Như vậy, xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp học THPT, từ yêu cầu đôi mới PPDH theo hướng tích cực, từ kết quả của việc vận dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học
Trang 1NEU VAN DE TRONG DAY HOC MON
GDCD O TRUONG THPT MY LOC, TINH
NAM DINH
KHOA LUAN TOT NGHIEP DAI HOC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
GV: NGUYÊN QUAN THUẬN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CẢMƠN
Trong thời gian làm khóa luận cũng như học tập tại trường, em đã nhận được sự quan
tâm giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy cô trong khoa Giáo dục Chính trị, cùng với sự động viên khích lệ của gia đình và bạn bè Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Quang Thuận
Thầy đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình làm khóa luận để em có thê
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này, do sự hạn hẹp về thời gian và do sự hạn chế về kiến thức của bán thân nên em không thẻ tránh khỏi nhiều thiếu sót Vì vậy, em rat mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và của các bạn đề đề tài của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chan thanh cảm ơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lé Thi Vinh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của thầy giáo Nguyễn Quang
Thuận Em xin cam đoan rằng đây là kết quả nghiên cứu của riêng em Nếu sai, em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Lê Thị Vinh
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1.PPDH: Phương pháp dạy học
2.GDCT: Giáo dục công dân
3.PPDH GDCD: Phương pháp dạy học Cáo dục công dân
4.GV: Giáo viên
5.HS: Hoc sinh
6.THPT: Trung hoc phố thông
7.THCS: Trung học cơ sở
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Mỡ đầu _ cc.cc cee
Chương 1 : MỘT SÓ LÍ LUẬN CƠ BẢN VẺ PPDH
1.1 Lý luận về phương pháp -cc+ceesrecsrs 7
1⁄2 Lý luận về PPDH -c+c2cxccccxeerreesrrecee 8
1.3 Lý luận về PPDH môn GDCD ở trường THPT 11
Chuong 2: Li LUAN VE PPDH NEU VAN DE O TRƯỜNG THPT
2.1 Khai niém PPDH néu van G6 oon eceeccccecsessssececsesssecsecssssesesecseceneess 15
2.2 Cơ sở của PPDH nêu vấn đề ¿2¿©c+z+22xz+czxesrrscee l6 2.3 Các hình thức của PPDH nêu vấn đề -2-©c+z+ccsc+e 17
2.4 Ưu điểm và hạn chế của PPDH nêu vấn đề - 2-2 z+s 19 2.5 Hạt nhân của PPDH nêu vấn đề 2-52 ©ce+Ex+£ke£zczzxerke 21
2.6 Cach thức tiến hành PPDH nêu vấn đề : c+ 24
2.7 Mối quan hệ giữa PPDH nêu vấn đề với các PPDH khác 34 Chương 3: VẬN DỤNG PPDH NÊU VẤN ĐÈ VÀO GIẢNG DẠY BÀI 15: “CÔNG DAN VOI MOT SO VAN DE CAP THIET CUA NHÂN LOẠI”, (SÁCH GIÁO KHOA GDCD 10) 6 TRUONG THPT MY LOC,
3.1 Thực trạng việc sử dụng PPDH nêu vấn đề ở trường THPT
3.2 Đề xuất một số biện pháp khắc phục thực trạng đó
3.3 Vận dụng PPDH nêu vấn đề vào giảng dạy Bài 15: “Công dân với một số
vấn đề cấp thiết của nhân loại”, (Sách giáo khoa GDCD 10) ở trường THPT
MY Loc, tinh Nam Dinh on = 39
Tư liệu tham khảo
Trang 6MO DAU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta thấy rằng mỗi môn học ở trường THPT đều có vai trò nhất định trong việc đào tạo ra những thế hệ học sinh có kiến thức và phẩm chất, tạo ra nguồn lao động phục vụ công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta Điều 27 của Luật Giáo đục năm 2005 chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phố
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất,
thâm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động
và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xây
dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Từ
mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp học THPT được xác
định như sau: “Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phố thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc
sống lao động”
Đề thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phố thông và mục tiêu của bậc THPT thì chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục phố thông phải phủ
hợp với thực tiễn đất nước, với con người Việt Nam và với xu thế của thời
đại Yêu cầu khách quan đó được quán triệt đối với tất cả các môn học, trong
đó có môn GDCD ở trường THPT
Môn GDCD ở trường THPT là môn khoa học xã hội với đặc thù tri thức
xây dựng trên cơ sở tri thức của những môn khoa học như Triết học, Kinh tế
chính trị học, Đạo đức học, Chủ nghĩa xã hội khoa học Môn GDCD góp
phần trang bị cho HS thế giới quan và phương pháp luận khoa học, có hiểu
Trang 7biết về các vấn đề kinh tế chính trị xã hội, hình thành những phẩm chất đạo
đức tốt đẹp, thực hiện theo đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước Vậy để thực hiện mục tiêu của giáo đục THPT, việc dạy và học môn GDCD phải tiến hành như thế nào? Điều này phụ thuộc vào việc kết hợp
của rất nhiều yếu tố trong quá trình dạy học như: môi trường xã hội, môi
trường giáo dục gia đình, môi trường giáo dục trong nhà trường, nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tô chức dạy học, vai trò của GV cũng như đặc điểm tâm sinh lý của HS Trong các yếu tố trên, yếu tố sử dụng PPDH đóng vai trò quan trọng vì PPDH là con đường, là cách thức tác động truyền thụ kiến thức một cách hiệu quả cho HS Đồng thời, việc vận dụng
PPDH học phù hợp, đặc biệt là các PPDH tích cực còn xuất phát từ yêu cầu
đối mới PPDH mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khoá VIII nêu ra: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều và rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến, phương tiện hiện đại vào quá trình đạy học.”
