1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á

20 235 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 46,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA là: Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, có mặt ở hầu hết các quốc gia ĐNA; các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Nho gió, Đạo giáo, Ấn Độ

Trang 1

Câu 1: Đặc điểm tôn giáo ĐNA

- Tôn giáo ra đời, du nhập vào cộng đồng sau tín ngưỡng, nhưng cùng tồn tại và tác động vào đời sống đa dạng của các dân tộc, cộng đồng ở ĐNA Các tôn giáo ở đây khá đa dạng và không kém phần sinh động

- Tôn giáo tồn tại ở ĐNA và có ảnh hưởng sâu đậm đến các lĩnh vực đời sống văn hóa, xã hội, chính trị Đó là những tôn giáo ngoại sinh

và được truyền bá vào ĐNA Tôn giáo phát sinh tại ĐNA không có sức lan tỏa và ảnh hưởng hạn hẹp trong cộng đồng dân tộc nhỏ ở các quốc gia Đó là đặc điểm quan trọng nhất

- Một đặc điểm nữa là mỗi dân tộc, quốc gia ở ĐNA có cùng lúc một

số tôn giáo khác nhau nhưng không có xung đột tôn giáo dù ở quốc gia đó có thể có tôn giáo được coi là quốc giáo Trong các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA là: Phật giáo, Hồi giáo, Kitô giáo, có mặt ở hầu hết các quốc gia ĐNA; các tôn giáo khác như Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Nho gió, Đạo giáo, Ấn Độ giáo cũng có ở nhiều quốc gia nhưng tỉ lệ tín đồ khác nhau do điều kiện lịch sử của qua trình truyền

bá và tồn tại

- Một đặc điểm khá tiêu biểu của tôn giáo ĐNA là các hệ ý thức khác nhau (các tôn giáo khác nhau) đã hòa đồng vào nhau Ở CPC chẳng hạn, sau khi nhà nước lây Phật giáo tiểu thừa làm quốc giáo ở cung đình, vai trò của Balamon giáo vẫn được coi trọng và các lễ thức của Balomon giáo vẫn tiếp tục tồn tại hoặc pha trộn với các lễ thức của Phật giáo Ở VN các vua Lý, Trần đã từng coi tam giáo (Nho, Đạo, Phật) như đều có chung nguồn gốc Ở Thái Lan có sự pha trộn Phật giáo và Nho giáo Sự hòa đồng, pha trộn các tôn giáo ở ĐNA có lẽ bắt nguồn từ tính dễ thích nghi, tính cởi mở và uyển chuyển của bản thân của con người ĐNA

- Một đặc điểm nữa là các tôn giáo được truyền bá vòa ĐNA và tồn tại bên cạnh việc duy trì tín ngưỡng bản địa cư dân Lâu dần, đã xuất hiện sự pha trộn giữa tôn giáo và tín ngưỡng với mức độ khác nhau

Ở hầu hết các quốc gia ĐNA vừa thờ thần, vừa thờ các thánh của tôn giáo, vừ thờ cúng tổ tiên, vừa thờ Phật là điều dễ nhận biết ở ĐNA Con đường và thời gian các tôn giáo được truyền bá vào ĐNA đã góp phần tạo nên một trong những giá trị văn minh:

1.1 Phật giáo

Trang 2

- Quê hương của Phật giáo là Ấn Độ, người đã sáng lập ra tôn giáo

này là Tất Đạt Đa (Siddhartha) Phật giáo đã có một quá trình thăng trầm trong các thế kỉ TCN rồi mới được truyền bá ra nước ngoài với

cả 2 tông phái lớn là Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ - con đường cứu vớt hẹp)

và Đại thừa (cỗ xe lớn – con đường cứu vớt rộng)

- Phật giáo tiểu thừa được truyền bá vào Thái Lan từ cuối TK III TCN Sau đó từ đầu công nguyên truyền bá vào các quốc gia ĐNA, hoặc từ

Ấn Độ, hoặc qua srilanca, Trung Quốc…

- Một số nhà sư Ấn Độ đến các nước ĐNA để tu và truyền bá đạo Phật và cũng có nhiều nhà sư ĐNA đến Ấn Độ tiếp thu Phật giáo để trở lại quê hương truyền bá Từ đầu công nguyên Phật giáo lan tỏa rộng khắp ở ĐNA với tiếng tăm của các tu viện lớn: Borobuđua (Indonesia), Sukhothai (Thái Lan), Pagan (VN), Luy Lâu (VN)…

