóc lột, vơ vét, khai thác , đầu tư vào các nước thuộc địa mà không qua 1 khâu trung gian nào cả.Ngoài ra họ đưa ra các biện pháp để khống chế và chèn ép các nước thuộc địa, buộc các nước thuộc địa phải thi hành theo.Ví dụ, các nước ĐNÁ được các nước thực dân cai trị trực tiếp với hệ thống các quan chức được sắp đạt từ trung ương đến địa phương theo sơ đồ: Trung ương -> vùng->tỉnh.Tuy nhiên, các nước thực dân biết rằng họ không thể nào nắm chính quyền trực tiếp tới tận các huyện, phủ cho đến thôn hay xã được, và họ cũng không thể trực tiếp đi bắt phu, bắt lính hay tự đi thu thuế.Do đó, chính quyền thực dân đã tiếp tục duy trì chính quyền phong kiến ở các địa phương (chủ yếu là để làm bù nhìn), dùng giai cấp phong kiến dịa chủ, các thân hào ở các địa phương làm chỗ dựa

hình thức cai trị gián tiếp (họ xây dựng chính quyền tay sai ở thuộc địa, thành lập các liên bang, các vùng do lực lượng tay sai quản lí,…).Trong buổi đầu , các nước tư bản đều trao quyền xâm lược và cai trị cho các công ty thương mại viễn phương, nhưng sau này các công ty này do chính phủ nắm giữa và bóc lột các nước thuộc địa.Những vùng đất được thực dân Anh áp dụng chế độ cai trị

Trang 18

gián tiếp ở ĐNÁ là 1 phần bán đảo Mã Lai và bắc Kalimanta,thực dân Anh đã đặt các cộng sự cố vấn tại các vùng đất khác nhau để dễ bề kiểm soát, cai

trị.Các vùng đất tự trị của Anh ở ĐNÁ là Malacca,Singapore, Miến Điện,…

phải chạm trán với dân bản xứ vì khi Tây Ban Nha tới đây thì trình độ tổ chức

xã hội ở đây còn thấp, hầu hết còn ở trình độ bộ tộc hay tù trưởng, nên TBN đã đặt Philippine dưới hình thức cái trị trực tiếp

Bên cạnh việc xây dựng và củng cố bộ máy thống trị thuộc địa ở ĐNÁ, các nước thực dân p.Tây đều đã thực hiện chính sách ”chia để trị”,chia rẽ dân tộc, gây thù hằn giữa các dòng họ, các địa phương, tập quán, truyền thống có từ lâu trong lịch

sử để hướng mâu thuẫn và đấu tranh vũ trang sang 1 cuộc đấu tranh giả tạo do CNTD dựng lên

*Về kinh tế:

Đối với CNTD thì việc chiếm thuộc địa để khai thác, bóc lột và trong số đó kinh tế

là mục tiêu hàng đầu và tối thượng.Tất cả các chính sách của các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội,… cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu bóc lột kinh tế.Đặc điểm chung của chính sách kinh tế thuộc địa thực dân ở ĐNÁ là khai thác,

vơ vét và bòn rút các quốc gia bằng các chính sách thuế khóa vô nhân đạo đánh vào các tầng lớp nhân dân bản địa, cướp ruộng đất để lập đồn điền, bóc lột sức người để khai thác tài nguyên ; khai thác triệt để sản phẩm nông nghiệp, đầu tư để bóc lột lâu dài bằng việc xuất khẩu vào các thuộc địa những sản phẩm ề thừa để thu lợi nhuận cao, nhập vào chính quốc những nguyên, nhiên liệu với số lượng lớn

và rẻ mạt, thực hiện đầu tư t7 bản mang lại siêu lợi nhuận

Ví dụ : cao su, chè, cà phê, lúa, gạo,… là những sản vật đặc trưng của ĐNÁ, các nước thực dân đã khai thác từ sớm.Họ chiếm đoạt ruộng đất để lập đồn điền, chính quyền thực dân Hà Lan ở Indonexia đề ra “chính sách ruộng đất” , ruộng đất của Philippine cũng lần lược rơi vào tay các nhà tư bản và các cha cố

Không chỉ mất tư liệu sản xuất, phải đi làm thuê kiếm sống, người dân các nước thuộc địa còn phải gánh chịu hàng trăm thứ thuế mà chính quyền thực dân đã đặt ra cho họ.Đó là thuế đất, thuế thân, thuế nhà, thuế thu nhập, thuế vườn cà phê, thuế súc vật, thuế công vụ, thuế muối, thuế rượu,thuế chợ, thuế cầu,…

Trang 19

Bên cạnh chế độ thuế khóa nặng nề, người dân nơi đây còn phải chịu cảnh chế độ phu phen tạp dịch hà khắc.Sắc lệnh người Pháp quy định “lao động sư dịch là lao động nghĩa vụ”.