Thực tế cho thấy việc giảng dạy môn GDCD ở trường THPT từ trước
đến nay được thực hiện bởi một số PPDH truyền thống như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại Đặc điểm của đạy học truyền thống là lối truyền thụ một chiều, thụ động theo kiểu thầy đọc — trò chép nên hiệu quả
dạy học bị hạn chế, gây nhàm chán và không kích thích được tính tích cực học tập ở HS, hình thành lối học vẹt, học tủ ở HS Từ thực trạng đó, trong
những năm gần đây Bộ giáo đục và đào tạo đã đưa ra và từng bước thực hiện
đổi mới PPDH Vậy đổi mới PPDH như thế nào? Đổi mới PPDH ở nước ta
được thực hiện theo hướng “Lấy học sinh làm trung tâm” tức là đề cao vai trò chủ động tích cực của HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, còn GV giữ vai
trò chủ đạo và là người hướng dẫn, điều khiển, giúp đỡ HS lĩnh hội kiến thức
Trong cách học này, HS được phép tự thử nghiệm và khám phá, chủ động tìm
Trang 8tòi tri thức nên đã kích thích được khả năng, tính tích cực học tập và sự sáng
tạo của các em Do đó trong quá trình dạy học nói chung, trong dạy học môn GDCD nói riêng, người GV cần kết hợp PPDH truyền thống với PPDH tích
cực GV không nên tuyệt đối hoá hoặc xem nhẹ vai trò của bắt cứ PPDH nào
PPDH tích cực bao gồm một số phương pháp như vấn đáp, trực quan, nêu vấn đề, động não Trong đó phương pháp nêu vấn đề là phương pháp không còn xa lạ, mới mẻ trong dạy học Lịch sử của phương pháp nêu vấn đề
có thể được xác định từ hàng ngàn năm trước qua phương pháp đạy học của Không Tử hay của Xocrat Khi vận dụng phương pháp này vào giảng dạy các môn học nói chung và môn GDCD nói riêng đã tạo được kết quả tích cực Bởi
vì nó đã phát huy được khả năng, sự sáng tạo và khả năng độc lập suy nghĩ của HS, giúp các em không chỉ giải quyết các vấn đề gặp phải trong học tập
mà còn giải quyết các vấn đề nảy sinh trong đời sống hàng ngày
Như vậy, xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông, mục tiêu của cấp
học THPT, từ yêu cầu đôi mới PPDH theo hướng tích cực, từ kết quả của việc vận dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT, em lựa chọn đề tài: “Sự vận dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề trong dạy học
môn GDCD ở trường THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” làm dé tai khoá luận
của mình
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài
Liên quan tới phương pháp dạy học nêu vấn đề, từ trước đến nay đã có nhiều bài báo và công trình nghiên cứu như:
- Bài: “Phương pháp dạy học dựa trên vẫn đề” của tác giả Lê Văn Hảo (Tạp chí Dạy và học ngày nay, số 1-2/2005) bàn về việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong môn Vật lý đại cương
-— Bài: “Biện pháp tạo đựng tình huống có vấn đề trong gid day tác phẩm văn chương” của tác giả Lê Trung Thành (Tạp chí Giáo dục số 60 (6/2003))
Trang 9- Bài: “Quy trình sử dụng câu hỏi tình huống có vấn đề giúp học sinh tự lực nghiên cứu sách giáo khoa trong dạy học phần tiến hoá của sách giáo
khoa Sinh học 12” của tác giả Nguyễn Thị Khiêm (Tạp chí Giáo dục số 214,
kỳ 2 (5/2009))
Ngoài ra còn rất nhiều bài báo và công trình nghiên cứu khác Đặc điểm chung của những bài báo và công trình trên là đã đề cập tới PPDH nêu
vấn đề ở từng phần học, môn học, cấp học, bậc học cụ thé Tuy nhiên lại chưa
có bài báo và công trình nghiên cứu nào đề cập tới việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn của mục tiêu giáo dục phô
thông và việc áp dụng PPDH tích cực vào thực hiện mục tiêu của cấp học THPT, khoá luận nêu lên tầm quan trọng của việc áp dụng phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Từ đó đề xuất một số ý
kiến để nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD và vận dụng vào thực tiễn ở trường THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
— Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của PPDH và PPDH môn GDCD ở trường THPT
— Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của PPDH nêu van đề ở trường
THPT hiện nay
— Vận dụng PPDH nêu vấn đề vào Bài 15 “Công dân với một số vấn đề
cấp thiết của nhân loại”, (Sách giáo khoa GDCD 10) trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
— Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận hướng vào đối tượng nghiên cứu là GV dạy môn GDCD
và HS, hoạt động dạy học của GV dạy môn GDCD và HS lớp 10A, 10C của
trường THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vỉ nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu việc vận dụng PPDH nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu của khoá luận dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với một số thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá Ngoài ra, khoá luận còn sử đụng các phương pháp khác như điều tra xã
hội học, thống kê toán học, thực nghiệm sư phạm
6 Ý nghĩa của đề tài
6.1 Về mặt lí luận
Khoá luận hệ thống hoá và phát triển lí luận về PPDH, PPDH môn
GDCD và PPDH nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
7 Kết cầu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của khóa luận bao gồm 3 chương và 6 tiết:
Trang 11Phương pháp với tư cách là con đường, cách thức đề thu lượm những kết
quả nhất định trong nhận thức và thực tiễn bao gồm mặt khách quan và chủ quan Mặt khách quan là các quy luật khách quan chỉ phối đối trong ma chi thé phải nhận thức được, ví đụ là những quy luật tam li chi phối nhận thức của
HS mà GV phải nắm được Mặt chủ quan là các thao tác, phương tiện mà chủ
thể lựa chọn phù hợp với những quy luật chi phối đối tượng Mặt khách quan
và chủ quan của phương pháp có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên hiệu quả của phương pháp Viện sĩ Todo Paplop viết: “Phương pháp khoa học
là những quy luật nội tại của sự vận động của tư duy, với tư cách
là sự phản ánh chủ quan của thế giới khách quan, hoặc nói cách khác là những quy luật khách quan được “chuyên” và “địch” trong
Trang 12ý thức con người và được sử dụng một cách có ý thức, có hệ thống
như là phương tiện để giải thích và cải biến thế giới”.[10, pp.401] 1.2 Lí luận về PPDH
1.2.1 Khái niệm PPDH
Trong giáo dục nói chung, trong dạy học nói riêng rất cần có phương pháp, kết quả giáo dục ở nhà trường không chỉ đánh giá qua nội dung mà còn qua PPDH Vậy PPDH là gì? Từ trước tới nay đã có nhiều quan niệm khác
nhau về PPDH Cụ thể:
— PPDH là cách thức làm việc của GV và HS để HS lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo [18]
— PPDH là những cách thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của
GV và HS hướng vào việc giải quyết các nhiệm vụ giáo đưỡng, giáo đục và phát triển trong quá trình dạy học [14]
- PPDH là con đường chính yếu, cách thức làm việc phối hợp, thống
nhất của thầy và trò, trong đó thầy truyền đạt nội dung trí dục để trên cơ sở đó
và thông qua đó chỉ đạo sự học tập của trò; còn trò lĩnh hội và tự chỉ đạo sự
học tập của bản thân để cuối cùng đạt được mục đích dạy học [9]
nhận thức, các thuật ngữ lôgic, các dạng hoạt động độc lập của HS và cách
thức điều khiến của quá trình nhận thức của thầy giáo (I.D Drever, 1985)
— PPDH là cách thức tổ chức hoạt động nhận thức của HS và điều khiển hoạt động này (Theo quan điểm điều khiển học)
Trang 13— PPDH là những thủ thuật logic được sử dụng đề giúp HS nắm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác (Theo quan điểm logic)
Tuy chưa có quan điểm thống nhất về định nghĩa PPDH nhưng các tác giả trên đều nhất trí PPDH có những dấu hiệu đặc trưng sau:
+ PPDH phản ánh sự vận động của quá trình nhận thức của HS nhằm đạt mục đích đưa ra
+PPDH phan anh sự vận động của nội dung đã được nhà trường quy định
+ PPDH phản ánh cách thức trao đôi thông tin giữa thầy và trò
+ PPDH phản ánh cách thức điều khiển hoạt động nhận thức: kích thích
và xây dựng động cơ, tổ chức hoạt động nhận thức và kiêm tra, đánh giá kết quả hoạt động
+ PPDH phản ánh cách thức tự tổ chức, tự điều khiến, tự kiểm tra, đánh giá của người học
Như vậy, có thể hiểu PPDH là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất
cua GV va HS nhằm thực hiện tối đa mục tiêu và nhiệm vụ day hoc
1.2.2 Cấu trúc của PPDH
PPDH bao gồm các yếu tố sau:
— Hướng tiếp cận đối tượng dạy học: xác định mục đích của hoạt động
dạy học là gì? học để hướng tới việc cung cấp tri thức hay hình thành kỹ năng
hành động (hành vi) cho người học?