- Phật giáo phát triển khá mạnh và có những thời kì hưng thịnh ở các quốc gia ĐNA cả Tiểu thừa và Đại thừa Tuy nhiên, chỉ có một số nước duy trì tôn giáo này như Quốc giáo cho đến thời cận đại Mộ số nước khác ở ĐNA như Indonesia, Malaixia, Brunay… Phật giáo nhường chỗ cho Hồi giáo Philippin chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của Kito giáo thừ TK XVI Ở VN, sau thời Lý, Trần Phật giáo cũng mờ dần khi nho giáo lấn ác

- Tuy vậy, ảnh hưởng của Phật giáo ở ĐNA trong đời sống văn hóa,

xã hội là rất sâu đậm và để lại những dấu ấn, những giá trị to lớn trong văn minh ĐNA Điều đáng nói nhất là, trong giáo lí của đạo Phật chứa đựng những yếu tố đạo đức, góp phần giáo dục con người,

có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Vì vây, ĐNA có truyền thống khona dung cũng có vai trò của Phật giáo

1.2 Hồi giáo

- Quê hương của Hồi giáo là bán đảo Ả rập (đạo Islam hay Muslim) chỉ mới hình thành vào TKVII và nhanh chóng lan tỏa khắp bán đảo

Từ sau TK X, Hồi giáo được truyền bá ra nhiều nước trên thế giới Ở ĐNA, đạo này cũng được truyền bá từ TK XI, nhưng chỉ lan tỏa từ TK XIII và có ảnh hưởng sâu rộng ở ĐNA vào TK XIV – XV

- Từ bán đảo Ả rập và từ Ấn Độ, Hồi giáo được truyền bá vào Indonesia, Malaixia với vai trò của các tín đồ Hồi giáo đông đảo và của cả các giáo chủ có “sứ mệnh” truyền đạo Là nơi dễ tiếp thu, dễ chấp nhận, ĐNA trở thành khu vực có đông dản cư dân tin theo một cách hòa bình Hồi giáo có ảnh hưởng to lớn và toàn diện đến đời

Trang 3

sống văn hóa, xã hội, chính trị của một số quốc gia như Indonesia, Malaixia, Brunay,… cho đến nay ĐNA có số người theo đạo Hồi đông nhất thế giới

- Tuy nhiên, mặc dù Hồi giáo có giáo luật được coi là nghiêm khắc hay cực đoan, thể hiện trong bộ kinh “Koran”, nhưng khi truyền bá vào ĐNA qua nhiều thế kỉ đã có sự thay đổi Ví dụ như các nghi lễ, sự kiên cử đã có giảm nhẹ, số lần cầu nguyện trong ngày không nhất thiết pahri 5 lần , phụ nữ ra đường không nhất thiết phải đoe mạng che mặt, mà chỉ cần che tóc và được quyền làm việc bình thường… điều đó có nghĩa là bớt đi nghiêm khắc mới có thể tồn tại ở ĐNA, nơi luô đề cao tinh thần nhân bản

1.3 Kito giáo

- Kito giáo ra đời trong đế chế La Mã, khi mà chế độ chiếm hữu nô lệ đàn rất nặng nề vào đầu công nguyên, Kito giáo được nô lệ tin theo

và bị giới chủ nô đàn áp dữ dội, nhất là dưới thời đại của hoàng đế August và Nêro Chỉ đến TK IV, thời của hoàng đế Côngxtăngtin, Kito giáo được chính thức công nhận và xã lập Quốc giáo ở La Mã

- Kito giáo được truyền vào ĐNA từ khoản TK XVI, việc truyền bá Kito giáo gắn liền với cac hoạt động thương mại của những người phương Tây ở vùng này Trên đường đi buôn bán ở ĐNA, các thương gia Phương Tây đã chở các giáo sĩ đi cùng họ để vừa truyền đạo vừa tìm nguông hàng hóa cung cấp choc ac thương gia, việc này làm hai bên cùng có lợi nên do đó giữa họ đã có liên kết khá chặt chẽ