*Về văn hóa-xã hội:

Thực hiện chính sách “ngu dân” và đầu độc người dân thuộc địa bằng rượu và thuốc phiện là việc làm có chủ đích của thực dân ở ĐNÁ.Bằng chính sách ngu dân

để dễ bề cai trị, chính quyền thuộc địa đã kìm hãm người dân bản xứ trong sự ngu dốt.Hầu hết người dân thuộc ĐNÁ đều mù chữ, phần lớn trẻ em đều không được cắp sách đến trường.Nạn đói, sự dốt nát bị đầu đọc là quốc nạn mà người dân dưới chính quyền cai trị thuộc địa của các nước thực dân phải gánh chịu

*Nhận xét:

Tất cả các chính sách cai trị trên đã để lại hệ quả to lớn cho các nước ĐNÁ sau khi giành độc lập, đặc biệt là kinh tế.Tuy có hệ quả đem lại tác động tích cực, nhưng hầu như tác động tiêu cực là lớn hơn cả, và tác động tích cực mà tư bản p.Tây đem lại là nằm ngoài ý muốn của họ, đây không phải là công lao khai hóa mà là hành động vô ý thức của họ

Hệ thống cơ sở hạ tầng, phá vỡ xã hội truyền thống, các làng xã vốn đóng kín của ĐNÁ, đưa chủ nghĩa tư bản vào xã hội này.Với sự phá vỡ các ngành sản xuất cũ, phát triển các ngành công nghệp mới, CNTD bắt đầu lôi cuốn các quốc gia ĐNÁ nơi nhận sự thống trị của thực dân về chính trị đã xóa bỏ tính cát cứ địa phương và

sự chia rẽ mang tính địa lý từ rất lâu đời thành 1 sự thống nhất dân tộc

Sự cai trị đó đã tạo ra 1 quá trình tiếp thu thể chế dân chủ đại nghị từ p.Tây, vốn là trung tâm của các cách mạng tư sản.Hệ thống luật pháp và những cải cách xã hội của CNTD áp dụng trong xã hội thuộc địa ĐNÁ là yếu tố tích cực so với thời kì trước (luật pháp phong kiến tạp ra sự bất bình đẳng)

Với hệ thống luật pháp được đừa vào thuộc địa, nó đã góp phần phá vỡ thủ tục truyền thống phong kiến của xã hội cổ truyền,từng bước đưa các nước này bước vào thời đại văn minh

Những kết quả tích cực đã tạo ra điều kiện thuận lợi nhất định cho các nước thuộc địa ĐNÁ giành được độ lập, để sớm có phát triển và hội nhập với thế giới hiện đại

Trang 20

Câu 10: Hệ quả của chính sách cai trị,bóc lột của chủ nghĩa thực dân phương Tây đối với các nước Đông Nam Á.

Đáp án.

Sau khi thâm nhập vào ĐNÁ,các nước thực dân p.Tây đã tiến hành hàng loạt các chính sách thống trị và bóc lột thuộc đại, nhằm vơ vét tài sản,nguồn vật lực của khu vực này cho chính quốc.Chính sách thống trị và bóc lột của các nước thực dân

ở ĐNÁ trên các mặt chính trị,kinh tế,văn hóa và xã hội,… đã để lại những hệ quả

to lớn đối với các thuộc địa nói chung khu vực ĐNÁ nói riêng

Về mặt kinh tế:

phát triển

địa trong khu vực ĐNÁ

Nạn trộm cướp,đói kém,thất nghiệp,phong trào đấu tranh chống lại chính sách cai trị của thực dân p.Tây

Về mặt văn hóa-xã hội :

dân p.Tây mang lại

Khối 2

Câu 1:Trình bày và nêu nhận xét về các phong trào đấu tranh mang hệ thức

phong kiến ở ĐNÁ vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

Đáp án.

Trang 21

Trong thời kì này, sự phát triển của phong trào giải phong dân tộc ở ĐNA trải qua nhiều giai đoạn Những năm cuối thế kỉ 19 đến năm 1920 là giai đoạn đầu tiên trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ĐNA Đây cũng là giai đoạn chuyển đổi cuộc đấu tranh chống thực dân, vì thế mà tính chất của phong trào cũng mang tính quá độ: phong trào mang hệ ý thức phong kiến,phong trào theo xu hướng vô sản, tư sản.

Phong trào mang hệ ý thức phong kiến: các phong trào chống thực dân mang hệ ý thức phong kiến hoặc là do giai cấp phong kiến hoặc là do nông dân lãnh đạo với mục tiêu khôi phục lại độc lập dân tộc, đồng thời với việc khôi phục lại ngôi vua

Về quy mô: phong trào thuộc loại này ko lớn như cao trào trước đó, nhưng còn khá phổ biến ở ĐNA Mặc dù thời gian nổi dậy của các cuộc nổi dậy khác nhau, có thể tồn tại ở một nước khá lâu, nhưng ở nước khác chi nổi lên trong một thời gian ngắn… Tuy nhiên, tất cả đều chung một mục tiêu đánh đuổi thực dân giành độclập dân tộc,khôi phục lại ngôi vua

Tiêu biểu cho phong trào mang hệ ý thức phong kiến ở khu vực gồm có:

- Ở Campuchia có phong trào chống thực dân Pháp do hoàng thân Sivotha lãnh đạo (1876),tiếp sau đó nông dân khởi nghĩa dưới danh nghĩa của Sivotha (1885-1886), tuy nhiên họ bị đàn áp dã man.Nhìn chung, phong trào chống pháp của giai cấp phong kiến yêu nước và nhân dân Campuchia vào những năm cuối thế kỉ XIX phát triển mạnh, làm cho thực dân pháp phải thửa nhận thống trị của họ không yên ổn

- Ở Lào, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân trong giai đoạn này khá sô nổi mà tiêu biểu là 3 cuộc khởi nghĩa do Phò Cà Đuột (1901-1902) ; Ông kẹo-Kommadam (1901-1937) va Chậu Phạ Pát chay (1918-1922) lãnh đạo.Như vậy, 3 cuộc nổi dậy của nhân dân chống Pháp ở Lào vào đầu thế kỉ XX là những cuộc đấu tranh anh dũng,giải phóng dân tộc, giành độc lập tự do.Mặc dù chưa

Ngày đăng: 18/12/2016, 14:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w