1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngữ văn 12

491 685 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 491
Dung lượng 5,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sự quan tâm gắn bó cùng nhau thực hiện mục đích fục vụ lợi ích cho XH"1 cây là chẳng nên..." Tình thương bao la còn đc Bác Hồ nhắc đến qua việc giúp đỡ đồng bào sau CMT8 "...Mọi người ai

Trang 1

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 2 năm 2015

Trang 2

NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Các bước làm bài văn nghị luận xã hội

1, NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG XÃ HỘI

B1: Cắt nghĩa từ khóa, nêu hiện tượng đó trong cuộc sống

+ Hiện tượng ấy có phổ biến hay không?

B2: Phân tích hiện tượng đó trong đời sống thực tế ( diễn ra như thế nào? )

B3: Chỉ ra nguyên nhân và hệ quả của hiện tượng

B4: Lấy ví dụ để chứng minh hiện tượng ấy có lợi hay có hại

B5: Liên hệ với bản thân

B6: Rút ra bài học cho mình và mọi người ( liên hệ thực tế đến giới trẻ )

B7: Phê phán ( đối với hiện tượng xấu ) ca ngợi ( đối với hiện tượng tốt ) đưa ra lời khuyên hợp

2, NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG ĐẠO LÝ

B1: Cắt nghĩa từ khóa, giải nghĩa từ then chốt

B2: Khẳng định câu nói đó là đúng hay sai? Tại sao đúng? tại sao sai?

B3: Phân tích để làm rõ nhận định của mình, dùng các luận chứng để lật lại vấn đề

B4: Lấy ví dụ, phân tích ví dụ để chứng minh ý nghĩa của câu nói đó đối với cuộc sống

B5: Liên hệ với bản thân, với thực tế ( Chủ yếu là tầng lớp học sinh, thanh niên )

B6: Rút ra bài học cho cả bản thân và mọi người ( Chủ yếu là giới trẻ )

B7: Phê phán những người đi ngược lại chân lý, tư tưởng đó đồng thời ngợi ca những tấm gương đang có lý tưởng sống đúng

KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

1/Giải thích

a/Mục đích: Hiểu

b/Các bước:

Trang 3

-Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)

Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết

Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ

-Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó) Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng

Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO

-Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào

Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO

**Lưu ý:

-Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt

ra từ ba câu hỏi đó -Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc

2/Chứng minh

a/Mục đích: Tin

b/Các bước:

-Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh

-Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh

Trang 4

3/Bình luận

a/Mục đích: Đồng tình

b/Các bước:

- Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận

- Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai) Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận

- Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn

- Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại

B/Nét riêng

I.Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội

2.Đề tài:

-Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập )

-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ )

-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em )

-Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn )

3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

-Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì)

-Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luận -Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí)

4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

- Tình thương là hạnh phúc của con người

Trang 5

- “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”

Ý kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ

gì về việc tu dưỡng và học tập của bản thân?

- Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”

- Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm cần câu và cách câu cá”

- Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm thành công của mình như sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”

Bình luận câu nói trên Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?

- “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời bạn, người anh

em, của bố mẹ mình hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác điều đang xảy ra trong trái tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”

Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki

- Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.”

- Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ viết:

“Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.”

Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác

- Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”

- Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái.”

Em hiểu câu nói đó như thế nào?

- Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói :

« Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn »

Hãy bình luận câu nói trên

Trang 6

- Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một người bạn tốt”

- Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau:

Con đường từ nhà đến trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cuối

mỗi con đường ấy đều giống nhau: ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ

Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó

-Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi

lòng vị tha, tình đoàn kết

Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

- Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói:

“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.”

(Nguyễn Bá Học)

- Phải chăng, “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi.”?

- “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định,

mà không có phương hướng thì không có cuộc sống.” (Lép Tôn-xtôi)

Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng của mình

- Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời Sự mất mát lớn

nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.”? (Noóc-man Ku-sin, theo “Những vòng

tay âu yếm – NXB Trẻ, 2003)

- Tiền tài và hạnh phúc

- “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.” Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?

II/Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống

1/Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội

2.Đề tài: Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm

-Chấp hành luật giao thông ở nông thôn

-Hiến máu nhân đạo

Trang 7

-Nạn bạo hành trong giao đình

-Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi

-Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn

-Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng

-Những tấm gương người tốt việc tốt

-Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi

-Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ

-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em )

-Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn )

3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

-Nêu rõ hiện tượng

-Nêu nguyên nhân Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại

-Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó

4.Một số đề tham khảo:

- Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp

Trang 8

Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó

- Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô về các thành phố lớn

- Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống

-

III/Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội

2.Đề tài:

Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học

3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn

đề (hoặc câu chuyện)

b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện)

4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

-Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, nghĩ về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người

“Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

Ông ơi, ông vớt tôi nao!

Trang 9

Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”

Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam

-Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội

-Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nghĩ thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời

vợ chồng Mỗi tình cảm đều có sự thể hiện riêng nhưng bản chất of nó vẫn là lòng yêu thương con người với con người, đó là thứ tình cảm tốt đẹp nhất của con người Ko những thế, tình cảm

đó còn thể hiện hteo nghĩa rộng hơn nữa ở tình yêu đồng bào, quê hương, đất nước Thật vậy, tình cảm yêu thương không chỉ gói gọn giữa con người với con người mà còn từ con tim of họ đến với đất tổ quê hương Đã có biết bao người với lời thề "Quyết tử cho TQ quyết sinh" ra đi theo tiếng gọi của quê hương Tiếng gọi yêu thương ấy thật mạnh mẽ, hùnh hồn tạo nên sức mạnh to lớn đánh thắng quân thù Đó là tình cảm thiêng liêng sáng ngời của người con ĐN Mỗi ai cũng fải có tình thương, ý thức trách nhiệm đối với mọi người, với quê hương Nó đánh giá bản chất, đạo đức mỗi con người Nó giúp nâng cao giá trị of con người và làm cho con người ngày càng hoàn thiện

Trong dân gian có câu "1 con ngựa đau " hay "la` lành đùm lá rách" chính ông cha ta đã từ lâu dạy ta fải bít tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau, con người ko thể sống mà ko có tình iu thương Tình iu thương tạo nên sự htân ái, đòan kết cộng đồng, Đã từ lâu nhân dân ta bít iu thương hỗ trợ nhau, đoàn kết thành 1 khối thống nhất trong lao động và cùng chống lại thiên tai bbão lũ Tình yêu thương đồng thời là cội nguồn of sự đoàn kết Chính tình iu thương đã tạo ra

Trang 10

sự quan tâm gắn bó cùng nhau thực hiện mục đích fục vụ lợi ích cho XH"1 cây là chẳng

nên "

Tình thương bao la còn đc Bác Hồ nhắc đến qua việc giúp đỡ đồng bào sau CMT8 " Mọi người

ai cũng fải có cơm ăn, áo mặc, ai cũng fải đc học hành", việc thực hiện "hũ gạo cứu đói" ,

"nhường cơm sẻ áo", "lá lành đùm lá rách" đã đạt kết quả tốt điều đó chứng tỏ dân ta có tình đoàn kết iu thương gắn bó chia sẻ lẫn nhau

Sức mạnh của lòng thương, một sức mạnh tỏa sáng một cách tự nhiên từ tấm lòng của mọi người Việt Nam trải qua nhiều đau khổ, bất hạnh, nhưng suối nguồn tình thương đó không bao giờ cạn, vẫn dồi dào thêm, sẽ làm dập tắt mọi khó khăn và bất hạnh

"Cuộc sống ko fải là tất cả , còn cần biết sống 1 cuộc đời vì mọi người, vì Tổ Quốc" Câu danh ngôn của nhà văn Nga A.Bô-gô-mô-lét đã chứng tỏ tình yêu thương là thứ qúy báu nhất, nó vô giá, đc con người tạo ra và con người fải quí trọng nó Tình thương đó vốn có sẵn trong chúng ta,

nó càng rộng rãi bao nhiêu thì tính vị kỷ sẽ giảm bớt tương đương bấy nhiêu Mà tính vị kỷ thói

hư tật xấu làm gì, nói gì , nghĩ gì cũng vì cái Ta, chính đó thực sự là cội nguồn của mọi bất hạnh

và đau khổ, mọi xung đột và chiến tranh, mâu thuẫn gây ra tang tóc đổ nát "Khi tình thương ra

đi thì trái đất trở thành hầm mộ"

Quả vậy "Thương người như thể thương thân" - Chúng ta hiểu tình thương là thái độ nhạy cảm

và đồng cảm giữa con người với con người, giữa con người với tất cả những gì con nguơi tiếp cận Tình thương là thái độ gần gũi, dịu dàng, không hại lẫn nhau mà làm tốt cho nhau trong phạm vi khả năng của mỗi bên Biết sống với tình thương đó là biết sống hạnh phúc, biết sống có

ý nghĩa Còn nếu không có tình thương đó, hay đúng hơn, tuy vốn có tình thương đó nhưng lại

để cho nó mai một, héo tàn, thì cho dù có sống cũng như chết rồi!

Trong cuộc sống ngày nay, tình iu thương ngày càng fát triển hay mai một đều do ý thức of con người Vì thế để có 1 XH tốt đẹp đầy lòng nhân ái ta fải quan tâm, san sẻ giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao tinh thần trách nhiệm of bản thân ,tuyên truyền vận động toàn dân giúp đỡ nhau cùng đi lên,gom góp chút tiền giúp đở những người còn khó khăn , tránh vì lợi ích of mình mà gây hại cho mọi người cho ĐN

Là người VN , với truyền thống nhân đạo sâu sắc, em tự cảm thấy bản thân fải có trách nhiệm với mọi người và quê hương, em sẽ cố gắng học thật tốt, fấn đấu trở thành công dân tốt có ích cho XH, xây dựng ĐN ngày càng giàu mạnh, nhân dân đc ấm no, hạnh phúc

Đề ra: Suy nghĩ của anh/chị về “TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO”

BÀI LÀM

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc Các con nằm thao thức phía Trường Sơn Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn”

Trang 11

Mỗi lần đọc bài thơ này của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, tôi lại thao thức về biển về Hoàng Sa – Trường Sa Trong tôi lại hiện lên thật kiêu hãnh dáng đứng của những người lính đảo xa giữa mênh mông đại dương đang canh giữ cho quê hương yên bình giấc ngủ

Khi sinh ra tôi đã sống trong thời bình, bom đạn chiến tranh, những ngày đói khổ dường như tôi chưa từng biết đến và trải qua Tôi chỉ biết lịch sử, quá khứ đáng tự hào của dân tộc qua những trang sách sử, qua báo đài Từ những trang sách ấy tôi đã lớn lên chan chứa một tinh thần biết ơn với tiền nhân, với quá khứ Bởi nếu không có thế hệ cha anh đã ngã xuống trong biết bao nhiêu cuộc chiến vệ quốc vĩ đại thì chắc chắn tôi không có mặt trên đời Ngày nay, dù chiến tranh đã đi qua, đất nước đã hòa bình và phát triển, nhưng biển xa vẫn canh cánh mối lo hiểm họa xâm lăng của các thế lực thù địch Nên nhiệm vụ của tuổi trẻ, nhiệm vụ của mỗi công dân lại được đặt lên trên hết

Và ở đó, nơi cách chúng ta hàng trăm hải lý, những chàng trai lính đảo, những con người đầy nhiệt huyết có trái tim yêu nước nhiệt thành luôn biết hi sinh và cống hiến đang ngày đêm đương đầu với sóng dữ Họ chính là biểu tượng cao đẹp của Tổ Quốc hôm nay:

Yêu biết mấy những con người đi tới Hai cánh tay như hai cánh bay lên Ngực dám đón những phong ba dữ dội Chân đạp bùn không sợ những loài sên!

Đường bờ biển nước ta dài trên 3260 km kéo dài từ Móng Cái đến Hà Tiên Vươn trải ra hướng đông, ta có trên 3000 hòn đảo lớn nhỏ Từ thuở đội hùng binh Lý Sơn mang gươm vẽ biển ta có Hoàng Sa, Trường Sa với bao đảo nổi đảo chìm Biển như lòng mẹ bao la mang đến cho ta bao nguồn lợi thủy hải sản, nhiều cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Biển chứa chan tình yêu thương vẫn ngày đêm vỗ sóng vào bờ Khi nhắc đến đây tôi lại thoáng nhớ về kí ức cùng với ông, ông tôi cũng đã run run giọng khàn mà kể với tôi những kí ức còn sót lại mà ông biết về trận chiến ở Đảo Gạc Ma năm 1988 Đó là trận hải chiến mà ông cha ta đã dốc hết sức lực, dùng tất cả sức mạnh để đấu tranh chống kẻ thù Trung Quốc hiểm độc Ở nơi đó các anh đã dâng hiến tuổi xuân xanh của mình vì độc lập chủ quyền của dân tộc Các anh hi sinh nhưng trên tay vẫn ôm trọn lá

cờ tổ quốc, quyết chiến một lòng một dạ Hằng năm, những chuyến tàu vẫn đều đặn chở đoàn công tác từ đất liền ra Trường Sa Mỗi lần đi qua Gạc Ma, những người con đất Việt không quên thả vòng hoa tưởng niệm Các anh đã dâng hiến tuổi 20 cho Tổ quốc, nhân dân cả nước sẽ đời đời ghi nhớ công ơn của các anh Ông tôi nhắm đôi mắt lại khẽ lâu rồi mở ra lặng buồn nhìn về phía xa xăm, và hình như tôi thấy trong ánh nhìn xa xăm ấy của ông tôi là cả một tình yêu không nói nổi nên lời: tình yêu Biển Đảo quê hương

Nay trong thời bình, hàng trăm ngàn những người lính đã gác lại đời tư, tạm biệt những vùng quê, tạm biệt những thành phố phồn hoa đô hội để đến với biển đảo canh giấc ngủ bình yên cho nhân dân Giữa bao nhiêu thiếu thốn và cô đơn, những người lính ấy vẫn quyết bám đảo, bám biển để bảo vệ vùng trời biển thiêng liêng mà bao liệt sĩ đã ngã xuống khi cuộc đời còn rất trẻ Mặc dù chiến tranh tàn khốc đã thôi không trở lại, nhưng những âm mưu độc chiếm, âm mưu muốn tranh giành lãnh thổ của các nước ‘’láng giềng’’ vẫn còn sôi sục đó đây Biển vẫn ngày đêm sóng dữ chưa nguôi

Các anh, những người lính trẻ không màng khó khăn, ngày đêm và ngày đêm chiến đấu Các anh mang trong mình tư thế sẵn sàng, tay cầm súng, đầu mang chí lớn đối mặt với hiểm nguy nhưng can trường và vững chãi, hiên ngang giữa mênh mông biển cả Tôi cũng chợt nhớ đến nhà văn Nguyễn Thành Long, người đã đưa bạn đọc đến với hình tượng anh thanh niên làm công

Trang 12

tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh núi Yên Sơn Mặc dù chịu nhiều gian khổ nhưng anh vẫn tích cực làm việc góp phần vào công việc lao động sản xuất và chiến đấu Điều đó cho thấy

dù có bao nhiêu chông gai, bao nhiêu khó khăn thử thách trước mắt, anh thanh niên nói chung cũng như toàn bộ thế hệ trẻ ngày nay - những người lính biển đảo cao cả đó vẫn ngày đêm rèn luyện, vẫn nung nấu ý chí, dũng khí để bảo vệ quê nhà Đó là vẻ đẹp muôn đời của dân tộc Việt Nam, một dân tộc:

Đứng vững chãi bốn ngàn năm sừng sững Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

Trong và thực sáng hai bờ suy tưởng Sống hiên ngang mà nhân ái chan hoà

(Huy Cận)

Tôi, dù mang trong mình lòng ngưỡng mộ biết ơn nhưng như thế vẫn là chưa đủ, tôi vẫn khao khát được một lần mang trên vai bộ quân phục của những người lính hải đảo, sẽ hành quân trên vùng biển đảo xa xôi đó Vâng! Khi tổ quốc cần, ta phải biết hi sinh

Đề ra: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh) Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị

HƯỚNG DẪN

Mỗi quốc gia đều có độc lập chủ quyền bất khả xâm phạm, quyền ấy được luật pháp quốc tế công nhận Vì vậy mọi dân tộc trên thế giới đều ra sức bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình “bằng mọi giá” Có lẽ đó cũng chính là thông điệp mà chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến chúng ta: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”

Câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh thật giản dị nhưng lại giàu tính triết lý gói trọn cả niềm tự hào, cả tự cường dân tộc Đó là chân lý về độc lập tự do, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Người

đã mượn những hình ảnh thiên nhiên “sông có thể cạn núi có thể mòn” để khẳng định một cách chắc nịch: “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đó là chân lý bất di bất dịch Trước hết ta hiểu chân lí ấy là sự khẳng định của Hồ Chủ Tịch về độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

Độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ là một trong những vấn đề hàng đầu của đất nước, của dân tộc Từ thuở cha rồng mẹ tiên sinh ra nòi giống con người Việt Nam, từ thuở vua Hùng dựng nước cho tới ngày nay, trải qua hàng vạn cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại “Một nghìn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây” ta vẫn giữ vững độc lập chủ quyền Vì dân ta có lòng yêu nước nồng nàn và có truyền thống chống giặc ngoại xâm Mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, lòng yêu nước nồng nàn ấy lại cháy bùng lên mạnh mẽ Chúng ta đã đánh bại biết bao thế lực hùng mạnh Ta đập tan âm mưu xâm lược của Trung Quốc: Phá quân Tống có chiến công của Lý Thường Kiệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt, để từ đó “Nam Quốc Sơn Hà” trở thành bản tuyên ngôn độc lập thứ nhất, tuyên ngôn ấy cũng đã chỉ ra chân lý được ghi trong sách trời:

“Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành đã định tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Trang 13

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”

Trận Bạch Đằng đã đi vào lịch sử với chiến công của Ngô Quyền chống quân Nam Hán mở ra một kỷ nguyên độc lập mới cho dân tộc Đến lượt đội quân Mông Nguyên hùng hậu, tinh nhuệ, hiếu chiến, chúng chiếm cả nửa châu Âu, bình định Trung Quốc và nhiều nước châu Á Chúng tự hào rằng: Vó ngựa của quân Mông Nguyên đi tới đâu thì tất cả phải cúi rạp đến đó Nhưng trong thực tế chúng đã đại bại ở Việt Nam đến ba lần dưới tài thao lược của Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn và lòng yêu nước của nhân dân ta Tiếp đó, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đập tan âm mưu xâm lược của quân Minh để bản tuyên ngôn độc lập thứ hai được ra đời “Bình Ngô đại cáo” Thêm một lần nữa độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ lại được nhắc đến:

“Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xứng đế một phương”

Đến thế kỉ XVIII, quân Thanh xâm lược Việt Nam, người anh hùng áo vải Quang Trung đã kiêu binh từ Nam ra Bắc để rồi cuối cùng chiến thắng vang dội ở Đống Đa – Ngọc Hồi Thế kỷ XX nước ta đầy bóng giặc, nhưng Cách mạng tháng Tám thành công, tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đời thêm một lần nữa khẳng định lại chân lí muôn đời đó “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập” Trận Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu làm sụp đổ hoàn toàn chủ nghĩa thực dân Và ngày 30/04/1975 đất nước chúng ta sạch bóng quân thù và hoà bình phát triển cho đến ngày nay

Như vậy để có được hoà bình và toàn vẹn lãnh thổ, để có một nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam, thì suốt bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước chúng ta phải đương đầu với mọi kẻ thù (kể cả thù trong giặc ngoài) để bảo vệ vững chắc chủ quyền Chúng ta đã đổ xương đổ máu quyết không bao giờ nhân nhượng với kẻ thù để bảo vệ cho bằng được chủ quyền Đúng như lời đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói: “Chúng tôi muốn hoà bình nhưng không phải hoà bình bằng bất cứ giá nào”

Mượn hình ảnh sông cạn núi mòn, Hồ Chí Minh lại thêm một lần nữa khẳng định “chân lí ấy không bao giờ thay đổi”

Núi và sông theo thời gian sẽ bị bào mòn đi và có thể không lấy lại được nhưng chân lí thì mãi mãi còn, cũng như độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là bất di bất dịch Vì thế ta kiên quyết bảo vệ tới cùng chủ quyền núi sông

Ngày nay biển Đông đang bị đe dọa bởi sự ngang ngược và ngạo mạn, coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc Chúng ngang nhiên đặt giàn khoan HD-981 vào vùng biển của ta, điều trên 100 tàu chiến bảo vệ giàn khoan, sẵn sàng đâm vào tàu của lực lượng chấp pháp của Việt Nam, chúng dùng vòi rồng tấn công các lực lượng của ta Đứng trước vấn đề chủ quyền và an ninh đất nước đang bị đe dọa nghiệm trọng, chúng ta lại càng thấm thía hơn bào gờ hết chân lí ấy của chủ tịch Hồ Chí Minh Có lẽ chính vì vậy mà những ngày qua khắp nơi trên cả nước sục sôi tinh thần yêu nước kết tinh thành những làn sóng mạnh mẽ Cờ tổ quốc đã nhuộm đỏ những con đường Nhiều thanh niên đã tình nguyện gia nhập vào quân đội nhân dân Việt Nam Ngoài biển

xa nhiều chiến sĩ cảnh sát biển Việt Nam, ngư dân Việt Nam kiên quyết bám biển để bảo vệ chủ quyền Nhiều chiến sĩ đã bị thương, nhiều tàu bè đã bị phá hoại nghiêm trọng nhưng ý thức về bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền dân tộc chưa bao giờ tắt lửa trong mỗi con người Việt Nam Những ngày qua, trên các trang mạng xã hội, tuổi trẻ Việt Nam cũng đã thể hiện tinh thần yêu nước một cách mạnh mẽ bằng việc treo Avatar bằng hình lá cờ tổ quốc, viết những vần thơ, trang văn và những cảm nghĩ đầy hào hùng và đầy trách nhiệm đối với vận mệnh của Tổ quốc

Từ việc phân tích ở trên ta cần rút ra cho mình bài học nhận thức và hành động:

Trang 14

Chân lý của chủ tịch Hồ Chí Minh là chân lý đúng đắn của mọi thời đại, chúng ta cần tự hào về dân tộc, càng kiên quyết bảo vệ đến cùng chủ quyền ấy Mỗi công dân đất nước sẵn sàng xung phong vào lực lượng gìn giữ hoà bình khi tổ quốc kêu gọi Tuy nhiên cũng cần tỉnh táo trước những âm mưu của kẻ thù nhất là âm mưu kích động gây rối Đấu tranh một cách ôn hoà tôn trọng luật pháp Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế

Cảnh giác trước những âm mưu của các thế lực thù địch Không nghe, không tin vào những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, nhất là luận điệu xuyên tạc của một số trang mạng Kiên định con đường hoà bình để bảo vệ độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ

Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một Sông

có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” Vì vậy "Toàn thể dân tộc Việt Nam trên dưới một lòng đem tất cả tính mạng, của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy” (Tuyên ngôn độc lập 1945)

Em suy nghĩ gì về câu nói sau: “Khi người chỉ sống vì mình, Thì trở thành người thừa với những người còn lại”

Bài làm

Sống và cách sống luôn là nỗi trăn trở chung của cả nhân loại Con người ta khi sinh ra, tâm hồn

ai cũng như ai, vô tư, hồn nhiên thời gian trôi qua, tính cách của mỗi con người dần phát triển,

và cũng hoàn toàn khác nhau Mọi người bắt đầu suy nghĩ về lợi ích riêng của mình, dần dần dẫn đến nhưng hành đông, lời nói bất lợi cho người khác, khiến người cảm thấy khó chịu Đó chính

là lòng ích kỉ con người ta có biêt bao tính xấu, nhưng ngẫm cho kĩ thì mọi tính xấu của con người từ một nguồn gốc mà ra Tham lam cũng bắt nguồn từ sự ích kỉ muốn vơ hết về mình Lật lọng , tráo trở cũng bắt nguồn từ sự ích kỉ vì nhằm đến cái lợi riêng cho mình Tự phụ, độc đoán, háo dnh, hiếu thắng lúc nào cũng cho mình là nhất, xem thường người khác cũng chỉ biết có mỗi mình Và chắc chắn rằng: “Khi người chỉ sống vì mình, thì trở thành người thừa với những người còn lại “

Có bao giờ bạn suy nghĩ đến cách sống của mình chưa? Có bao giườ bạn ngồi suy nghĩ rằng mình đã sống, đã cư xử với mjọ người xung quanh như thế nào không? Tôi thì có đấy, nhưng tôi chỉ nghĩ đến nó khi chợt nhận ra rằng mọi người đang tránh xa tôi, đang rời khỏi tôi Tôi thầm trách rằng tại sao lại đối xử với tôi như vậy Chắc hẳn không riêng gì tôi, mà hầu hết mọi người

sẽ nghĩ như thế trước tiên mà quên mất rằng mình đã làm gì họ, đã cư xử như thê snào? Như ông

bà ta đã có câu :” Không có lửa làm sao có khói” Vốn trong người chúng ta không nhiều cũng

có chút ít lòng ích kỉ Người mà lúc nào cũng chỉ nghĩ như kiểu: “Của mình thì giữ bo bo; của ngưòi thì bỏ cho bò nó ăn”, sẽ có lúc bị mọi người xa lánh và loại trừ thành “người thừa”

Con người cũng như một món đồ vậy, không dùng được nưa thì vứt đi Các mối quan hệ trong xã hội như tình bạn, tình yêu, tình làng nghĩa xóm, hay trong các mối quan hệ làm ăn đều phải dựa trên sự bình đẳng, sự chia sẻ, sự đồng cảm, đôi bên cùng có lợi, tôn trong lẫn nhau mới bền vững lâu dài được Không ai ngu ngốc để một người mang bất lợi bên cạnh mình mãi cả Đã là

“thừa” thì mang thêm chỉ cho nặng vai mà thôi Tôi có một cô bạn, từ câu chuyện cô ấy tâm sự với tôi, tôi đã thấm thía được một bài học và đã tự rút ra cho mình Cô ấy khá thân với một người bạn, và cô ấy rất quý người bạn ấy Mọi việc cô ấy luôn nghĩ đến điều có lợi cho cả hai cùng nhận, và cô ấy rất vui khi giúp được người bạn đóNhưng người bạn hững hờ, thiếu quan tâm, không xem trong nhưng gì cả hai đang thực hiện, mới đầu cô ấy nghĩ rằng là do tính cách của người bạn đó như thế nên không để ý mà bỏ qua Nhưng rồi cô ấy chợ nhận ra rằng, mình như một con ngốc, cứ cố gắng trải thảm đỏ để người bạn bước qua cách dễ dàng, đẻ rồi nhận ra chỉ

có mình là người cố gắng, còn người bạn kia chỉ lợi dụng và không hề xen trọng cô ấy, Cuối

Trang 15

cùng cô đã quyết định sẽ tiếp tục công việc mà cả hai đang thực hiện nhưng cô ấy sẽ không trải thảm để người bạn kia bước lên nữa, mà để người bạn tự làm mọi việc của mình, cô ấy sẽ không quan tâm hay giúp gì cho người bạn kia nữa Đối với cô ấy bây giờ người bạn kia chỉ như là một người bình thường thậm chí là mọt người dư trong cuộc sống của mình mà cô ấy muốn vứt bỏ đi Liệu có phải người bạn kia quá ngu ngốc khi để mất một người bạn tốt như vậy luôn sẵn lòng giúp mình Đúng là con người thật phức tạp Thât khó để biết cách sống, thật khó để chiến thắng bản thân Người ta nói, sự nguy hiểm của lòng ích kỉ không thể lường trước được Xã hội càng hiện đạị, thì hạnh phúc gia đình càng dễ bị tan vỡ, tỉ lệ ly hôn càng cao Chỉ bởi con người ta ích

kỉ hơn, nghĩ đến cá nhân mình nhiều hơn Tội nghiệp cho những đứa trẻ thiếu thốn tình cảm và những ám ảnh tinh thần đến suốt cuộc đời Nếu nhưng người tham gia giao thông có ý thức bảo

vệ tính mạng mình và người khác hơn, thì tỉ lệ người bị chết và thương vong trong tai nạn giao thông sẽ không vượt quá tỉ lệ người đã thiệt hại mỗi năm qua hai cuộc chiến tranh mà chúng ta

đã trải qua Nghe thật lạ phải không? Nhưng đó là sự thật đấy Và nếu bớt đi nhưng ham muốn

cá nhân như cờ bạc, nghiện hút Thì cuộc sống bình yên biết bao Sự nguy hiểm của ích không chỉ dừng ở đó Khi biến thành tệ nạn, tham nhũng, nó ảnh hưởng đến cả xã hội Khi những kẻ lợi dụng quyền hành để tham nhũng , chúng không chỉ vô trách nhiệm với cộng đồng mà còn gây mất lòng tin của mình đối với chính quyền, với Nhà nước Tệ hơn nữa ,nó dẫn đến phân biệt chủng tộc, nội chiến, xung đột , chiến tranh, khủng bố khiến bao nhiêu vô tội thiệt mạng Sự ích

kỉ của một con người thôi đã đáng sợ, huống chi là nhiều nhóm người, chỉ vì lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích chung của công đồng, còn khủng khiếp hơn Cuộc sống hiện đại là thế, con người

ta tranh chấp nhau, ganh đua nhau mà sống Đã có nhiều người đã từng nói với tôi rằng, sống phải ích kỉ, phải biết nghĩ cho bản thân trước tiên Tôi rất hiểu câu nói đó Sống luôn phải nghĩ

về bản thân , nhưng không chỉ thế, ta còn phải nghĩ đến nhưng người xung quanh Hãy tưởng tượng nếu như những người bên cạnh ta luôn chỉ sống cho bản thân họ, chỉ biết đến lợi ích của

họ thì liệu thái độ của bạn với họ sẽ như thế nào? Đối với người khác cũng thế thôi, cho dù đó là người tốt đến mcs nào đi chăng nữa , cho dú ta luôn nói tình bạn không tính toán, không quan tâm tới lợi ích gì cả, nhưng ta cũng khong nên quyên đi rằng tình bạn có được nhờ tính cách của nhau nhờ vào sự chân thành của mỗi người, sự bình đẳng trong mối quan hệ Không ai cần một người bạn lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình mà quên đi người khác Trong tình bạn phải có cái tình, cái nghĩa nhưng trong xã hội, trong kinh doanh thì cái tình, cái nghĩa rất lu mờ, đó không? Người được cho là người thừa đối với những người còn lại đấy Người bị cai trừ, bị cô lập, bị tránh xa Điều đó rất khủng khiếp con người không thể sông mà không có bạ bè, không có người thân, không có xã hội Vì thế đừng biến mình thành người thừa mà hãy là người có ích trong gia đình, cho xã hội và trước là cho bản thân

Nếu được vứt đi một tính xấu của con người thì tôi sẽ không ngần ngại vứt đi tính ích kỉ Sống

mở rộng lòng mình sẽ thấy thế giới này thật bao la, rộng lớn, con người ta sẽ thấy thoải mái hơn Tôi luôn ghi nhớ trong lòng câu nói của Bailey: “Khi bạn sinh ra, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười ” Đời sẽ đẹp hơn khi chúng ta sống đẹp hơn!

LÝ TƯỞNG NHƯ NGỌN HẢI ĐĂNG

Những con thuyền đang ngày đêm lênh đênh trên biển cả đều rất cần một ngọn hải đăng để dẫn đường, soi sáng cho chúng tìm đến bền bờ an toàn và b ình y ên Chúng ta cũng vậy, khác chăng ngọn hải đăng của chúng ta chính là lý tưởng sống – nó chắp cánh đưa ta bay cao cùng những ước mơ và chỉ đường cho ta đến bến bờ hạnh phúc của cuộc sống Nhà văn Nga Lép Tôn – xtôi

Trang 16

nói: “ Lý tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống.”

Vậy “lý tưởng sống ” là gì mà lại có tầm quan trọng và sức ảnh hưởng lớn như vậy đối với cuộc sống mỗi con người? Lý tưởng sống là mục đích tốt đẹp mà mỗi con người muốn hướng tới,là lí do,mục đích mà mỗi con người mong mỏi đạt được Người có lý tưởng sống cao đẹp là người luôn suy nghĩ và hành động để hoàn thiện mình hơn,giúp ích cho mình,gia đình xã hội và đất nước Còn “ngọn đèn” là thứ ánh sáng tuy lung linh, huyền ảo nhưng lại có sức toả sáng mạnh

mẽ, nhất là trong đêm tối Nó giống như cô tiên xinh đẹp, tiếp thêm niềm tin và hy vọng, soi sáng và dẫn dắt ta tới thành công “Phương hướng kiên định” là mục tiêu, đích đến đã được xác định rõ r àng và không thể thay đổi “Cuộc sống”, đặc biệt là một cuộc sống đẹp chính là hạnh phúc, là khát khao của mỗi con người khi sống trên thế gian này.Tóm lại, Lép Tôn- xtôi muốn nhắn nhủ chúng ta: Đã làm người cần phải sống có lý tưởng, có mục đích rõ ràng trong cuộc sống Đó chính là điều làm chúng ta khác biệt, tiến hoá so với các loài khác Nếu chúng ta sống không có lý tưởng thì cuộc sống khi đó sẽ rất vô nghiã, không còn đáng sống nữa

Theo em, sống ở đời, ai cũng khao khát hạnh phúc Nó có một ma lực vô hình và mãnh liệt thúc giục chúng ta tìm kiếm Hơn nữa, trong sâu thẳm mỗi con người, không ai không mong ước có được một cuộc sống bình an, vui tươi, không lo âu buồn phiền, không đau khổ oán than, muốn an hưởng sự may lành hơn là bất hạnh, giàu sang hơn là nghèo nàn

V ậy ni ềm h ạnh ph úc l ớn lao nh ất c ủa m ột con ng ư ời l à g ì? Đ ó ch ính l à có một lý tưởng

để theo đuổi, có một lẽ sống cho cuộc đời B ởi l ẽ lý tưởng sẽ hướng dẫn đời họ vượt qua mọi chông gai và can đảm chấp nhận mọi nghịch cảnh, th ử th ách Ch ắc h ẳn b ạn đ ã t ừng nghe c

âu : “ t ồn tai hay kh ông t ồn t ại Đ ó l à m ột v ấn đ ề!” V ậy b ạn đ ã bao gi ờ t ự v ấn b ản th

ân m ình t ồn t ại tr ên đ ời v ì l ý do g ì? Một câu hỏi c ó th ể b ạn xem l à rất dễ nhưng nó c ũng làm cho bạn phải bắt đầu ngồi lại suy nghĩ về bản thân mình Có thể bạn cũng đã t ìm được một mục đích, m ột l ý t ư ởng sống cho riêng mình, đi ều duy nh ất b ạn n ên l àm l à xem lại mục đích, l ý t ư ởng đó có thật sự cao đẹp hay không th ôi Ch úng ta đang c ùng sinh s ống v à l àm

vi ệc trong m ột t ập th ể, c ộng đ ồng n ên l ý t ư ởng s ống c ủa ch úng ta n ên h ư ớng v ề m ọi

ng ư ời, v ề qu ê h ư ơng, đ ất n ư ớc C ó c âu h át n ổi ti ếng c ủa nh ạc s ỹ Tr ịnh C ông S ơn :"Sống ở đời sống cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi " Ý ngh ĩa s âu s ắc m à Tr ịnh C ông S ơn mu ốn g ửi g ắm t ới ch úng ta l à: “hãy mở rộng tấm lòng của bạn với cuộc sống này, với mọi người xung quanh bạn và đừng mong đợi bạn sẽ nhận lại được gì Hãy san sẻ tấm lòng để cuộc sống này đẹp hơn và đừng nghĩ rằng những cái

gì mình đã cho đi là lớn lao mà nó chỉ là những cái gì nhỏ nhoi nhất nhẹ nhàng chỉ để gió cuốn đi ” Qu ả th ật v ậy, ch úng ta c ần ph ải bi ết cho đi! Đ ó c ũng l à m ột ph ần c ủa s ống đ ẹp, c

ủa l ý t ư ởng s ống cao đ ẹp

L ý t ư ởng s ống c ủa m ỗi ng ư ời kh ông c ần ph ải qu á xa v ời hay l ớn lao Quan tr ọng l à ch úng ta ph ải s ống c ó l ý t ư ởng nh ưng n ó ph ải th ực t ế, c ó ý ngh ĩa cao đ ẹp ch ứ kh ông vi

ễn v ông, xa v ời v à th ực hi ện n ó b ằng con đ ư ờng ch ân ch ính Ta s ống cho ta, cho nh ững

ng ư ời ta th ư ơng y êu, cho m ọi ng ư ời V ì v ậy, ch úng ta ch ỉ t ìm th ấy h ạnh ph úc khi “ m ình v ì m ọi ng ư ời” Ch ỉ nh ư v ậy , m ọi ng ư ời m ới c ó th ể v ì m ình M à nh ân ch ứng đi ển

h ình nh ất cho l ý t ư ởng s ống đ ẹp ch ính l à B ác H ồ k ính y êu c ủa ch úng ta L ý t ư ởng c

ủa c ả đ ời Ng ư ời kh ông l à g ì kh ác ngo ài “con đ ư ờng C ách M ạng”, đ em “Đ ộc l ập - T ự

do - H ạnh ph úc” đ ến v ới mu ôn d ân V à Ng ư ời đ ã c ống hi ến tr ọn v ẹn ni ềm tin, c ả cu ộc

đ ời v ì l ý t ư ởng s ống cao đ ẹp đ ó

Ch úng ta c ần t ôn vinh nh ững con ng ư ời s ống c ó l ý t ư ởng cao đ ẹp nh ư B ác nh ưng c ũng

đ ừng qu ên ph ê ph án nh ững k ẻ ăn b ám x ã h ội, s ống kh ông c ó l ý t ư ởng m ục ti êu v ư ơn

Trang 17

l ên trong cu ộc s ống nh ư nh ững đ ư ờng d ây ch ăn d ắt tr ẻ ăn xin đang l àm đau l òng, nh ức

nh ối x ã h ội ta g ần đ ây Đ ó v ừa l à h ành vi v ô nh ận đ ạo, kh ông c ó t ính ng ư ời v ừa l à h ành vi ti êu bi ểu nh ất cho nh ững con ng ư ời s ống kh ông c ó l ý t ư ởng!

B ản th ân l à h ọc sinh, nh ững ng ư ời tr ẻ, n ăng đ ộng c ủa th ế k ỷ 21 hi ện đ ại, nh ững ng ư ời

ch ủ t ư ơng lai đ ất n ư ớc, ch úng ta ph ải sống để xây dựng đất nước, sống vì xã hội vì sự tiến

bộ của nhân loại đ ầu ti ên, ch úng ta c ần phải xác định lý tưởng sống đúng đắn-dự tính về tương lai sẽ cống hiến cho xã hội về những mặt nào Tiếp theo ta cần phải lên kế hoạch học tập, rèn luyện kĩ năng, sức khoẻ, tư tưởng nhằm thực hiện mục đích đó Sau đó, ta phải tích cực tham gia các hoạt động xã hội, chính trị, điều này sẽ giúp cho bản thân hòa nhập cộng đồng.Ta cần phải phát huy những thế mạnh của bản thân, khắc phục các điểm yếu và vân dụng những điều đã học vào thực tế

Rõ ràng lý tưởng là mục đích sống, là ý nghĩa của mỗi cuộc con ng ư ời Lý tưởng quyết định sự thành công trong cuộc sống Lý tưởng dẫn dắt sự nghiệp, tăng thêm sức mạnh cho mọi người để đạt đến thành công trong sự nghiệp Lý tưởng cho ta sức mạnh vượt qua khó khăn và thử thách trong cuộc sống Ch úng ta đ ã th ấu hi ểu l ời nh ắn nh ủ c ủa b ác L ép T ôn - xt ôi! V ậy h ãy c ùng c ống hi ến h ết m ình cho nh ững l ý t ư ởng s ống cao đ ẹp, h ãy theo ch ân Ng ư ời v à c ùng nhau th ực hi ện l ời nh ắn nh ủ thi êng li êng c ủa B ác:” Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó

là nhờ vào công học tập của các em”, tr ở th ành l ớp thanh ni ên kh ông bao gi ờ ch ùn b ư ớc tr

ư ớc nh ững kh ó kh ăn, th ử th ách gian nan nh ư Ng ư ời mong mu ốn

Đạo đức giả luôn có gương mặt hào nhoáng

Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhóang

Từ ý kiến trên anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 600 từ) trình bày suy nghĩ của mình về

sự nguy hại của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống

-

một số gợi ý : Phần thân bài cần trình bày được các ý sau:

* Giải thích đạo đức giả là gì và nội dung của câu nói : Đạo đức giả là một căn bệnh chết người luôn nấp sau bộ mặt hào nhoáng để khẳng định nội dung của câu nói đề cập đến sự nguy hại của thói đạo đức giả Đạo đức giả là tình trạng con người bề ngoài tỏ ra đạo đức nhưng trong ý nghĩ

và trong lòng chứa nhiều âm mưu, thủ đoạn và sự gian trá Đây là một căn bệnh chết người bởi

vì nó góp phần hủy hoại đời sống con người, nó góp phần đẩy những đời người vào tình huống đau đớn và trớ trêu, vào những nghịch cảnh đầy oan khiên

* Phân tích và chứng minh để làm rõ tác hại to lớn của đạo đức giả đối với con người và cuộc sống

+ Hủy hoại phẩm chất tốt đẹp của con người: kẻ đạo đức giả thường là người độc ác, nham hiểm, giả dối

+ Hủy hoại cuộc sống:

_ Biến kẻ đạo đức giả trở thành là một con người bệnh hoạn, nguy hiểm: bên trong một đàng, bên ngoài một nẻo; thực chất con người và biểu hiện bề ngoài khác biệt nhau…

_ Gia đình và xã hội không còn lòng tin cậy, sự hòa hợp, bình an Mọi người luôn phải dè chừng, cảnh giác và đối phó lẫn nhau Chính vì vậy, từ xưa đến nay, người ta luôn lên án sự giả dối: miệng nam mô, bụng một bồ dao găm; bề ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao…

* Bài học cần rút ra:

Trang 18

+ Nhận thức sự nguy hại của đạo đức giả, lối sống đạo đức giả và lên án nó

+ Khẳng định sự cần thiết và giá trị của lối sống trung thực, chân thật

+ Dũng cảm chấp nhận trả giá để sống trung thực, chân thật

Giải thích câu nói của Nguyễn Văn Siêu

+ " Loại không đáng thờ": Văn chương không chân chính, văn chương mà tác giả không xem trọng- "chỉ chuyên chú ở Văn chương" Đây là loại văn chương lấy nghệ thuật làm mục đích, làm động lực, chỉ chú ý chau chuốt về hình thức nghệ thuật (ngôn từ, hình ảnh, nhịp điệu ) mà không quan tâm tới đời sống hiện thực của con người

+ "Loại đáng thờ": Văn chương chân chính, văn chương mà tác giả xem trọng - " chuyên chú ở con người" Đây là những tác phẩm lắy con nguời và đời sống con người làm trọng tâm, mục đích, động lực sáng tác Mọi dụng công nghệ thuật đều được chi phối bởi nội dung hướng tới đời sống con người

+ Quan niệm của tác giả về văn chương:

- Coi văn chương là lĩnh vực tinh thần cao quí để "thờ"

- Văn chương chân chính là văn chương lấy con người làm trung tâm (động lực, mục đích, )

- Nguyễn Văn Siêu không phủ nhận tuyệt đối vai trò của nghệ thuật Tác giả không đồng tình với thứ văn chương "chỉ" chăm chú gò đẽo ngôn từ, lấy nghệ thuật làm mục đích Ngay khi khẳng định quan niệm về văn chương chân chính, ông không nói "chỉ chuyên chú ở con người" mà diễn đạt "chuyên chú ở con người"

Bình luận (Ý kiến của em)

Em có đồng tình với quan niệm của Nguyễn Văn Siêu? Vì sao?

+ Một quan niệm văn chương đúng đắn

- Cơ sở lí luận: Nguồn gốc, mục đích của nghệ thuật, mối quan hệ nhà văn- tác phẩm- hiện thực

- Chứng minh: Phân tích 1-3 ví dụ làm sáng tỏ thế nào là "văn chương đáng thờ"

- Liên hệ với các nhận định tương tự như vậy trong lịch sử phê bình (cổ và kim) Ví dụ: quan niệm "nghệ thuật vị nhân sinh" (Văn học 1932-1945), văn học là nhân học (Gorki)

> Điểm giao thoa của quan niệm về văn chương chân chính Đông- Tây, cổ - kim

+ Phê phán quan niệm văn chương "chỉ chuyên chú ở văn chương"

- Cơ sở lí luận: Nguồn gốc, mục đích của nghệ thuật, mối quan hệ nhà văn- tác phẩm- hiện thực, mối quan hệ nội dung-hình thức

- Liên hệ với các quan niệm nghệ thuật của các trường phái chỉ chú trọng hình thức dẫn đến bế tắc trong sáng tác

Trang 19

+ Trình bày quan niệm của em về một tác phẩm văn chương chân chính (bổ sung, phát triển thêm ý của Nguyễn Văn Siêu)

Một tác phẩm chân chính là tác phẩm "chuyên chú ở con người" (lấy con người làm trung tâm, mục đích, động lực sáng tác) đồng thời có hình thức nghệ thuật mới lạ, độc đáo

-Chứng minh: Lấy ví dụ các tác phẩm nổi tiếng, có sự kết hợp hài hòa giữa nội dung sau sắc hướng vào đời sống con người và hình thức nghệ thuật độc đáo (Truyện Kiều- Nguyễn Du, Chí Phèo- Nam Cao, Những nguời khốn khổ- Victo huygo, Tôi yêu em- Puskin )

- Liên hệ, dẫn một số quan niệm tương tự

Lưu ý:

+ Lấy dẫn chứng: cổ, kim, văn học trong nước- văn học nước ngoài, Đông - Tây

Đề 1: Nhà văn Nga L.Tôn-xtôi nói: “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống” Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò lí tưởng trong cuộc sống con người

Bài làm

Trong cuộc sống, mỗi con người từ khi sinh ra đã là một hành trình tư tưởng Cha mẹ khắc khoải một lí tưởng là con sinh ra được khoẻ mạnh, lớn khôn con là đứa trẻ ngoan ngoãn, giỏi gian, mai kia con trở thành môt người thành đạt Rồi khi con đủ lớn, đủ ý thức để sống cho những lí tưởng riêng của mình Con sẽ trở thành một học sinh xúât sắc, lớn hơn nửa con sẽ là một danh nhân lớn hay là một bác sĩ tài ba, con có cuộc sống riêng cùng một gia đình hạnh phúc Cuộc sống được nuôi dưỡng bằng những lí tưởng Nói cách khác: Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống".( Lép Tôn -xtôi) M ỗichúng ta khi vô tình chạm đến hai chữ "lí tưởng" thì cảm thấy như gặp một cái gì xa vời, không thực tại chút nào Ta cứ nghĩ rằng lí tưởng là cái gì đó vĩ đại như lí tưởng cách mạng của Các Mác- Ăngghen, lí tưởng vô sàn của Lênin Nhưng chúng ta lại không biết rằng lí tưởng lá thực tại, rất đời thường và gần gũi gắn bó bên cuốc sống mỗi chúng ta Hoàn toàn có thể hiểu " lí tưởng là một ngọn đèn", nói dễ hiểu lí tưởng là niềm tin, lòng ao ước mong mõi của mỗi người đặt ra trong cuộc sống Lí tưởng chính là cái mục tiêu phấn đấu Lí tưởng trở thành một phần của cuộc sống, và ví thế cuộc sông sẽ vô vị biết bao nếu thiếu đi "lí tưởng" Theo cách nói của Lép Tôn-xtôi thí lí tưởng là ngọn đèn chí đường, và vì là ngọn đèn chỉ đường nên khi thiếu vắng nó con người ta sẽ dễ lầm lạc, đôi khi chậm trễ trên lô trình của cuộc sống:

"Lí tường là ngọn đèn chị đường Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng thí không có cuộc sống" Hành trình đi đến lí tưởng, phấn đấu theo lí tưởng, cũng như một vận động viên điền kinh đang ra sức chinh phục chặng dường đua của mình.anh chàng vận động viên chỉ biết rằng phía trước, những bước cuối cùng của chăng đường đua là dãi băng gôn về đích anh cố hết sức và lao về trước với một tinh thần sức mạnh thiêng liêng, như mỗi chúng ta đều hướng về lí tưởng của mình Cuộc sống cũng là một chặng đua và nếu chặng đua ấy không có đích đến, không có hướng đi thì chúng ta sẽ đi đâu về đâu Nhưng Lép Tôn-xtôi bảo rằng: " lí tưởng là phương hướng kiên định", đó không có nghĩa rằng lí tưởng

là một khối vật khổng lồ, nặng chịt không bao giờ có thể chuyển dịch Nếu hiểu ngược kiểu ấy chả nhẻ lí tưởng của cuộc sống hiện đại lại là một ông già phong kiến cổ hữu, cùng những đạo luật khắc khe của chế độ xưa.Đó hoàn toàn không phải là lí tưởng Đã là lí tưởng thiêng liêng của một cuộc sống tươi đẹp thì đòi hỏi ở cái khí chất cao đẹp Trong cuộc sống có vô vàng lí tưởng nhưng như thế nào mới là một lí tưởng chính đáng.Lí tượng của một người kinh doanh là làm giàu, nhưng không phải là được làm giàu mọi cách anh ta phải tuân theo khuôn khổ của

Trang 20

pháp luật và trách nhiệm của lương tâm.Lí tưởng của một cậu học sinh là đỗ cao trong kì thi đại học Thế rồi ngày anh đến phòng thi để thực hiện cái lí tượng đó của mình, thì lương tâm, xã hội không bao giờ cho phép anh có quyền làm ngơ khi thấy một ngưòi chết đuối một hành đông đi trái lại pháp luật, trái với đạo lí thì không còn là lí tưởng M ỗibước đi của chúng ta bây giờ đều bước theo những bậc thang của lí tưởng, và luôn luôn có lí tưởng sáng soi chỉ đường Lúc ấy chung ta như những đứa trẻ vô tri được bàn tay người mẹ nâng niu dìu dắt từng bước đi Và khi

ấy nếu không có mẹ, không có lí tưởng con là đứa trẻ bơ vơ, lạc loài, rồi sẽ đi đâu về đâu.Anh muốn chinh phục nốc nhà thế giới, muốn đứng trên đỉnh Everrét dù chỉ là một giây, dùi phải trãi qua ngàn giờ hãi hùng, có lúc tưởng rằng hi sinh cả tính mạng, nhưng vẫn hết mình thực hiện cái

lí tượng của bản thân Nếu một con chị tồn tại như một bản năng, hoạt động như một cái máy, khởi đông thì chạy, hết nhiên liệu thì tắt Ta tự hỏi thế có phải là cuốc sống? Để chứng minh rằng

ta đang sống, đang tồn tại trước tiên ta phải có lí tưởng, và khi đã có lí tưởng ta sẽ có dũng khí làm những gí ta quyết Ngày 5.6.1911, chàng thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành cùng bàn tay trắng xuống tàu buôn ra nước ngoài mang trên mình hàng trang duy nhất là lí tưởng tìm đưỡng cứu nước Giả dụ, nếu không có đủ sức mạnh của lí tưởng thì Bác đã không bao giớ có can đảm ra đi Chính vì thế ta hãy sống, và thực sự sông khi đã có lí tưởng riêng của bàn thân Xuân Diệu thì mài mê với lí tưởng:

" Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt Còn hơn ngồi buồn le lói suốt trăm năm."