- Ở các quốc gia như Indonesia, VN, Malaixia,… Công giáo, Thiên Chúa giáo, Tin lành đều được truyền bá và có ảnh hưởng nhất định, nhưng không thể lấn át, không ảnh hưởng lớn như Hồi giáo, Phật giáo Mặt khác, hình thức truyền bá của các tôn giáo cùng gốc Kito giáo này vừa tự nguyện, vừa cưỡng bức nên không được đón nhận

hồ hởi, rộng rãi ở ĐNA Mặc dù vậy, các tôn giáo này cũng để lại dấu

ấn trong các thành tựu văn minh ĐNA cổ xưa

Câu 2: Tác động của trật tự 2 cực và chiến tranh lạnh đối với phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA sau CTTG thứ 2

- ĐNA là khu vực thuộc địa truyền thống của các nước thực dân phương Tây, nên ĐNA trở thành mối quan tâm đặc biệt của các nước

Mỹ, Anh, Pháp, Hà Lan Tuy nhiên ý đồ và tham vọng của mỗi nước khác nhau

Trang 4

+ Đối với Mỹ, trong những năm chiến tranh, quan điểm của Mỹ là thúc giục các nước thực dân trao trả độc lập cho các nước thuộc địa với ý đồ làm suy giảm vai trò của Anh, Pháp, Hà Lan ở ĐNA và mở rộng ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này

+ Đối với Anh, một nước thực dân có nhiều thuộc địa ở ĐNA, lại ủng

hộ việc Pháp quay trở lại thống trị Đông Dương Quan điểm của Anh xuất phát từ lợi ích của chính bản thân nước Anh, nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của thực dân Anh ở ĐNA

+ Sự bất đồng quan điểm giữa Anh và Mỹ về vấn đề thuộc địa xuất phát từ lợi ích giữa 2 nước, tuy nhiên cuối cùng họ đã nhân nhượng với nhau để đạt tới sự thỏa thuận những vấn đề quốc tế quan trọng

và rộng lớn hơn

- Tại hội nghị thượng đỉnh Ianta (2/1945) những người đứng đầu nước Liên Xô, Mỹ, Anh đã đi đến việc phân chia phạm vi ảnh hưởng trên thế giới sau chiến tranh, khu vực ĐNA vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây Quyết định này đã mở đường cho các nước thực dân quay trở lại ĐNA khi chiến tranh còn chưa đi đến hồi kết

- 15/8/1945, phát xít Nhật đầu hàng đồng minh vô điều kiện Thời cơ giành độc lập của nhân dân các nước ĐNA đã đến Tùy theo bối cảnh mà nhân dân các nước ĐNA vùng dậy đấu tranh giành độc lập,

tự do

- ĐNA trở thành khu vực đầu tiên trong hệ thống thuộc địa chủ nghĩa thực dân đã diễn ra những cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, đưa đến việc thành lập các quốc gia độc lập vào thời khắc kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, điển hình là 2 cuộc cách mạng diễn

ra vào tháng 8/1945 ở VN và Indonesia

- Tuy nhiên những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế sau chiến tranh đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập của các nước ĐNA Các quốc gia tuyên bố độc lập đều bị các nước thực dân tái chiếm Hà Lan quay lại Indonesia; thực dân Pháp quay lại VN, Lào; quân Mỹ vào PLP Sau chiến tranh kết thúc, sự bắt đầu của chiến tranh lạnh và sự đối đầu căng thẳng giữa 2 phe: TBCN

và XHCN, biến ĐNA thành một trong những điểm nóng của quan hệ quốc tế cùng với sự xâm nhập của Mỹ ở khu vực này

- Với xu hướng cô lập Liên Xô, chống chủ nghĩa cộng sản, Truman đã không đề cập tới chế độ ủy trị quốc tế ở Đông Dương Sự thay đổi

Trang 5

trong chính sách của Mỹ đã tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại Đông Dương

- Sau thắng lợi của cách mạng Trung Quốc tháng 10/1949, chính quyền Mỹ ráo riết ngăn chặn sự mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở khu vực ĐNA

- Nhằm chống phá phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Đông Dương, Oasinhton bắt đầu viện trợ quân sự cho Pháp từ tháng 7/1950

- Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương được kí kết,

Mĩ bắt đầu can thiệp trực tiếp vào Đông Dương

- Đối với Trung Quốc, Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội Đông Âu vào năm 1950 lần lượt công nhận, đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đã viện trợ cho Việt nam chống Pháp, Mĩ

