Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý luận của xã hội dân sự tại Việt Nam, một số quốc gia trên thế giới và khu vực P
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ HUYỀN MY
PH¸P LUËT VIÖT NAM VÒ X· HéI D¢N Sù
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HÀ HUYỀN MY
PH¸P LUËT VIÖT NAM VÒ X· HéI D¢N Sù
Chuyên ngành: Luật Hiến Pháp - Hành Chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN NHO THÌN
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hà Huyền My
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ 5
1.1 Về thuật ngữ xã hội dân sự 5
1.2 Khái quát chung về xã hội dân sự Việt Nam 12
1.2.1 Những đặc trưng cơ bản của xã hội dân sự Việt Nam 12
1.2.2 Những yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam 17
1.3 Pháp luật về xã hội dân sự của một số quốc gia trên thế giới 21
1.3.1 Pháp luật về xã hội dân sự của Thụy Điển 21
1.3.2 Pháp luật về xã hội dân sự của Cộng hòa Pháp 23
1.3.3 Pháp luật về xã hội dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức 29
1.3.4 Pháp luật về xã hội dân sự của Thái Lan 30
1.3.5 Pháp luật về xã hội dân sự của Trung Quốc 33
Kết luận chương 1 39
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM 40
2.1 Tư tưởng về xã hội dân sự trước Cách mạng tháng Tám 40
2.1.1 Tư tưởng về xã hội dân sự của Nguyễn An Ninh (1900 – 1943) và Phan Văn Trường (1876 – 1933) 40
Trang 52.1.2 Tư tưởng về xã hội dân sự của Việt Nam quốc dân Đảng (1927-1930) 41
2.1.3 Tư tưởng về xã hội dân sự của Phan Chu Trinh (1872-1926) 42
2.2 Pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự giai đoạn từ 1946 đến trước năm 1992 43
2.2.1 Pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự qua các bản Hiến pháp 43
2.2.2 Pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự qua các văn bản pháp luật khác 48
2.3 Pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự thời kỳ đổi mới (Từ 1992 đến nay) 50
2.3.1 Hiến pháp năm 1992 50
2.3.2 Hiến pháp năm 2013 52
2.3.3 Các văn bản pháp luật khác 53
2.4 Xu hướng phát triển xã hội dân sự Việt Nam trong thời gian tới 62
Kết luận chương 2 65
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ TẠI VIỆT NAM 66
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xã hội dân sự và pháp luật về xã hội dân sự 66
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xã hội dân sự Việt Nam 68
3.2.1 Thay đổi suy nghĩ và cách nhìn về xã hội dân sự 68
3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về xã hội dân sự Việt Nam 70
3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự 74
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội dân sự hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà chính trị gia, các nhà hoạch định chính sách quan tâm Khái niệm “xã hội dân sự” xuất hiện lần đầu tiên ở Anh (1594) và sau đó lan rộng
ra các nước châu Âu và toàn thế giới Các định nghĩa phổ biến về “xã hội dân sự” hiện nay đều nhấn mạnh tới tinh thần tự nguyện của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình Theo đó, xã hội dân sự được tạo lập bởi các đoàn thể nhằm kết nối giữa những nhóm quyền lợi hiện đại và những tổ chức truyền thống, giữa các tổ chức chính thức và phi chính thức Ở Việt Nam, ngoài các tổ chức xã hội truyền thống, nhiều tổ chức xã hội mới đã và đang ra đời Các tổ chức đó đang tích cực tham gia và đóng góp vào nhiều hoạt động xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam trong điều kiện mới
Hiện nay, không một tư duy về hoạch định chính sách phát triển nào có thể tránh bàn luận tới vấn đề "xã hội dân sự" Xã hội dân sự trở thành một điểm then chốt trong các cuộc thảo luận của cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt tại các nước đang ở trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá Tại Việt Nam, xã hội dân sự là một phần không thể tách rời của nền kinh tế thị trường lành mạnh và của Nhà nước dân chủ, được quản trị tốt với ba vai trò cơ bản về kinh tế, xã hội và chính trị Theo đó, xã hội dân sự là một đời sống xã hội diễn ra trong khoảng cách giữa nhà nước và thị trường Đó là hoạt động xã hội của công dân, của các hội nhóm, các tổ chức, xuất phát từ ý nguyện riêng, không phụ thuộc vào nhà nước và các tính toán kinh doanh Khi mà năng lực giải quyết các vấn đề xã hội và khuyến khích sự phát triển xã hội của nhà nước ngày càng trở nên hạn
Trang 7chế, đồng thời vai trò của cộng đồng ngày càng trở nên quan trọng thì ý nghĩa của xã hội dân sự càng nổi bật
Với mong muốn nghiên cứu một cách hệ thống pháp luật về xã hội dân
sự, từ đó hoàn thiện khung pháp lý cho các tổ chức xã hội dân sự, tạo điều kiện cho sự phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Pháp luật Việt Nam về xã hội dân sự” làm luận văn tốt nghiệp Chương
trình đào tạo Thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, chưa có một văn bản nào của Đảng và Nhà nước đưa ra khái niệm xã hội dân sự, song trên thực tế theo các quan niệm phổ biến quốc
tế, xã hội dân sự thực chất không phải là một thực tế xã hội xa lạ đối với Việt Nam Do đó, những bài viết, đề tài, nghiên cứu liên quan đến xã hội dân sự hầu như chỉ tập trung vào những bài viết, nghiên cứu đưa ra quan điểm và tổng hợp, hệ thống nội dung Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
có thể kể đến như:
- Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, Bạch Tân Sinh và Nguyễn Thanh
Tùng (2003), Xã hội dân sự tại Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trung
tâm nghiên cứu phát triển xã hội, Hà Nội
- Bùi Thế Cường và đồng nghiệp (2003), Phong trào xã hội: từ nỗ lực
tập thể đến tổ chức xã hội, Đề tài tiềm lực, Viện xã hội học, Hà Nội
- Vũ Duy Phú (Chủ biên), Đặng Ngọc Dinh, Trần Trí Đức, Nguyễn Vi
Khải (2008), Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc, Nxb Tri Thức, Hà Nội
Và một số những bài viết liên quan đến vấn đề đăng ở các tạp chí, sách báo khác Có nhiều công trình nghiên cứu về xã hội dân chủ cơ sở nói chung, nhưng mỗi công trình lại đề cập đến những khía cạnh khác nhau, trên mỗi địa phương khác nhau nên chúng mang những giá trị khác nhau Theo tôi biết
chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài “Pháp luật Việt Nam về xã hội
Trang 8dân sự” Với nỗ lực xây dựng một nhà nước dân chủ, đề cao nhân quyền và
quyền tự do của công dân, việc nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống về xã hội dân sự sẽ góp phần cho cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về xã hội dân sự ở Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu có hệ thống về pháp
luật xã hội dân sự Việt Nam, tình hình thực tế xã hội dân sự tại Việt Nam Và
từ đó, phân tích, đánh giá những tồn tại để có thể định hướng được việc hoàn thiện khung pháp lý cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam phát triển mạnh
mẽ trong thời gian tới
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về xã hội dân sự Việt Nam về mặt khái niệm, thuật ngữ và những đặc trưng cơ bản trong sự hình thành và phát triển, những quy định của pháp luật về xã hội dân sự tại Việt Nam từ trước đến nay
- Tìm hiểu pháp luật về xã hội dân sự một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam hiện tại
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý cho sự phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý cũng như
cơ sở lý luận của xã hội dân sự tại Việt Nam, một số quốc gia trên thế giới
và khu vực
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là tập trung phân tích nội dung một số quy định của pháp luật Việt Nam để điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, hoạt động và quản lý tổ chức xã hội dân sự để đề xuất và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật tạo điều kiện cho một xã hội dân sự phát triển phù hợp, gắn với công cuộc xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ, tự do và bình đẳng
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; dựa trên đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về xã hội dân sự; dựa trên những công trình, tài liệu của các nhà khoa học pháp lý, chính trị Đồng thời, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu hệ thống, phân tích và tổng hợp, phương pháp khái quát hoá, phương pháp thống kê, so sánh, mô tả… Trong đó, sử dụng nhiều là phương pháp phân tích và tổng hợp
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về
xã hội dân sự, thực hiện pháp luật về xã hội dân sự từ đó hoàn thiện hơn cách thức tiếp cận vấn đề này, đồng thời giúp mọi người thấy được vai trò quan trọng của việc thực hiện pháp luật xã hội đối với sự phát triển của đất nước, cũng như giúp mọi người nhận thức được trách nhiệm của chính mình Luận văn cũng đánh giá một cách toàn diện về pháp luật về xã hội dân sự ở nước ta và đưa ra được quan điểm, đề xuất được những giải pháp thiết thực
để bảo hoàn thiện các quy định của pháp luật về xã hội dân sự, từ đó góp phần nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật xã hội dân sự ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về xã hội dân sự pháp luật về xã hội dân sự
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xã hội dân sự tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xã hội dân sự tại Việt Nam
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ PHÁP LUẬT
VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ
1.1 Về thuật ngữ xã hội dân sự
Khái niệm tiếng Anh “civil society” dược dịch ra tiếng Việt là “xã hội dân sự”, liên quan đến khái niệm xã hội dân sự ở Việt Nam còn có thuật ngữ
“xã hội công dân”, “xã hội thị dân” Thuật ngữ “Xã hội công dân” có xuất xứ
từ kinh điển Mác – Lênin Trong các tác phẩm của Karx và Friedirich Engels thuật ngữ “xã hội công dân” đôi khi được hiểu là “xã hội thị dân” [65, tr.15]
Một cách nhìn tổng quát xã hội dân sự là khu vực hình thành tự phát từ những nhóm, cộng đồng người có chung lợi ích nhu cầu, sở thích, giới tính, chính kiến, nghề nghiệp,… Do đó, xã hội dân sự có lịch sử từ xa xưa khi con người biết tụ tập kết nối kiểu phường, hội, nguồn gốc, khởi thủy của xã hội dân sự có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiến cho rằng từ thời nô lệ, từ khi có nhà nước là đã có sự hình thành nhóm đối tác hoặc đối trọng dù là tự phát manh mún, cũng có ý kiến cho rằng xã hội dân sự chỉ hình thành từ thời kỳ phong kiến, liên gia phường hội buôn bán hoặc giao lưu văn hóa hội hè
Trong các tác phẩm kinh điển của nhà tư tưởng triết học, chính trị học,
có nhiều bàn luận về khái niệm và nội hàm của xã hội dân sự Có thể lấy ví dụ tiêu biểu như: Nhà triết học thời cổ đại Arisote cho rằng xã hội dân sự được tổ chức qua quan hệ của những người bạn bè cùng chung tư tưởng, qua đó họ khám phá và biểu tưởng bằng hoạt động vị lợi ích chung, và vì đời sống công cộng, bên ngoài nhà nước
Nhà triết học Anh Thomas Hobbes theo chủ nghĩa duy vật, người coi trạng thái tự nhiên của xã hội là “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” (phản ánh tình trạng xâu xé nhau trong xã hội vào thời “tích lũy nguyên thủy” của
Trang 11chủ nghĩa tư bản), cũng đặt rất cao vị trí của nhà nước Ông cho rằng nhà nước có sứ mệnh khắc phục trạng thái “chiến tranh” ấy bằng cách thiết lập một sự thỏa thuận giữa tất cả các thành viên của xã hội Xã hội công dân nảy sinh trên cơ sở thỏa thuận ấy được ông coi là đồng nghĩa với nhà nước và những luật pháp của nó Nói cách khác, Hobbes coi trạng thái tự nhiên của xã hội là tiêu cực, trong đó, người là chó sói với người, nhưng lại coi “xã hội công dân” là tích cực, trong đó, mọi người đánh đổi tự do tuyệt đối lấy sự an ninh của mình (do nhà nước bảo trợ)
Ðến thế kỷ XVIII, J J Rousseau, một trong những nhà Khai sáng xuất sắc nhất, đã tiếp nhận và phát triển quan điểm của Hobbes lên một trình độ hoàn chỉnh hơn Ðối với ông, con người vì mất đi sự tự do tự nhiên của mình