— Nội dung lí luận của PPDH: là yếu tố tạo nên sự khác biệt về bản chất
và mức độ khoa học giữa PPDH với kinh nghiệm dạy học như ưu điểm, hạn chế, phạm vi sử dụng có hiệu quả của phương pháp
- Biện pháp kỹ thuật của phương pháp: là hệ thống cách thức tác động của GV và HS lên đối tượng đạy học qua đó thực hiện nhiệm vụ dạy học
— Các thủ pháp nghệ thuật dạy học: là điều kiện cần thiết để hoạt động dạy học đạt kết quả nhưng không nên áp dụng máy móc
Trang 141.2.3 Tính chất của PPDH
— Tính đa dạng
PPDH được chia thành hai nhóm chính là PPDH truyền thống và PPDH
hiện đại PPDH truyền thống là PPDH mang tính thụ động một chiều, thầy
đọc- trò chép còn PPDH hiện đại là PPDH lấy HS làm trung tâm kết hợp với
các phương tiện dạy học hiện đại, công nghệ thông tin và truyền thông mới
— Tính đặc thù
Vì mỗi PPDH có đặc điểm riêng, ưu điểm, hạn chế và hiệu quả khác
nhau Không có PPDH nào là “vạn năng” nên phải kết hợp khéo léo các PPDH “Trong một bài dạy, không bao giờ chỉ dùng một phương pháp Như vay van đề đặt ra là phải phối hợp các phương pháp như thế nào? Vấn đề phối hợp phải bắt đầu từ sự phân tích nội dung Nội dung rất đa dạng mà mỗi phương pháp thường chỉ giải quyết được một nội dung nhận thức nào đó, vì vậy phải sử dụng nhiều phương pháp Vẫn đề là bao giờ cũng có một phương pháp chủ đạo, phương pháp khác chỉ hỗ trợ cho phương pháp chủ đạo này Nếu không nhận thức được điều đó thì hoạt động của GV sẽ rối loạn khi lên
lớp Vấn đề phối hợp phương pháp còn phụ thuộc vào nhiều đặc điểm của quá
trình nhận thức và lứa tuổi” (11, tr.224]
Từ đó ta thấy rằng dé thực hiện được mục tiêu dạy học, người GV cần
nắm vững và vận dụng khéo léo các PPDH với nhau
1.2.4 Mỗi quan hệ giữa PPDH với phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là toàn bộ những sự vật, hiện tượng trong thế giới
tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện cụ thể
người dạy và người học sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Ví dụ: Ngôn ngữ của GV, phòng học, đèn chiếu sáng, bảng điện, sơ đồ,
bảng biểu, tranh anh, bang den, phan trang
Trang 15Phương tiện dạy học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình dạy học, góp phần tăng hiệu quả của PPDH Từ đó làm tăng khả năng tiếp thu bài của
HS, chuyến giao những kiến thức các em đã học qua phương tiện, cuốn hút các em tham gia sôi nổi tích cực, chất lượng giờ học được nâng cao Do đó trong quá trình dạy học nói chung và dạy môn GDCD nói riêng, GV cần phải
sử dụng các phương tiện dạy học hợp lý để nâng cao hiệu quả dạy học
1.3 Lí luận về PPDH môn GDCD ở trường THPT
1.3.1 Quan điễm về PPDH môn GDCD ớ trường THPT
PPDH môn GDCD là một khoa học, thuộc chuyên ngành khoa học giáo
dục, một bộ phận của lí luận dạy học
Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã có những hiểu biết về thế giới
xung quanh nhưng phải đến khi công cụ lao động được cải tiến, sản xuất được đây mạnh, xã hội phân chia giai cấp thì khoa học mới ra đời Khoa học
được hiểu là những hệ thống tri thức về mọi quy luật của vật chất và sự vận
động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy Những tiêu
chí của một khoa học là: có đối tượng nghiên cứu, có hệ thống lí thuyết, có
phương pháp luận riêng cũng như có chức năng, nhiệm vụ và có phương pháp nghiên cứu riêng Do có đối tượng nghiên cứu khác nhau nên có những khoa học khác nhau Đồng thời sự phân chia thành các ngành khoa học khác nhau dẫn tới một số ngành khoa học có những chỗ gặp nhau, tích hợp với nhau và
làm xuất hiện khoa học mới Ví dụ: sự gặp gỡ của khoa học giáo dục với môn
GDCD dẫn tới sự ra đời của chuyên ngành PPDH môn GDCD
Với tư cách là một khoa học, PPDH môn GDCD được xem là một bộ
phận của khoa học giáo dục (thuật ngữ “khoa học giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng) là một hệ thống lý thuyết và kỹ năng cơ bản để tô chức quá trình dạy học môn GDCD ở trường THPT Vậy PPDH môn GDCD là cách hoạt động phối hợp thống nhất của GV và HS nhằm phát hiện ra những quy luật
Trang 16của quá trình dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thông các nguyên tắc, hình
thức và PPDH cụ thể để tổ chúc thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở
trường THPT
1.3.2 Đối trợng và phương pháp nghiên cứu của PPDH môn
~ Đối tượng nghiên cứu
PPDH môn GDCD ở trường THPT với tư cách là một khoa học có đối
tượng nghiên cứu là sự hình thành nội dung tri thức môn GDCD và cách thức,
con đường tổ chức để HS chiếm lĩnh nội dung tri thức của môn học này Quá trình dạy học môn GDCD là một hệ thống trọn vẹn, vì vậy các yếu
tố tạo nên nội dung khái niệm dạy học cũng chính là các yếu tố cấu thành đối
tượng nghiên cứu của PPDH môn GDCD Cu thé:
+ Môn học hay sự cụ thể hóa nội dung trí dục
+ Hoạt động dạy của GV Nghiên cứu hoạt động này, PPDH môn
GDCD phải trả lời câu hỏi: GV chọn những PPDH nào? tại sao lại chọn?
