Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án tìm tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng cách đưa học sinh vào hoạt động tìm kiếm ra tri thức, học
Trang 1MUC LUC
L Lịch nghiên cứu vấn đề 1.Trên thế giới
1 Nêu vấn đề
2 Giải quyết vẫn đề
3 Vận dụng
VI Ưu, nhược điểm của phương pháp
VII Các phương pháp trong dạy học nêu van dé
1 Phương pháp diễn giảng
2 Phương pháp đàm thoại
3 Phương pháp quan sát nêu vấn đề VIIT Sự vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy môn Anh Văn
1 Thực trạng dạy học ở Việt Nam hiện nay
2 Đồi mới phương pháp dạy và học — thực trạng và giải pháp
3 Sự vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong việc giảng dạy môn Anh Văn
NHOM 5-061E9
Trang 2PHUONG PHAP DAY HOC NEU VAN DE
Phương pháp này đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu như A Ja Ghecđơ, B E Raicôp, vào nhung năm 70 của thế kỉ XIX Các nhà khoa học này đã nêu lên phương án
tìm tòi, phát kiến trong dạy học nhằm hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng
cách đưa học sinh vào hoạt động tìm kiếm ra tri thức, học sinh là chủ thể của hoạt động học, là người sáng tạo ra hoạt động học Đây có thể là một trong những cơ sở lí luận của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vẫn đề
Vào những năm 50 của thế ki XX, xã hội bắt đầu phát triển mạnh, đôi lúc xuất hiện
mâu thuẫn trong giáo dục đó là mâu thuẫn giữa yêu cầu giáo dục ngày càng cao, khả năng sáng tạo của học sinh ngày càng tăng với tổ chức dạy học còn lạc hậu Chính vì vậy, phương pháp “dạy học nêu vấn đề” hay còn gọi là “ Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề” chính thức ra đời PP này đặc biệt được chú trọng ở Ba Lan V Okon — nha giao duc học Ba Lan đã làm sáng tỏ PP này thật sự là một phương pháp dạy học tích cực, tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ dừng ở việc ghi lại những thực nghiệm thu được từ việc sử dụng
PP này chứ chưa đưa ra đầy đủ cơ sở lí luận cho pp này
Những năm 70 của thế ki XX, M I Mackmutov đã đưa ra đầy đủ cơ sở lí luận của
PP dạy học giải quyết vẫn đề
Trên thế giới cũng có rất nhiều nhà khoa học, nhà giáo đục nghiên cứu PP này như Xcatlin, Machiuskin, Lecne,
Phương pháp PBL lần đầu tiên được áp dung tai dai hoc y khoa (Case Western University — Hoa Ky) vao thap niên 50 của thé ky 20 va sau đó là học viện y học (đại học McMasters, Hamilton, Canada)
Trang 3PP này đã vận dung một khái niệm về mâu thuẫn làm cơ sở khoa học cho mình
Trang 4II ĐỊNH NGHĨA, BÁN CHAT VA NGUYEN TAC CUA PP DAY HOC NEU VAN DE
“PBL là một quá trình học trong đó sinh viên tackles( giải quyết) các vẫn đề trong
nhóm nhỏ dưới sự giám sát và dẫn dắt của người hỗ trợ Người hỗ trợ thông thường là
giảng viên Trong phần lớn các trường hợp, một vấn đề bao gồm sự mô tả về một tình huống có thực Trên cơ sở kiến thức đã có, các nguyên tắc và cơ chế hoạt động trong nhóm giúp cho sinh viên phân tích, định dạng vẫn đề và giải quyết vẫn đề Kết quả được đánh giả thông qua quá trình hoạt động, và trình bày của sinh viên trong nhóm ” ( Henk Schmidt, Theoretical and Empirical bases of Prolem — Based Learning )
Nó là tập hợp nhiều PPDH cụ thể nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của HS theo con đường hình thành và giải quyết vấn đè
Dạy học nêu vẫn dé nam trong hệ PPDH tích cực với quan điểm học sinh là trung
tâm QTDH