- Mặt khác sau CTTG thứ 2, quan hệ TQ-Mĩ căng thẳng do bất đồng quan điểm Năm 1969 Mĩ sa lầy trong chiến tranh VN, lúc này quan

hệ TQ-LX căng thẳng Mĩ nhận thấy TQ là con bài giúp Mĩ thoát khỏi bãi sa lầy chiến tranh, chống LX và phục vụ cho Mĩ

+ Tháng 6/1970, TQ-Mĩ cùng hợp tác trong đàm phán ở Pari về VN + Tháng 2/1972: Nichxon thăm TQ và kí kết Thông cáo Thượng Hải Theo đó, Mĩ sẽ nhượng bộ cho TQ gia nhập Liên Hợp Quốc, rút quân khỏi đài Loan, bình thường hóa quan hệ với TQ ở ĐNA Còn TQ sẽ thừa nhận sự có mặt của Mĩ ở ĐNA, ép VN chấp nhận giải pháp của

Mĩ, thừa nhận tình trạng chia cắt VN, sự tồn tại của chính quyền tay sai của Mĩ ở VN, Lào, CPC, hợp tác với nhau chống LX và các nước xã hội chủ nghĩa khác

=> Như vậy dưới tác động của chiến tranh lạnh và sự xâm nhập của

Mĩ vào khu vực ĐNA, cuộc đấu tranh giành độc lập của các dân tộc ở khu vực này không chr đơn thuần là cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn mang tính chất đối đầu giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội Làm cho ptgp dân tộc ở ĐNA phức tạp hơn, quan hệ quốc tế phức tạp hơn, kéo dài hơn cho đến khi chiến tranh lạnh kết thúc

Làm cho ptgp dân tộc phân hóa thành 2 con đường tiếp tục phát triển, nhưng 2 con đường này phát triển đối lập, không giống như

1945 hỗ trợ nhau

Trang 6

Làm cho ptgp dân tộc có thêm mục tiêu: ngoài mục tiêu gpdt còn mục tiêu là bảo vệ hệ thống của mình

Câu 3: Những thành tựu cơ bản của tổ chức Asean từ 1967-nay

a Khái quát về tổ chức ASEAN

- Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of

South East Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là 1 liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Với mục tiêu là tăng cường hợp tác kinh tế, văn hoá - xã hội giữa các nước thành viên, tạo điều kiện cho các nước hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới

- Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với các thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore,

và Philippines, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động

và bất ổn tại những nước thành viên

b Thành tựu

- Thành tựu quan trọng và nổi bật nhất của Hiệp hội là đã hoàn tất ý tưởng về một ASEAN bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á, đưa đến những thay đổi căn bản về Hiệp hội cũng như đối với tình hình khu vực

- ASEAN-10 đã giúp chấm dứt sự chia rẽ và đối đầu giữa các nước Đông Nam Á; tạo dựng mối quan hệ mới về chất giữa các nước thành viên, trên cơ sở hữu nghị, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, hợp tác toàn diện và ngày càng chặt chẽ cả về song phương và đa phương

- Đoàn kết và hợp tác ASEAN ngày càng được củng cố và tăng cường theo phương châm bảo đảm sự “thống nhất trong đa dạng”, trên cơ

sở các mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, nhất là nguyên tắc đồng thuận và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau

- ASEAN-10 đã làm cho Hiệp hội trở thành một tổ chức hợp tác khu vực thực sự, mang tính toàn diện và năng động hơn; và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam Á và Châu Á-TBD ASEAN cũng đã hình thành được cách tiếp cận và phương thức giải quyết riêng đối với những vấn đề

Trang 7

của khu vực và quốc tế, đó là “Phương cách ASEAN”, trong đó chú

trọng đối thoại và hợp tác, năng động và linh hoạt để tìm được tiếng nói chung và đồng thuận

- Hợp tác nội khối ngày càng được đẩy mạnh cả về chiều sâu và bề rộng; và đã đạt được những kết quả to lớn Sự hình thành ASEAN-10 cùng với kết quả hợp tác nội khối trong 40 năm qua đã hỗ trợ tích cực cho các nước thành viên phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời tạo

ra những tiền đề vật chất quan trọng để ASEAN gia tăng liên kết khu vực sâu rộng hơn trong giai đoạn tiếp theo

a Về chính trị-an ninh: Đây là lĩnh vực có nhiều hoạt động hợp

tác nổi trội và là nhân tố quan trọng bảo đảm hòa bình và ổn định ở khu vực Trước hết, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường xuyên ở các cấp, nhất

là giữa các vị Lãnh đạo Cấp cao

- ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hòa bình và an ninh khu vực, như : Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN) năm