GV tổ chức hoạt động của HS ra sao?
+ Hoạt động học tập của HS
Trong các yếu tố trên thì HS và hoạt động của HS là nhân tố quyết định
nhất Do đó PPDH môn GDCD phải nghiên cứu, xem xét HS tiếp nhận tài
liệu học tập như thế nào, làm việc ra sao Nắm vững đối tượng nghiên cứu của PPDH môn GDCD giúp cho GV bộ môn xác định rõ ràng ranh giới của
PPDH môn GDCD với PPDH của các bộ môn khác cũng như biết cách kết hợp PPDH bộ môn khác với PPDH môn GDCD nhằm nâng cao chất lượng
dạy học và vị trí môn GDCD
— Phương pháp nghiên cứu
Muốn nghiên cứu PPDH của các môn học phải đựa vào phương pháp luận bộ môn và phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thê:
Trang 17+ Phương pháp luận bộ môn: PPDH môn GDCD được xây dựng trên
cơ sở thế giới quan, phương pháp luận khoa học của một giai cấp nhất định Bởi vì: “Nếu mục đích của nhà trường tư sản là giáo dục những người nô lệ chỉ biết phục tùng bọn tư bản thì phương pháp phù hợp với nó được sử dụng
để giáo dục những người ngoan ngoãn chấp hành, càng ít biết độc lập, suy nghĩ phán đoán càng tốt; nếu mục đích của nhà trường là giáo đục những người xây dựng chủ nghĩa xã hội có ý thức thì phương pháp lại hoàn toàn khác, mọi thành tựu sẽ được sử dụng để giáo dục cho biết độc lập suy nghĩ,
hành động tập thể và có tổ chức, nhận thức rõ kết quả hoạt động của mình,
phát triển tối đa tinh thần chủ động” [15, pp.54]
Do đó phương pháp luận của PPDH môn GDCD chính là quan điểm lí luận của chủ nghĩa Mác — Lénin va tư tưởng Hồ Chí Minh về nhận thức và giáo dục người công dân
+ Phương pháp của khoa học giáo dục
Phương pháp nghiên cứu của khoa học giáo dục nói chung gồm: phân
tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa, trừu tượng hóa và các
phương pháp nghiên cứu thực tiễn như quan sát, thực nghiệm khoa học, tổng kết kinh nghiệm, điều tra Trong đó các phương pháp nghiên cứu lí luận và nghiên cứu thực tiễn thường được sử dụng kết hợp và chặt chẽ với nhau Vì lí
luận khái quát nào về mặt lí thuyết cũng phải dựa trên những sự kiện thực tiễn, ngược lại bất cứ kết luận thực tiễn nào cũng dựa trên những giả định về
mặt lí thuyết
Như vậy PPDH môn GDCD là một chuyên ngành của khoa học giáo dục,
có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng
1.3.3 Mối quan hệ giữa các PPDH môn GDCD ớ trường THPT Theo cách tiếp cận của Các Mác về PPDH thì với cùng một nội dung dạy học sẽ có nhiều PPDH khác nhau, trong đó có một phương pháp tốt nhất Do
Trang 18đó, trong quá trình dạy học môn GDCD ở trường THPT, giữa các PPDH không hề tách rời mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Người GV cần biết kết hợp, vận dụng khéo léo các PPDH để quá trình dạy học môn GDCD đạt hiệu quả cao GV có thể sử dụng một PPDH, thường là sử dụng kết hợp vài
PPDH với nhau trong một bài dạy học Một trong những PPDH tích cực, sáng
tạo và đạt hiệu quả cao là phương pháp nêu vấn đề
Trang 19Chương 2
Li LUAN VE PPDH NEU VAN ĐÈ TRONG DẠY HỌC MÔN
GDCD Ớ TRƯỜNG THPT
2.1 Khái niệm PPDH nêu vấn đề
Nhiều năm qua, trong lí luận và thực tiễn giáo dục nước ta, dạy học nêu vấn đề hay còn gọi là dạy học giải quyết vấn đề không còn là vấn đề mới mẻ Lịch sử của dạy học nêu vấn đề có thể được xác định từ hàng ngàn năm trước qua phương pháp dạy và học của Không Tử hay Xôcrat Nhưng để trở thành
một hệ thống lý thuyết hiện đại và được nghiên cứu nghiêm túc thì phải đến
khi xuất hiện các công trình của các nhà khoa học giáo dục thế kỷ thứ XX Theo các nhà nghiên cứu tâm lí, con người chỉ tích cực tư duy khi họ rơi vào
hoàn cảnh có vấn đề, khi phải tìm ra cách thoát khỏi những tình huống đang
làm cản bước trong nhận thức hoặc trong cuộc sống thực tế của họ Hoàn cánh có vấn đề nảy sinh khi con người phát hiện các mâu thuẫn trong lí thuyết hay thực tế mà với phương pháp tư duy cũ, với kinh nghiệm và những tri thức
đã có họ không thể giải quyết được, làm cho họ rơi vào trạng thái tâm lí đặc
biệt, thôi thúc họ đi tìm cách giải quyết Vậy thế nào là PPDH nêu vấn đề?