Các PPDH như diễn giảng, đàm thoại, thí nghiệm theo kiểu nêu vấn đề đều có hiệu
quả mang lại sự hứng thú cho HS chuẩn bị tiếp thu kiến thức mới, tăng cường năng lực hoạt động độc lập, sáng tạo của chủ thể nhận thức
2 Bản chất:
Học sinh được đặt vào tình huống có vấn đề chứ không phải được thông báo dưới
Trang 5Học sinh tích cực, chủ động, tự giác tham gia hoạt động học, tự mình tim ra tri thitc
cần học chứ không phải được thầy giảng một cách thụ động, học sinh là chủ thể sáng tạo ra
hoạt động học
Học sinh không những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và cách thức tiễn hành dẫn đến kết quả đó Học sinh được học cách phát hiện và giải quyết vẫn
de
3 Nguyên tắc của phương pháp:
Dựa trên 3 nguyên tắc chính:
đạt được kiến thức và sự hiểu biết sâu sắc mà nó cần sử đụng cho nghề nghiệp trong tương lai
tự học trực tiếp
phát triển các kỹ năng phân tích vấn đề và giải quyết van dé
4 Đặc điểm của phương pháp:
Đặt câu hỏi, “các vấn đề cần học ,”cần phải biết cái gì để mà đi vào đúng tâm điểm của vẫn đề
Xếp thứ tự các vẫn đề học theo mức độ quan trọng và quyết định ai sẽ nghiên cứu (rank the learning issues in terms of importance and decide who will investigate which issue)
Định dạng nguồn lực cần thiết và phải tìm nó ở đâu
Thông tin cần thiết phải thu thập thông qua cá nhân và sự điều tra của nhóm (gather needed information through individual and group investigation)
Tap hop dé hop nhat nguén théng tin reconvene to integrate information
Dat ra va danh gia cac gia phap hgp ly (generate and evaluate possible solutions
Ra quyét dinh can thiét (make needed decisions or take agreed upon actions
Truyền thông các kết quả như là một sự thích hợp để giả quyết vấn đề communicate results as appropriate for problem resolution
Rút ra các trải nghiệm trên co sở thực hiện báo cao giai quyét van đê
Trang 6Trên đây là nguồn gốc, quá trình hình thành và cơ sở khoa học của phương pháp “ dạy học nêu vẫn đề Đề hiểu thêm về phương pháp này, một số thuật ngữ cần được làm rõ
Trong toán học, người ta hiểu vẫn đề như sau:
© HS chưa trả lời được câu hỏi hay chưa thực hiện được được hành động
o HS cũng chưa được học 1 quy luật có tính thuật giải nào để trả lời câu hỏi đó hay thực hiện được hành động đó
Hiểu theo nghĩa trên thì vẫn đề ở đây không có nghĩa là bài tập Nếu bài tập chỉ yêu cầu HS áp đụng một quy tắc để giải thì không gọi là vấn đề Chẳng hạn, yêu cầu hs tính
điện tích hình chữ nhật với đầy đủ các yếu tố về độ dài sau khi đã biết công thức tính diện
tích hình chữ nhật thì không gọi là vấn đề
Vấn đề chỉ có tính tương đối, ở thời điểm này thì nó là vấn đề, nhưng ở thời điểm
khác thì nó không còn là vẫn đề Ví dụ yeu cau HS chia động từ ở thì hiện tại sẽ là vẫn đề đối với học sinh lớp 6, nhưng khi học xong bài này rồi thì chia động từ ở thì hiện tại không còn là vần đê nữa
` K z A ^
2 Tình huông có vần đề
2.1 Định nghĩa: Tình huống có vấn đề là tình huống mà ở đó gợi cho người học
những khó khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết phải vượt qua và có khả năng
Trang 7Theo M.I Macmutôp tình huông có vân đề là sự trở ngại về trí tuệ cuả con người, xuất hiện khi người đó chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện của quá trình thực tại
Như vậy, vấn đề là một câu hỏi cuả chủ thể nhận thức nảy sinh trong tình huống vốn hiểu biết cuả bản thân chưa đủ để giải thích, nhận thức các hiện tượng, sự vật khách quan
2.2 Một tình huong được gọi là có van dé thi phai thoa man 3 diéu kién sau:
° Tôn tại một vân đề
° Gợi nhu câu nhận thức
° Gợi niêm tin vào khả năng của bản than Hay nói cách khác tình huông có vần đê là tình huỗông mà ở đó xuât hiện một vần đê như đã nói ở trên va van đê này vừa quen, vừa lạ đôi với người học
> Quen vì có chứa đựng những kiến thức có liên quan mà HS đã được học trước đó
> Lạ vì mặc dù trông quen nhưng ngay tại thời điểm đó người học chưa thể giải được
Ví dụ: C?ia động tu ở thì tương lai ( lớp 10)
Ta xét xem đây có phải tình huống có vấn đề hay không:
° Tôn tại một vẫn đề: dạng và cách đùng vẫn còn là một bí mật đối với học sinh
° Gợi nhu cầu tri thức: học sinh cần biết cách chia động từ ở thì tương lai để có thê giao tiếp hay viết tiếng anh một cách thành thạo
° Gợi niềm tin vào bản thân: tuy chua biết cach tinh một cách
cụ thể nhưng học sinh đã học cách chia động từ ở một số thì ở các lớp học trước nên học sinh có thể liên tưởng và có thể hình thành trong đầu cách chia cũng như cách dùng
Trang 82.3 Tinh hudng cé van dé trong qua trinh day hoc:
HS trong quá trình nhận thức vốn tri thức chung cuả nhân loại, đã vấp phải tình huống giữa vốn hiểu biết cuả bản thân với nội đung một khái niệm, qui luật mới nào đó thì
sẽ xuất hiện vấn đề đó là vẫn đề học tập
Vấn đề có tính chủ quan cuả chủ thể nhận thức, bao hàm nhu cầu hiểu biết đối tượng mới vượt qua khỏi giới hạn vốn tri thức đã có ở bản thân (mâu thuẫn chủ quan=MTCQ ) Như vậy, trong cùng một tình huống thì có thể nảy sinh vẫn đề ở chủ thể nhận thức này mà không có vân đề ở chủ thê khác
Có thê hiệu bản chat tinh huong co van dé nhu sau:
TINH HUONG -MTKQ
CHỦ THỂ - MTCO
TINH HUONG £6 VAN BE
Trong quá trình dạy học, GV tạo tình huống phải phù hợp với khả năng cuả HS, có
tỷ lệ hợp lý giữa cái đã biết và cái chưa biết Vẫn đề học tập phải vừa sức cuả HS để các em
có khả năng giải quyêt vân đề đó Nêu vân đê đặt ra cho HS qua dê hoặc quá khó đêu không mang lại hiệu quả
Trang 9V.CAU TRUC DAY HOC NEU VAN DE
Tinh huồng có vấn de
1 Néu van dé
Phat bieu vin dé
Hinh thanh gia thuyét
2.Giai quyét vdn dé gos minh gia thuyét
Tái hiện tri thức của HS có liên quan đến vấn đề mới
GV bằng phương pháp đàm thoại yêu cầu HS trình bày lại những kiến thức đã học để làm cơ sở cho HS phát hiện vẫn đề mới và đề xuất giả thuyết giải quyết vẫn đề đó
Phát hiện mâu thuẫn ( MTKQ) giữa cái đã biết và cái chưa biết :
Tuy theo kha mang hee tập của Hồ mà GV có thể thực hiện ở cde mu độ sau: GV
vạch ra mâu thuẫn > GVŸ đặt câu hỏi gợi nhớ giúp chủ H5 lì ra mâu thuẫn + Hỗ
độc lập phản tích tĩnh huống phát hiện được máu thuần (GV + GV† H§— Hs},
1.2.Phát biểu vấn đê học tập:
Trang 10Vấn đề học tập thường được phát biểu đưới dạng câu hỏi, là kết quả của chủ thể biến mâu thuẫn khách quan thành mâu thuẫn chủ quan.Hiệu qủa của bước này phụ thuộc vào khả năng phát hiện ra các mâu thuẫn khách quan ở đối tượng HS và thể hiện ở các mức độ: É;V ->f;:V + HS > HE
Tình huống có vấn đề chỉ tạo được với những nội dung thích hợp và nó tồn tại ngay trong kết cầu logic của tài liệu SGK, vì vậy GV cần có kỹ thuật để truyền tải các tình huống
đó đến với HS Sự thành công cuả bước này là quan trọng nhất trong dạy học nêu vấn đề
2.Giải quyết van dé
2.1 Hình thành giả thuyết:
- Để giải quyết vấn đề cần nêu ra một giả thuyết, đó chính là định hướng cho các hoạt động quan sát, thí nghiệm để chứng minh vấn đề mới
- Các giả thuyết đó chính là các ý tưởng có cơ sở khoa học, dựa vốn tri thức đã biết
để hình thành các phán đoán, suy luận lý giải cho vẫn đề mới
Đối với HS, giả thuyết là kết quả quá trình tư duy sáng tạo khi nhận thức vẫn đề mới và tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học đặc thù của bộ môn Tính khoa học chính xác của giả thuyết phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể nhận thức, vì vậy trong cùng một
vẫn đề HS có thể đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau
- Hình thành một giả thuyết cần lưu ý:
* Các giả thuyết phải được hình thành qua suy nghĩ, phát triển từ cái đã biết có liên quan đến vẫn đề mới Vì vậy nội dung các giả thuyết không được mâu thuẫn với tri thức đã
có của chủ thê
* Các giả thuyết có thể hiện định hướng cho các hoạt động giải quyết vấn đề :
Trang 11Trong dạy học nêu vấn đề HS có thê đưa ra các giả thuyết khác nhau về cùng một vẫn đề, GV cần lựa chọn và tập trung sự trao đổi thảo luận của HS vào một vài giả thuyết
điển hình
- Khi hình thành giả thuyết tùy theo đối tượng HS, GV có thể sử dụng các phương
pháp như : GV phân tích cơ sở khoa học và đề xuất những ý tưởng trong giả thuyết > GV
và HS, cùng xây dựng giả thuyết bằng phương pháp đàm thoại gợi mở > HS độc lập tìm ra giả thuyết, đó là kết quả tư duy sáng tạo của chủ thẻ
2.2 Chứng minh giả thuyết:
Chứng minh giả thuyết là khâu vạch kế hoạch các bước hoạt động cuả GV và HS
theo định hướng giải quyết vẫn đề đã được nêu trong giả thuyết.Tiến trình giải quyết vẫn đề
phụ thuộc vào kỹ năng, kinh nghiệm suy đoán của HS và hình thành cao dần qua kiểu dạy
học nêu vần de
- Đề giúp HS có thể độc lập vạch kế hoạch chứng minh giả thuyết, GV có thể hướng
dẫn HS hành động như sau:
% Từ giả thuyết suy ra kết luận cần chứng minh
%4 Dự thảo kế hoạch: phương pháp quan sát hay thí nghiệm?
Chuẩn bị thiết bị kỹ thuật và vật liệu ( quan sát đối tượng tự nhiên, mẫu vật sống, các loại phương tiện trực quan, dụng cụ thí nghiệm, hoá chất )? Tiến trình quan sát, thí nghiệm?
$ Tiến hành các hoạt động quan sát, thí nghiệm
Nắm vững và ghi chép các kết quả đạt được
2.3 Đánh giá kết quả
Việc đánh giá cần hướng hoạt động của HS theo các bước sau đây:
Trang 12- Phân tích, lý giải các kết quả đã xử lý và phân biệt dấu hiệu bản chat va không
bản chất của các hiện tượng, từ đó khái quát rút ra kết luận,
-So sánh kết luận tìm ra phù hợp với giả thuyết hãy suy nghĩ và phát biểu nội
dung của vân đề mới ( khải niệm, qui luật )
( Nếu kết luận tìm ra không đúng nghiệm với giả thuyết , thì phải phân tích được
điều kiện và nguyên nhân nào đã nêu ra trong giả thuyết không tương quan với vẫn đề mới
Từ đó suy nghĩ nêu lên giả thuyết mới hoặc có thể phải đặt lại vẫn đề mới
Việc đánh giá cần tiến hành ngay trong tiết học, GV tổ chức HS đánh giá bằng lời
nói hoặc trình bày dưới dạng hình vẽ, bảng, sơ đồ, biểu đồ
3 Vân dụng
Kiến thức mới đạt được là các khái niệm, định luật, định lí cần được kiểm
nghiệm trong thực tiễn đời sống và vận dụng linh hoạt để trả lời các câu hỏi, giải các bài
toán , giải thích các hiện tượng sinh học trong tự nhiên Trong quá trình vận dụng có thể
xuất hiện tình huống và náy sinh vẫn đề mới thúc đây quá trình nhận thức không ngừng về
thế giới tự nhiên
Ví dụ : Di truyền liên kết
- Có thể yêu cầu HS vận đụng giải bài toán để củng có kiến thức: viết kết quả ở Fz?
FF, xam,dai x Fy J xam, dal
cling tut phép lai trén, GY os thể tạo tĩnh huéng cố vấn để mới bảng cách thöng báo kết
quả ở E; khi ruỗi O F, có HWVG
- €2 thuế yêu cảu I T8 vân c1xẽ trả lời cấu lối so sánh ]a về điêu kién, noi dung, ¥
nghia gitta qui ludt phản li độc lập wà quú luật di truyền liên kết,
Trang 13Vi du 3: CHUC NANG DI TRUYEN CUA ADN
Khái niệm mã di truyền có thể yêu cầu HS xác định :
o_ Trinh tự các bộ 3 Nulêôtt của một đoạn gen
o Tr 2 loại Nulêôtt ( A,T ) hoặc 3 loại Nulêôtrt ( A,T,G ) hoặ 4 loại Nulêôtt (A,T,G,X ) hãy viết các loại bộ 3 mật mã khác nhau tạo ra
VI ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP
kích thích sinh viên xay dưng kiến thức và phát triển tư duy phê phán
Học trong tình huống nhất định PBL tạo một môi trường mà nó permis sinh viên làm việc vói các loại vẫn đề có liên quan đến nghề nghiệp và sử dụng trong tương lai, các kiến thức và kỹ năng giúp sinh viên giải quyết các vấn đề mà nghề nghiệp đòi hỏi
Không hạn chế việc đặt ra các nhiệm vụ PBL ràng buộc, gắn kết sinh viên vào
trong một cấu trúc với vẫn đề bỏ ngỏ mà ở đó chưa có cách tiếp cận hoặc giả pháp Sinh
viên học một cách có chủ định Sinh viên như là người đặt ra các câu hỏi, kế hoạc và mục đích cho chính mình
Cộng tác trong việc ấn định vấn đề và giải quyết vẫn đề PBL khuyến khích sinh viên làm việc cùng nhau trong giải quyết vẫn đề và phát triển sản phẩm của họ Sinh viên cộng tác vơi mỗi thành viên trong nhóm, trao đổi kiến thức, học tập lẫn nhau, điều chỉnh hành vi của mình, trên cơ sở đó đề hình thành và phát triển các kỹ năng của bản thân họ
Thay đổi vai trò của người dạy PBL làm cho người dạy như là một huấn luyện viên thông qua quá trình PBL Một mặt, Giảng viên mô tả, huấn luyện và cung cấp các chỉ dẫn cần thiết Mặt khác, khuyến khích sinh viên độc lập đặt ra mục tiêu và ra quyết định
2 Nhược điểm:
Trang 14e Tìm kiếmtừng loại vấn đề cho mỗi lần học theo PBL là không dễ dàng
e Không có tiêu chí để phân nhóm PBL
e_ Đòi hỏi cao năng lực tổ chức, cố vấn, trọng tài và ứng xử với các kiểu nhân cách người học của giảng viên
e© - Đòi hỏi hành vi chuyên nghiệp của các thành viên trong nhóm PBL
Hơn thế nữa, chúng ta không thể áp dụng cùng một lúc việc thay đổi phương pháp giảng đạy và học tập này cho tất cả các khoa, tất cả các cấp học, tất cả các bộ môn trong chương trình nhà trường, vì những lý do sau đây:
e Không phải giảng viên nào cũng có thể áp dụng được phương pháp giảng dạy mới này
e Ở những lớp dưới, sinh viên quá đông, không thể áp dụng được phương pháp thảo e_ luận; giảng viên không có đủ thời giờ, sức lực để chấm các bài báo cáo, khóa luận
e Thư viện không có đủ tài liệu phong phú để cung cấp cho sinh viên nghiên cứu về tat ca các cap hoc, ngành học
VI CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG DH NỀU VẤN ĐÈ
1 Phương pháp diễn giảng nêu vẫn đề
Phương pháp diễn giảng nêu vẫn đề củng giống với phương pháp diễn giảng thông báo _ tái hiện là GV đóng vai trò chủ đạo HS lĩnh hội thụ động các tri thức Tuy nhiên trong phương pháp này , GV trình bày các tr1 thức theo con đường suy nghĩ, tìm tòi
ở các nhà khoa học trong quá trình khám phá tìm ra các chân lí khách quan, Do đó HS được làm quen với phương pháp tư duy khoa học, khả năng phát hiện mâu thuẫn nhận thức, hình thành vẫn đề và đề xuất giả thuyết giải quyềt vẫn đề thông qua phương pháp diễn giải nêu vân đê đê HS tiệm cận và từng bước nâng cao vai trò độc lập, sáng tạo
Chúng ta cần lưu ý, khi GV điễn giải về một vấn đề sâu rộng trong thời gian dài sẽ
dẫn đến sự đơn điệu và HS thụ động nghe giảng dễ bị mệt mỏi Ví vậy phương pháp diễn
giải có thể kết hợp với phương pháp đàm thoại, quan sát các phương tiện trực quan tranh