Cám ơn nhà thơ đã đem đến một quan niệm mới về lí tưởng của cuộc sống Chắc hẳn,chúng ta

ai cũng biết Xuân Diệu là một nhà thơ khát khao giao cảm với đời, yêu đời một cách tha thiết nhất Chính vì thế nhà thơ đem hết trái tim của mình cống hiến cho cuộc sống này, cho lí tưởng sống tràn đầy yêu thương Xuân Diệu mong muốn được sống chân thành với lí tưởng của riêng ông, được hiến dâng cả cuộc đời để đổi lấy " 1 phút huy hoàng" , đó là giây phút cháy bổng của một tâm hồn sống trong lí tưởng Đông thời nhà thơ, nhà thơ cũng muốn gửi gắm lí tưởng sống

ấy cho mọi người trong cuốc đời Sống phải sống sao cho đáng sống, phải đem hết dũng cảm để sống cho cái lí tưởng của mình, để từ đó tìm ra phương hướng đi theo tiếng gọi của "lí tưởng" như L.Tôn-xtôi đã khẳng định " không có lí tưởng thì không có phương hướng, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống" Nhưng thử hỏi có mấy ai có đủ dũng cảm để sống hết mình, sống một cách trọn đấy cho lí tưởng Chắc hẳn, chúng ta - những người con của dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên và cũng không bao giờ được quên người thiếu nữ đã chết cho

"mùa hoa lê-ki-ma nở, ở quê ta vùng Đất Đỏ", và chết cho đời sau Nữ anh hùng Võ Thi Sáu đã dâng cả cuộc đời mình cho dân tộc, cho tổ quốc yêu thương và cũng cho riêng lí tưởng sống của chị, khi mới trọn đầy cái tuổi 16 Tôi không so sánh bạn, cũng như không dám so sánh mình với

lí tưởng cháy bỗng yêu thương của tâm hồn thi sĩ Xuân Diệu, với lí tưởng cách mạng cao cả của

nữ anh hùng, liệt sỉ Võ Thị Sáu Qua đó, tôi chỉ có thể khẳng định rằng mỗi chúng ta đều có thể gắng hết sức vì lí tưởng sống của bán thân mình để thật sự có một phương hướng sống, phương hướng để tồn tại Cũng như từ đầu vẫn nói, lí tưởng khônh hề xa vời,lí tưởng l2 đoạn đường, là lối đi gắn bó với chúng ta trong suốt cuộc đời M ộ t lần nữa xin chân thành cảm ơn L.Tôn-xtôi

đã đem đến cho chúng ta cái nhìn tổng quát vế lí tưởng:"Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường Không

có lí tưởng là không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng kiên định thì không có cuộc sống" Con đường hôm qua, hôm kia của tôi, của bạn, của tất cả chúng ta đều đã lùi vào quá khgứ một cách mờ nhạt và tiếp tục nhạt nhoà Nhưng con đường của hôm nay và của ngày mai còn tuỳ tôi, bạn, chúng ta đi như thế nào, chọn lựa "ngọn đèn lí tưởng " nào, đi theo phương hướng nào, để tiếp tục phát triển và đi lên cùng với sự thăng hoa của "ánh sáng lí

tưởng”

Trang 21

TỔNG HỢP NHỮNG ĐỀ VĂN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC

TÁC PHẨM VĂN HỌC CHƯƠNG TRÌNH LỚP 11

I) HAI ĐỨA TRẺ (Thạch Lam)

Thạch Lam

Thạch Lam (1910-1942) là một nhà văn Việt Nam nổi tiếng thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn Ông cũng là em ruột của 2 nhà văn khác nổi tiếng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ

Thạch Lam sinh ngày 7 tháng 7 năm 1910 tại Hải Dương, nhưng nguyên quán ở làng Cẩm Phô, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam) Cha ông là Nguyễn Tường Nhu (1881-1918), thông thạo chữ Hán và chữ Pháp, làm Thông phán Tòa sứ nên thường được gọi là Thông Nhu hay Phán Nhu Mẹ là bà Lê Thị Sâm[2], con gái cả ông Lê Quang Thuật (tục gọi Quản Thuật), người gốc Huế đã ba đời ra Bắc, làm quan võ ở Cẩm Giàng cùng thời với Huyện Giám (ông nội Thạch Lam)

Thạch Lam là người con thứ 6 trong gia đình 7 người con (6 trai, 1 gái): Tường Thụy, Tường Cẩm, Tường Tam, Tường Long, Thị Thế, Tường Vinh và Tường Bách Trừ người anh cả

Nguyễn Tường Thụy làm công chức, những người còn lại đều đã ít nhiều tham gia vào sự nghiệp văn chương, nổi bật trong số đó là Tường Tam (Nhất Linh), Tường Long (Hoàng Đạo) và Tường Vinh (Thạch Lam)

Nguyên tên ban đầu của ông do cha mẹ đặt là Nguyễn Tường Sáu, vì ông là con thứ sáu trong nhà Khi bắt đầu đi học ở trường huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), bố mẹ ông làm lại khai sinh cho con là Nguyễn Tường Vinh Đến năm Thạch Lam 15 tuổi, thấy mình học chậm, cần tăng thêm tuổi để học "nhảy" 4 năm, ông làm lại khai sinh lần nữa, thành Nguyễn Tường Lân.[3]

mẹ ông đã đưa cả nhà đi theo người con cả, nên Thạch Lam đến học ở Tân Đệ

Nhưng ở đây được một năm, làm vẫn không đủ cho các miệng ăn, mẹ ông dẫn các con (trừ Nguyễn Tường Thụy) về Hà Nội ở nhà thuê, rồi cứ thế lúc thì ở Hà Nội, lúc thì ở Cẩm Giàng Muốn sớm đỡ đần cho mẹ, Thạch Lam đã nhờ mẹ nói khéo với ông Lý trưởng cho đổi tên và khai tăng tuổi để học ban thành chung Tiếp theo, ông thi đỗ vào Cao đẳng Canh Nông ở Hà Nội, nhưng chỉ học một thời gian, rồi vào trường Trung học Albert Sarraut để học thi Tú tài

Trang 22

Bước vào nghiệp văn

Khi đã đỗ Tú tài phần thứ nhất, Thạch Lam thôi học để làm báo với hai anh Buổi đầu, ông gia nhập Tự Lực văn đoàn do anh là Nguyễn Tường Tam sáng lập, rồi được phân công lo việc biên tập tuần báo Phong hóa và tờ Ngày nay của bút nhóm này Đến tháng 2 năm 1935, thì ông được giao làm Chủ bút tờ Ngày nay

Khoảng năm 1935, Thạch Lam lấy vợ và được người chị (Nguyễn Thị Thế) nhường lại căn nhà nhỏ tại đầu làng Yên Phụ, ven Hồ Tây (Hà Nội) cho vợ chồng ông ở

Tuy chỉ là một mái tranh vách đất, thế nhưng "nhà cây liễu" là nơi thường lui tới của các văn nghệ sĩ Ngoài các thành viên trong Tự Lực văn đoàn, còn có: Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Huyền Kiêu, Nguyễn Xuân Khoát

Ngôi sao sớm tắt

Một tuổi thơ nhọc nhằn cộng với cuộc sống lao lực vì miếng cơm manh áo đã làm Thạch Lam sớm mắc căn bệnh lao phổi, một căn bệnh nan y thời bấy giờ Ông mất tại "nhà cây liễu" vào ngày 27 tháng 6 năm 1942, lúc mới 32 tuổi, khi đang còn trong độ tuổi rực rỡ trên văn đàn Thạch Lam có ba người con, hai trai một gái: Nguyễn Tường Nhung (sau này là vợ của trung tướng Ngô Quang Trưởng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa trước đây), Nguyễn Tường Đằng,

và trước vài ngày khi ông mất, vợ ông sinh thêm con trai mà sau này là nhà văn Nguyễn Tường Giang Ông ra đi để lại người vợ trẻ cùng với ba đứa con thơ trong cảnh nghèo Gia đình đã an táng ông nơi nghĩa trang Hợp Thiện, nay thuộc quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội Theo nhà văn Băng Sơn thì sau khi Thạch Lam mất, vợ và các con ông có về sống ở Cẩm Giàng với bà Phán Nhu một thời gian rồi vào Nam

Tác phẩm

Hầu hết sáng tác của Thạch Lam được đăng báo trước khi in thành sách Tác phẩm gồm có:

Gió đầu mùa (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1937)

Nắng trong vườn (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1938)

Ngày mới (truyện dài, Nhà xuất bản Đời nay, 1939)

Theo giòng (bình luận văn học, Nhà xuất bản Đời nay, 1941)

Sợi tóc (tập truyện ngắn, Nhà xuất bản Đời nay, 1942)

Hà Nội băm sáu phố phường (bút ký, Nhà xuất bản Đời nay, 1943)

Và hai quyển truyện viết cho thiếu nhi:Quyển sách, Hạt ngọc Cả hai đều do Nhà xuất bản Đời Nay ấn hành năm 1940

Đôi nét về nhân cách

Nhà văn Thế Uyên (con trai bà Nguyễn Thị Thế, cháu gọi Thạch Lam là cậu), trong bài Tìm kiếm Thạch Lam, có đoạn:

Trang 23

Mẹ tôi bảo chú Thạch Lam mơ mộng, tế nhị, đa cảm, thì thủa nhỏ đã thế Và chính ở đây (trại Cẩm Giàng) những người đàn ông ngồi uống trà, hút thuốc, nói chuyện tâm đắc Có khi bàn chuyện văn chương, báo chí, có thể là chuyện cải cách dân tộc Thường trong lúc ấy, Thạch Lam ngồi trong đám bạn văn thơ, bởi tính cách Thạch Lam chỉ có thế

Nhà văn Vũ Bằng kể lại:

Thạch Lam yêu sự sống hơn bất kỳ ai Anh quý từ cốc nước chè tươi nóng, trang trọng đưa lên miệng uống một cách gần như thành kính như thể cảm ơn trời đất đã cho mình sống để thưởng thức ngon lành như vậy Anh cẩn thận từng câu nói với cô bán hàng vì sợ lỡ lời khiến người ta tủi thân mà buồn Thạch Lam đi đứng nhẹ nhàng… Anh là một người độc đáo có tài lại khiêm nhường, người nhỏ mà nhân cách lớn

Có lần Thạch Lam nói: Xét cho cùng, ở đời ai cũng khổ Người khổ cách này, người cách khác

Bí quyết là biết tìm cái vui trong cái khổ Vì chỉ sống thôi cũng đã quý lắm rồi Người ta không bao giờ nên phí phạm cái sống, coi thường sự sống

Một lần, Thạch Lam cho tiền một đứa trẻ bán lạc rang bị cướp mất tiền, tôi nhắc khéo là có thể bị đứa trẻ đánh lừa, Thạch Lam trả lời: Bị lừa hay không, cái đó không quan hệ lắm Mình cần làm một việc xét ra phải làm, theo ý mình

Tháng 2 năm 1935, Thạch Lam được giao quản trị báo Ngày nay Một nhà thơ, vì cảnh nhà túng quẫn, cứ đến gặp ông xin tạm ứng tiền nhuận bút Nhưng bạn vay 10 mà trả bài có 3 Có người nhắc ông sao không chặn lại, ông vẫn cho tạm ứng và bảo rằng: Chẳng ai muốn làm một việc như thế, người ta không còn con đường nào khác mới phải làm như vậy Nếu không giúp đỡ, họ sống ra sao?

Và mặc dù là người nghèo nhất trong gia đình (nhà tranh vách đất, thậm chí cái mền không có tiền mua), Thạch Lam vẫn thường mời bạn văn đến chơi nhà và thiết đãi tận tình Khúc Hà Linh cho biết:

Thạch Lam nghèo một phần vì sách của ông bán ế, nhưng không vì thế mà người vợ hiền thục kém mặn mà với khách của chồng Những bữa rượu cứ tiếp diễn, và bao giờ Thạch Lam cũng mời mọc thịnh tình cho đến khi thực khách say mềm Trong lúc chè chén, có khi sinh sự ồn ào, những lúc ấy Thạch Lam vẫn chỉ điềm nhiên nâng chén, không nói lớn, mà chỉ cười

Sự nghiệp văn chương của Thạch Lam

Là thành viên của Tự Lực văn đoàn, nhưng khác với Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng ngòi bút của Thạch Lam có khuynh hướng đi gần với cuộc sống của những người dân bình thường nghèo khổ

Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn chương của ông, Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam có đoạn viết:

Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, hay ghi lại cảm xúc của mình trước số phận hẩm hiu của những người nghèo, nhất là những người phụ nữ trong xã hội cũ, sống vất vả, thầm lặng, chịu đựng, giàu lòng hi sinh ("Cô hàng xén") Có truyện miêu tả với lòng cảm thông sâu sắc một gia đình đông con, sống cơ cực trong xóm chợ ("Nhà mẹ Lê") Có truyện phân tích tỉ mỉ tâm lí phức tạp của con người ("Sợi tóc") "Ngày mới" đi sâu vào nội tâm của một cặp vợ chồng trí thức nghèo Chưa có truyện nào có ý nghĩa xã hội rõ nét như các tác phẩm của các nhà văn hiện

Trang 24

thực phê phán "Theo giòng" là một thiên tiểu luận viết kiểu tuỳ bút, ghi lại suy nghĩ của ông về nghệ thuật tiểu thuyết, có những ý kiến hay, nhưng chưa đi sâu vào khía cạnh nào Cuốn "Hà Nội

ba sáu phố phường" có phong vị đậm đà của quê hương xứ sở, lại rất gợi cảm Văn Thạch Lam nhẹ nhàng, giàu chất thơ, sâu sắc, thâm trầm, thường để lại một ấn tượng ngậm ngùi, thương xót.[9]

Trong "Lời nhà xuất bản Văn học" (khi in lại tác phẩm "Gió đầu mùa" năm 1982) cũng có đoạn viết như sau:

Giới thiệu tập truyện ngắn "Gió đầu mùa" xuất bản trước Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam viết: "Đối với tôi văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo

và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn"

Có thể coi đoạn văn ngắn nói trên như là "Tuyên ngôn văn học" của Thạch Lam Và quả thật, trong toàn bộ gia tài sáng tạo của Thạch Lam, hầu như không một trang viết nào lại không thắm đượm tinh thần đó Là thành viên của nhóm Tự Lực văn đoàn, song trước sau văn phong Thạch Lam vẫn chẩy riêng biệt một giòng Đề tài quen thuộc của nhóm Tự Lực văn đoàn là những cảnh sống được thi vị hóa, những mơ ước thoát ly mang mầu sắc cải lương, là những phản kháng yếu

ớt trước sự trói buộc của đạo đức phong kiến diễn ra trong các gia đình quyền quý Thạch Lam, trái lại, đã hướng ngòi bút về phía lớp người lao động bần cùng trong xã hội đương thời Khung cảnh thường thấy trong truyện ngắn Thạch Lam là những làng quê bùn lầy nước đọng, những phố chợ tồi tàn với một bầu trời ảm đạm của tiết đông mưa phùn gió bấc, những khu phố ngoại ô nghèo khổ, buồn, vắng Trong khung cảnh ấy, các nhân vật cũng hiện lên với cái vẻ heo hút, thảm đạm của số kiếp lầm than - Đó là mẹ Lê, người đàn bà nghèo khổ, đông con, góa bụa ở phố chợ Đoàn Thôn, là bác Dư phu xe ở phố Hàng Bột, là Thanh, Nga với bà nội và cây hoàng lan trong một làng quê vùng ngoại ô, là cô Tâm hàng xén với lối đường quê quen thuộc trong buổi hoàng hôn Tất cả những cảnh, những người ấy đều được mô tả bằng một số đường nét đơn sơ, thưa thoáng nhưng vẫn hết sức chân thực

Tác phẩm của Thạch Lam vì thế có nhiều yếu tố hiện thực tuy nhân vật không dữ dội như Chí Phèo, lão Hạc của Nam Cao, hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố Cái riêng, cái độc đáo, cái mạnh của Thạch Lam, chính là ở lòng nhân ái, và vẻ đẹp tâm hồn quán xuyến trong mọi tác phẩm của ông Nhân vật Thạch Lam, bất luận ở hoàn cảnh nào, vẫn ánh lên trong tâm hồn cái chất nhân ái Việt Nam Đọc truyện ngắn Thạch Lam rõ ràng ta thấy yêu con người, quý trọng con người hơn Và cũng từ đó ta thương cảm, nâng niu, chắt gạn từng chút tốt đẹp trong mỗi một con người

Trích thêm nhận xét của:

Nhà văn Nguyễn Tuân:

Lời văn Thạch Lam nhiều hình ảnh, nhiều tìm tòi, có một cách điệu thanh thản, bình dị và sâu sắc…Văn Thạch Lam đọng nhiều suy nghiệm, nó là cái kết tinh của một tâm hồn nhạy cảm và tầng trải về sự đời Thạch Lam có những nhận xét tinh tế về cuộc sống hàng ngày Xúc cảm của Thạch lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với tầng lớp dân nghèo thành thị và thôn quê Thạch Lam là nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước cuộc sống của mọi người chung quanh Ngày nay đọc lại Thạch lam, vẫn thấy đầy đủ cáo dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học

Trang 25

Nhà văn Vũ Ngọc Phan:

Ngay trong tác phẩm đầu tay (Gió đầu mùa), người ta đã thấy Thạch Lam đứng vào một phái riêng Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỷ mỷ những cái rất nhỏ và rất đẹp Phải là người giàu tình cảm lắm mới viết được như vậy

GS Phong Lê:

Thạch Lam có quan niệm dứt khoát về thiên chức của văn chương: "Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn"

Có lẽ cả hai phương diện, vừa tố cáo, vừa xây dựng, đều được Thạch Lam chú ý; và trong phần thành công của nó, các dấu ấn hiện thực và lãng mạn trong văn Thạch Lam đều tìm được sự gắn nối ở chính quan niệm này

Ở tư cách nhà văn, Thạch Lam đòi hỏi rất cao phẩm chất trung thực của người nghệ sĩ Ông viết:

"Sự thành thực chưa đủ cho nghệ thuật Có thể, nhưng một nhà văn không thành thực không bao giờ trở nên một nhà văn giá trị Không phải cứ thành thực là trở nên một nghệ sĩ Nhưng một nghệ sĩ không thành thực chỉ là một người thợ khéo tay thôi"

PGS Nguyễn Hoành Khung:

Tình cảm của Thạch Lam chân thành, tuy nhiên, ông chỉ mới băn khoăn, thương cảm đối với

số phận người nghèo qua những câu chuyện mang một dư vị ngậm ngùi, tội nghiệp

Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái "tôi", với

sự phân tích cảm giác tinh tế

Sáng tác của Thạch Lam giàu chất thơ, và đọc ông, đời sống bên trong có phong phú hơn, tế nhị hơn; chúng "đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm tho và mát dịu" (Nguyễn Tuân) Ông là cây bút có biệt tài về truyện ngắn Nhiều truyện ngắn của ông dường như không có cốt truyện, song vẫn có sức lôi cuốn riêng Truyện dài "Ngày mới" của ông không có gì đặc sắc về tư tưởng và nghệ thuật

Khúc Hà Linh (Hiệu trưởng Trường Văn hóa nghệ thuật Hải Dương):

Thạch Lam có những tháng năm sống nơi thôn dã, nên trong tác phẩm ông chất chứa nhiều hình bóng con người và đời sống làng quê Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế Văn ông hài hòa giữa lãng mạn và chân thực, mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc Thạch Lam không chỉ nổi tiếng về truyện ngắn, ông còn thành công trong thể loại bút ký "Hà Nội băm mươi sáu phố phường" gồm nhiều mẩu văn ngắn mà sinh động, thể hiện vốn sống phong phú và tài hoa của ông

Trang 26

Năm 1996, ở Cẩm Giàng có một con đường mang tên Thạch Lam Đây là một việc làm mạnh dạn, là cách trân trọng văn chương hiếm thấy tại thời điểm lịch sử lúc bấy giờ

Hiện nay, truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (in trong tập truyện "Nắng trong vườn") của ông đang được giảng dạy tại lớp 11 trong hệ thống giáo dục Việt Nam

Một số tư liệu liên quan :

Hành Trình Cảm Giác

Nếu Thạch Lam là họạ sĩ,

Nếu Thạch Lam là nhạc sĩ,

Nếu Thạch Lam là nhà thơ,

Thật ra Thạch Lam có thể là cả ba, bởi nhà văn ấy ngắt câu bằng màu, chấm câu bằng nốt nhạc, chuyển đoạn bằng hình ảnh Thử ngắm và nghe bức tranh Thạch Lam vẽ Nắng trong vườn, một bức tranh rất tầm thường, nhìn qua ta có cảm tưởng như ai cũng có thể viết được:

" tôi thong thả theo con sông Cống, chạy khuất khúc lên giữa các đồi Một cái cầu gỗ mong manh bắc qua sông Hai rặng thông từ trên đỉnh đồi chạy xuôi xuống tận gần bờ, giữa luồng gió thoảng và cái tiếng rì rào như nhớ nhung của lá thông trái gió nhắc tôi nghĩ đến những cảnh rộng rãi, bao la

Buổi chiều rất êm ả Về phía tây, mây trời rực rỡ những màu sáng lạn và ánh nắng chiều loáng một khúc sông, trông như một giải vàng nổi lên giữa đồi ruộng đã bắt đầu tím lại Một đàn chim

đi ăn về vút bay qua ngang đầu, tiếng cánh vỗ rào rào như trận mưa; tôi ngửng lên nhìn theo đến khi cái vết đen linh động của đàn chim lặn hẳn với chân mây." (Nắng trong vườn, in lại tại Hoa

Kỳ, trang 8)

Ngòi bút vờn phác một dòng sông, có cầu gỗ bắc ngang, chấm phá thêm hai rặng thông từ trên đỉnh đồi chạy xuống, rồi điệu nhạc thầm nổi lên với âm chìm của tiếng thông "trái gió", tiếng nắng chiều "loáng" trên sông, họa cùng âm nổi trong tiếng chim vỗ cánh "rào rào" như mưa, tiếng chim "lặn" vào chân mây tất cả nhịp nhàng giao hoà trong thanh lặng, như thể cây cọ vẽ đến đâu, nhạc đệm len lỏi đến đấy, nhạc thoát ra từ thanh âm thầm kín của những con sông chạy khuất khúc, những cây thông chạy từ đỉnh đồi xuống bờ sông, những lá thông trái gió/ nắng chiều loáng/ đồi ruộng tím lại/ đàn chim vụt bay/ cánh vỗ rào rào như mưa, cho đến lúc vết đen của đàn chim lặn hẳn nhạc cũng chìm vào chân mây

Vậy mà dường như Thạch Lam không làm văn cũng không tả cảnh, ông chỉ đơn thuần ghi lại hành trình cảm giác Ðối với ông, những ngõ dẫn con người ra khỏi trạng thái bình thường, tầm thường, để đến với những gì khác thường, có thể thay đổi toàn diện mạch sống, đôi khi phát xuất

từ những cơ nguyên rất nhỏ như một tia nắng, vài cụm mây, mấy giọt sương, đôi mắt ngây thơ của đứa trẻ, tia lửa hồng trong lò sưởi vô vàn hạt châu vây quanh quanh chúng ta, nhưng chúng

ta không thấy, chúng ta vô tình dẫm lên, quay lưng lại Thạch Lam lặng lẽ nhặt lên "từng hột sáng" ấy, dẫn chúng ta trở về lối cũ, dưới gốc hoàng lan, hưởng lại những mùi xưa, mùi tuổi thơ,

Trang 27

mùi quê hương đã tàn phai trong trí nhớ truân chuyên phủ nhiều bụi bặm chua chát của trưởng thành Nhà văn bảo chúng ta thử "ngửi cái mùi cát, mùi đất, lẫn mùi khói rác người ta đốt ở đầu làng buổi chiều, theo gió với sương mà tràn vào trong phố." rồi Thạch Lam mách chúng ta nghe

"tiếng tích tắc đều đều kêu se sẽ cái sống ban đêm của giây cót thép", cho ta biết "nước giữ cái mát của đêm trên mặt, và cây hồng giữ cái mát của đêm trong kẽ lá", tất cả những thứ đó tạm gọi

là những "thủ pháp" sống, tiếng Pháp có chữ "truc", láu hơn; và những nhân vật của Thạch Lam đầy những "truc" nhỏ như thế, Bính (trong Buổi sớm) cảm thấy "cái yên" và cái mát" gặp nhau trong giác quan "thứ sáu" của mình: "yên tĩnh và mát quá, một cái yên tĩnh mát hay một cái mát yên tĩnh chàng cũng không biết nữa" (trang 116), Bính còn nhận ra cả "cái chấm đỏ thắm như màu mệt của một ngọn đèn lục lộ treo giữa lối, lặng chiếu từ đầu xa" (trang 116)

Phải thính và tinh lắm mới nhìn được những màu sắc như thế, nghe được những tiếng động như thế, hoặc bắt gặp được "đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần" như thế (trang 102)

Với giác quan "thứ sáu", Thạch Lam hay "chú sáu" có khả năng làm cho cái tĩnh trở thành cái động, cái động trở thành cái tĩnh, đôi khi cả tĩnh lẫn động cùng lên tiếng một lúc trong cõi giác

vô âm: giác quan bí mật của nhà văn cộng hưởng với óc tưởng tượng của chúng ta; và để tạo nhạc, nhà văn không cần đến những tiếng động có sẵn, ồn ào bên ngoài

Âm thanh, màu sắc, hương thơm, thoảng táp vào ngũ quản những bước âm thầm Thạch Lam đã tìm ra con đường huyền bí nối liền thiên nhiên và con người, những huyền bí ấy đôi khi ta cảm thấy, nhưng không thể nói ra, không thể diễn tả một cách chính xác Cuộc đi của Thạch Lam bao giờ cũng mở đầu bằng một ngẫu nhiên hết sức tầm thường:

"Gần hết mùa hè Tôi không rời bỏ Hà Nội một cách đột nhiên Buổi sớm kia, khi trở dậy trong căn phòng nhà trọ, tôi thấy ánh nắng rực rỡ xuyên qua các khe lá đến nhẩy múa trên mặt tường Trời trong và gió mát quá, khiến tôi chợt nhớ đến cánh đồi, ruộng ở chỗ ông Ba ở mà đã lâu năm tôi chưa về thăm." (Nắng Trong Vườn, trang 7)

Ðó là lối kết hợp ngẫu nhiên và thiên nhiên, một bí quyết nghệ thuật thường thấy trong tác phẩm của Thạch Lam: Hôm nay trời nắng, nẩy ra ý đi chơi, từ đó sinh ra bao "sự" khác: gặp lá, gặp hoa, gặp người Hôm nay trời mưa, giở quyển sách cũ ra đọc, lạc lối đến một chỗ khác, vào những quanh co rắm rối khác của tư tưởng

Bên kia sông, quê tác giả, qua con cầu gỗ, có một chốn bí mật gọi là bến Sen, cậu sáu hồi đó muốn sang khám phá lắm nhưng chưa dám Tình cờ có anh bạn ở bên Sen xin vào học cùng trường Thế là có dịp sang chơi bên Sen, gặp và yêu chị Thúy Bà Cả (trong Ðứa con) là một người đàn bà không có con, keo kiệt và đanh ác Bỗng một hôm được bế một đứa bé kháu khỉnh, lòng dịu đi, bà thay đổi thái độ, trở nên rộng rãi gần như nhân từ Chỉ cần một chút than hồng, khơi thêm ngọn lửa trong lò sưởi, Vân (trong Bóng người xưa) đã thấy hiện lên hình ảnh một người vợ khác - người đàn bà trẻ chàng đã yêu ngày xưa - khác hẳn người vợ già mà chàng luôn luôn dày vò và hành hạ bây giờ Ðổi hẳn cách sử xự với vợ, từ lãnh đạm tàn ác chàng trở lại với

âu yếm săn sóc Chỉ cần một hôm dậy sớm, tiếp nhận "cái yên tĩnh mát" của buổi sáng và "một thứ ánh sáng lạnh và biêng biếc như thiếc mới" là Bính thấy "máu bắt đầu chẩy mạnh như xô

Trang 28

nhau đi đón khí trời trong" và chàng đã tìm lại được "buổi sáng" mà từ lâu, sống đời trác táng giang hồ, chàng đã "quên không biết buổi sáng thế nào"

Thạch Lam khác với những người cùng thời, kể cả các anh Trong khi mọi người thi nhau viết tiểu thuyết luận đề, hoặc hiện thực xã hội, với những mục đích chính xác: lên án xã hội hoặc cổ

vũ quần chúng theo con đường mới Thạch Lam cũng muốn "tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác" đấy, như ông viết trong "Lời nói đầu" tập Gió đầu mùa, nhưng Thạch Lam không cải thiện, giáo huấn mà ông nhờ thiên nhiên, nhờ tình cờ nói hộ để gián tiếp "gơị ý" cho ta biết chỉ một "sự" cỏn con như vậy cũng có thể thay đổi định mệnh con người; ta có thể sống cao hơn, nhân ái hơn, tại sao không nghĩ ra? Và tất cả chỉ chênh vênh trên một "sợi tóc", ai cũng có thể "làm nên" hay "làm xuống" những truyện tầy đình Từ chối chỉ đạo mà chỉ gợi ý, Thạch Lam

đã làm công việc của một nhà thơ trong văn và ông coi ngẫu nhiên như một tất yếu của cuộc sống

Trích từ

“Thạch Lam” của Thụy Khuê

Nhận định về truyện ngắn của Thạch Lam - Mỗi truyện ngắn là một bài thơ trữ tình đầy xót thương

Trên văn đàn văn học Việt Nam trước cách mạng tháng tám, Thạch Lam chưa được xếp ở vị trí

số một nhưng cũng là một tên tuổI rất đáng coi trọng và khẳng định, Thạch Lam tuy có viết truyện dài nhưng sở trường của ông là truyện ngắn, bởI ở đó tài năng nghệ thuật được bộc lộ một cách trọn vẹn, tài hoa Nguyễn Tuân viết : “Nói đến Thạch Lam ngườI ta vẫn nhớ đến truyện ngắn nhiều hơn là truyện dài” Đóng góp của Thạch Lam không chỉ ở nghệ thuật mà nó còn giúp

ta thanh lọc tâm hồn : “ MỗI truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam cũng là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” như thế Thạch Lam tuy

có chân trong Tự lực Văn đoàn nhưng tư tưởng thẩm mĩ lạI theo một hướng riêng Ông xây dựng cho mình một thế giớI nhân vật khác Ông lặng lẽ hướng ngòi bút của mình về phía những ngườI nghèo khổ vớI tấm lòng trắc ẩn chân thành? ( Phong Lê ) Thế giớI nhân vật là những lớp ngườI nghèo khổ cơ cực bế tắc nói chung, những nhân vật của Thạch Lam thật nhỏ bé và tộI nghiệp:

Họ thường nép mình trong bóng tốI của một không gian hẹp thường là nơi phố huyện tiêu điều,

xơ xác hoặc những xóm nghèo ngoạI ô Hà NộI Nhân vật của ông chủ yếu là con ngườI thân phận, họ thường tìm kiếm nơi ẩn nấu trong gia đình, giữa bốn bức tường hoặc trong sân vườn, có nghĩa là tách khỏI cuộc đờI, nơi xã hộI đầy bất trắc bên ngoài Có lẽ như thế con ngườI mớI cảm nhận hết về mình và về cuộc sống xung quanh Dường như họ thu mình trước thực tạI để xót mình và thương ngườI, để bâng khuâng man mác khi hồI tưởng về quá khứ? Không dám nhìn về tương lai, mang nặng một mặc cảm mờ mịt trong lòng khi nghĩ về mai sau

Cảm quan trong truyện của Thạch Lam có thể gói gọn trong ba chữ đó là niềm xót thương Những con ngườI nhỏ bé ấy bao giờ cũng được nhà văn học trong một không khí trữ tình đầy mến thươngtoả ra một cách dịu dàng từ tấm lòng tác giả

Trang 29

Truyện của Thạch Lam không có cốt truyện đặc biệt, giọng điệu và ngôn ngữ nhiều chất trữ tình: MỗI truyện ngắn của Thạch Lam có cấu từ và giọng điệu như một bài thơ trữ tình, gợI sự thương xót trước số phận của những con ngườI nhỏ bé bất hạnh Một giọng văn bình dị mà tinh tế Âm điệu man mác bao trùm hầu hết truyện ngắn và thiên nhiên cũng trữ tình Văn cứ mềm mạI, uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhạc điệu Đó chính là chất thơ trong truyện ngắn Thạch Lam, “có cái dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây” khiến ta vương phải

“ Hai đứa trẻ” là đặc trưng của hồn văn Thạch Lam Nó là “một bài thơ trữ tình đầy xót thương” Truyện “ Hai đứa trẻ” của Thạch Lam là một mẩu chuyện sinh hoạt kéo dài của hai chị em đứa trẻ thay mẹ trông nom một gian hàng vặt ở một phố huyện gần một cái ga xép Đêm đêm những bóng ngườI bình thường cũng lù mù đi qua trước gian hàng Những bóng ngườI ấy cũng lù mù như nhiều chấp lửa ở những nguồn sáng quanh quất nơi phố huyện Trong cái bốn bề chìm chìm nhạt nhạt, bỗng có tiếng động mạnh và những luồng sáng mạnh của một chuyến xe lửa kéo qua hàng ngày Hai chị em ngày nào cũng chờ một chuyến tàu đêm kéo qua ra mớI chịu đóng cửa hàng Nguyễn Tuân đã tóm tắt truyện như thế Đúng vậy, truyện này tưởng như không có cốt truyện, không có biến cố Nó chỉ là biến diễn của một thờI gian ngắn, từ khoảng năm giờ chiều khi “phương tây đỏ rực như lửa cháy” đến chín giờ tốI “đêm tốI bao bọc chung quang”; nó chỉ là biến diễn bên trong “tâm hồn ngay thơ của hai chị em Liên, An trong một buổI tốI của các thường ngày tưởng như “ tẻ nhạt”, “không có gì” … Song vượt lên trên các thường ngày, Thạch Lam bằng con đường nghệ thuật riêng vớI thế giới nghệ thuật riêng, một thờI gian riêng, không gian riêng, nhân vật riêng, ngôn ngữ riêng đã tạo nên khí vị nhẹ nhàng, buồn man mác, đậm đà hương vị đồng quê; nhiều bóng tốI mà chói sáng mốI tình thương yêu hiền hoà, nhân hậu, xót thương chân thành, phảng phất thơ toả lên từ quê hương Truyện không có cốt truyện như chất chứa biết bao cảnh đờI, bao tâm trạng, tâm cảnh sâu lắng tinh tế

Diện mao phố huyện được Thạch Lam tái hiện là một khung cảnh buồn, là cảnh chiều tàn đi dần vào đêm khuya Hàng ngà, những cái ồn ào của buổI sáng làm không khí bị nhoè đi trong nắng như đến chiều thì cái bộ mặt thật của phố huyện hiện ra vớI tất cả những cái tiêu điều, xác xơ, tàn lụi “Chiều chiều rồI” như là một lờI thảng thốt, bàng hoàng như một tiếng thơ dài Thế là một buổI chiều nữa lạI đến, chiều là buồn Ấn tượng về buổI chiều khá sâu đậm Thạch Lam đã chọn một phiên chợ tàn để nói lên được tất cả bộ mặt của phố huyện Chợ là nơi biểu hiện sức sống của một làng quê, biểu hiện thuần phong mĩ tục của làng quê NgườI ở nông thôn thường trông chờ vào ngày chợ phiên đông vui tấp nập Thạch Lam đã chọn ngày chợ phiên để nói cái xác xơ tiêu điều của phố huyện Mặc dù không tả buổi chợ phiên nhưng ông đã tả những phế phẩm còn lạI của buổI chợ, đó cũng là cách biểu hiện sức sống đầy hay vơi của phố huyện Tả những con ngườI cuốI cùng trao đổI vớI nhaurồI bước vào các ngỏ tối Rác chỉ là những thứ phế thảI vớ vẫn “rác rưởI, vỏ bưởI, vỏ thị, lá nhãn và bã mía, những thanh nứa thanh tre…Lũ trẻ vẫn còn ra bòn mót, nhặt nhạnh Ngày chợ phiên như thế thì sức sống đã kém lắm, đã yếu lắm rồi NgườI bán trông vào ngườI mua và ngược lạI nhưng chỉ là sự vô vọng, lẩn quẩn, trông chờ vào

sự vô vọng Mùi vị toả ra trong không gian này là một thứ mùi đặc trưng để nói tớI sự nghèo nàn Đó là mùi bã mía, vỏ bưởI, vỏ thị, đất ẩm, mùi khói, mùi cỏ, mùi phân trâu nồng nồng ngai ngái… Cái mùi vị ấy cũng góp phần làm cho khung cảnh thêm phần tàn tạn héo úa, lụI dần

Có thể thấy xung đột giữa bóng tốI và ánh sáng khá mạnh mẽ Ánh sáng và bóng tốI đang giao tranh nhau Ánh sáng yếu dần ban đầu là “ bầu trờI đỏ rực như lửa cháy, mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” sau đó là bóng tốI hiện dần ở bóng xẩm trên ngọn tre và cuốI cùng bao trùm lên

Trang 30

khu phố huyện là cái bóng tốI mênh mông của nó, tín hiệu là ngọn đèn Hoa Kỳ của chị Tí Ở đây ánh sáng và bóng tốI còn mang ý nghĩa tượng trưng, ánh sáng là ước mơ , bóng tốI là nghèo nàn

và cô đơn; mở đầu chuyện ánh sáng tắt dần, bóng tốI chiếm lĩnh Chính cái ánh sáng cuốI cùng

ấy báo hiệu rõ màn đêm- màn đêm vừa sâu vừa dày sẽ diễn ra tiếp đó Ánh sáng càng ngày càng thu nhỏ phạm vi hoặc ở xa manh mảnh, li ti như ánh sáng của ngôi sao trên bầu trờI hoặc yếu ớt

ảm đạm lọt qua khe cửa khép hờ hoặc toả trên cái bóng tre của chị Tí Ánh sáng ấy biểu hiện một

sự tàn lụI ở cường độ thấp và khả năng thu hẹp của nó Tiếng trống thu không rờI rạc, chậm, lẽ tẻ

và cứ tắt lịm dần Nhưng âm thanh nhỏ nhất như tiếng muỗI vo ve gợI cảm giác về sự ngưng đọng Nó rơi tỏm vào trong không gian đang chết lặng Đó là những âm thanh không có hồI âm,

nó chỉ nhấn mạnh thêm cái buồn tẻ đến rợn ngườI của phố huyện lúc chiều tối Tất cả hô ứng, qui tụ để cho ngườI đọc thấy rõ được khung cảnh thật của phố huyện một ngày tàn Thạch Lam miêu tả nhận xét một cách tinh tế, sâu xa bước đi thờI gian của nơi phố nghèo NgườI đọc dường như thấy được bước chuyển biến của thờI gian rung lên bằng ngôn ngữ riêng Sức rung động của câu văn có khả năng đánh thức con ngườI hãy cảm nhận thật tinh tế khung cảnh phố huyện và tâm sự của Thạch Lam

Trên cái nền ấy, những cảnh đờI, những con ngườI, đúng hơn là những phiến cảnh về cuộc đờI,

về con ngườI bé mọn, hoàn toàn không có ước vọng, khát khao được khắc hoạ rõ nét Họ nói chuyện vớI nhau nhưng dường như chẳng có nộI dung Họ có đi lạI, ăn nói vớI nhau nhưng chỉ thấy họ vừa lòng thoả mãnvớI cảnh chật hẹp Mua chịu nửa bánh xà phòng, bán đong hơn một ngấn rượu trong chiếc cút bé nhỏ …Chị Tí là điển hình cho ngườI dân phố huyện vớI nhịp sống quẩn quanh : ban ngày mò cua bắt tép, ban tốI chị mớI mở cái hàng bán nước Cái đáng sợ là vẫn biết bán không được gì “sớm muộn mà có ăn thua gì?” mà vẫn cứ ra Đây không phảI là sự sống thực sự mà là sự sống cầm chừng cầm cự vớI cuộc sống, giao tranh, tranh giành vớI cái đói,cái chết trông chờ vào những ngườI trên tàu là qua bấp bênh có khác gì trông chờ vào những ngườI khách ấy để sống Cách chị Tí trả lờI câu hỏI của Liên: không trực tiếp trả lờI ngay mà còn làm thêm để chõng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồI mớI chép miệng trả lờI : “ỐI chao, sớm muộn mà có ăn thua gì” Câu văn cho ta thấy nhịp sống chập chạp, lẩn quẩn của nhân vật Bác phở Siêu có vẻ khá hơn nhưng nhưng nguy cơ lạI lớn hơn vì thứ mà bác bán là thứ quà xa xỉ

mà ngay cả chị em Liên cũng không dám ăn Bác Xẩm góp tiếng đàn run bần bật trong đêm tốI,

mà không hề có tiếng động nào của một đồng xu Bà cụ là một con ngườI bị tàn lụI, héo úa và cho ta cảm giác rợn ngườI, kinh hoàng Bà là kiếp ngườI đáng sợ ở chi tiết vừa đi vào bóng tốI vừa cườI khanh khách Cách xưng hô vớI Liên “chị” đã kéo xa khoảng cách tình giữa con ngườI vớI con gnườI vốn nó rất cần trong hoàn cảnh cầm chứng này Cụ Thi điên là một nạn nhân đầy

đủ nhất của kiếp ngườI, như một cái cây đã tàn lụI quá nhiều - kiếp ngườI héo hắt – tàn lụi Cụ Thi xuất hiện chỉ trong mấy dòng truyện ít ỏI nhưng đã ám ảnh ngườI đọc, thức dậy trong ta lòng trắc ẩn chân thành

Ở vị trí tiền cảnh của bức tranh đờI buồn thảm, héo tàn, mờ mờ lay động bóng hai chị em nhỏ tuổI cũng âm thầm không kém vớI cái “cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu” mà khách hàng là những ngườI khốn khổ có khi không đủ tiền mua nổI nửa bánh xà phòng hoặc chỉ đủ tiền cho cút rượu nhỏ “uống một hơi cạn sạch” Liên xót xa cho những kiếp ngườI lay lắt nhưng cuộc sống của Liêncũng cầm chừng không kém NỗI khổ của Liên có lẽ còn cao hơn nỗI khổ vật chất của những ngườI khác, đó là bi kịch tinh thần bởI họ khổ mà không biết mình khổ còn Liên đã thực

sự thấm thía cảnh sống tẻ nhạt tù hãm và đơn độc hết ngày này sang ngày khác Biện pháp duy

Trang 31

nhất để khuây khoả nỗI hắt hiu, đơn điệu chỉ là đêm nào cũng mỏI mắt cố gắng chờ đợI một chuyến tàu đi qua : “đó là hoạt động cuốI cùng của đêm khuya”

Ánh sáng của đoàn tàu là mảng ánh sáng rực rở, mạnh mẻ song ở ánh sáng này cũng chỉ vụt loé lên nhanh như một vì sao băng dể rồI vĩnh viễn tắt lịm trong màn đêm khiến ta phảI ngơ ngác, bàng hoàng Dường như “Hai đứa trẻ” là truyện của những nguồn ánh sáng, hồi tưởng của Liên cũng là hồI tưởng về ánh sáng Lần đầu tiên Liên “nhớ lạI” Hà NộI, một kí ức không rõ rệt, Hà NộI là một vừng sáng rực lấp lánh “và” Hà NộI nhiều đèn quá Lần thứ hai, Liên mơ tưởng “Hà NộI xa xăm” , “Hà NộI sáng rực vui vẻ và huyên náo” Cái cảnh tượngcủa quá khứ đẹp đẽ ấy tương phản gay gắt vớI cái tốI mịt mù dướI gốc bàng của hiện tạI đang diễn ra Quá khứ và hiện tạI, ánh sáng và bóng tốI, lãng mạng và hiện thực, giấc mơ nghèo và sự thật nghèo khổ, tất cả tạo nên biến động sâu kín trong tâm hồn Liên Ánh sáng của đoàn tàu là ánh sángcủa mơ ước, nó chỉ thoáng qua, tắt lịm và để rồI tất cả lạI chìm trong bóng tốI mênh mông, buồn tẻ

Tất cả các nhân vật đó đã hiện ra dướI cái nhìn xót thương của ngườI tái hiện Và nỗI thương cảm của Liên đốI vớI mấ đứa trẻ đi nhặt rác, vớI chị Tí, vớI bác Siêu, vớI cụ Thi điên cũng là cảm xúc của chính Thạch Lam Thạch Lam đã hoá thân vào nhân vật để nói cái cảm quan xót thưong của mình Đoàn tàu vớI thoáng sáng vụt qua rất nhanh rồI tắt lịm đã thay đổI một chút ít không khí của thế giớI hiện tạI, phảI chăng đó là khát vọng thoát khỏI cuộc sống tù đọng dù chỉ trong chốc lát của Thạch Lam Nhà văn day dứt về một kiếp sống tàn lụI, héo úa, đơn điệu, hư vô chứ không chỉ có xót thương thông thường Chính vì vậy mà ông trình bày hiện thực của phố huyện mang ý nghĩa khái quát lớn của xã hộI Việt Nam về sự trì trệ Nếu đặt trong dòng thờI sự văn học buổI ấy, ta thấy Thạch Lam phản ánh khá rõ nét một hoàn cảnh, tâm lí thờI đạI mã Nam Cao đã phảI từng thốt lên : “Cuộc đờI đang cùn đi, gỉ đi, nổI váng lên”…

“Hai đứa trẻ” là một truyện ngắn như một bài thơ trữ tình bởI cấu từ, giọng điệu, ngôn ngữ của

nó, giống như một bài thơ

Cấu từ của truyện là cấu từ vòng tròn xoay quanh hình ảnh bóng tốI được lặp đi lặp lạI nhiều lần (không dướI ba mươi lần) Khi miêu tả cảnh trờI phố huyện cũng như cảnh đờI những con ngườI phố huyện, tác giả đặc biệt có ý sử dụng một cách công phu yếu tố nghệ thuật :hình ảnh bóng tốI bao trùm cảnh vật và con ngườI mà tác giả dụng công miêu tả từ nhiều thờI điểm, từ nhiều góc nhìn, từ nhiều tâm cảnh khác nhau Bóng tốI như một ám ảnh, như một sự hăm doạ, như một quái vật đè nặng lên cảnh vật và con người Tác giả nhắc đến bóng tốI nhiều lần dướI những cách nói hình ảnh từ ngữ tuy có khác nhau : “buổI chiều hòn than sắp tàn”, “mặt đen lạI”, “chiều, chiều rồI” , “bóng tốI ngập đầy” , “bước của buổI chiều” , “ngày tàn” Tác giả miêu tả rất nhiều trạng thái khác nhau của bóng tốI đến vớI tiếng trống thu không tư trên chòi cao, bóng tốI sắp đến vớI những đám mây hồng như hòn than sắp tàn, bóng tốI đến vớI dãy tre làng đen lạI, bóng tốI đến vớI cánh muỗI vo vo, bóng tốI đến vớI những viên đá nhỏ trên con đường mấp mô, bóng tốI trùm lên đường phố và các ngõ huyện… Nói tóm lạI, bóng tốI được lặp đi lặ lạI đầu và cuốI huyện Bóng tốI như một cái gì hãi hùng đang hoạt động, đang thâm nhập, đanglen lỏI, luồn lách, bám sát vào mọI cảnh vật, mọI trạng thái hoạt động âm thâm của mọI sinh vật Nó như cái nền không gian nghệ thuật của tác phẩmvà không gian xã hộI của con người BởI tốI là lúc chị Tí xuất hiện “tốI đến chị mớI dọn cái hàng dướI gốc cây bàng”; về đêm bác phở Siêu mớI xuất hiện như một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tốI, mất đi rồI lạI hiện ra … bóng tối là nơi

cụ Thi mang đến và mang đi “một tiếng cườI khanh khách nhỏ dần” , một cụ Thi cuộc đờI không

rõ ràng nhưng rõ ràng là đang chứa ẩn một nỗI lòng u uất cứ chìm trong bóng tốI; vợ chồng bác

Trang 32

Xẩm thu gọn trên manh chiếu chật hẹp, vớI chị em Liên, tác giả kể tỉ mỉ hơn nhưng tâm trạng, những suy nghĩ của hai đứa trong đêm tốI: đêm tốI ngập đầy đôi mắt của Liên, Liên thích ngồI yên lặng ngắm nhìn trong đêm tốI, về khuya, Liên ngồI yên lặng trong đêm chờ đón đoàn tàu, khi tàu vụt qua, Liên nhập dần vào giấc ngủ yên tĩnh như đêm ở trong phố tịch mịch và đầy bóng tối…

Lặp đi lặp lạI gián tiếp hay trực tiếp hình tượng bóng tốI cũng chính là cách để tác giác bộc lộ chủ đề tác phẩm qua cảm quan xót thương và tạo cho truyện có âm hưởng, cấu từ như một bài thơ trữ tình

Mặt khác, việc miêu tả những cảm giác thiên nhiên rất hiếm trong hiện thực phê phán nhưng trong “Hai đứa trẻ” , Thạch Lam luôn luôn miêu tả khi có cơ hội Thiên nhiên bao bọc truyện vớI nhiều trạng thái phong phú Tác giả còn chú ý khắc hoạ được cảm giác mơ hồ về giờ khắccủa ngày tàn và về vũ trụ thăm thẳm bao la rất gần ũi mang sắc thái dân tộc, cũng chính vì vậy mà nhân vật chính của câu chuyện là Liên cứ mang theo vẻ hồn man mác

Chất thơ còn được thể hiện ở ngữ điệu nhỏ nhẹ, man mác thú vị ở lờI văn, ở những cảm xúc tinh

tế của một tâm hồn dể rung động Truyện cứ trảI dài ra như một bài thơ, lắng sâu thanh lọc hồn

ta Chất nhạc thấm trong từng câu văn thấm thía Một giọng văn bình dị mà tinh tế, đầy ưu ái Có thể nói “ hai đứa tẻ” là một bài thơ trữ tình trọn vẹn của Thạch Lam

Khi nói “mỗI truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” thì ngườI nói muốn nhấn mạnh cả về nộI dung lẫn hình thức của truyện NộI dung thể hiện hình thức và ngược lại Nó là sự gắn bó hoài hoà để tạo nên tác phẩm Văn phong của Thạch Lam được thể hiện đặc trưng trong “Hai đứa trẻ”, và tôi muốn kết thúc bài viết này bằng ý kiến của Nguyễn Tuân: “Ngày này đọc lạI Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị và cái nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm chất văn học.”

Câu 1: Tại sao trong tác phẩm“Hai đứa trẻ”, hai chị em Liên đêm đêm lại thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về? Ýnghĩa?

a Hai chị em Liên đêm đêm lại thức đợi đoàn tàu từ Hà Nội về vì cuộc sống mà hai đứa trẻ sinh sống là một cuộc sống nghèo khổ,lãm lũ,tù đọng,đơn điệu,tẻ nhạt Dường như ngày nào cũng vậy,từ chập tối cho đến nửa đêm,lúc nào Liên cũng chị thấy lặp đi lặp lại những hình ảnh quen thuộc (chị Tí,bác Siêu,bác Xẩm…) Chừng ấy người ngồi trong bóng tối dưới những thứ đèn leo lắt đang chờ đợi một cái gì đó tươi sang hơn sự sống nghèo khổ hang ngày củahọ Tất cả những điều đó đã hối thúc chị em Liên tìm đến ánh sáng đoàn tàu từ Hà Nội về như một sự giải thoát

b Ý nghĩa: Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với“các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp

đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc Đó cũng là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật

Câu 2: Trong tác phẩm “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam miêu tả đếnnhững loại ánh sáng nào? Ý nghĩa?

a Nhà văn miêu tả các loại ánh sáng:

- Ánh sáng từ “ngọn đèn con” của hàng nước mẹ con chị Tí; chấm lửa nhỏ từ gánh phở bác Siêu; ngọn đèn của Liên “thưa thớt từng hột sáng lọt qua phên nứa.”

Trang 33

- Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là loại ánh sáng rực rỡ nhất,được mọi người trông đợi nhất

b Ý nghĩa:

- Ánh sáng ngọn đèn con của chị Tí trở đi trở lạinhiều lần và đi vào giấc ngủ của Liên như một

ám ảnh tâm lí.Đó là ánh sáng biểutrưng cho cuộc sống thực tại,mòn mỏi,lay lắt,quẩn quanh, nhỏ nhoi đầy bế tắc,buồnchán của chị em Liên, ; cho kiếp người vô danh,vô nghĩa,sống lam lũ,vật vờ…trongcái đêm tối mênh mông của XH cũ

- Ánh sáng đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc

- Đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của nhân vật

Câu 3: Trong tác phẩm “Hai đứatrẻ”, Thạch Lam viết: “Chừng ấy người ngồi trong bóng tối đang trông đợi mộtcái gì đó tươi sáng hơn sự sống nghèo khổ hàng ngày của họ.”

“Chừng người ấy”là ai? Họ đang trông đợi điều gì? Ý nghĩa?

a “Chừng người ấy” là: hai chị em Liên và An, chị Tí, bác phở Siêu, gia đình bác Xẩm…

b Họ đang trông đợi: chuyến tàu đêm từ Hà Nội về ngang qua phố huyện với cái không khí ồn ào,náo nhiệt cùng các toa đèn sáng

c Ý nghĩa:

- Ánh sáng của đoàn tàu vụt qua phố huyện với “các toa đèn sáng trưng” là nỗi khát khao chờ đợi của Liên và của người dân nghèo nơi phố huyện.Đó là ánh sáng của khát vọng,của ước mơ về một cuộc sống tươi mới hơn,đẹp đẽ hơn,ánh sáng của nhu cầu tinh thần được sống dù trong một khoảnh khắc.Đó là niềm khao khát được vượt ra khỏi sự tù túng,ngột ngạt để vươn tới cuộc sống khác tốt hơn

- Đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy của các nhân vật.Dù cuộc sống quẩn quanh,đơn điệu,bế tắc nhưng họ vẫn không ngừng hy vọng vào tương lai tươi sáng

Câu 4: Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí của Liên? Ý nghĩa?

a Cuối tác phẩm “Hai đứa trẻ” là hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí của Liên là hình ảnh chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ

vờ…trong cái đêm tối mênh mông của XH cũ

- Niềm đồng cảm sâu sắc của nhà văn đối với số phận con người,đặc biệt là số phận những người nông dân trước năm 1945 Đồng thời đó cũng chính là tình cảm nhân đạo sâu sắc của Thạch Lam,nhà văn luôn tin tưởng vào khả năng vươn dậy và sức sống của nhân vật

Câu 5: Phân tích nhân vật Liên (Tâm trạng nhân vật Liên – tâm trạng chờ tàu) trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam

Hai đứa trẻ là tác phẩm xuất sắc của Thạch Lam được bạn đọc biết đến nhiều nhất Tác phẩm được in trong tập Nắng trong vườn (1938) Truyện gây ấn tượng cho người đọc bởi văn phong

Trang 34

nhẹ nhàng, giàu tình người tình đời Ấn tượng khó quên trong lòng người đọc về thiên truyện ngắn này có lẽ là hình ảnh hai đứa trẻ mà cô bé Liên là nhân vật được nhà văn Thạch Lam tập trung khắc họa nhiều nhất

Liên là cô bé mới tám tuổi, cái tuổi mà theo như người xưa nói “biết ăn biết ngủ, biết học hành

là ngoan” Nói đúng hơn là tuổi vô lo Nhưng mọi điều đều ngược lại Dưới ngòi bút của Thạch

Lam, Liên hiện lên với hình ảnh của một cô bé như già đi trước tuổi Tuổi thơ chìm trong nỗi buồn của sự tàn tạ, héo úa của một cuộc sống đầy bóng tối, bế tắc không lối thoát Đối với tâm hồn thơ bé ấy, đoàn tàu đêm từ Hà nội về chạy ngang qua phố huyện chính là niềm an ủi cuối cùng cho một niềm đau

Thầy Liên mất việc và đặt dấu chấm hết cho những tháng ngày sống ở Hà Nội Con phố nhỏ Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương nơi đón chị em Liên về là một nơi đói nghèo trong rơm rạ với những kiếp người bé nhỏ, lay lắt Bản thân gia đình Liên cũng chẳng khá giả gì hơn: mẹ làm hàng xáo, chị em Liên trông coi gian hàng tạp hóa nhỏ xíu với những thức hàng lặt vặt, ngày phiên mà chẳng bán được bao nhiêu?

Liên là cô bé nhạy cảm, hay động lòng trắc ẩn trước những biến thiên của cuộc đời Tâm trạng của Liên cũng diễn tiến theo thời gian: từ chiều hôm cho đến khi đoàn tàu ngang qua phố huyện Truyện mở đầu bằng âm thanh của tiếng trống thu không vang xa để gọi buổi chiều Đó âm thanh báo hiệu ngày tàn và cũng là âm thanh chấm hết một ngày đầy ánh sáng mà thay vào đó là bóng tối và nỗi buồn Thạch Lam mở đầu truyện rất hồn hậu, rất thơ với bức tranh quê bình dị,

man mác hương đồng gió nội với " Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào" Đó cũng là thời khắc mở ra thế giới tâm trạng của Liên, là lúc mà “Trong đôi mắt Liên bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị Liên không hiểu sao nhưng thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn” Buồn mà thấy “không hiểu sao” có nghĩa là cái buồn ghê

ghớm lắm Buồn mà không biết mình buồn vì cái gì thì thật là đau khổ không gì bằng Thạch Lam đã để nhân vật tự nhận thức và tự bộc lộ tâm trạng chứ không cần kể lể dài dòng Và bóng tối đã trùm lên phố nhỏ, trùm lên đồng ruộng, trùm lên cả nỗi buồn của Liên đang thoi thóp thở Trong bóng chiều nhá nhem, Liên nhìn về bãi chợ nơi những người bán hàng về muộn Liên

động lòng thương những mảnh đời cơ cực, đó chính là hình ảnh của “những đứa trẻ con nhà nghèo đi lại lang thang trên mặt đất nhặt nhạnh những thanh nứa thanh tre hay những gì còn sót lại của mấy người bán hàng” Hình ảnh đó như xoáy sâu vào lòng trắc ẩn của cô bé tám tuổi

giàu lòng nhân ái Liên thấy thương những đứa trẻ nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng nó Thế đấy, nhân vật Thạch Lam thường ít nói nhưng suy tư nhiều và mang đến những vẻ đẹp của tình người đằng sau những nghĩ suy tha thiết về cuộc sống

Trong cảm nhận của Liên, bóng tối thật ghê ghớm “Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa” Bóng tối là hiện thân

của sự tù túng ngột ngạt, bế tắc không lối thoát Đó là bóng tối của sự đói nghèo, lam lũ Là hình ảnh đất nước ta trước năm 1945 đầy nước mắt:

Cha ông ta từng đấm nát bàn tay trước cánh cửa cuộc đời

Cửa vẫn đóng mà đời im ỉm khóa

Cả dân tộc đói nghèo trong rơm rạ

Văn chiêu hồn từng thấm giọt mưa rơi

Thạch Lam đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật đối lập để miêu tả bóng tối và ánh sáng Nếu như bóng tối nuốt chửng tất cả phố huyện vào trong cái dạ dày tối thui của nó thì ánh sáng xuất hiện

với tần số thấp Đó chỉ là “hột sáng”, “khe ánh sáng”, “đốm sáng”, “vệt sáng”… tất cả đều hiện lên thật bé nhỏ tội nghiệp “ mất đi rồi lại hiện ra trong đêm tối” Và cùng với ánh sáng nhỏ

Trang 35

nhoi, yếu ớt đó là những phận người với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi và lụi tàn, le lói như ngọn đèn trước gió Liên thương hết thảy những con người nơi phố huyện nhỏ bé này Đó chính là chị

Tý với cuộc đời cơ cực “mò cua bắt ốc”, tối đến cùng ghánh hàng nghèo xơ xác chỉ với bát nước chè, điếu thuốc lào, thanh kẹo lạc… tất cả gia tài mưu sinh bên ngọn đèn con chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ Liên thương bác phở Siêu với ghánh phở xa xỉ, ế ẩm nhưng đêm nào cũng thấy bác dọn hàng Thương bác xẩm với manh chiếu rách tả tơi cùng chiếc thau trắng trống trơn chưa một niềm hi vọng, thương lắm những tiếng đàn bác góp chuyện bật trong yên lặng Thương bà

cụ Thi điên đơn chiếc với tiếng cười chìm vào bóng tối… Cuộc sống phố huyện là như vậy Đơn điệu, tẻ nhạt Đêm nào cũng như đêm nào, cứ lặp đi lặp lại:

Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu

Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người

Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười

Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện

Điều gì có thể làm chị em Liên quên đi được thực tại này ? May ra chỉ có vũ trụ là cơ hội cuối cùng để ru hai chị em vào những miền cổ tích Cảnh hai chị em ngẩng mặt lên trời tìm con vịt theo sau ông thần nông cho thấy: tâm hồn hai đứa trẻ thật hồn nhiên, vô tư trong sáng và rất đỗi trẻ con Nhưng buồn thay, bầu trời đầy sao trên kia cũng không thể nào cứu vớt được hai sinh

linh bé nhỏ, tội nghiệp ấy Bởi “vũ trụ bao la và thăm thẳm như chứa đầy bí mật và xa lạ với hai đứa trẻ” Để rồi cuối cùng chính chúng lại quay về với quang cảnh phố chung quanh mà đặc biệt

là ngọn đèn con của chị Tý Và cứ thế trong đêm tối những con người tội nghiệp ngồi chờ đợi một điều gì đó cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ

Và đoàn tàu từ Hà Nội về đã thực sự là ước mơ và khát vọng của người dân phố huyện Họ thức đợi chuyến tàu vì mưu sinh hay vì lí do nào khác nữa Tất cả thao thức, đợi chờ như thể đợi chờ một phép màu sẽ đến Họ mong bán được chút hàng để gỡ gạc cho cuộc sống ngày mai Còn riêng hai đứa trẻ, chúng không thức đợi chuyến tàu để bán hàng mà vì lí do khác Chúng muốn được nhìn thấy đoàn tàu qua phố huyện vì đoàn tàu như mang một thế giới khác đi qua đủ làm cho chúng rạo rực và ánh lên niềm vui sướng dù chỉ là trong chốc lát Vì thế đêm nào cũng vậy

dù buồn ngủ ríu cả mắt nhưng cả hai chị em vẫn cố thức để đợi chuyến tàu Điều đó cho thấy đoàn tàu là một hình ảnh đã trở thành quen thuộc và ăn sâu trong tâm hồn hai đứa trẻ và chờ tàu

đã trở thành một khát vọng mãnh liệt và là một món ăn tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng

Sự mong mỏi của chị em Liên với đoàn tàu quả thật đã làm người đọc xúc động mãnh liệt Mới bảy, tám tuổi mà mẹ bắt trông coi cửa hàng tạp hóa đã là việc làm quá sức lại còn bắt thức cho tới khuya để chờ bán hàng thì quả là tội nghiệp Nhưng Liên và An thức tới khi đoàn tàu đi qua phố huyện không phải là nghe lời mẹ mà là chúng đang hành động theo tiếng gọi của con

tàu “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé!” Đó là câu nói của An khi mí mắt đã sụp xuống trong

cơn buồn ngủ rồi mà vẫn còn dặn với chị Câu nói bình thường thế mà sao mới nghe qua đã thấy xót thương Nó chứa đựng trong đó là tất cả niềm khát khao và hi vọng được nhìn thấy đoàn tàu – hoạt động cuối cùng của đêm khuya An đi vào giấc ngủ, Liên ngồi im lặng, đầu óc chị bỗng

dưng cũng yên tĩnh lạ thường Yên lặng đến nỗi có thể nghe được “hoa bàng rụng xuống vai Liên từng đợt một, có những cảm giác mơ hồ không hiểu” Dường như nhà văn muốn cho nhân

vật của mình được nghỉ ngơi sau một ngày dài mỏi mệt Thế rồi thoáng trong tiếng gió xa xôi là

tiếng đoàn tàu vụt đến Rồi tiếng reo thảng thốt, mừng rỡ của bác Siêu “Đèn ghi đã ra kia

rồi!” Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất, như ma trơi Rồi tiếng còi xe lửa ở

đâu vang lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo gió xa xôi Đó là lúc mà Liên vội vã đánh thức em

“ dậy đi An, tàu đến rồi!” Lời giục dã gấp rút, hối thúc như thể nếu An không dậy thì sẽ không

Trang 36

bao giờ còn được nhìn thấy đoàn tàu nữa Thạch Lam không dùng từ ngữ nào để miêu tả sự háo hức của hai chị em mà cái háo hức ấy vẫn cứ hiện lên thật sống động và giàu chất nhân văn Hai chị em đứng chờ đoàn tàu từ đằng xa Chúng có dịp chiêm ngưỡng cái kẻ đã làm chúng đợi chờ ấy bằng cách đứng gần hơn nữa Và rồi “tàu rầm rộ đi tới Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vụt qua” Đây là phút giây hạnh phúc nhất là lúc mà Liên và An dường như quên hết thảy những nỗi buồn hiện tại, quên cả những đói nghèo lam lũ, ê chề đang bao vây cuộc đời họ Trong lòng họ giờ đây chỉ có đoàn tàu Đoàn tàu mang thứ ánh sáng mạnh mẽ, khác thường ngang qua phố huyện “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường… những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng” Đó là ánh sáng của

sự sang trọng, văn minh, thứ ánh sáng khác xa với những ánh sáng yếu ớt, nhỏ bé nơi phố huyện Đoàn tàu giống như một tia chớp, một ngôi sao băng rạch ngang qua bầu trời phố huyện rồi mất hút vào đêm tối nhưng cái ánh sáng của nó là ước mơ và khát vọng của biết bao nhiêu số phận con người bé nhỏ đang mong ngóng Đoàn tàu mang một thế giới khác đi qua, chính là khát vọng muốn được đổi đời của họ Họ gửi theo chuyến tàu cả tâm hồn của mình, họ muốn được đến với những chân trời mới, nơi đó có ánh sáng của văn minh của no đủ Nơi đó sẽ không còn cảnh đói nghèo lam lũ, không có cảnh đơn điệu và buồn tẻ mà ăm ắp niềm vui Họ xứng đáng được nhận một cuộc sống như thế, tại sao không? Nhưng ước mơ chỉ là ước mơ Tất cả lại quay về với quầng sáng thân mật xung quanh ngọn đèn con chị Tý Chấm hết cho một đêm đợi chờ trong khát vọng và kết thúc bằng nỗi buồn rưng rưng nước mắt

Liên và An đứng lặng người trong bóng tối dù chuyến tàu đã “đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt Hai chị em còn nhìn theo cái chấm đỏ của chiếc đèn xanh trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre” Sự nuối tiếc của họ dường như đã phơi bày

tất cả một cuộc sống nghèo nàn, bế tắc Nhất là khi họ tự nhận thức rằng “Tàu đêm nay không đông và dường như kém sáng hơn ” Nghĩa là đoàn tàu cũng chỉ xoa dịu một chút nỗi đau trong tâm hồn hai đứa trẻ chứ không thể nào phá vỡ bức tường thành mang tên “nỗi buồn” của chúng

Và Liên lặng người đi trong suy tưởng, đằng sau ánh sáng của đoàn tàu và tiếng động cơ gầm vang đó là một thế giới rất riêng tư Đó chính là nỗi nhớ về Hà Nội nơi có ánh sáng của những ngọn đèn, nơi vui vẻ và huyên náo Nơi đó là vùng sáng trong tâm tưởng và cũng là vầng sáng trong ký ức tuổi thơ Nơi mà ngày xưa chị em Liên được đi chơi bờ Hồ, được uống những cốc nước lạnh xanh đỏ Ký ức tươi đẹp thế nhưng giờ họ lại bị cầm tù giữa biết bao nhiêu là buồn bã Chính đoàn tàu đã mang lại cho Liên liều thuốc an thần và khơi dậy trong tiềm thức biết bao điều tươi đẹp Cuộc sống ấy thực sự khác xa với cuộc sống ở nơi này nhiều lắm nhưng biết làm sao

được khi ký ức không thể trở về “ Một quá khứ huy hoàng Một hiện tại mong manh Một tương lai mù mịt” Đáng buồn thay!

Cuối cùng Liên cũng đi vào giấc ngủ, một giấc ngủ chập chờn hình ảnh ngọn đèn con của chị

Tý Một giấc ngủ tịch mịch và đầy bóng tối Đó chính là một sự ám ảnh về cuộc sống bế tắc, tù đọng không lối thoát mà biết đến bao giờ chị em Liên mới có thể đổi thay

Với lối viết nhẹ nhàng, mỗi truyện tựa như một bài thơ trữ tình đầy xót thương, Thạch Lam đã mang đến cho người đọc sự đồng cảm sâu sắc về những thân phận cuộc đời trong xã hội cũ Qua nhân vật Liên nhà văn đã làm toát lên những giá trị nhân văn cao đẹp, giúp chúng ta thấu hiểu nỗi buồn đau của dân tộc trong thế kỷ bạo tàn dưới ách đô hộ của bọn thực dân và đế quốc Trang văn khép lại rồi mà ta còn thấy trước mắt mình hình ảnh hai đứa trẻ ngồi đấy giữa phố huyện nhỏ nghèo tăm tối đang đợi chờ chuyến tàu đi qua trong khát vọng mỏi mòn

Đề : “Đối với tôi, văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát

ly trong sự quên, trái lại văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng

Trang 37

ta có, để vừa tố cáo vừa thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”

Giải thích và bình luận ý kiến trên của Thạch Lam (1910 – 1942)

A Gợi ý chung

Đây là đề nghị luận hỗn hợp đòi hỏi cả giải thích lẫn bình luận Có thể giải thích trước, bình luận sau hoặc phối hợp vừa giải thích vừa bình luận từng ý một trong câu nói của Thạch Lam Dù theo cách nào cũng phải biết chia tách câu nói trên thành các vế, các mệnh đề khác nhau để sự giải thích, bình luận không rơi vào chung chung

Câu nói của Thạch Lam bao hàm hai vế phủ định và khẳng định Trong khi khẳng định quan niệm nghệ thuật về con người, nhà văn đồng thời bộc lộ niềm tự hào về vũ khí văn chương Người viết cần phải bình luận về cả ba ý chính trong câu nói đó

b "Văn chương là một thứ khí giới đắc lực và thanh cao” nghĩa là thế nào? Văn chương là công

cụ nghề nghiệp hoàn hảo của nhà văn, là vũ khí có khả năng giúp nhà văn hoàn thành sứ mệnh của mình một cách có hiệu quả Nó không bị sử dụng vào mục đích xấu, hơn nữa, luôn tác động qua con đường tình cảm

Trang 38

c "Tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác", "làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn" nghĩa là thê nào?

- Văn chương vạch trần, phê phán những tệ lậu, những cái xấu xa của xã hội và đòi hỏi diệt trừ, thay thê nó, đồng thời bồi đắp tinh thần, xây dựng đời sống tâm hồn, thanh lọc tình cảm con người

2 Bình luận (lần lượt từng ý)

a Thể hiện một thái độ lựa chọn dứt khoát, tiến bộ, tích cực

Ngầm đối thoại với xu hướng văn học thoát li

Thể hiện một quan niệm gần gũi với quan niệm của các nhà văn hiện thực phê phán về văn học Rất hiểu vai trò trách nhiệm của nhà văn cũng như sự mê hoặc, quyến rũ của văn chương

b Rất tự hào về vũ khí của mình -

Ý thức được sức mạnh và sự cao cả của văn học

Một nhận xét đúng đắn, khái quát, sát thực tế

Thấy được cách tác động đặc thù của văn học vào cuộc sống,

c Nhận thức đúng về hiện trạng đời sống lúc bấy giờ

Xác định đúng mục tiêu, nhiệm vụ của văn học

Hiểu rõ tương quan giữa hai nhiệm vụ

Đầy niềm tin ở khả năng của văn học, khả năng tự cải tạo tâm hồn mình từ con người, nói chung

là niềm tin vào một tương lai sáng sủa hơn

III Kết bài

Một quan niệm đúng đắn về vai trò, tác dụng của văn chương trong đời sống xã hội

Ý nghĩa lịch sử và ý nghĩa lâu dài của ý kiến đó

Trang 39

cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay là sự quên; trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn"

Trong nhận định này, Thạch Lam đã tự đề ra cho mình một chủ trương riêng, một cái nhìn khác biệt Trước hết, ông đã phủ nhận thứ văn chương đơn thuần chỉ là trò giải trí: "Văn chương không phải là một cách đem lại cho người đọc sự thoát li

hay sự quên" Loại văn chương đó có thể là loại văn chương chỉ biết tôn thờ và sùng bái cái đẹp, hình thức nó tô vẽ cuộc đời bằng những màu sắc lòe loẹt, rực rỡ, phủ lên cuộc sống một thứ hương vị quyến rũ ngọt ngào làm ngất ngây độc giả Loại văn chương dẫn dắt ta đi vào một thế giới đầy mộng tưởng và hư ảo, làm cho tâm hồn ta trở nên siêu thoát, hoặc thúc giục người ta tận hưởng thú vui mà quên đi trách nhiệm ở đời, như một nhà thơ đã viết:

Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!

Loại văn chương ấy trước năm 1945 đã tràn ngập trên sách báo Chúng xuất hiện dưới hình thức tiểu thuyết với những câu chuyện tình ướt át Chính chúng đã tung ra một thứ hương hoa làm đắm say con người, đã làm cho con người thoát li hiện thực, quay lưng lại với đời sống để gây tác hại cho cuộc đời Thậm chỉ còn có cả một số những nhà văn nhà thơ xem cuộc đời là vô nghĩa, đôi lúc chính họ đã có ý định trốn vào tháp ngà văn chương để quên lãng trách nhiệm và quên đi cuộc sống phũ phàng xung quanh họ Những con người ấy đả được Nam Cao đưa vào tác phẩm của mình qua hình ảnh của Điền trong Trăng sáng Là một trí thức nghèo, nhưng Điền luôn

ôm ấp một giấc mộng văn chương rất lớn Thế nhưng điều đáng tiếc ở đây chính là bởi mâu thuẫn giữa nỗi đam mê ấy và hiện thực cuộc đời Điền – chính Điền đã có lúc gần như là trốn chạy trước những nỗi đau phũ phàng diễn ra trước mắt Anh muốn thoát li, muốn vùng ra khỏi cái gánh nặng áo cơm ghì sát đất đề có thể nhẹ nhàng bay bổng lên cùng với ánh trăng Thế nhưng, Nam Cao đã khẳng định mạnh mẽ: "Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ảnh trăng lừa dối…", và Thạch Lam cùng nhấn mạnh: "Không thể!" Ở đây, ta đã bắt gặp được điếm tương đồng giữa hai nhà văn nổi tiếng, sẵn sàng từ chối ánh trăng xanh huyền ảo đầy những sự lừa lọc: "Ánh trăng làm đẹp cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường xấu xa", có biết đâu

"trong những căn lều nát… biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp người" Phê phán loại văn chương đó, đồng thời Thạch Lam đưa ra quan niệm "Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người dược thêm trong sạch và phong phú hơn"

Nếu như Nam Cao đã băn khoăn, trăn trở đến rớm máu để phủ định thứ nghệ thuật lấy ánh trăng lừa dối làm mục đích, Vũ Trọng Phụng đã từng dùng ngòi bút để tuyên chiến với những loại văn chương lãng mạn thoát li hiện thực, thì ở đây, Thạch Lam nhỏ nhẹ, điềm tĩnh, đã định hướng cho mình một quan niệm văn chương khá rõ ràng và toàn diện: 'Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực… Văn chương đích thực có khác gì như những lưỡi lê, nó sẳn sàng mố xẻ

để cắt bỏ những ung nhọt, những mảnh đen từ cuộc sống Bản chất của văn chương vốn là thiện-mĩ, là nghệ thuật, là cái đẹp Cuộc sống tự bao đời nay đã tồn tại với tính chất đa dạng và phức tạp Bắt rễ từ đó cây văn chương đã nảy mầm và phát triển, rồi lại trở về với khai thác và tìm tòi ngay trong mảnh đất tình đời

Trang 40

chân-Văn chương dùng cái đẹp để tiêu diệt cái ác, gạn lọc cuộc sống, giữ lấy cái đức thiện; giữ lại những giá trị chân thực, những chân lí của cuộc sống

Đó là cái đẹp có sức cảm hóa giáo dục cao Chính vì vậy, nó mang tư cách là một "thứ khí giới thanh cao và đắc lực" để bảo vệ cuộc đời, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn

ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn thêm

Vũ khí ấy quả thực là một khí giới đặc biệt, một thứ vũ khí tinh thần mà chính những chàng hiệp

sĩ của thời đại anh dũng đứng lên để cải tạo xã hội và cảm hóa con người Nhiệm vụ của nhà văn

là phải dùng ngòi bút để làm phương tiện phanh phui, để tố cáo cái thế giới giả dối và tàn ác, giúp mọi người tìm lại được giá trị của cuộc đời để xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn, công bằng hơn và xứng đáng hơn

Không chỉ dừng lại ở đó, theo Thạch Lam, văn chương còn có nhiệm vụ là mở đường cho một tương lai tốt đẹp, là làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn ^

Nói đến điều này, chứng tỏ rằng Thạch Lam đã hết sức tin tưởng ở khả nãng kì diệu của văn chương Đó chính là khả năng cảm hóa được con người, hướng con người tự vươn đến tầm cao cuộc sống Đối với con người, văn chương nghệ thuật mãi mãi vẫn là một người bạn vô cùng thân thiết Sự tồn tại vĩnh cửu của văn chương chân chính đã nói lên được tất cả những giá trị tự thân của nó Với những kĩ thuật tiến bộ ngày nay, máy móc có thể dọn sạch một căn phòng, làm đẹp một căn nhà, thậm chí có thể làm sạch được cả môi trường, nhưng nhất định, không bao giờ chúng có được khả năng làm sạch tâm hồn con người như văn chương nghệ thuật Những giọt nước mắt khóc thương cho cuộc đời đau khổ, cho một số phận bị biến dạng, dập vùi… trong từng tác phẩm, sẽ làm cho con người trong sạch thêm, tốt đẹp và cao thượng hơn lên! Tiến sĩ Lê Ngọc Trà đã có một nhận định thật hay về tác động của văn chương đối với tâm hồn mỗi con người:

"Văn học chủ yếu không phải là ghi chép, mô tả hiện thực mà là hành động tự nhận thức của nhà văn, nhờ đó tác phẩm nghệ thuật đã trở thành mảnh đất nuôi dưỡng con người và tình cảm con người, thành khu vườn, nơi tình cảm con người đến đơm hoa kết quả"

Nhìn chung, qua nhận định của Thạch Lam, ta đã rút ra được những ý kiến khá chính xác và bổ ích Điều quan trọng nhất, nhận định trên đã cho ta thấy được sự toàn diện, nét uyển chuyển tinh

tế trong cái nhìn của Thạch Lam so với một số những nhà văn đương thời Dĩ nhiên, Thạch Lam cũng như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, đều đề cao cái "chân" của văn chương Thiếu nó thì nhà văn sẽ trở nên tầm thường, những tác phẩm của họ cũng không có sức thuyết phục Nhưng tiến

bộ hơn một số nhà văn đương thời, Thạch Lam không hoàn toàn phủ nhận vai trò của văn

chương lãng mạn Ồng rất trung thành với quan điểm "văn phải có chân đứng từ cuộc sống " Điều đó được thể hiện rõ trong một số tác phẩm dồi dào chất liệu hiện thực của ông (Đói, Nhà

mẹ Lê, Cô hàng xén…) Nhưng Thạch Lam vẫn tha thiết một mảnh vườn xanh lá hoàng lan, với chiếc cổng nhỏ đưa về thời gian quá khứ, với tiếng nói quen thuộc của bà, với nhịp đập khẽ khàng như cánh bướm khi gặp cô bạn cũ… Đọc đoạn văn sau đây của Thạch Lam để thấy rằng ông vừa là một nhà văn hiện thực vừa là một nhà văn lãng mạn:

Ngày đăng: 03/12/2016, 11:01

Xem thêm

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w