“PPDH nêu vấn đề là PPDH, trong đó GV tạo ra các tình huống mâu
thuẫn, đưa HS vào trọng thái tâm lí phải tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,
khích lệ HS tìm cách giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và
thải độ học tập ” [7, tr.152]
“Dạy học giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh Học sinh được đặt trong một tình huỗng có vẫn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề đó giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thúc ” [3, tr.77]
Trang 20Trong một xã hội phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh
gay gắt thì việc phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh
trong thực tiễn là một điều kiện đảm bảo sự thành công trong cuộc sống Vì
vậy tập duot cho HS biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phái
trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ởtầm
PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục và đào tạo
2.2 Cơ sở của PPDH nêu vấn đề
Cơ sở hay “nguyên liệu” của dạy học nêu vấn dé là “vấn đề”
Khái niệm “vẫn đề” ở đây được hiểu là vẫn đề nhận thức, là mâu thuẫn
(mâu thuẫn bên trong giữa cái đã biết và cái chưa biết trong đó cái chưa biết
là cái có ý nghĩa, là cái bức bách cần thiết) việc giải quyết mâu thuẫn sẽ thỏa
mãn, và đáp ứng được nhận thức của con người trong cuộc sống
Theo E.V.Llienôp: “Một câu hỏi thật sự, nghĩa là một vấn đề đòi hỏi được giải quyết thông qua việc tiếp tục nghiên cứu những sự kiện, thì bao giờ cũng có dạng một mâu thuẫn logic, một nghịch lí”
Theo X.L.Rubinxten: “Con người bắt đầu suy nghĩ khi anh ta thấy xuất hiện nhu cầu hiểu biết một cái gì đó Tư duy luôn luôn bắt đầu từ một vấn đề hoặc một câu hỏi, từ sự ngạc nhiên hay nỗi băn khoăn thắc mắc”
Theo M.A.Đamilôp: “Vấn đề nhận thức đặc trưng ở chỗ nó đưa học sinh
ra ngoài giới hạn của những kiến thức vốn có của các em” [6, tr18]
Không chỉ HS mà cả GV và HS đều phải tư duy khi đối diện trước vấn
đề nảy sinh trong quá trình dạy học Theo Leene.LIA: “ Trong trường hợp giáo viên ra một bài toán nhận thức mà mình đã hiểu rõ thì tuy đã biết lời giải rồi song trong khi học sinh giải bài toán đó, giáo viên vẫn đóng vai trò một người tìm tòi chứ không chỉ đóng vai trò trọng tài quan sát xem lời giải của học sinh có đúng hay không” [17] Bởi vì, với liên hệ ngược chiều, GV sẽ thu được tất cả các bước hay lời giải sai hoặc độc đáo của HS Và GV đánh giá
Trang 21ngay trong giờ học đó xem các bước đi như vậy có đúng hay sai, bac bo hay khen ngợi các cách giải quyết đó
Như vậy, bản thân các “vấn đề” chính là nguồn khích thích tư duy, khơi dậy hứng thú, tìm tòi và phát triển của cá GV và HS Vấn đề trong dạy học
giải quyết vấn đề khác với nhiệm vụ học tập, vì khi HS được yêu cầu giải
quyết nhiệm vụ học tập thì sẽ theo một trình tự sẵn có, cũng như đã có đủ
kiến thức kỹ năng để giải quyết Còn “Vẫn đề là những câu hỏi đặt ra mà việc
giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn
có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua” [4, tr.76]
2.3 Các hình thức của PPDH nêu vấn đề
Tùy theo nội dung kiến thức cụ thể của từng bài giảng và trình độ, năng lực tiếp thu tri thức của HS mà GV vận dụng phương pháp nêu vấn đề ở những hình thức khác nhau Cu thé:
— Trình bày nêu vấn đề
Đây là cấp độ thấp nhất trong dạy học nêu vấn đề Hình thức này được
sử dụng khi cần phải truyền thụ kiến thức trừu tượng và khái quát cao, hoàn toàn mới đối với HS; là những thuật ngữ khoa học HS từng nghe thấy nhưng chưa có một hiểu biết thế nào về chúng
Ví dụ: Khi giảng dạy Bài 1: “Thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng” (Sách giáo khoa GDCD 10) thì những khái niệm như “Thế giới quan”, “Phương pháp luận” là những khái niệm mà HS từng nghe thấy nhưng chưa hiểu biết gì về chúng
Trong khi thực hiện phương pháp trình bày nêu vấn đề , GV gần như phải thực hiện toàn bộ các bước của phương pháp nêu vấn đề Nhưng việc giải quyết vấn đề phải làm sao cho HS thấy rõ cách giải quyết vẫn đề và những lập luận cần thiết của GV Qua đó HS hiểu biết, làm quen với phương pháp giải quyết van dé, thu nhận tri thức mới
Trang 22Ví dụ: Để HS nắm được nội dung Bài 1: “Thế giới quan duy vật và
phương pháp luận biện chứng” (Sách giáo khoa GDCD 10) thì GV cần giảng giải, làm cho HS nắm được thế nào là thế giới quan, phương pháp luận? vai trò thế giới quan, phương pháp luận của triết học? thế nao 1a thé giới quan
duy vật và thế nào là thế giới quan duy tâm? thế nào là phương pháp luận biện
chứng và phương pháp luận siêu hình? Rồi từ đó làm cho HS nắm được nội dung kiến thức cụ thể chủ nghĩa duy vật biện chứng — sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng”