1971

- Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) ký năm 1976

và đến nay đã trở thành Bộ quy tắc ứng xử chỉ đạo mối quan hệ không chỉ giữa các nước Đông Nam Á mà cả giữa các nước ASEAN và các đối tác bên ngoài; cuối 1988-1898 VN cùng với ASEAN đã nhanh chóng giải quyết vấn đề CPC, đưa lại sự hòa hợp giữa VN và ASEAN; Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) năm 1995 ; Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng

xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển Đông,

- ASEAN khởi xướng lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) để tạo khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị-an ninh ở Châu Á-TBD ASEAN cũng tích cực đẩy mạnh hợp tác với nhau và với các đối tác bên ngoài thông qua nhiều khuôn khổ, hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm đối phó với những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, thiên tai, bệnh dịch,

Trang 8

b Về kinh tế: là lĩnh vực có những bước tiến quan trọng và hiện là

động lực đẩy nhanh tiến trình liên kết khu vực

- Năm 1992, ASEAN đã cơ bản hoàn tất các cam kết về hình thành Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA), với hầu hết các dòng thuế đã được giảm xuống mức 0-5% Tiếp đó, ASEAN đã xác định 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập sớm để đẩy mạnh hơn nữa thương mại nội khối Kim ngạch thương mại nội khối hiện đạt khoảng 300 tỷ USD và chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch thương mại của ASEAN

- Năm 1998, Việc thực hiện các thỏa thuận về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA) đạt những tiến triển quan trọng Hợp tác ASEAN cũng được đẩy mạnh và mở rộng trong nhiều lĩnh vực kinh tế như công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, giao thông vận tải, hải quan, thông tin viễn thông, tiêu chuẩn đo lường chất lượng… ASEAN cũng coi trọng đẩy mạnh thực hiện mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN, nhất là thông qua việc triển khai Sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) về hỗ trợ các nước thành viên mới (Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam)

- Mặt khác, ASEAN tích cực tăng cường hợp tác kinh tế-thương mại với các đối tác bên ngoài, nhất là việc đàm phán thiết lập các khu vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN, như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Ôt-xtrây-lia và Niu Di-lân, …

- Kim ngạch thương mại của ASEAN 390 tỉ USD, đặc biệt năm 2015

đã ra đời cộng đồng ASEAN và trong đó cộng đồng kinh tế trở thành trụ cột

c Về văn hóa-xã hội:

Các hoạt động hợp tác chuyên ngành ngày càng được mở rộng với rất nhiều chương trình/dự án khác nhau trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục-đào tạo, khoa học – công nghệ, môi trường, y tế, phòng chống ma tuý, buôn bán phụ nữ và trẻ em, HIV/AIDS, bệnh dịch…

- xã hội

+ Đời sống nhân ở các nước ASEAN đều được cải thiện và nâng cao

+ Bộ mặt đất nước có những thay đổi sâu sắc, hệ thống cơ sở hạ tầng của các nước đều được xây dựng theo hương hiện đại hóa (hệ thống đường cao tốc ở VN, cầu vượt, đường vượt, )

Trang 9

+ Các dịch vụ công nông, y tế của cộng đồng đều được quan tâm, chăm sóc hay những tệ nạn xã hội như ma túy và cac tệ nạn khác đều được tất cả các nước hợp tác với nhau để giải quyết

+ Do trình độ phát triển không đều, khoản cách phát triển của các nước chênh lệch, để tạo điều kiện cho mình ASEAN đã có những sáng kiến chương trình để giúp đỡ các nước khó khan, để nhằm rút ngắn khoảng cách chênh lệch

=> Các hoạt động hợp tác này đã hỗ trợ cho các nước thành viên nâng cao khả năng giải quyết các vấn đề liên quan, đồng thời giúp tạo dựng thói quen hợp tác khu vực, nâng cao nhận thức và ý thức cộng đồng ASEAN

- Văn hóa

+ Trong nguyên tắc hoạt động của ASEAN có đưa ra nhiều nguyên tắc, có một nguyên tắc giữ gìn bản sắc của hiệp hội, những nguyên tắc khác được duy trì và thống nhất, không có sự thay đổi

+ Giao lưu văn hóa được tổ chức thường xuyên để các nước thành viên hiểu biết hơn về giá trị văn hóa của nhau, trên cơ sở đó phát triển những nét chung của văn hóa khu vực

+ Tăng cường hợp tác nghiên cứu về ASEAN về văn hóa, ngôn ngữ, dân tộc

+ ASEAN thành lập ủy ban thường trực chung hoạt động văn hóa –

xã hội, thành lập ủy ban thường trực về thông tin đại chúng, thành lập bộ văn hóa – xã hội trong ban thư kí của ASEAN Từ năm 1971 đã xuất bản tạp chí ASEAN

+ Lập chương trình giải thưởng văn học nghệ thuật ĐNA, tổ chức liên hoan phim, triển lãm tranh

d Về quan hệ đối ngoại:

- ASEAN đã tạo dựng được quan hệ hợp tác nhiều mặt với nhiều đối tác quan trọng trên thế giới, khởi xướng thành công và giữ vai trò chủ đạo trong một số khuôn khổ hợp tác khu vực ở Châu Á-TBD Hợp tác ASEAN rất đa dạng và phức tạp, không chỉ bó hẹp trong phạm vi khu vực Đông Nam Á và 10 nước thành viên ASEAN, mà còn kể cả quan hệ đối ngoại của ASEAN thông qua các khuôn khổ hợp tác khu vực do ASEAN lập ra và giữ vai trò chủ đạo như ASEAN+1, ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) Ngoài ra,

Trang 10

ASEAN còn là nhân tố quan trọng của các khuôn khổ hợp tác khu vực và liên khu vực khác như Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á-TBD (APEC), Hội nghị Á-Âu (ASEM) và Diễn đàn Hợp tác Đông Á-Mỹ Latinh (FEALAC)

- Thông qua quan hệ đối ngoại, ASEAN đã tranh thủ được sự hợp tác và hỗ trợ thiết thực từ các đối tác bên ngoài, phục vụ mục tiêu

an ninh và phát triển của Hiệp hội ; đồng thời góp phần quan trọng thúc đẩy và kết nối các mối liên kết khu vực với nhiều tầng nấc khác nhau ở Châu Á-TBD

e Giáo dục

- Thông qua tổ chức bộ trưởng giáo dục ASEAN (FENMEO) nhằm mở rộng hợp tác quan hệ giáo dục và đã thành lập 15 trung tâm hợp đồng về lĩnh vực giáo dục ở 10 nước thành viên (ở VN có tổ chức ASEAN ở TP HCM) Ngoài ra còn thực hiện dự án trao đổi chuyên gia rồi trao đổi chương trình đào tạo nghiên cứu khoa học tự nhiên – xã hội với mục tiêu là xây dựng một nền giáo dục ASEAN tiên tiến, dành những xuất học bổng cho sinh viên của các nươc trong khối duy trì đại học của nhau

* Vai trò của ASEAN

- Đã hội tụ được tất cả các nước trong khu vực trừ Đông Ti Mo với

lãnh thổ rộng gần 4 triệu km vuông, khoảng hơn 500 triệu dân, có thu nhập toàn khối khoảng 600 tỉ USD ASEAN không những tạo cơ hội cho các nước phát triển kinh tế mà còn giúp cac nước thành viên nâng cao vị thế trong nền chính trị thế giới

- Đã hình thành được cơ chế giải quyết mâu thuẫn và xung đột giữa các nước thành viên (hiệp ước Bali, tuyên bố Coolombua, tuyên bố ứng xử biển Đông, diễn đàn an ninh khu vực, hiến chương ASEAN) hòa bình, ổn định đã được duy trì khá chắc chắn

- Đã hình thành được ý thức về cộng đồng khu vực tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc và quốc gia trong khu vực

- Thiết lập được một cơ chế khu vực, triển khai và hoàn thiện AFTA (khu vực mậu dịch tự do ASEAN), có thể nói rằng ASEAN là một tổ chức khu vực thành công trên thế giới và ngày càng thúc đẩy sự kiên kết các thành viên trong hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực KT,

CT, VH, XH và trở thành đối tác quan trọng trong quan hệ chính trị quốc tế

Ngày đăng: 10/09/2017, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w