1. Trang chủ
  2. » Tất cả

SKKN ĐỊA 9 2015-2016 (1)

20 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 474 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua điều tra thực tế và qua bài kiểm tra của một số năm học trước đây có tới trên 20% số học sinh còn lúng túng không biết vẽ và phân tích biểu đồ đó chính là lí do mà tôi tiếp tục lựa c

Trang 1

I MỞ ĐẦU.

1 Lí do chọn đề tài:

Môn Địa lí THCS, khối lượng kiến thức nhiều và rộng, với một tiết trên lớp phần lớn thời gian dành cho phần lí thuyết còn thời gian dành cho phần bài tập không nhiều (trừ bài thực hành)

Thực tế qua nhiều năm giảng dạy địa lí ở trường THCS tôi thấy kĩ năng

vẽ và phân tích biểu đồ của học sinh còn nhiều hạn chế Vậy làm thế nào để mọi học sinh đều nắm được phương pháp vẽ và phân tích biểu đồ, đây cũng là việc làm cần bàn đến Thực tế qua các bài kiểm tra, bài thi học kì và thi học sinh giỏi việc thực hiện các kĩ năng trên của học sinh còn yếu nên điểm làm bài của học sinh thường không cao Nhiều em vẽ biểu đồ không chính xác, có em vẽ được biểu đồ thì chú giải lại không khoa học, có em vẽ biểu đồ không đúng theo yêu cầu của bài Nguyên nhân của trình trạng trên là do: khi làm bài học sinh còn hấp tấp chưa đọc kĩ đầu bài; chưa nắm được phương pháp vẽ hoặc chỉ nắm qua loa; nhiều học sinh vẽ xong rồi không biết nhận xét, không ghi tên biểu đồ hoặc không có chú giải Để nâng cao chất lượng giáo dục của ngành nói chung, nhà trường và bộ môn nói riêng, là một giáo viên tôi thấy việc cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, vì chỉ có đổi mới phương pháp dạy học mới thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học trong đó phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Để đáp ứng được yêu cầu đổi mới trên việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng trong học tập là rất cần thiết không thể thiếu được đối với môn Địa lí nói riêng và các môn học khác nói chung

Qua điều tra thực tế và qua bài kiểm tra của một số năm học trước đây có tới trên 20% số học sinh còn lúng túng không biết vẽ và phân tích biểu đồ đó

chính là lí do mà tôi tiếp tục lựa chọn giải pháp sáng tạo "Rèn kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ môn Địa lí 9" và đã áp dụng vào năm học 2015-2016.

2 Mục đích nghiên cứu:

Mục đích chính của đề tài là giúp cho việc dạy và học Địa lí lớp 9 có hiệu quả hơn qua việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ Đây là cơ sở tốt để các em học lên THPT và ra trường trở thành người lao động mới

Từ kinh nghiệm bản thân qua nhiều năm giảng dạy địa lý và qua thực tế

dự giờ đồng nghiệp, kết hợp với việc nghiên cứu các tài liệu tôi mạnh dạn trao đổi cùng đồng nghiệp về: “Rèn luyện kỹ năng biểu đồ môn Địa lí lớp 9” trong sáng kiến này Theo cá nhân tôi nhận thấy, việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh gồm: kỹ năng đọc biểu đồ, kỹ năng vẽ biểu đồ, kỹ năng nhận xét, giải thích biểu đồ,… Từ đó sẽ giúp học sinh hiểu và khai thác được một cách dễ dàng động thái phát triển của một hiện tượng, mối quan hệ về độ lớn giữa các đối tượng hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể Mỗi biểu đồ có thể dùng được với nhiều mục đích khác nhau Đồng thời qua sáng kiến này, tôi cũng muốn giúp một số giáo viên mới ra trường còn lúng túng trong việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ cho học sinh sẽ biết cách đọc, vẽ, nhận xét và giải thích biểu đồ

Trang 2

nhất là đối với học sinh lớp 9, để giúp các em học tập có hiệu quả hơn, đặc biệt

là các em tham gia đội tuyển học sinh giỏi địa lý

- Giúp chúng ta tìm ra phương pháp vẽ và nhận xét biểu đồ có hiệu quả nhất

- Giáo viên hoàn thành tốt bài giảng theo phương pháp đổi mới hiện nay

- Học sinh có kỹ năng vẽ và nhận xét biểu đồ thành thạo để nắm bắt kiến thức nhanh, có hứng thú say mê môn học

3 Đối tượng nghiên cứu:

Rèn kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ môn Địa lí 9 trường THCS Thành An

4 Phương pháp nghiên cứu:

a Rèn kỹ năng đọc biểu đồ:

- Đọc tên biểu đồ để biết được nội dung của biểu đồ

- Đọc bảng chú giải để biết cách thể hiện nội dung của biểu đồ

- Căn cứ vào bảng chú giải và nội dung thể hiện của biểu đồ để hiểu từng nội dung của biểu đồ và mối quan hệ giữa các nội dung địa lý trên biểu đồ

b Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ:

- Trước khi vẽ biểu đồ cần viết tên biểu đồ một cách chính xác

- Vẽ trục tọa độ: Trục dọc biểu thị đối tượng địa lý nào? Trục ngang biểu thị đối tượng địa lý nào?

- Dựa vào trục dọc và trục ngang để biểu thị các đối tượng địa lý dưới dạng đường, cột, miền….theo yêu cầu của đề bài

- Vẽ biểu đồ xong cần chú ý chú giải cho biểu đồ

c Rèn luyện kỹ năng nhận xét:

- Sự tăng (giảm) đối với biểu đồ đường

- Sự giảm (tăng) đối với biểu đồ cột, so sánh giữa các cột

- Biểu đồ tròn cần nhận xét độ lớn (nhỏ) của hình quạt, nếu biểu đồ nhiều hình tròn thì nhận xét tăng (giảm) của đối tượng địa lý

- Biểu đồ miền thì nhận xét theo hàng ngang, rồi đến hàng dọc

- Dựa vào kiến thức đã học để giải thích các yếu tố trên biểu đồ xem tại sao đối tượng này lớn hơn đối tượng kia…

Trang 3

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận.

a Khái niệm:

Biểu đồ là một loại đồ họa dùng để biểu hiện một cách trực quan số liệu thống kê về quá trình phát triển của hiện tuợng, cấu trúc hiện tượng, mối quan

hệ giữa thời gian và không gian của các hiện tượng

b Vai trò:

Để giảng dạy Địa lí theo phương pháp dạy học tích cực thì việc rèn luyện

kỹ năng biểu đồ cho học sinh là một việc rất quan trọng, đặc biệt đối với học sinh lớp 9 vì biểu đồ có chứa dựng nhiều nội dung kiến thức mà kênh chữ không biểu hiện hết Rèn luyện kỹ năng biểu đồ địa lý cho học sinh lớp 9 giúp các em hiểu và nắm bắt kiến thức một cách có hiệu quả hơn, chủ động hơn, nhớ kiến thức lâu hơn Bên cạnh đó, còn rèn cho học sinh khả năng tư duy logic, kỹ năng

so sánh các đối tượng địa lý và rèn cho học sinh tính tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác trong việc học địa lý từ đó giúp các em yêu thích bộ môn hơn, say mê nghiên cứu khoa học địa lý

c Ý nghĩa:

Việc rèn luyện kỹ năng biểu đồ Địa lí cho học sinh lớp 9 còn có khả năng bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh giúp cho bộ môn Địa lí bớt khô cứng, đồng thời giúp người thầy có điều kiện để phối hợp nhiều phương pháp dạy học và các hình thức dạy học đa dạng, hiệu quả hơn, nâng cao khả năng tư duy và khả năng độc lập sáng tạo của học sinh Dựa vào biểu đồ người thầy có thể nêu ra những vấn đề cho học sinh suy nghĩ, nhận thức, phát triển tư duy địa lý và khai thác những nét đặc trưng quan trọng của địa lý Khi rèn kỹ năng biểu đồ cho học sinh tốt thì những con số, những cột, đường, miền… không còn bị khô cứng mà trở nên sống động, hơn, mềm mại hơn giúp học sinh có thể phán đoán, suy xét sự phát triển hoặc không phát triển của một ngành, một lĩnh vực địa lý hoặc cả một nền kinh tế của một đất nước

2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

- Thống kê đầu năm học 2015-2016

Lớp Tổng số HS Đạt yêu cầu Chưa đạt yêu cầu

- Qua khảo sát môn địa lí đầu năm tỉ lệ vẽ biểu đồ của học sinh rất thấp: Đạt yêu cầu vẽ biểu đồ 23.1%, chưa đạt là 76.9% Kết quả thấp là do ở các lớp dưới các

em rất ít vẽ biểu đồ

3 Giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề.

Đối với mỗi dạng biểu đồ đều có phương pháp vẽ khác nhau

Để thể hiện tốt biểu đồ, cần phải có kỹ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất;

kỹ năng tính toán, xử lý số liệu (ví dụ, tính giá trị cơ cấu (%), tính tỉ lệ về chỉ số

Trang 4

phát triển, tính bán kính hình tròn ); kỹ năng vẽ biểu đồ (chính xác, đúng, đẹp ); kỹ năng nhận xét, phân tích biểu đồ; kỹ năng sử dụng các dụng cụ vẽ kỹ thuật (máy tính cá nhân, bút, thước )

Trong khi làm bài tập, bài kiểm tra nếu đề bài yêu cầu vẽ cụ thể là biểu đồ tròn, cột thì chúng ta theo thứ tự các bước để thực hiện, còn nếu đề bài chưa yêu cầu vẽ cụ thể thì học sinh phải căn cứ vào bảng số liệu để lựa chọn biểu đồ sao cho phù hợp với nội dung, yêu cầu của đề bài

3.1 Rèn kỹ năng lựa chọn biểu đồ trước khi vẽ:

Khi lựa chọn cần chú ý các điểm sau đây: Biểu đồ hình tròn (điều kiện là các thành phần khi tính toán tổng toàn bộ phải bằng 100%); biểu đồ cột chồng (khi một tổng thể có quá nhiều thành phần, nếu vẽ biểu đồ hình tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp Trường hợp này nên chuyển sang vẽ biểu đồ cột chồng theo đại lượng tương đối (%) cho dễ thể hiện); biểu đồ miền (chỉ sử dụng khi trên bảng số liệu các đối tượng trải qua từ 4 thời điểm trở lên, không nên vẽ hình tròn)

3.2 Rèn luyện kỹ năng vẽ biểu đồ, nhận xét:

* Vẽ biểu đồ:

- Phần căn cứ vào bảng số liệu thống kê: Khi nghiên cứu đặc điểm của bảng

số liệu để chọn vẽ biểu đồ nào thích hợp, học sinh cần lưu ý những điểm sau:

+ Nếu bảng số liệu đưa ra dãy số liệu: tỷ lệ (%) hay giá trị tuyệt đối phát triển theo một chuỗi thời gian (có ít nhất 4 năm trở lên), học sinh nên chọn biểu

đồ đường biểu diễn

+ Nếu có một dãy số liệu tuyệt đối về quy mô, số lượng của một (hay nhiều) đối tượng biến động theo một số thời điểm (hay theo các thời kì), học sinh nên chọn biểu đồ hình cột đơn

+ Trong trường hợp có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ như diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của một vùng miền nào đó theo chuỗi thời gian, học sinh nên chọn biểu đồ dạng kết hợp

+ Nếu bảng số liệu có từ 3 đối tượng trở lên với các đại lượng khác nhau (tấn, mét, ha…) diễn biến theo thời gian, học sinh nên chọn biểu đồ chỉ số

+ Trong trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng phần: tổng số,

chia ra: nông - lâm - ngư, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ… Với bảng số liệu

này, HS chọn dạng biểu đồ cơ cấu (hình tròn, cột chồng, miền)

