1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN PP MA TRẬN TRONG NHẬN DẠNG KIỂU BIỂU đồ THÍCH hợp địa 9

27 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 308 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PP MA TRẬN TRONG NHẬN DẠNG KIỂU BIỂU ĐỒ THÍCH HỢP ĐỊA 9 Đó chính là lí do để tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến "Phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ

Trang 1

PP MA TRẬN TRONG NHẬN DẠNG KIỂU BIỂU ĐỒ THÍCH HỢP ĐỊA 9

Đó chính là lí do để tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến "Phương pháp Ma trận trong

nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí 9 - THCS"

Trong hệ thống các môn học văn hóa hiện nay của trường THCS thì Địa lí vẫncòn bị một bộ phận lớn học sinh và phụ huynh xem là một môn học phụ Việc truyền thụkiến thức của giáo viên và tiếp thu của học sinh phần lớn vẫn còn thụ động, một chiều.Thái độ của học sinh đối với các giờ học bộ môn Địa lí còn hời hợt, chưa được coi trọngđúng mức Chính vì thế rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ cho học sinh là một cách phát huytính tích cực, tự học của học sinh đồng thời giúp cho các em tiếp thu kiến thức bộ môn

Việc giúp học sinh xác định đúng loại, dạng biểu đồ cho mỗi bài tập về vẽ biểu đồ

là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mỗi người giáo viên Địa lí Từ đây hìnhthành cho học sinh những kĩ năng, thao tác cơ bản để tiếp cận với một cách học mới -cách học nhằm phát huy tính tự học tích cực, sáng tạo của học sinh và tạo hứng thú chohọc sinh trong học tập bộ môn Địa lí Đồng thời, việc xác định đúng kiểu biểu đồ sẽ giúpcho việc khai thác thông tin 2 chiều (nhận xét và giải thích) dễ dàng hơn, chính xác hơn Đối với bản thân một người giáo viên như tôi khi thực hiện phương pháp nàycũng là một cách giúp nâng cao khả năng xây dựng bài giảng và truyền thụ tri thức bộ

Đó chính là mục đích mà tôi muốn đạt được trong khi áp dụng phương pháp sửdụng ma trận đồ trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và một số lưu ý khi tiến hành

- Nghiên cứu, tìm hiểu những nội dung liên quan để xây dựng cơ sở lí luận cho đề tài

- Tăng cường kiểm tra qua các bài kiểm tra miệng, thường xuyên, định kì và đánh giá.Tìm hiểu để nắm được thực trạng việc rèn luyện kĩ năng vẽ biểu đồ của học sinh lớp 9

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

Trang 2

- Bộ môn Địa lí 9 - THCS

- Giới hạn nghiên cứu: Nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách vẽ biểu đồ

- Tri thức về biểu đồ giúp các em giải mã được các hình vẽ như đường, cột, miền, hoặc những con số khô cứng trong bảng số liệu và biểu đồ để kiến thức bộ môn thôngqua đó trở nên sống động và ý nghĩa hơn Đồng thời giúp các em xác lập được mốiquan hệ giữa các con số với cột, đường, miền , để từ đó các em có thể phát hiện racác tri thức mới tiềm tàng ẩn mình trong biểu đồ Tất nhiên ở đây chỉ có các tri thức vềbiểu đồ thì chưa đủ mà cần phải kết hợp với các tri thức Địa lí khác Đó cũng chính làtìm ra mối liên hệ nhân - quả trong khai thác kiến thức Địa lí ở tất cả các cấp học

- Nghiên cứu, tham khảo tài liệu Địa lí và các tài liệu, tư liệu liên quan đến các bài tập

- Thăm lớp, dự giờ để trao đổi kinh nghiệm và học hỏi đồng nghiệp

- Tăng cường tự học, tự bồi dưỡng để đúc rút kinh nghiệm

- Kết hợp với thực tế giảng dạy ở cơ sở

Trong quá trình giảng dạy tại cơ sở kết hợp với việc không ngừng khảo sát họcsinh khối 9 tiến hành làm việc và kết quả của các em qua các bài tập về vẽ, nhận xét vàgiải thích biểu đồ Nhận thấy những sai sót, thiếu sót của học sinh trong quá trình họctập và những thay đổi tích cực trong khi tôi áp dụng cách nhận dạng kiểu biểu đồ thíchhợp thông qua phương pháp ma trận và một số lưu ý cơ bản khi tiến hành các thao tác

vẽ biểu đồ tôi đã mạnh dạn đưa ra đề tài này

Cùng với quá trình toàn cầu hóa và xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giới hiệnnay thì giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu và luôn đi trước một bước trong quátrình phát triển kinh tế xã hội Bởi trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của một quốcgia thì nhân tố con người được coi là nguồn lực quan trọng và cơ bản nhất Chính vìvậy vấn đề chất lượng dạy học ở các cấp học, ngành học nói chung trong đó có bộ mônĐịa lí nói riêng càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà sư phạm Xuất phát từ những yêu cầu của thực tiễn xã hội, môn Địa lí ở trường THCS nóichung và lớp 9 nói riêng đã không ngừng cải tiến chương trình, cải tiến phương phápdạy học nhằm đạt hiệu quả cao nhất Để phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo củahọc sinh và tạo hứng thú trong giờ học Địa Lí nên ngoài việc cung cấp kiến thức líthuyết còn bổ sung thêm nhiều giờ học thực hành, ngoại khóa, tìm hiểu địa phương Trong đó, các bài tập cuối bài học và bài thực hành đóng vai trò quan trọng đặc biệt là kĩnăng vẽ, nhận xét và giải thích các loại biểu đồ Các bài tập này có nhiệm vụ vừa củng

cố kiến thức lí thuyết vừa rèn luyện kĩ năng địa lí cho các em học sinh một cách thuần

Trang 3

Hiện nay trong chương trình đổi mới sách giáo khoa Địa lí 9 - THCS gồm có 52tiết học thì đã có đến 11 tiết thực hành Trong đó có khoảng 6 tiết vẽ biểu đồ và cókhoảng 13 bài tập về rèn luyện kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ sau mỗi bài học của học

Ngoài ra, trong kiến thức bài học bên cạnh nội dung lí thuyết được cung cấp qua

hệ thống kênh chữ thì còn được bổ sung trực quan bằng hệ thống kênh hình với cácbiểu đồ, tranh ảnh, bảng số liệu, Điều này chứng tỏ bộ môn Địa lí 9 hiện nay không chỉchú trọng đến việc cung cấp cho học sinh những kiến thức lí thuyết mà còn giúp các emrèn luyện những kĩ năng địa lí cần thiết trong đó kĩ năng vẽ, nhận xét và giải thích biểu

Thông qua những bài thực hành về vẽ biểu đồ học sinh thấy được mối liên hệ vớinhững nội dung lí thuyết đã học, thấy được xu hướng phát triển cũng như so sánh,phân tích, đánh giá được sự phát triển của các sự vật, hiện tượng địa lí Đó cũng là mộtbiện pháp rất tốt để các em ghi nhớ và củng cố kiến thức bài học cho mình Đồng thờicũng là cơ hội để các em thể hiện khả năng của mình nên các em sẽ say mê hơn Bản thân người giáo viên giảng dạy môn Địa lí khi thiết kế hoặc giảng dạy các bàitập thực hành cho học sinh cũng nhẹ nhàng hơn, không nặng về nội dung lí thuyết màchủ yếu đi sâu vào các bước tiến hành, dẫn dắt học sinh các thao tác để các em hoàn

Thông qua đây người giáo viên cũng có cơ hội để đánh giá được năng lực củatừng học sinh, phát hiện những học sinh có năng lực nhằm chuẩn bị tốt đội ngũ cho các

kì thi học sinh giỏi đồng thời tìm ra những học sinh còn yếu kém trong việc rèn luyện kĩnăng để kịp thời có những biện pháp uốn nắn và điều chỉnh nhằm nâng cao toàn diện

Vấn đề thường gặp hiện nay là học sinh học lệch khá nhiều Nhiều em cho rằngĐịa lí là môn học phụ nên không quan tâm, học qua loa, học lí thuyết chung chung màcoi nhẹ phần thực hành, làm bài tập về vẽ biểu đồ ở phần câu hỏi và bài tập nên kết quả

Một khó khăn nữa là việc rèn luyện kĩ năng chỉ chiếm một thời lượng rất ít trongmột tiết học nên đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu trước các yêu cầu của các bài tậphoặc bài thực hành mà giáo viên đã giao Tuy nhiên nhiều em chưa thực sự tập trung vàquan tâm đến các yêu cầu mà giáo viên đã giao cho nên đây là khó khăn lớn đối vớingười giáo viên khi dạy một bài thực hành về vẽ biểu đồ, vì:

- Học sinh không xác định được yêu cầu của đề bài

- Học sinh không xác định được kiểu biểu đồ thích hợp để vẽ

- Học sinh khó khăn trong việc xử lí bảng số liệu (nếu có) cho phù hợp với yêu cầu của

- Kĩ năng vẽ biểu đồ của học sinh còn lúng túng

- Học sinh chưa nắm được các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ

- Học sinh chưa biết cách khai thác thông tin từ biểu đồ

Do đó tỉ lệ học sinh xác định được đúng yêu cầu của đề bài và đúng dạng biểu đồ

để vẽ còn thấp và nếu có xác định được đúng dạng và yêu cầu thì lại mắc phải một sốsai sót trong quá trình tiến hành các thao tác vẽ Chính vì vậy, nhận dạng được kiểu biểu đồ để vẽ cho phù hợp và biết cách vẽbiểu đồ giúp học sinh thích thú làm bài tập thực hành hơn, từ đó làm bài tập tốt hơn, kết

Trang 4

quả học tập môn Địa lí sẽ nâng lên Đồng thời cũng giúp cho giáo viên hệ thống các loạibiểu đồ, phân loại các dạng bài tập biểu đồ, qua đó giúp cho người giáo viên phát huyhơn nữa khả năng giảng dạy của mình cho bộ môn nói chung và các bài thực hành nóiriêng.

+ Một số em vẫn xem Địa lí là một môn học phụ.+ Coi trọng lí thuyết mà xem nhẹ thực hành+ Dụng cụ học tập chưa đầy đủ: Một số em còn thiếu máy tính bỏ túi, compa, thước kẻ,

+ Khi giáo viên hướng dẫn thực hành, một số học sinh vẫn còn hời hợt, không tập trungchú ý nên dẫn đến lúng túng khi tiến hành các thao tác vẽ

+ Thời gian môt bài thực hành chỉ có 45 phút, có rất nhiều các bước cần tiến hànhnhưng quan trọng nhất là việc kiểm tra, đánh giá kết quả bài tập của học sinh Tuy vậycông việc này thường được thực hiện sau khi học sinh đã hoàn thành các yêu cầu củabài tập nên giáo viên bị hạn chế nhiều về thời gian để sửa chữa, uốn nắn những sai sótcho các em nhất là các học sinh còn yếu kém.+ Bên cạnh các bài tập thực hành trên lớp, còn có rất nhiều các bài tập thực hành vẽbiểu đồ ở nhà Nếu không có các biện pháp kiểm tra, đánh giá kịp thời thì nhiều em sẽcoi nhẹ việc thực hiện các bài tập này, hoặc có một số lỗi sai sót mắc phải của học sinh

mà giáo viên không kịp thời phát hiện ra để giúp các em sửa chữa.+ Phương tiện hỗ trợ tính trực quan cho học sinh trong một số bài thực hành còn thiếu

Trước khi tôi tiến hành áp dụng kĩ năng nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp để vẽthông qua phương pháp ma trận và hướng dẫn một số lưu ý cơ bản khi tiến hành vẽbiểu đồ thì ở trường tôi đang còn một bộ phận khá lớn học sinh vẫn còn coi nhẹ việcthực hành và làm các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ Các bài kiểm tra, đánh giáthường xuyên, định kì học sinh vẫn tập trung vào làm các câu hỏi lí thuyết Vì thế kếtquả vẫn chưa cao, học sinh đạt điểm tối đa chiếm tỉ lệ rất nhỏ và thường mất điểm chủyếu ở các câu hỏi nhằm rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng vẽ, nhận xét và giải thích

Bảng khảo sát trước khi tiến hành thực hiện giải pháp:

Bảng 1 Tỉ lệ nhận dạng biểu đồ để vẽ và vẽ biểu đồ của học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số HS Biết biểu đồ và vẽ đúng Vẽ sai biểu đồ hoặc mắc phải một số sai sót

Bảng 2 Kết quả các bài tập thực hành về vẽ biểu đồ của học sinh khối 9

Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu kém

Trang 5

Bảng 3 Tỉ lệ kết quả các bài thực hành về vẽ biểu đồ của học sinh khối 9(%)

Lớp Tổng số HS Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu kém

3 Các giải pháp thực hiện - tính khả thi của giải pháp

a Biểu đồ, kĩ năng nhận dạng biểu đồ và cách vẽ một số biểu đồ thường gặp.

- Biểu đồ là một hình vẽ mô tả một cách dễ dàng động thái phát triển của một hiệntượng (như quá trình phát triển số dân của một quốc gia qua các năm, quá trình tăngsản lượng của một ngành kinh tế, ), mối quan hệ về độ lớn giữa các đối tượng (như sosánh sản lượng lương thực giữa các vùng, so sánh sản lượng thủy sản giữa các tỉnh,thành phố ), hoặc cơ cấu thành phần của một tổng thể (như cơ cấu ngành của nềnkinh tế, cơ cấu dân số theo độ tuổi, cơ cấu thành phần kinh tế, )

- Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng và mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để

+ Nếu đề ra yêu cầu vẽ cụ thể dạng biểu đồ gì thì chỉ cần đọc kỹ, gạch dưới để tránh lạc

+ Đối với đề không ghi rõ yêu cầu cụ thể là vẽ biểu đồ gì mà chỉ yêu cầu vẽ dạng thíchhợp nhất thì cần phải phân tích đề thật kỹ trước khi thực hiện Đây là dạng đề khó nênhọc sinh muốn làm được cần có phương pháp phân tích để nhận dạng thích hợp Đểnhận được dạng biểu đồ bằng phương pháp ma trận thì học sinh cần đọc kỹ đề và dựavào một số gợi ý cơ bản như : Bảng số liệu, yêu cầu mà bài tập cần đạt được, chứcnăng của biểu đồ sẽ vẽ dùng để thể hiện cho cái gì của đối tượng Địa lí sau đó căn

cứ vào kết quả đã được xác định để lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất

* Kĩ năng nhận dạng biểu đồ và cách vẽ một số loại biểu đồ thường gặp:

+ Thường dùng để biểu diễn cơ cấu thành phần của một tổng thể và qui mô của đối

tượng cần trình bày Chỉ được thực hiện khi giá trị tính của các đại lượng được tínhbằng % và các giá trị thành phần cộng lại bằng 100%

+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Cơ cấu, qui mô, tỉ trọng, tỉ

lệ

Ví dụ: Biểu đồ cơ cấu tổng sản phẩm trong nước của nền kinh tế Việt Nam, biểu đồ cơ

- Khi vẽ biểu đồ hình tròn chúng ta cần tiến hành các bước sau đây:

Nếu số liệu của đề bài đã cho là số liệu thô (tỉ đồng, triệu người, ) thì việc đầu tiên làphải xử lí số liệu thô thành số liệu tinh (tỉ lệ %)Chú ý khi tính toán ta có thể làm tròn số đến hàng chục của số thập phân nhưng tổng tỉ

Trang 6

đề bài Bắt đầu vẽ từ tia 12h và thuận chiều kim đồng hồ Thứ tự các thành phần củabiểu đồ phải giống nhau để tiện cho việc so sánh.

Chọn kí hiệu thích hợp thể hiện trên biểu đồ đồng thời lập bảng chú giải

+ Có thể được sử dụng để biểu hiện động thái phát triển, so sánh tương quan về độ lớn

giữa các đối tượng hoặc thể hiện các thành phần của một tổng thể Tuy nhiên, loại biểu

đồ này thường được sử dụng để chỉ khác biệt, sự thay đổi về qui mô khối lượng củamột hay một số đối tượng địa lý hoặc sử dụng để thực hiện tương quan về độ lớn giữa

+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Tình hình, so sánh, sản

Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện mật độ dân số của các vùng trong nước hoặc so sánh dân

số, diện tích… của 1 số tỉnh (vùng, nước), so sánh sản lượng (lúa, thủy sản, cà phê…)

- Khi vẽ biểu đồ hình cột cần tiến hành theo một số bước sau đây:

Căn cứ vào các số liệu của đề bài và khổ giấy vẽ, chọn tỉ lệ thích hợp để vẽ sao chođảm bảo các yêu cầu trực quan và thẫm mĩ (cần chú ý tới tương quan về độ cao giữacác cột và tương quan giữa chiều cao trục tung và độ dài trục hoành của biểu đồ sao

+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc: Trục đứng thể hiện đơn vị của các đại lượng (triệungười, tỉ KWh, tỉ USD, hoặc % ) Trục ngang thể hiện các năm hoặc các đối tượng

+ Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện lên giấy

Chú ý: Các cột chỉ khác nhau về độ cao còn bề ngang phải bằng nhau Tùy theo yêu

cầu cụ thể mà vẽ khoảng cách các cột bằng nhau hoặc cách nhau theo đúng tỉ lệ thờigian

Ghi các số liệu tương ứng vào các cột (Ghi giá trị độ lớn ở đỉnh cột và ghi thời gian hoặc

Vẽ kí hiệu vào cột (nếu cần) và thành lập bảng chú giải

+ Đồ thị hay còn gọi là đường biểu diễn hoặc biểu đồ dạng đường, là dạng biểu đồ dùng

để thể hiện tiến trình phát triển, sự biến thiên của các đối tượng qua thời gian.+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ: Tốc độ tăng trưởng, tốc độphát triển, nhịp điệu phát triển, nhịp điệu tăng trưởng, tình hình tăng trưởng, tình hìnhphát triển, quá trình tăng trưởng, quá trình phát triển

Ví dụ: Tình hình tăng trưởng đàn gia súc gia cầm, tốc độ tăng trưởng một số chỉ tiêu

+ Biểu đồ đường chỉ được thực hiện khi trục hoành biểu hiện đối tượng là thời gian

- Khi vẽ biểu đồ đường biểu diễn cần tiến hành theo các bước sau đây:

+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc: Trục tung thể hiện độ lớn của các đối tượng cần biểuhiện (số người, sản lượng, tỉ lệ %, ) Trục hoành thể hiện thời gian.+ Xác định tỉ lệ thích hợp ở cả hai trục, chú ý tương quan giữa độ cao của trục tung và

độ dài của trục hoành sao cho biểu đồ đảm bảo tính trực quan và mĩ thuật

Trang 7

+ Căn cứ vào các số liệu của đề bài và tỉ lệ đã xác định để tính toán và đánh dấu tọa độcác điểm mốc trên hai trục Khi đánh dấu các năm trên trục hoành cần hết sức lưu ý đếnkhoảng cách các năm Thời điểm năm đầu tiên nằm trên trục tung.+ Xác định các điểm mốc và nối các điểm mốc bằng các đoạn thẳng để hình thành

Nếu sử dụng kí hiệu thì cần có bảng chú giải

- Trong trường hợp trên cùng một hệ trục tọa độ phải vẽ từ hai đường biểu diễn trở lên

+ Nếu vẽ hai hoặc nhiều đường biểu diễn có chung một đơn vị thì mỗi đường cần dùngmột kí hiệu riêng để phân biệt và có bảng chú giải kèm theo.+ Nếu vẽ hai đường biểu diễn có đơn vị khác nhau (Một đường biểu diễn số dân, mộtđường biểu diễn sản lượng lúa, ) thì vẽ hai trục đúng ở hai bên biểu đồ, mỗi trục thể

+ Nếu phải vẽ nhiều đường biểu diễn mà số liệu đã cho lại thuộc nhiều đơn vị khácnhau thì phải tính toán để chuyển từ số liệu thô (số liệu tuyệt đối, với các đơn vị khácnhau) sang số liệu tinh (số liệu tương đối, với cùng một đơn vị thống nhất là %) Thôngthường khi tính toán người ta lấy số liệu năm đầu tiên làm gốc và bằng 100% Số liệucủa các năm tiếp theo là tỉ lệ % so với năm đầu tiên Sau đó dùng các số liệu tinh đãqua xử lí để vẽ các đường biểu diễn Đối với loại biểu đồ này thì chỉ cần hệ tọa độvuông góc với một trục tung và một trục hoành Tuy nhiên khi tiến hành vẽ loại biểu đồnày cần lưu ý các mốc thời gian của các đối tượng được biểu hiện trên biểu đồ phải

Ví dụ: Biểu đồ biểu hiện sản lượng lương thực và tốc độ tăng dân số, biểu hiện số dân

và tốc độ tăng dân số, biểu hiện số dân thành thị và tỉ lệ dân thành thị,

- Khi vẽ biểu đồ kết hợp thường tiến hành theo các bước sau:

+ Kẻ hệ trục tọa độ vuông góc gồm có hai trục tung nằm hai bên biểu đồ.Hai trục tung thể hiện các đối tượng (có mũi tên thể hiện chiều tăng của đối tượng).Trục hoành biểu hiện năm (lưu ý khoảng cách năm)+ Xác định tỉ lệ thích hợp trên các trục làm như thế nào để vừa đảm bảo tính trực quan

Vẽ biểu đồ hình cột (giống như khi tiến hành thao tác vẽ biểu đồ hình cột)

Vẽ đường biễu diễn (giống như khi tiến hành thao tác vẽ biểu đồ đường biểu diễn)Cần lưu ý khi đánh dấu các điểm mốc cho đường biểu diễn cần đặt ở vị trí trung tâmcủa các cột và tương ứng với các mốc thời gian đã được đánh dấu

Trang 8

+ Biểu đồ miền còn được gọi là biểu đồ diện Loại biểu này thể hiện được cả cơ cấu vàđộng thái phát triển của các đối tượng Toàn bộ biểu đồ là 1 hình chữ nhật (hoặc hìnhvuông), trong đó được chia thành các miền khác nhau.+ Dấu hiệu nhận dạng loại biểu này là khi đề ra có cụm từ : Cơ cấu, tỉ lệ và có nhiềumốc thời gian (từ 4 mốc thời gian trở lên )

Ví dụ: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu nước ta thời kì 1991- 2002, sự thay đổi tỉ lệdân thành thị và nông thôn Việt Nam giai đoạn 1990 - 2002,

- Khi vẽ biểu đồ miền cần tiến hành theo các bước sau đây:

+ Nếu số liệu của bài là số liệu thô (số liệu tuyệt đối) thì trước khi vẽ cần chuyển sang

+ Vẽ khung biểu đồ (là một hình chữ nhật hoặc hình vuông) Cạnh đứng thể hiện tỉ lệ100%, cạnh nằm ngang thể hiện khoảng cách từ năm đầu đến năm cuối của biểu đồ.+ Vẽ ranh giới của miền: Trong trường hợp biểu đồ gồm nhiều miền chồng lên nhau thìranh giới phía trên của miền thứ nhất được vẽ như vẽ đồ thị Cần lưu ý là ranh giới phíatrên của miền thứ nhất lại là ranh giới phía dưới của miền thứ hai và ranh giới phía trêncủa miền cuối cùng chính là đường nằm ngang thể hiện tỉ lệ 100%.Việc sắp xếp thứ tự các miền cần lưu ý sao cho nó có ý nghĩa nhất , đồng thời cũngphải tính đến tính trực quan và tính mĩ thuật của biểu đồ Khoảng cách các năm trêncạnh nằm ngang cần đúng tỉ lệ Thời điểm năm đầu tiên và năm cuối cùng phải nằm

Ghi số liệu tương ứng và kí hiệu lên biểu đồ

b Sử dụng phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp và cách

* Phương pháp Ma trận trong nhận dạng biểu đồ Địa lí được đặc trưng bởi một bảng

nhận dạng gồm hàng và cột Trong đó hàng là các căn cứ để nhận dạng biểu đồ phùhợp (bảng số liệu, yêu cầu của đề bài và chức năng của biểu đồ); Cột biểu hiện cácdạng biểu đồ thường gặp (cột, tròn, miền, đường, kết hợp.)

+ Căn cứ vào nội dung biểu thị của bảng số liệu, số lượng hàng ngang cột dọc và đơn vịtính của bảng số liệu để nhận dạng biểu đồ thích hợp+ Bảng số liệu thường tồn tại dưới các dạng chủ yếu: Bảng số liệu tương đối, bảng số

+ Thông thường việc lựa chọn biểu đồ để vẽ của học sinh tập trung chủ yếu vào yêucầu của đề bài Đây cũng là một trong những căn cứ quan trọng nhất khi chúng ta lậpbảng Ma trận trong nhận dạng loại biểu đồ thích hợp để vẽ cho bài tập hoặc bài thựchành

+ Các dạng yêu cầu thường gặp: Nhận xét quy mô, cơ cấu, tỉ trọng, tỉ lệ; nhận xét sốlượng, sản lượng; nhận xét sự thay đổi, chuyển dịch, tăng trưởng, của các đối tượngĐịa lí trong một hoặc nhiều năm Hay so sánh quy mô, cơ cấu, sản lượng, số lượng,tăng trưởng, sự chuyển dịch giữa các đối tượng Địa lí trong nhiều năm hoặc đơn giản

Trong chương trình Địa lí 9 - THCS hiện nay, biểu đồ thường có các chức năng cơ bảnsau:

Trang 9

+ Thể hiện sự thay đổi quy mô, cơ cấu.

Ngoài 3 căn cứ chính trên để lập bảng Ma Trận trong lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp

để vẽ còn có thể dựa vào một số căn cứ sau:

Yêu cầu của bài tập

Chức năng của biểu

đồ

Cộng

Sau khi lựa chọn các loại biểu đồ thích hợp để vẽ trên cơ sở 3 căn cứ trên thì phần

" cộng " sẽ cho chúng ta kết quả cuối cùng nên lựa chọn biểu đồ nào thích hợp cho bài

tập hoặc bài thực hành Biểu đồ đó sẽ là biểu đồ hội tụ được phần đa các căn cứ và đó

cũng chính là dạng biểu đồ có nhiều sự lựa chọn nhất

Bảng ma trận là thao tác cần thiết khi tiến hành nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp

Nhưng trước khi lập được bảng ma trận một cách hiệu quả và nhanh chóng để khỏi mất

quá nhiều thời gian thì người học sinh phải nắm được các cách nhận dạng loại biểu đồ

Cần lưu ý thêm rằng bảng Ma trận được lập ra là để nhận dạng kiểu biểu đồ thích hợp

cho bài tập chứ không phải là một yêu cầu của bài tập nên thao tác này không làm vào

c Một số ví dụ về áp dụng phương pháp Ma trận trong nhận dạng kiểu biểu đồ

thích hợp và cách vẽ biểu đồ môn Địa lí 9 - THCS

Trang 10

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13,7

Bước 3: Bắt đầu vẽ từ tia 12 giờ và chia hình tròn thành những nan quạt theo đúng tỉ lệ

và trật tự các thành phần kinh tế trong bảng số liệu Vẽ đến đâu thì sử dụng kí hiệu

Trang 11

Biểu đồ cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế năm 2002

- Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế của nước ta đa dạng

- Cơ cấu GDP nước ta phân theo thành phần kinh tế không đồng đều:+ Thành phần kinh tế Nhà Nước chiếm tỉ trọng lớn (38,4 % )+ Thành phần kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân chiếm tỉ trọng nhỏ nhất

Cây công nghiệp

Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác

9040,0

6474,6 1199,3 1366,1

12831,4

8320,3 2337,3 2173,8

a Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây của nước ta

b Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ, hãy nhận xét sự thay đổi quy mô diện tích và tỉ

Trang 12

Vậy biểu đồ thích hợp nhất là biểu đồ hình tròn

- Bước 1: Giáo viên hướng dẫn cho học sinh cách xử lý số liệu:

+ Tiến hành các bước xử lí số liệu thô thành số liệu tinh ở ngoài+ Ghi kết quả đã qua xử lí vào bài bằng cách lập lại bảng số liệu ở đề ra và chuyển sangđơn vị khác (%) đồng thời ghi kết quả đã tính toán vào bảng

Bảng: Tỉ trọng diện tích gieo trồng các nhóm cây

Năm

Cây thực phẩm, cây ăn quả, cây khác 15,1% 17%

( Chú ý khâu làm tròn số sao cho tổng các thành phần phải bằng 100%)

Giáo viên hướng dẫn cách tính góc ở tâm tương tự ở ví dụ 1

- Bước 2: : Xác định bán kính của hình tròn (đối với đề ra này không phải tính bán kính

hình tròn vì đề ra đã cho sẵn bán kính): Năm 1990 có bán kính là 20mm, năm 2002 cóbán kính là 24mm Khi tiến hành vẽ hai hình tròn có bán kính khác nhau, để tiện cho

+ Thứ tự các mốc thời gian (Năm 1990 phải đứng trước năm 2002)

+ Tâm hai đường tròn nên nằm trên một đường thẳng

- Bước 3 : Bắt đầu vẽ từ tia 12 giờ, vẽ thuận chiều kim đồng hồ Vẽ các hình quạt

tương ứng với tỉ trọng của từng thành phần trong cơ cấu và không tự ý sắp xếp lại vị trícác thành phần của đối tượng địa lí Ghi trị số % vào các hình quạt tương ứng

Vẽ đến đâu tô màu hay kẽ vạch ngay đến đó (nên dùng chung một kiểu kí hiệu cho cácđối tượng trong cả hai năm) đồng thời thiết lập bảng chú giải

1990 Năm 2002

Trang 13

Biểu đồ cơ cấu diện tích gieo trồng phân theo các loại cây năm 1990 và 2002

Quảng Ngãi

Bình Định

Phú Yên

Khánh Hòa

Ninh Thuận

Bình Thuận Diện tích

(nghìn ha) 0,8 5,6 1,3 4,1 2,7 6,0 1,5 1,9

a Vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh, thành phố của

- Trục tung: Thể hiện diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, có mũi tên và có mốc ghicao hơn giá trị cao nhất trong bảng số liệu Ghi rõ đơn vị (nghìn ha)

- Trục hoành: Chia thành 8 đoạn bằng nhau tương ứng với 8 tỉnh, thành phố

Ngày đăng: 31/10/2017, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w