— Tìm tòi bộ phận
Trong mỗi bài giảng bao gồm nhiều đề mục, mỗi đề mục lại bao gồm
nhiều đề mục nhỏ Các đề mục và các mục nhỏ có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một bài giảng trọn vẹn với kết cấu logic xác định Đó là
những phần, những bộ phận của bài giảng Vì thế hình thức tìm tòi bộ phận của phương pháp nêu vấn đề được sử dụng để truyền thụ tri thức mỗi bộ phận
đó, tức là giải quyết từng phần của bài giải Sau khi đưa HS vào tình huống có van dé, GV hướng dẫn HS tìm ra phương pháp tốt nhất để HS tự giải quyết
vấn đề và khái quát hóa tri thức đã giải quyết Sau cùng, GV tổng hợp chúng, hệ thống hóa lại
giúp HS hiểu được những kiến thức cơ bản, trọng tâm của phần đó
— Nêu vấn đề toàn bộ
Đây là hình thức có mức độ cao nhất trong PPDH nêu vấn đề Dưới sự
hướng dẫn, dẫn dắt của GV thì HS tự mình giải quyết toàn bộ một vấn đề nêu
ra trong bài giảng Hình thức này được thực hiện sau khi GV đã suy xét kỹ
càng về nội dung kiến thức của bài giảng, về khả năng và trình độ tư duy, về
kiến thức đã có của HS, của điều kiện cho phép HS tự tìm hiểu và giải quyết
vấn đề Đương nhiên để HS có thể giải quyết toàn bộ vấn đề nêu ra, ban thân
GV đã phải suy nghĩ tới tiến trình HS sẽ phải tiến hành, mối liên hệ giữa các
phần; giữa giải quyến vấn đề bộ phận với giải quyết vẫn đề toàn bộ hướng
Trang 23vào trọng tâm, trọng điểm của bài Phương pháp nêu vấn đề toàn bộ giúp HS
có phương pháp tư duy khoa học, phương pháp nhận thức nếu GV có phương pháp sư phạm tốt
Giảng dạy và học tập bao giờ cũng nhằm mục đích truyền thụ và lĩnh hội
tri thức mới, ủng cố tri thức đã có, nâng cao trình độ nhận thức trên cơ sở của
những kiến thức đã tích lũy được Vì thế, nếu GV biết liên hệ những tri thức
đã tiếp thu được của HS với tri thức mới thì việc giảng dạy nêu vấn đề toàn
bộ sẽ thực hiện được, ngay cả đối với những tri thức hoàn toàn mới
Việc xem xét các hình thức của phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD là cần thiết Nhưng khi sử dụng chúng lại tùy thuộc vào khả năng
trình độ sư phạm của GV Nhiều khi, việc sử dụng chúng lại được kết hợp
chặt chẽ, nhuần nhuyễn trong một bài giảng
2.4 Ưu điểm và hạn chế của PPDH nêu vấn đề
Cũng như mọi PPDH khác, PPDH nêu vấn đề cũng có nhiều ưu điểm và
có những nhược điểm nhất định
- Ưu điểm:
+ Cung cấp môi trường sư phạm lí tưởng cho HS tổ chức các hoạt động học tập của mình Trong môi trường đó, dưới sự hướng dẫn của GV, HS được trực tiếp làm việc với đối tượng học tập là trí thức khoa học, HS tự mình nghiên cứu, bóc tách nội dung học tập thông qua các tình huống HS tiếp nhận nội dung bài học gắn với những tình huống cụ thể, điển hình theo nguyên tắc:
“Tôi nghe thì tôi nhanh quên, tôi nhìn thì tôi nhớ và tôi làm thì tôi hiểu” + Tăng cường khả năng độc lập suy nghĩ, phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng vận dụng kinh nghiệm của mình và của người khác và việc giải quyết các vấn đề trong học tập và trong các lĩnh vực khác cho HS
Trang 24+ Phát triển cho HS kỹ năng thích ứng trong các tình huống khác nhau, nâng cao lòng tin vào khả năng của bản thân trong việc giải quyết các tình huống học tập cũng như trong đời sống hiện thực
+ Tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác dé giải quyết các tình huống
+ Kết quá của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là hình thành ở HS kiến thức và kỹ năng vững chắc Quan trọng hơn là HS biết cách chủ động chiếm lĩnh kiến thức, đánh giá kết quả học tập của bản thân và của người khác
Thông qua đó các năng lực cơ bản được hình thành, đặc biệt là năng lực vận
dụng tri thức dé giải quyết van đề thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo
+ Nếu GV tổ chức lớp học không tốt sẽ mắt nhiều thời gian, lãng phí thời
gian học tập vì HS tốn nhiều thời gian để giải quyết tình huống và rút ra các
tri thức cần thiết
+ HS cần có thói quen và khả năng tự học tự giác thì mới đạt hiệu quả
cao
+ Trong một số trường hợp cần có thiết bị dạy học và các thiết bị cần
thiết đi kèm thì việc áp dụng phương pháp này mới đạt hiệu quả Ví đụ: khi thực hành thí nghiệm
+ HS dễ bị lạc hướng trong quá trình giải quyết tình huống, dễ nản chí khi gặp tình huống khó hoặc không nhiệt tình tham gia khi tình huống kém hấp dẫn (chưa kế đến tình huống khó thực hiện do tốn kém kinh phí)
Trang 252.5 Hạt nhân của PPDH nêu vấn đề
Hạt nhân của dạy học nêu vấn đề là hệ thống các tình huống có vấn đề:
“Nét bản chất nhất của dạy và học nêu vấn đề không phải là sự đặt ra những câu hỏi mà là tạo ra các tình huống có vấn đề” [19] Khái niệm tình huống có
vấn đề và các biện pháp giải quyết nó tạo nên cơ sở của dạy học nêu van dé
Vậy thế nào là tình huống có vấn đề?
“ Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục
đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết
bằng cách nào, chưa đủ phương tiện (tri thức, kỹ năng ) đề giải quyết” [16, pp.1 10]-
Các nhà sư phạm trong và ngoài nước đều đưa ra định nghĩa về tình huống có vấn đề Tựu trung lại có thể định nghĩa như sau: Tình huống có vấn
đề là tình huống có chứa đựng mâu thuẫn biện chứng giữa cái đã biết và cái
chưa biết Mâu thuẫn này được HS chấp nhận như mâu thuẫn của bản thân và
đòi hỏi phải giải quyết, rồi thông qua sự giải quyết mà HS thu nhận được kiến
thức, kỹ năng hay kỹ xảo, lĩnh hội được trí thức và phương pháp giải quyết mới
Dưới góc độ tâm lí, tình huống có vấn đề thé hiện trạng thái băn khoăn,
thắc mắc, một khó khăn mà con người không khắc phục được bằng tri thức
vốn có Tư duy nảy sinh và phát triển khi cần khắc phục khó khăn bằng
những phương tiện trí óc Tình huống có vấn đề buộc con người phải suy
nghĩ, động não tạo nên những vận động tích cực bên trong của trí tuệ con
người
Tình huống có vấn đề đòi hỏi luôn phải chứa đựng một cái gì chưa biết, vượt ra ngoài giới hạn hiểu biết của HS Bên cạnh cái chưa biết, tình huống có vấn đề còn bao hàm một hoặc những cái đã biết, gồm những dữ kiện cho
trước bởi vì giúp HS vượt ra khỏi giới hạn kiến thức vốn có và đặt ra cho các
em những vấn đề nhận thức thì chẳng có gì là khó khăn, nhưng lúc đó tư duy của HS vẫn chưa hoạt động Muốn “mở máy” tư đuy của HS và hướng nó vào
Trang 26giải quyết một vấn đề mới xuất hiện thì vấn đề này phải chứa đựng một điều
đã biết, phải cho trước đữ liệu nào đó để làm điểm xuất phát cho suy nghĩ và
sự tìm tòi, sáng tạo
Ngoài ra, các tình huống có vấn đề còn phải bao hàm trong bản thân nó
một yếu tố tâm lí nào đó, thể hiện ở tính mới lạ và tính rõ ràng của các sự
kiện, ở tình huống không bình thường của bài tập nhận thức nhằm kích thích hứng thú và lòng khao khát tìm tòi ở HS
Như vậy, để trở thành tình huống có vấn đề đích thực thì cần phải có
những yếu tố, điều kiện nhất định Không phải tình huống nào cũng là tình
huống có vấn đề Điều đó có nghĩa là để tạo ra các tình huống có vấn đề, bản
thân GV không thể không tư duy, suy nghĩ, trăn trở, mày mò tìm kiếm sáng
tạo GV cần phát hiện trong tài liệu học tập của HS đâu là “vấn đề có vấn đề”, cần thiết kế như thế nào để chúng trở thành tình huống có vấn đề, cần phải nêu vấn đề như thé nào dé khơi gợi hứng thú, sáng tạo của HS Bởi vì không phải vẫn đề nào cũng là vấn đề của HS và lôi cuốn được HS Đồng thời, GV
cần phải tổ chức hoạt động nhận thức của HS như cho HS đọc, tra cứu, phát
biểu, thảo luận Tất cả đều đòi hỏi ở mỗi GV sự đảo sâu suy nghĩ, trăn trở, không ngừng sáng tạo để phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong giờ học Khi đó, tình huống có vấn đề có tác dụng phát huy vai trò chủ đạo của
GV và sự sáng tạo, chủ động nắm bắt kiến thức của HS
Hạt nhân của dạy học nêu vấn đề là tình huống có vấn đề nhưng sự triển
khai cụ thể trong giờ học là những câu hỏi nêu vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề có
cơ sở hình thành và xuất hiện là tình huống có vấn đề Câu hỏi nêu vấn đề gắn
bó chặt chẽ với tình huống có vấn đề, bởi vì có tình huống có vấn đề thì mới
có vân đê và câu hỏi nêu vân đê Có nhiêu cách định nghĩa về câu hỏi: