1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÒ ÁN

23 337 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

− Tình trạng kẹt xe ở trên đường không còn gì xa lạ đối với người dân, tình trạng kẹt xe kéo dài dẫn đến phương tiện giao thông di chuyển chậm hoặc không di chuyển nhưng máy xe vẫn nổ dẫ

Trang 1

A. NGUYÊN NHÂN Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ DO HOẠT ĐÔNG GIAO THÔNG.

I. ĐƯỜNG BỘ.

1. HẠ TẦNG GIAO THÔNG

− Tình trạng mặt nền của các bãi đỗ xe không được thảm nhựa hoặc bê tông

mà sử dụng nền đất nên khi các xe tải trọng lớn ra vào thì đất các bám vào bánh xe lôi ra đầy đường gây nên khói bụi

− Đường xá không đảm bảo chất lượng và số lượng để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động giao thông

2. CHẤT LƯỢNG PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG

− Người dân có thể dễ dàng nhìn thấy các loại phương tiện có đặc điểm chung là cũ kỹ, đã quá hạn đăng kiểm nhưng vẫn được sửa sang lại để di chuyển, chở hàng hóa như: bánh mì, nước đá, bia, nước ngọt Những loại phương tiện này khi di chuyển thì luôn tạo ra một lượng khói bụi sau xe rất nhiều

− TP.HCM có hơn 3000 xe buýt và hầu hết đang trong tình trạng xuống cấp,

ô nhiễm Đáng nói là những xe càng "tệ" lại chạy tuyến đường dài, đông khách

Trang 2

3. NHU CẦU ĐI LẠI NGÀY CÀNG TĂNG.

− Trong những năm gần đây, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện và nâng cao rõ rệt Cũng như như những nhu cầu tự nhiên như: ăn, mặc, ở thì một nhu cầu khác không thể thiếu được đối với con người trong cuộc sống hiện nay đó là phương tiện đi lại hay còn gọi là phương tiện giao thông

− Tình trạng kẹt xe ở trên đường không còn gì xa lạ đối với người dân, tình trạng kẹt xe kéo dài dẫn đến phương tiện giao thông di chuyển chậm hoặc không di chuyển nhưng máy xe vẫn nổ dẫn đến lượng khí thải thoát ra liên tục tạo nên một bầu không khí ô nhiễm nặng

Trang 3

− Việc người dân dừng phương tiện giao thông khi gặp tín hiệu đèn giao thông vẫn để xe nổ máy việc này tuy nhỏ nhưng lại là nguyên nhân chính gây nên ô nhiễm không khí.

Trang 4

5. CƠ CHẾ THẢI KHÍ CỦA PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG:

Cơ chế hoạt động của khí thải trong xe ôtô:

− Thông thường, sau khi đốt cháy nhiên liệu, động cơ sẽ thải những hợp chất chủ yếu sau:

+ Khí Ni-tơ ( N 2 ): Do chiếm đến 78% trong không khí và là một loại khí

trơ nên loại khí này hầu như sẽ đi qua quá trình đốt cháy mà không có bất kì sự thay đổi nào

+ Khí Cacbonic ( CO 2 ): Nguyên tố Carbon (C) trong nhiên liệu sẽ kết

hợp với Oxy ( O2 ) trong không khí để tạo thành loại khí này

+ Hơi nước ( H 2 O ): Một sản phẩm nữa của quá trình đốt cháy, nguyên tố

Hydro trong nhiên liệu sẽ kết hợp với Oxy để tạo thành hơi nước

Trang 5

− Theo lý thuyết thì những hợp chất này gần như vô hại với môi trường nếu quá trình đốt cháy nhiên liệu diễn ra một cách triệt để và "hoàn hảo" (trừ khí SO2 có thể gây nên hiệu ứng nhà kính nếu lượng thải ra quá nhiều) Tuy nhiên, trong thực tế thì không có gì có thể gọi là "hoàn hảo" được Dù cho động cơ có tốt đến đâu đi nữa thì quá trình đốt cháy vẫn có thể tạo ra một lượng nhỏ những hợp chất rất độc hại khác, đó chính là những loại chất thải sau:

+ Khí Cacbon Oxit (CO): Một loại khí rất độc, không màu và không

mùi

+ Khí Ni-tơ Oxit (NO, NO 2 , ): Cũng là một loại khí rất độc, chúng góp

phần tạo nên những trận mưa axit và gây nên ảnh hưởng lớn đến bộ não của con người

+ Hydrocarbon (HC) hay còn gọi là hợp chất hữu cơ dễ bay hơi:Nhân

tố gây nên các trận mưa axit và khói độc, chủ yếu được tạo ra từ lượng nhiên liệu không cháy hết và sự bốc hơi của nhiên liệu (đặc biệt là các loại xăng)

− Xe ô tô luôn được xem là một tác nhân rất lớn ảnh hưởng đến môi trường

và bộ chuyển đổi khí thải xúc tác (Catalytic Converter) chính là một "anh hùng" thầm lặng mà không phải ai cũng biết đến

Trang 6

− Để giảm thiểu đi những chất độc hại thì các kỹ sư cần phải chế tạo ra một

bộ phận giúp chuyển đổi chúng thành những dạng chất thải khác ít ảnh hưởng đến môi trường hơn Bộ chuyển đổi khí thải, hay gọi một cách

"khoa học" hơn là bộ chuyển đổi xúc tác, được phát triển lần đầu tiên vào những năm 1950, nó được phát minh bởi một kỹ sư người Pháp,

ông Eugene Houdry Tuy nhiên, bộ chuyển đổi khí thải này chỉ được sử

dụng rộng rãi vào những năm 1975 - thời điểm mà những bộ luật về hạn chế khí thải và bảo vệ môi trường được thực thi một cách cứng rắn hơn

− Công việc chính của bộ chuyển đổi khí thải (Catalytic Converter) chính là chuyển đổi khí thải độc hại (thường là NO, NO2, CO, HC, ) thành những phân tử hóa học khác ít độc hại hơn (như N2, SO2, H2O, ) trước khi nó thực sự rời khỏi hệ thống xả thải của chiếc xe

Trang 7

− Bộ chuyển đổi khí thải là một bộ phận có cấu tạo rất đơn giản, nhưng ảnh hưởng của nó đến việc giảm thiểu khí thải độc hại và bảo vệ môi trường là

vô cùng to lớn Nói một cách nôm na, nó là một cái hộp bằng kim loại có chứa một chiếc lõi lọc dạng tổ ong được làm bằng Ceramic hoặc kim loại Chiếc lõi lọc này sẽ được phủ lên một lớp chất xúc tác giúp tạo ra phản ứng hóa học với các loại khí thải độc hại, những chất xúc tác này thường

là những kim loại quý hiếm như bạch kim (Platinum), Rhodium, Palladium

Trang 8

II. ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG.

− Cũng như mọi hoạt động của con người liên quan đến việc tiêu thụ nhiên liệu, việc vận hành động cơ máy bay (Từ máy bay dân dụng loại lớn đến khí cầu khí nóng) đều giải phóng những khí gây ra hiệu ứng nhà kính, muội than, và những chất gây ô nhiễm khác vào không khí Ngoài ra, còn có vài kiểu tác động cảu ngành hàng không đến môi trường như:

Trang 9

+ Đa số máy bay động cơ van đẩy đốt xăng, sản phẩm sau phản ứng đốt cháy

có chứa chì tetra-ethyl (TEL) và có thể gây ra sự ô nhiễm đất ở sân bay.+ Máy bay loại lớn có thể giải phóng những hóa chất với một số lượng lớn mà những chất này có thể tác dụng với những khí nhà kính ở những độ cao đặc trưng, đặc biệt là hợp chất nitơ oxít, nó có thể tác dụng với Ôzôn, làm tăng

sự tập trung của Ôzôn vào một số nơi nhất định

+ Máy bay vận hành trên cao phát ra những bình xịt và đôi khi thải ra vệt hơi nước, cả hai đều có thể làm tăng sự hình thành mây tinh thể đá - lượng mây

đã tăng 0.2% kể từ khi hãng hàng không ra đời

− Lượng khí thải hàng không chiếm 11% trong tổng số các phương tiện giao thông và chiếm 3% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính

BẢNG THỐNG KÊ CÁC LOẠI KHÍ THẢI DO TỪNG LOẠI MÁY BAY GÂY RA:

Trang 10

Nguồn : www.biologicaldiversity.org

III. ĐƯỜNG THỦY

Trang 11

− Chất lượng tàu biển Việt Nam thường không cao, nhiều phương tiện đã quá cũ, lạc hậu, hiệu suất đốt cháy nhiên liệu thấp và chưa có hệ thống xử lý khí thải Nên đã phát thải nhiều khí độc như: SO2, SO2, CO, NO, NO2, CxHy

− Mỗi năm có khoảng 97000 tàu thủy thải ra 1,2 tỷ tấn khí CO2 cao gấp đôi so với ngành hàng không dân sự Đồng thời cũng là thủ phạm gây ra 2/3 lượng khí thải SO2 trong ngành giao thông vận tải năm 2002, việc thiếu các biện pháp kiểm soát sẽ khiễn tỉ lệ này có thể lên tới 98% vào năm 2020

Nguồn : www.vietnamplus.vn; www.vietbao.vn

Trang 12

B. HẬU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG.

I. HẬU QUẢ DO Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ

1. ĐỐI VỚI TOÀN CẦU

Các phương tiện giao thông thải ra các khí CO2, NOX, N2O, CFC khoảng 20% CO2 toàn cầu sinh ra từ khí thải giao thông vận tải NOX do giao thông

Trang 13

vận tải phát ra chiếm 2/3 khí thải NO toàn cầu là nguyên nhân chính gây hiệu ứng nhà kính, giảm lượng mưa trên toàn cầu.

2. ĐỐI VỚI CON NGƯỜI

2.1 Tác hại của bụi.

− Thành phần hóa học, thời gian tiếp xúc là các yếu tố ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng

− Mức độ bụi trong bộ máy hô hấp phụ thuộc vào kích thước, hình dạng, mật độ hạt bụi và cá nhân từng người

− Bụi vào phổi gây kích thích cơ học, xơ hóa phổi dẫn đến các bệnh về

hô hấp như khó thở, ho và khạc đờm, ho ra máu, đau ngực…

− TCVN 2005 qui định bụi tổng cộng trong không khí xung quanh 0,5 mg/m3

BẢNG BIẾN ĐỔI PM10 KHU VỰC LÁNG (HÀ NỘI)

Trang 14

− Hình 2, nồng độ bụi đo được tại trạm Láng cho thấy vào mùa khô từ tháng (10 - 3) lớn hơn hẳn so với mùa mưa tháng (4 - 7) Vào giờ cao điểm thì nồng độ bụi tương đối cao, mà nguyên nhân kể đến là áp lực của hơn 1,55 triệu xe máy và gần 150.000 ô tô đang lưu hành trên đường Thêm vào đó là chất lượng các còn đường còn quá kém cũng như hoạt động xây dựng, sửa chữa cũng làm nồng độ bụi tăng.

Trang 15

2.2 Tác hại của SO 2 và NOX.

− SO2, NOX là chất kích thích, khi tiếp xúc với niêm mạc ẩm ướt tạo thành axít (HNO3, H2SO3, H2SO4) Các chất khí trên vào cơ thể qua đường hô hấp hoặc hòa tan vào nước bọt rồi vào đường tiêu hoá, sau

đó phân tán vào máu tuần hoàn

− Kết hợp với bụi => bụi lơ lửng có tính axít, kích thước < 2-3µm sẽ vào tới phế nang, bị đại thực bào phá hủy hoặc đưa đến hệ thống bạch huyết

− SO2 nhiễm độc qua da làm giảm dự trữ kiềm trong máu, đào thải amoniac ra nước tiểu và kiềm ra nước bọt

− Độc tính chung của SO2 thể hiện ở rối loạn chuyển hóa protein và đường, thiếu vitamin B và C, ức chế enzym oxydaza

− Giới hạn phát hiện thấy bằng mũi SO2 từ 8 – 13 mg/m3

− Giới hạn gây độc tính của SO2 là 20 – 30 mg/m3, giới hạn gây kích thích hô hấp, ho là 50mg/m3

− Giới hạn gây nguy hiểm sau khi hít thở 30 – 60 phút là từ 130 đến 260mg/m3

− Giới hạn gây tử vong nhanh (30’ – 1h) là 1.000-1.300mg/m3

Trang 16

− Tiêu chuẩn cho phép của Bộ Y Tế Việt Nam đối với SO2, SO3, NO2

tương ứng là 0,5; 0,3 và 0,085 mg/m3 (nồng độ tối đa 1 lần nhiễm)

2.3 T ác hại của CO.

− Ôxít cacbon (CO) kết hợp với hemoglobin (Hb) trong máu thành hợp chất bền vững là cacboxy hemoglobin (HbCO) làm cho máu giảm khả năng vận chuyển ôxy dẫn đến thiếu ôxy trong máu rồi thiếu ôxy ở các

tổ chức

− Mối liên quan giữa nồng độ CO và triệu chứng nhiễm độc tóm tắt dưới đây:

3. ĐỐI VỚI ĐỘNG THỰC VẬT

− Ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng tai hại cho tất cả sinh vật

− Thực vật rất nhạy cảm đối với ô nhiễm không khí

− SO2, NO2, chì,… gây hại trực vật khi đi vào khí khổng, làm hư hại hệ thống giảm thoát nước và giảm khả năng kháng bệnh

− Ngăn cản sự quang hợp và tăng trưởng của thực vật; giảm sự hấp thu thức

ăn, làm lá vàng và rụng sớm

Trang 17

− Mưa acid còn tác động gián tiếp lên thực vật và làm cây thiếu thức ăn như

Ca và giết chết các vi sinh vật đất Nó làm ion Al được giải phóng vào nước làm hại rễ cây (lông hút) và làm giảm hấp thu thức ăn và nước

4. ĐỐI VỚI TÀI SẢN

− Làm gỉ kim loại

− Ăn mòn bêtông

− Mài mòn, phân huỷ chất sõn trên bề mặt sản phẩm

− Làm mất màu, hư hại tranh

− Làm giảm độ bền dẻo, mất màu sợi vải

− Giảm độ bền của giấy, cao su, thuộc da

Nguồn : http://xulymoitruong.com/tac-hai-cua-o-nhiem-khong-khi-1883/

II. HẬU QUẢ DO Ô NHIỄM TIẾNG ỒN.

− Hiện nay phương tiện giao thông đang ngày càng tăng với mức độ chóng mặt, mật độ xe lưu thông trên đường phố ngày càng lớn gây ô nhiễm về tiếng ồn do tiếng của động cơ, tiếng còi cũng như tiếng phanh xe Bên cạnh đó, số lượng phương tiện kém chất lượng lưu thông trên đường phố của Việt Nam là khá nhiều đã tạo nên sự ô nhiễm về tiếng ồn đáng kể

− Máy bay cũng là một nguồn gây ô nhiễm không thể bỏ qua Lúc máy bay cất cánh hoặc hạ cánh là lúc mà các hộ dân sống gần sân bay phải chịu một tần số

âm thanh không nhỏ Vì vậy, nên di dời sân bay ra xa khu cực đông dân cư để giảm thiểu tiếng ồn

− Tình trạng chung tại đô thị hiện nay, ô nhiễm tiếng ồn đang có xu hướng gia tăng tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, với ba nguồn gây tiếng ồn chính ở đô thị, gồm hoạt động công nghiệp, giao thông, xây dựng và dịch vụ

− Theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn, ở những nơi như: trường học, bệnh viện, nhà trẻ… Từ 18 - 21 giờ, âm thanh cho phép chỉ ở mức 55dB; từ 21 giờ - 6 giờ là 45dB Với khu dân cư, âm thanh tối đa là ở mức 70dB Vượt quá ngưỡng sẽ tác động tiêu cực đến sức khỏe con người

Trang 18

− Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cao hơn nhiều mức cho phép vào giờ cao điểm, một số nơi mức đo được lên đến hơn 10dB và ngay cả thời điểm đêm khuya, từ 23 giờ - 6 giờ sáng, mức độ tiếng ồn

đo được vẫn vượt giới hạn cho phép

− Ô nhiễm tiếng ồn không chỉ có những tác hại về sinh lý, tâm lý con người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tiếng ồn gây thương tích tai, gây bệnh điếc, sống trong tiếng ồn, sẽ khiến con người bị mắc những bệnh như đau đầu, lâu dần thành bệnh kinh niên, gây stress, căng thẳng thần kinh, dễ bị kích động Nguy hại hơn nữa là những bệnh về tim mạch và huyết áp

C THỰC TRẠNG Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ DO PHƯƠNG TIỆN

GIAO THÔNG.

I THẾ GIỚI.

− Mỗi năm cả thế giới thải ra 4,7 triệu tấn CO2 từ hoạt động giao thông ( Theo

Office of Transportation and Air Quality, U.S Environmental Protection Angency)

− Số liệu kiểm định chất lượng không khí của WHO tại 1.600 thành phố thuộc

91 quốc gia và vùng lãnh thổ trên tất cả các châu lục cho thấy chỉ có 12% dân số ở những nơi này được sống trong bầu không khí đạt các tiêu chuẩn quy

Trang 19

định của WHO Số còn lại phải sống ở những nơi có không khí ô nhiễm nặng nề, khiến họ thường xuyên mắc các bệnh về hô hấp và các trọng bệnh khác.

− Theo thống kê của WHO, chỉ tính riêng trong năm 2012, trên toàn thế giới có 3,7 triệu người dưới 60 tuổi vì mắc các bệnh do ô nhiễm không khí gây ra

− So với những năm trước đây, chất lượng không khí tại tất cả các thành phố trên thế giới đều đang "xuống dốc" và đương nhiên, điều đó khiến cho số nạn nhân tiếp tục tăng lên

Nguồn: www.baogiaothong.vn

II VIỆT NAM.

− Theo các chuyên gia môi trường, thời gian qua, hoạt động giao thông vận tải

đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của cả nước Tuy nhiên, việc tăng cường các hoạt động GTVT làm phát sinh không ít các vấn đề môi trường không khí

− Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong quá trình hoạt động, các phương tiện giao thông thải lượng lớn các chất như: Bụi, CO, NOx, SOx, hơi xăng dầu, bụi chì, benzen… vào môi trường không khí

− Lượng khí thải, bụi… gây ô nhiễm đang tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số lượng các phương tiện giao thông đường bộ Cụ thể, nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng,

Đà Nẵng… tại các nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần; nồng độ khí CO, NO2 trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 – 1,5 lần

− Theo số liệu từ Cục Đăng kiểm Việt Nam, thời gian trước năm 2010, cả nước

có khoảng 20 triệu mô tô và xe máy, năm 2010 đã tăng lên khoảng 24 triệu xe

và đến năm 2015, dự báo lượng xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 31

triệu xe.Nhưng vào năm 2013 lượng xe máy đã tăng vọt 37 triệu xe ( nguồn:

vnexpress.net )Hàng ngày, chỉ cần một nửa số phương tiện trên hoạt động cũng

đã xả ra môi trường một lượng lớn các khí độc hại, trong đó có nhiều thành

Trang 20

phần gây nên hiệu ứng nhà kính, gây ra các loại bệnh như: Viêm nhiễm đường

hô hấp do nhiễm vi khuẩn, hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, viêm mũi…

− Đặc biệt, tiếng ồn phát sinh từ các hoạt động giao thông cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc gây ô nhiễm Có 60 – 80% các nguyên nhân do tiếng ồn từ động cơ như: Do ống xả, do rung động các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi xe, phanh xe, do sự tương tác giữa lốp xe và mặt đường… Tiếng ồn gây tác hại rất lớn đến toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan thính giác nói riêng Tiếng ồn mạnh, thường xuyên gây nên bệnh đau đầu, chóng mặt, trạng thái tâm thần bất

− Tại các khu dân cư, mức độ ô nhiễm thấp hơn từ 2 đến 3 lần so với các trục đường giao thông Tuy nhiên, đối với khu dân cư nằm trong các đô thị lớn chịu ảnh hưởng rõ rệt của giao thông, mức độ ô nhiễm vẫn vượt nhiều lần ngưỡng cho phép quy chuẩn Việt Nam (QCVN), đáng kể như các điểm tại: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bình Dương Ngược lại, ở các khu dân cư đô thị quy mô nhỏ và vừa, chất lượng không khí đo được còn khá tốt

D BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC.

− Đẩy mạnh các hoạt động kiểm soát giao thông

− Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, để kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động giao thông vận tải, từ năm 2005, Việt Nam đã áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 2 đối với các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Cho đến nay, hàng loạt các hoạt động nhằm kiểm soát ô nhiễm từ các phương tiện giao thông cũng đã

Ngày đăng: 12/12/2016, 23:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG BIẾN ĐỔI PM10 KHU VỰC LÁNG (HÀ NỘI) - BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐÒ ÁN
10 KHU VỰC LÁNG (HÀ NỘI) (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w