- Căn cứ vào lời kết của câu hỏi: Trong nhiều trường hợp, nội dung lời kết của

câu hỏi chính là gợi ý cho vẽ một loại biểu đồ nào đó

Ví dụ: Cho bảng số liệu sau… Hãy vẽ biểu đồ thích hợp… Nhận xét về sự

chuyển dịch cơ cấu… và giải thích nguyên nhân của sự chuyển dịch đó Như

vậy, lời kết của câu hỏi đã ngầm cho học sinh biết nên chọn loại biểu đồ thuộc nhóm biểu đồ cơ cấu là thích hợp

- Đối với các biểu đồ hình cột, đường biểu diễn, biểu đồ kết hợp cột và đường, biểu đồ miền: Trục giá trị (trục đứng) phải có mốc giá trị cao hơn giá trị

cao nhất trong bảng số liệu, có mũi tên chỉ chiều tăng lên của giá trị Trên đầu cột cần ghi rõ đơn vị thể hiện (tấn, triệu, % ), ghi rõ gốc tọa độ; trục định loại

Trang 5

(trục ngang) phải ghi rõ đơn vị thể hiện (năm, nhóm tuổi…) Đối với các biểu đồ đường biểu diễn, miền, kết hợp đường và cột phải chia các mốc trên trục định loại tương ứng với các mốc thời gian Riêng đối với các biểu đồ hình cột, điều này không có tính chất bắt buộc nhưng vẫn có thể chia khoảng cách đúng với bảng số liệu để dễ dàng quan sát được cả mặt quy mô lẫn động thái phát triển, phải ghi các số liệu lên đầu cột (đối với các biểu đồ cột đơn) Trong trường hợp biểu đồ cột đơn nếu có sự chênh lệch quá lớn về giá trị của một vài cột (lớn nhất) và các cột còn lại, học sinh có thể dùng các thủ pháp vẽ trục giá trị gián đoạn ở chỗ trên giá trị cao nhất của các cột còn lại Các cột có giá trị lớn nhất sẽ được vẽ thành cột gián đoạn, như vậy, biểu đồ vừa đảm bảo tính khoa học và thẩm mĩ Ngoài ra, biểu đồ phải có phần chú giải và tên biểu đồ học sinh nên thống nhất kí hiệu chú giải trước khi vẽ các biểu đồ thể hiện các đối tượng khác nhau Tên biểu đồ có thể ghi ở trên hoặc dưới biểu đồ

- Đối với biểu đồ hình tròn: Cần thiết kế các chú giải trước khi vẽ các hình

quạt thể hiện các phần của đối tượng Thứ tự vẽ các hình quạt phải theo đúng thứ tự được trình bày ở phần chú giải Nếu vẽ 2 biểu đồ trở lên cần phải thống nhất quy tắc vẽ, vẽ hình quạt thứ nhất lấy gốc từ tia 12 giờ (như mặt đồng hồ) rồi vẽ tiếp cho các hình quạt tiếp theo thuận theo chiều kim đồng hồ Đối với trường hợp vẽ biểu đồ cặp hai nửa hình tròn thì trật tự vẽ có sự thay đổi Đối với nửa hình tròn trên, học sinh vẽ hình quạt thứ nhất bắt đầu từ tia 9 giờ, từ đó vẽ tiếp cho thành phần thứ 2, 3… thuận theo chiều kim đồng hồ Với nửa hình tròn dưới, học sinh cũng vẽ hình quạt thứ nhất từ tia 9 giờ và vẽ các thành phần còn lại ngược chiều kim đồng hồ Nếu bảng số liệu cho là cơ cấu (%), học sinh vẽ các biểu đồ có kích thước bằng nhau (vì không có cơ sở để vẽ các biểu đồ có kích thước lớn, nhỏ khác nhau) Còn nếu trường hợp bảng số liệu là giá trị tuyệt đối, học sinh phải vẽ các biểu đồ có kích thước khác nhau một cách tương ứng (tính bán kính cho mỗi vòng tròn) Biểu đồ cần phải có phần chú giải, tên biểu

đồ có thể ghi ở trên hoặc dưới biểu đồ)

* Vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét, phân tích biểu đồ.

- Trong các loại biểu đồ cơ cấu mà số liệu được quy thành các % ta phải dùng từ

tỉ trọng trong cơ cấu để so sánh, nhận xét

- Cần sử dụng những từ ngữ phù hợp với trạng thái phát triển của các đối tượng trên biểu đồ:

+ Về trạng thái tăng: Có các từ nhận xét theo từng cấp độ như: Tăng, tăng mạnh, tăng đột biến, tăng liên tục… kèm theo bao giờ cũng có dẫn chứng cụ thể tăng bao nhiêu (triệu tấn, tỉ đồng, triệu dân…)? Hoặc bao nhiêu % hay bao nhiêu lần? + Về trạng thái giảm: Cần dùng các từ: Giảm, giảm mạnh, giảm nhanh, giảm chậm, giảm đột biến… kèm theo dẫn chứng cụ thể

+ Về nhận xét tổng quát: Cần dùng các từ diễn đạt về sự phát triển như: phát triển nhanh, phát triển chậm, phát triển ổn định, phát triển đều, có sự chênh lệch giữa các vùng…

- Những từ ngữ trên thể hiện gọn, rõ ràng, có cấp độ, có thể coi là ngôn ngữ đặc thù trong nhận xét, phân tích biểu đồ

Trang 6

- Những căn cứ để phân tích biểu đồ:

+ Căn cứ vào số liệu ở bảng thống kê và đường nét thể hiện trên biểu đồ

+ Lưu ý: Không thoát li khỏi các dữ liệu được nêu trong bảng số liệu, không nhận xét chung chung mà cần có số liệu dẫn chứng kèm theo các ý nhận xét Phần nêu nguyên nhân cần dựa vào kiến thức các bài đã học để viết cho đúng yêu cầu

3.3 Cách vẽ cụ thể:

3.3.1 Biểu đồ cột

* Biểu đồ cột đơn

- Ý nghĩa: So sánh các đại lượng, động thái theo thời gian của một đối tượng địa

- Cách vẽ:

+ Trục ngang: Chỉ thời gian (cần chia đơn vị thời gian nếu có) hoặc biểu hiện các đối tượng

+ Trục dọc: Chỉ số lượng (cần ghi chú đầu trục: biểu hiện đơn vị)

+ Chọn gốc toạ độ

+ Vẽ các cột theo số liệu: Bề rộng các cột bằng nhau, giá trị ghi trên đầu cột, không nối đỉnh cột

- Lưu ý: Các biểu đồ cột đơn biểu hiện các đối tượng khác nhau có thể vẽ cạnh

nhau để dễ so sánh (cần làm kí hiệu khác nhau).Ví dụ: So sánh diện tích cây công nghiệp và cây lương thực qua một số năm

- Ví dụ: Dựa vào bảng số liệu sau:

+ Vẽ biểu đồ cột độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2003

+ Nhận xét độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2003

Hướng dẫn:

Cách vẽ:

- Vẽ trục tọa độ:

+ Trục dọc biểu thị độ che phủ (%)

+ Trục ngang là các địa phương: cột đầu tiên phải cách trục tung từ một đến hai đường kẻ; Vẽ đúng trình tự bài cho, bề ngang các cột phải bằng nhau; ghi số lượng trên đầu các cột để dễ so sánh; Viết tên biểu đồ

- Biểu đồ :

Trang 7

Biểu đồ cột độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên năm 2003

- Nhận xét :

+ Độ che phủ rừng của các tỉnh Tây Nguyên cao nhất là Kon Tum 64%, thứ hai

là Lâm Đồng 63,5%, thứ ba là Đắk Lắk 50,2% và thấp nhất là 49,2%

+ Chênh lệch giữa tỉnh cao nhất và tỉnh thấp nhất về độ che phủ rừng của Kon Tum và Gia Lai là: 14,8%

* Biểu đồ cột chồng, ghép

- Ý nghĩa:

+ Vẽ theo giá trị tuyệt đối: Thể hiện quy mô và các thành phần của tổng thể

+ Vẽ theo giá trị tương đối: Thể hiện cơ cấu và sự thay đổi cơ cấu theo thời gian, không gian

- Cách vẽ:

+ Vẽ hệ thống trục: Như trường hợp biểu đồ cột đơn

+ Vẽ chồng nối tiếp giá trị các thành phần của tổng thể trên một cột (theo thời gian, không gian)

Ví dụ 1: Cho bảng số liệu về lực lượng lao động, số người cần giải quyết việc

làm ở hai khu vực thành thị và nông thôn nước ta năm 2001, hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện tình trạng việc làm nước ta ở các khu vực thành thị, nông thôn năm 2001 và nhận xét tình hình việc làm nước ta

Đơn vị tính nghìn người

Cả nước Nông thôn Thành thị Lực lượng lao động 37407,2 29757,6 7649,6

Số người thiếu việc làm 9418,4 8219,5 1198,9

Số người thất nghiệp 856,3 511,3 345,0

Hướng dẫn:

1-Xử lý số liệu và vẽ biểu đồ

- Tổng số lao động = số người thiếu việc làm + số người thất nghiệp + số người

có việc làm thường xuyên Kết quả như sau:

- Kết cấu sử dụng lao động nước ta năm 2001( Đơn vị nghìn người.)

Cả nước Nông thôn Thành thị Lực lượng lao động 37407,2 29757,6 7649,6

Các tỉnh

Trang 8

Số người thiếu việc làm 9418,4 8219,5 1198,9

Số người thất nghiệp 856,3 511,3 345

- Vẽ biểu đồ: Có thể vẽ nhiều kiểu: cột chồng, hình tròn, hình vuông, thanh ngang (cả hai loại sử dụng số liệu nguyên dạng hoặc số liệu đã tính ra tỉ lệ %) Chọn cách vẽ biểu đồ cột chồng dạng sử dụng số liệu tuyệt đối

Tình trạng việc làm nước ta ở các khu vực thành thị, nông thôn năm 2001

2-Nhận xét

a- Vấn đề việc làm ở nước ta rất gay gắt

Năm 1998 cả nước có 9,4 triệu người thiếu việc làm chiếm 25,2% tổng số lao động và 856 nghìn người thất nghiệp chiếm 2,3% tổng số lao động

Đây là tỉ lệ rất cao so trong tổng số lao động nước ta Là do

b-Thất nghiệp tại các đô thị rất cao Có 345 nghìn người thất nghiệp chiếm 4,5%; số người thiếu việc làm chỉ chiếm 15,7% tổng số lao động cao hơn so với mức chung cả nước tới 2 lần và khu vực nông thôn tới gần 3 lần; Tỉ lệ thiếu việc làm thấp hơn so với bình quân chung cả nước và khu vực nông thôn Có tình trạng trên là do

c-Thiếu việc làm tại khu vực nông thôn: Năm 1998 tỉ lệ thiếu việc làm là 27,6% tổng số lao động cao hơn rất nhiều so với khu vực thành thị; nhưng tỉ lệ thất nghiệp lại thấp hơn đáng kể so với khu vực thành thị Thiếu việc làm ở nông thôn cao có liên quan tới

Ví dụ 2: Căn cứ vào bảng số liệu dưới đây, hãy vẽ biểu đồ cột thể hiện cơ cấu

giá trị sản xuất ngành chăn nuôi của Việt Nam năm 1990 và 2002

Năm Tổng số Gia súc Gia cầm trứng, sữa Sản phẩm Phụ phẩm chăn nuôi

Hướng dẫn :

- Cách vẽ :

+ Vẽ trục tọa độ: Trục dọc biểu thị phần trăm

Trang 9

Trục ngang biểu thị năm

+ Vẽ hai cột năm 1990 và 2002 đều là 100%: chia tỷ lệ phần trăm từng cột theo

số lượng trong bảng

+ Ghi tên biểu đồ; chú giải (mỗi ngành một ký hiệu khác nhau)

- Biểu đồ :

Biểu đồ cơ cấu giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ở nước ta năm

1990 và 2002.

- Nhận xét :

+ Cả hai năm 1990 và 2002 ngành chăn nuôi gia súc có giá trị sản xuất lớn nhất, sau đó đến chăn nuôi gia cầm, thứ ba là sản phẩm trứng sữa, thấp nhất là phụ phẩm chăn nuôi

+ Từ năm 1990 – 2002 giá trị sản xuất ngành chăn nuôi gia súc giảm 1,1%, ngành chăn nuôi gia cầm giảm 1,8%, ngành sản phẩm trứng sữa tăng 4,4%, ngành phụ phẩm chăn nuôi giảm 1,1%

Ví dụ 3: Dựa vào bảng số liệu dưới đây hãy vẽ và nhận xét biểu đồ sự tăng

trưởng kinh tế nước ta trong thời gian 1976-2005 (Đơn vị %/năm )

Năm, giai đoạn 76/80 1988 1992 1994 1999 2002 2004 2005

Công nghiệp –

Nông- Lâm- Ngư

Hướng dẫn

1 Vẽ biểu đồ Dạng cột đơn phân theo các nhóm cột, mỗi năm hoặc giai đoạn

vẽ 3 cột thể hiện GDP, CNXD, NLN Có thể vẽ thành dạng biểu đồ thanh ngang

Trang 10

Biểu đồ sự tăng trưởng kinh tế nước ta trong thời gian 1976-2005 2) Nhận xét.

a) Những năm trước đổi mới ( từ 1976 đến năm 1988)

Tăng trưởng kinh tế chậm: GDP chỉ đạt 0,2%/năm; công nghiệp là 0,6%, nông nghiệp tăng khá hơn đạt 2% Sự phát triển kinh tế dựa vào nông nghiệp là chính Lý do tốc độ tăng trưởng thấp

b) Giai đoạn sau đổi mới (từ 1988 tới 2005)

- Tăng trưởng kinh tế nhanh hơn rất nhiều: tốc độ tăng GDP cao nhất vào năm

1994, so với giai đoạn 76/80 gấp 40,2 lần; công nghiệp cao gấp 24 lần; nông nghiệp gấp 1,4 lần

- Công nghiệp là động lực chính đối với sự tăng trưởng GDP Lý do Năm

1999 sự tăng trưởng kinh tế có giảm đi đáng kể là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực Đông Nam Á

- Năm 2002 tới 2005 tốc độ tăng trưởng đã được khôi phục lại tuy có thấp hơn

so với các năm trước đó

* Biểu đồ kết hợp (Cột và đường)

- Cách đọc biểu đồ:

+ Cần đọc tên biểu đồ để biết nội dung của biểu đồ

+ Đọc để hiểu bảng chú giải

+ Đọc để hiểu hai trục dọc, mỗi trục dọc biểu thị đơn vị nào

+ Đọc trục ngang biểu thị yếu tố nào?

+ Đọc nội dung biểu đồ để biết biểu đồ cột thể hiện gì? Biểu đồ đường thể hiện gì?

- Cách vẽ:

+ Biểu đồ có hai trục đơn vị

+ Ta có thể chọn một trong hai cách vẽ : một vẽ biểu đồ cột và một vẽ biểu đồ

đồ thị nhưng chia tỉ lệ sao cho để hạn chế sự dính nhau giữa cột và đường Tốt nhất nên vẽ đường cao hơn cột

+ Tọa độ đường nằm giữa cột vì thế vẽ cột trước xong mới vẽ đường

- Cách nhận xét: Các bước nhận xét giống như biểu đồ cột và đồ thị.

Ví dụ: Vẽ biểu đồ biểu hiện sự tăng dân số và tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân số

nước ta từ năm 1954 đến 2003 theo bảng số liệu sau :

Ngày đăng: 17/12/2016, 21:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liêu dưới đây - SKKN ĐỊA 9 2015-2016 (1)
Bảng s ố liêu dưới đây (Trang 12)
w