1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ HỢP TÁC ĐÔNG NAM Á.

12 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 317,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thực tiễn, mặc dù còn nhiều khó khăn, cản trở trên con đường hội nhập, song hợp tác khu vực Đông Á đã đạt được những thành tựu nhất định nhờ sự nỗ lực chung của cả cộng đồng các nư

Trang 2

1. Nguyễn Thảo Nguyên

2. Đăng Thị Hương Giang

3. Nguyễn Văn Phương

Trang 3

MỤC LỤC

A- PHẦN MỞ ĐẦU.

B- PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT LUẬN

I-TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH SỰ HỢP TÁC ĐÔNG Á

1. Lịch sử hình thành.

1.1. Hợp tác Đông Á là gì?

1.2. Thời gian hình thành sự hợp tác.

1.3. Mục đích.

1.4. Cơ chế hợp tác và thành phần

2. Hợp tác Đông Á theo mô thức ASEAN +3

2.1. Hội nghị Cấp cao ASEAN +3.

2.2. Hội nghị Cấp cao Đông Á

II-THÀNH TỰ HỢP TÁC ĐÔNG Á.

1. Hợp tác kinh tế.

2. Hợp tác an ninh.

III-KẾT LUẬN

Trang 4

A- PHẦN MỞ ĐẦU

Đông Á là khu vực tồn tại nhiều mâu thuẫn và tranh chấp giữa các quốc gia trong khu vực Những mâu thuẫn này hiện nay vẫn còn tồn tại trong hầu hết giữa các quốc gia và khi bùng nổ dễ lôi cuốn hoặc làm ảnh hưởng đến nước khác Lợi ích an ninh - chính trị là một trong những động lực lớn nhất thúc đẩy sự hợp tác và tăng cường quan hệ giữa các nước khu vực Tuy nhiên, trong an ninh - chính trị đã có những vấn đề nan giải gây cản trở đến tiến trình hợp tác Đông Á đang phải đối diện với nhiều vấn đề cục bộ, với những xung đột cũ và những mâu thuẫn mới nảy sinh Xung đột ở đây mang tính đa dạng: tranh giành quyền lực, tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh kinh tế, mâu thuẫn hệ tư tưởng… Khu vực này cũng là nơi chứa đựng những nguy

cơ xung đột lớn như vấn đề vũ khí hạt nhân ở Bán đảo Triều Tiên, vấn đề Đài Loan và Trường Sa Bên cạnh đó, nguy cơ cạnh tranh mới giữa các cường quốc như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản nếu xảy ra sẽ phá vỡ sự hợp tác Đông Á Cho đến nay, các mâu thuẫn vẫn đang tồn tại và tác động không nhỏ tới chính sách khu vực của mỗi nước

Trong những năm gần đây, liên kết Đông Á trở thành đối tượng được quan tâm của các nhà chính trị, kinh tế và đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học Trong thực tiễn, mặc dù còn nhiều khó khăn, cản trở trên con đường hội nhập, song hợp tác khu vực Đông Á đã đạt được những thành tựu nhất định nhờ sự nỗ lực chung của cả cộng đồng các nước Đông Á Để góp phần đẩy nhanh tiến trình hội nhập và hợp tác Đông Á, việc hiểu rõ những thành tựu

và nhận thức ra những vấn đề tồn tại trên bước đường tiến tới hội nhập là không thể thiếu được trong việc tìm cách khắc phục những khó khăn, trở ngại và tận dụng những cơ hội để từng bước tiến tới hội nhập khu vực Đông Á

Trang 5

B-PHẦN NỘI DUNG VÀ KẾT LUẬN

I-TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH SỰ HỢP TÁC ĐÔNG Á

Sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc thì các mối quan hệ trên thế giới lúc này

có sự chuyển biến tích cực.Đó không còn là sự đối đầu giữa 2 phe Tư Bản chủ nghĩa và Xã Hội chủ nghĩa mà thay vào đó là các mối quan hệ đa

phương giữa các quốc gia,các khu vực với nhau không phân biệt về thể chế chính trị.Trong xu thế này, hầu hết các quốc gia lúc này đều tập trung đề cao vấn đề khu vực, điều chỉnh chính sách ngoại giao để có thể cạnh tranh với bên ngoài.Vì vậy,để đáp ứng các nhu cấu cấp thiết đó nhiều tổ chức khu vực

và quốc tế ra đời trong thời gian này

1.1.Hợp tác Đông Á là gì?

Hợp tác Đông Á là sự hợp tác trên các lĩnh vực: kinh tế (thương mại,đầu tư,tài chính), hợp tác chuyên ngành (môi trường,y tế,du lịch,nông nghiệp,khoa học công nghệ, thông tin, lao động,…), an ninh phi truyền thống (chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia) của các quốc gia Đông Nam Á (bao gồm 10 nước ASEAN) và Đông Bắc Á (gốm 3 nước:Nhật Bản,Trung Quốc, Hàn Quốc)

1.2.Thời gian hình thành sự hợp tác:

Ý tưởng liên kết hợp tác Đông Á được hình thành từ đầu những năm

1990, khi Chiến tranh Lạnh vừa kết thúc Thủ tướng Malaysia lúc bấy giờ là Mahathiar là người đầu tiên đã đề xuất thành lập “Nhóm Kinh

tế Đông Á” (East Asian Economic Group – EAEG), bao gồm hầu hết các nước ven biển Đông Á và hoạt động trong khuôn khổ

Tháng 1 năm 1997, Thủ tướng Nhật Bản lúc này là Hashimoto Ryutaro khi đi thăm một số nước ASEAN đã đề xuất một hội nghị thượng đỉnh thường niên giữa Nhật Bản với ASEAN Đề nghị ASEAN+3 là lời đáp lại của ASEAN sau khi đã bàn bạc để đạt được

sự đồng thuận nội bộ khối.ASEAN+3 là một cơ chế hợp tác giữa

Trang 6

ASEAN và ba quốc gia Đông Bắc Á gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc

Tháng 4 năm 1997, ASEAN đề xuất tổ chức hội nghị cấp cao giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Và nhân vật nhiệt tình nhất trong việc thúc giục tổ chức một hội nghị như vậy vẫn là Mahathiar

Tháng 12 năm 1997, hội nghị cấp cao lần thứ nhất đã diễn ra ở Kuala Lumpur

Năm 1998, theo sáng kiến của Hàn Quốc, Nhóm Tầm nhìn Đông

Á bao gồm những nhân vật ưu tú của mỗi nước đã được thành lập để thảo luận về việc hội nhập giữa các nước

Năm 1999, tại hội nghị cấp cao lần thứ ba tổ chức tại Manila, ASEAN+3 chính thức được thể chế hóa.Cũng tại hội nghị này, Tuyên

bố Chung về Hợp tác Đông Á đã được đưa ra.ASEAN+3 chính thức được thể chế hóa

Năm 2001, Nhóm Nghiên cứu Đông Á được thành lập Năm

2002, nhóm này đã đệ trình lên các nhà lãnh đạo ASEAN+3 một báo các trong đó kiến nghị thành lập Hội nghị Cấp cao Đông Á

1.3.Mục đích:

Là hợp tác để thúc đẩy sự phát triển toàn diện toàn diện giảm thiểu

sự tác động tác động của các tổ chức bên ngoài vào khu vực,trong bối cảnh chủ nghĩa khu vực đang gia tăng.Túc đẩy hội nhập khu vực,trước hết là khía cạnh kinh tế

1.4.Cơ chế hợp tác và thành phần:

Theo quan điểm của một số nước Đông Á thì cơ chế hợp tác dựa trên nguyên tắc hoạt động của ASEAN.Nội dung chính của cơ chế hợp tác bao gồm các hội nghị cấp cao,các kì gặp mặt của các nguyên thủ quốc gia, cấp bộ trưởng

Thành phần chính là các nước ASEAN,tiếp đó là các nước Nhật Bản, Trung Quốc,Hàn Quốc.Bây giờ cộng thêm các nước Ấn

Trang 7

Độ,Australia,New Zealand Trung Quốc và Nhật Bản là hai nước lớn

ở Đông Á, có vị trí, vai trò quan trọng trong khu vực Tuy nhiên, có nhiều vấn đề do lịch sử để lại làm cho quan hệ giữa hai nước rơi vào tình trạng căng thẳng, gây tranh cãi từ nhiều năm nay và cản trở quan

hệ giữa hai nước

Tuy nhiên,trong đó ASEAN đóng vai trò dẫn dắt

2.Hợp tác Đông Á theo mô thức ASEAN +3:

2.1.Hội nghị Cấp cao ASEAN +3:

Hội nghị cấp cao ASEAN+3 (ASEAN+ Nhật Bản,Trung Quốc,Hàn Quốc)

là hội nghị này do các nước ASEAN đề xuất và hội nghị này phải liên quan đến hội nghị Cấp cao ASEAN

Năm 1999, hội nghị này đã thông qua Tuyên bố chung về hợp tác Đông Á Văn kiện này đã tạo ra những khuôn khổ hợp tác dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, các cơ sở của hợp tác Bali và luật pháp quốc tế Cơ chế hợp tác là các cuộc họp cấp cao, cấp bộ trưởng ngoại giao, bộ trưởng chuyên ngành, các tổng vụ trưởng và quan chức; lĩnh vực hợp tác gồm kinh

tế (thương mại, đầu tư, tài chính), hợp tác phát triển (thu hẹp khoảng cách phát triển), hợp tác chuyên ngành (môi trường, y tế, du lịch, nông nghiệp, khoa học công nghệ thông tin, lao động…), an ninh phi truyền thống (chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia)

Hội nghị cấp cao ASEAN+3: là hội nghị hàng năm giữa các nguyên thủ quốc gia của các nước thành viên

Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN+3: hội nghị hàng năm giữa các bộ trưởng

về kinh tế của các nước thành viên

Tại các hội nghị cấp cao và hội nghị bộ trưởng kinh tế của ASEAN+3, đã có 48 hiệp định trong 17 lĩnh vực được ký kết

2.2.Hội nghị cấp cao Đông Á ( EAS):

Trang 8

Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) là một diễn đàn gồm các quốc gia ở châu Á

được các lãnh đạo của 16 quốc gia Đông Á và khu vực lân cận tổ chức mà Khối ASEAN là trung tâm Nga đã đệ đơn làm thành viên của khối vào năm

2005 và đang tham dự với tư cách là quan sát viên Hội nghị lần đầu tiên được tổ chức ở Kuala Lumpur vào ngày 14 Tháng 12 năm 2005 và các cuộc họp tiếp theo sẽ được tổ chức sau các cuộc họp thường niên của lãnh đạo của khối ASEAN

Đến nay đã có 8 cuộc họp hội nghị cấp cao Đông Á đã diễn ra :

Ngày 14/12/2005,tại Kuala Lumpur ,Malaysia đã diễn ra Hội nghị cấp cao Đông

Á (EAS) lần 1, đãký Tuyên bố Kuala Lumpur, đồng thời ra Tuyên bố ngăn ngừa, kiểm soát và đối phó dịch cúm gia cầm

Ngày 15/11/2007,tại đảo Cebu,Philippines đã diễn ra Hội nghị cấp cao Đông Á

(EAS) lần thứ 2,đã đưa Tuyên bố Cebu về an ninh năng lượng Đông Á

Ngày 21/11/2007,tại Singapore đã diễn ra Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) lần thứ 3,đưa ra tuyên bố Singapore về biến đổi khí hậu và năng lượng và môi trường

Ngày 25/10/2009 ,tại Cha-am và Hua Hin, Thái Lan đã diễn ra Hội nghị Cấp cao

Đông Á (EAS) lần thứ 4,cuộc họp ban đầu được tổ chức ở Pattaya vào 11/04/2009 nhưng giữa chừng bị hủy bỏ do người biểu tình tràn vào nơi họp nên tạm dừng và chuyển địa điểm.Hội nghị thảo luận biện pháp tăng cường hơn nữa hợp tác khu vực và xây dựng năng lực, để ứng đối tốt hơn thách thức đang đặt ra trước khu vực

Ngày 30/10/2010,tại Hà Nội ,Việt Nam đã diễn ra Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS)

lần thứ 5,có sự tham dự của Bộ trưởng ngoại giao Mỹ và Nga với tư cách là khách mời đặc biệt của chủ tịch EAS.Hội nghịtriển khai thảo luận về tiến triển hợp tác và định hướng phát triển của Hội nghị Cấp cao Đông Á, ứng phó như thế nào các thách thức toàn cầu cũng như các vấn đề khu vực và quốc tế

Ngày 19/11/2011,tại Bali,Indonesia đã diễn ra Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS)

lần thứ 6,Nga và Mỹ lần đầu tiên tham gia EAS sau khi các nhà lãnh đạo ASEAN nhất trí mở rộng EAS tại EAS V (Hà Nội).Hội nghị sẽ tập trung vào 5 lĩnh vực ưu tiên chính: tài chính, năng lượng, giáo dục, y tế toàn cầu và bệnh dịch lây truyền cùng kết nối ASEAN

Ngày 20/11/2012, tại Phnom Penh, Campuchia đã diễn ra Hội nghị Cấp cao Đông

Á (EAS) lần thứ 7, Đối thoại toàn cầu ASEAN và Cuộc họp Cấp cao không chính

Trang 9

thức Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).Vấn đề căng thẳng Biển Đông được đưa ra

Ngày 10/10/2010,tại Bandar Seri Begawan,Brunei đã diễn ra Hội nghị Cấp cao

Đông Á (EAS) lần thứ 8,hội nghị tiến hành thảo luận về vấn đề hợp tác khu vực

Vai trò dẫn dắt của ASEAN trong Hội nghị Cấp cao Đông Á đóng vai trò quan trọng

II-THÀNH TỰU HỢP TÁC ĐÔNG Á

1.Hợp tác kinh tế:

Trong vài chục năm qua, dù không có những định chế thỏa thuận giữa các nước trong vùng song nền kinh tế tại Đông Á vừa phát triển nhanh vừa ngày càng tùy thuộc lẫn nhau thông qua hoạt động thương mại và đầu tư.Ở khu vực này công nghiệp hóa diễn ra rất nhanh,phản ảnh trong tỷ lệ tăng nhanh của hàng công nghiệp trong tổng xuất khẩu.Thị phần của các nước trong vùng trong tổng xuất khẩu hàng công nghiệp của thế giới tăng gấp đôi,từ 18% năm 1980 đến năm 2002 là 39 %.Chẳng hạn từ năm 1992 đến 2002,tổng xuất khẩu của vùng Đông Á (ASEAN+3) tăng 1,9 lấn trong khi xuất trong nội vùng tăng 2,6 lần.Riêng Trung Quốc xuất khẩu ra thế giới tăng 4,4 nhưng sang các nước trong vùng Đông Á tăng 7 lần,vào ASEAN là 2,7 lần

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, kim ngạch thương mại giữa ASEAN và các nước +3 năm 2012 vẫn tăng 5%, đạt 712 tỷ USD Tỷ trọng thương mại của 3 nước Đông Bắc Á chiếm 28,8% kim ngạch thương mại của ASEAN và đầu tư trực tiếp vào ASEAN cũng tăng 6,6% đạt 46,7 tỷ USD, chiếm 43,6% tổng đầu tư nước ngoài vào ASEAN Hợp tác kinh tế vĩ

mô cũng được củng cố và thúc đẩy thông qua mở rộng quy mô Sáng kiến Chiang Mai, Sáng kiến Thị trường trái phiếu Châu Á…

Tuy nhiên bên cạnh đó trong hợp tác kinh tế giữa các nước Đông Á cũng phải đối mặt với những trở ngại nhất định Những trở ngại cơ bản ở đây bao gồm:

- Khoảng cách trình độ giữa các nước trong khu vực quá lớn (Nhật Bản là siêu cường kinh tế, các nước thành viên mới của ASEAN là các nước chậm phát triển) dẫn đến tình trạng kinh tế khác nhau, từ đó tạo ra những lợi ích và ưu tiên khác

Trang 10

nhau trong chính sách liên kết khu vực Khả năng thực hiện lợi ích chung khác nhau dẫn đến nguy cơ kết quả thu được khác nhau nên mức độ mong muốn hợp tác khác nhau Trình độ phát triển chênh lệch cũng làm tăng nguy cơ bất bình đẳng mới và khó khăn trong việc thể chế hoá khu vực

- Có những cản trở từ bên ngoài đối với sự liên kết và hình thành một thể chế khu vực xuất phát từ những lo ngại về sự hình thành ba khối kinh tế chống nhau, làm tăng sự phân biệt đối xử thương mại, làm giảm vai trò của các thế lực kinh tế toàn cầu

- Tại các nước khu vực cũng tồn tại những cản trở nhất định Chủ nghĩa ích kỷ kinh tế trong chính sách khu vực của nhiều nước đã làm xói mòn thiện chí và có thể tạo nên những xung đột lợi ích Bên cạnh đó, nhu cầu phát triển kinh tế đối ngoại đang tạo nên nguy cơ cạnh tranh thị trường và đầu tư nước ngoài Sự cạnh tranh và xung đột nếu không được kiềm chế hợp lý sẽ tạo ra sự chia rẽ mới trong khu vực Ngoài ra, những khó khăn kinh tế, sự trì trệ trong nước hay những bất cập

về luật pháp kinh tế cũng gây những tác động bất lợi cho sự hợp tác giữa các nước Đông Á

3.Hợp tác an ninh:

Hợp tác an ninh gồm 3 lĩnh vực : An ninh năng lượng, anh ninh truyền thống,an ninh phi truyền thống

An ninh năng lượng là các vấn đề liên quan đến tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia trong khu vực

An ninh truyền thống là các vấn đề an ninh - quân sự,chủ quyền,độc lập của mỗi quốc gia

An ninh phi truyền thống là các vấn đề liên quan đến nhiều lĩnh vực như an ninh kinh tế, môi trường sinh thái, khủng bố xuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, xung đột sắc tộc và tôn giáo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy, di cư trái phép, cướp biển và rửa tiền

Thành tựu cơ bản trong hợp tác Đông Á đã đạt được thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống Cụ thể là hợp tác trong lĩnh vực an ninh xã hội và bảo vệ môi trường Các hợp tác này bao gồm hợp tác chống khủng bố, chống dịch viêm đường hô hấp cấp (SARS), chống cúm gia cÇm, buôn bán ma tuý Sau sự kiện 11-9-2001, các cuộc họp cấp cao chính thức, không chính thức, các cuộc họp

Trang 11

cấp bộ trưởng và các cuộc hội thảo giữa các nước trong khu vực Đông Á đã đề cập và đưa ra Tuyên bố chống khủng bố, xây dựng các kế hoạch và chương trình trao đổi tin tức, an ninh máy tính, xây dựng cơ cấu chống tội phạm trên mạng… Đồng thời quan tâm đến việc hợp tác trên các mặt khác như chống buôn lậu, ma tuý, nạn di dân bất hợp pháp, cướp biển, buôn lậu vũ khí, tội phạm kinh tế quốc tế, chủ nghĩa khủng bố… Khi bệnh dịch SARS bùng nổ, các nước ASEAN cùng với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã liên tục tổ chức các hội nghị giữa các bộ trưởng y tế để bàn cách chống SARS, đưa ra các biện pháp, hành động chung nhằm phối hợp ngăn ngõa sự lây lan và đẩy lùi dịch bệnh

Để đối phó với những thiên tai gây ra như hạn hán, bão lụt, động đất, sóng thần,…, các cuộc họp cấp bộ trưởng các nước trong khu vực Đông Á thường xuyên đề cập đến các vấn đề thiên tai và tìm cách khắc phục qua việc tổ chức các hội nghị về môi trường, lập mạng lưới thông tin chung để kiểm tra môi trường khu vực, dự báo thiên tai để phòng chống Đặc biệt, sau khi cơn sóng thần xảy ra cuối năm 2004 tàn phá khu vực, cùng với các nước khác trên thế giới, các nước khu vực Đông Á đã tích cực ủng hộ về vật chất và cử các nhân viên y tế đến các nước bị ảnh hưởng để khôi phục lại cuộc sống bình thường cho người dân bị nạn

III-KẾT LUẬN

Nhìn chung, sự hợp tác đã thu được những thành tựu đáng kể, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế nhưng về vấn đề hợp tác an ninh mới chỉ dừng lại ở diễn đàn đối thoại, bày tỏ quan điểm khác nhau của mình, bàn việc hợp tác và hỗ trợ cho nhau chứ chưa giải quyết được những vấn đề xung đột, tranh chấp tại các nước Đông Á Tuy nhiên, sự tồn tại và phát triển các mối quan hệ hợp tác đã và đang tạo cơ hội cho việc giải quyết các bất đồng, tăng cường hợp tác trên tất cả các lĩnh vực, góp phần thúc đẩy các nước tăng cường ý thức hợp tác khu vực trên quan điểm cùng tồn tại và phát triển Với những thành tựu và nỗ lực không ngừng của các nước thành viên, những bước phát triển mới trên con đường hợp tác sẽ khẳng định được rằng dù khó khăn, vất vả nhưng sự liên kết, hợp tác Đông Á là không thể đảo ngược, vấn đề chỉ là thời gian sớm hay muộn

Ngày đăng: 18/12/2016, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w