và cũng vì sợ mất đi cả các quyền tự nhiên của mình nên đã đi tới một khế ước xã hội (Khế ước xã hội là tên cuốn sách nổi tiếng nhất của ông) để bảo đảm một “hình thức liên hiệp” nhằm bảo vệ, bằng toàn bộ sức mạnh chung của xã hội, các cá nhân cũng như tài sản của các thành viên tham gia liên hiệp Nhờ có sự liên hiệp này mà người ta thống nhất lại với nhau trên cơ sở phục tùng những thể thức chung, nhưng mỗi người vẫn có tự do như trước đây Sự liên hiệp này, theo ông, đã từng mang tên gọi Công xã nhân dân, và bây giờ lại có tên Cộng hòa hay Cơ chế chính trị Các thành viên xã hội gọi cơ chế chính trị ấy là nhà nước Còn họ thì được gọi là nhân dân nói chung và công dân nói riêng
Ở đây, có một điểm cần đặc biệt chú ý: Tất cả các tác giả thời đó (T Hobbes, J Locke, J J Rousseau, Montesquieu ) đều đặt ra vấn đề tự do
cá nhân của công dân, độc lập với nhà nước Theo Locke, chẳng hạn, xã hội có trước Nhà nước, nó tồn tại một cách “tự nhiên”, còn nhà nước là một
“vật mới” Nếu chính phủ vì một lý do nào đó bị xóa bỏ đi thì xã hội vẫn được duy trì bằng tất cả các luật và quyền tự nhiên của nó Nhân dân hợp
Trang 12thành xã hội, nó là tối thượng (souverain) và khi thiết lập nhà nước, tuy tính tối thượng chuyển sang nhà nước nhưng nhà nước không thể nuốt mất
xã hội Hơn thế nữa, mục đích chủ yếu của nhà nước là bảo vệ xã hội Do
đó, nhà nước không thể thay thế được xã hội, chính là nhờ có xã hội mà nhà nước có thể hoạt động được [65, tr 17]
Người sáng lập phép biện chứng duy tâm, nhà triết học vĩ đại người Đức Friedrich Hegel đã chỉ ra vị trí của lĩnh vực xã hội dân sự, theo ông thì xã hội dân sự được duy trì bởi “con người kinh tế” – đó là lĩnh vực của hành động đạo đức, là mạng lưới quan hệ xã hội, nằm giữa gia đình và nhà nước, gắn kết những cá nhân tự chủ với nhau, thông qua môi trường trung gian là tự
do đạo đức Ông còn bày tỏ mối e ngại về năng lực tự tổ chức và tự điều tiết của xã hội dân sự và nhấn mạnh vai trò của nhà nước điều tiết đối với xã hội dân sự, nhà nước và xã hội dân sự phụ thuộc lẫn nhau, song mối quan hệ này
là đầy căng thẳng và đòi hỏi có luật để cân bằng mối quan hệ Tác phẩm Triết học pháp quyền của ông đã chứng minh rằng xã hội dân sự là một giai đoạn phát triển lịch sử mà đỉnh cao của nó là sự xuất hiện nhà nước hiện đại Nói chính xác hơn, Hegel coi xã hội dân sự là một giai đoạn đặc biệt trong sự vận động biện chứng từ gia đình đến nhà nước, diễn ra trong quá trình biến đổi lịch sử phức tạp và lâu dài từ Trung cổ đến Cận đại Theo ông, đời sống xã hội hoàn toàn khác với đời sống đạo đức của gia đình và cũng khác với đời sống công cộng của nhà nước Nó là một yếu tố cần thiết trong toàn bộ cộng đồng chính trị được tổ chức một cách hợp lý Theo Hegel, kinh tế thị trường, các giai cấp xã hội, nghiệp đoàn, định chế có nhiệm vụ bảo đảm sức sống của
xã hội và thực hiện các quyền công dân Như vậy, xã hội dân sự là tập hợp của những tư nhân, tầng lớp, những nhóm và những định chế mà sự tác động qua lại của chúng được điều chỉnh bằng qui tắc của dân luật và với tư cách đó,
nó không phụ thuộc trực tiếp vào nhà nước chính trị
Trang 13Còn theo quan điểm của Karl Marl thì “xã hội dân sự là lĩnh vực được
cấu thành bởi sản xuất, giai cấp và các quan hệ chính trị xã hội liên quan, quan tâm của xã hội dân sự là làm thế nào để lĩnh vực cạnh tranh hỗn độn trở thành đối tượng của giám sát công cộng” K Marx, trong các tác phẩm đầu
tay, đặc biệt trong Hệ tư tưởng Đức và vấn đề Do Thái, đã bàn nhiều về xã hội dân sự Một mặt, kế thừa những luận điểm "hợp lý" của Hegel; mặt khác, ông phê phán Hegel một cách quyết liệt Cũng như Hegel, ông từng coi xã hội dân sự là một hiện tượng lịch sử, là kết quả của sự phát triển lịch sử mà không phải là "vật ban tặng" của tự nhiên Và cũng như Hegel, ông coi xã hội dân sự
có tính chất tạm thời Sự khác nhau cơ bản giữa Marx và Hegel là điểm xuất phát khi phân tích về bản chất của xã hội dân sự và nhà nước, về những quan
hệ giữa xã hội dân sự với nhà nước Trong khi Hegel lấy "tinh thần phổ biến"
và "ý niệm tuyệt đối" làm điểm xuất phát thì Marx lấy đời sống hiện thực, trước hết là phương thức sản xuất của xã hội, làm điểm xuất phát "Sự giải phóng chính trị là đưa con người, một mặt, trở thành thành viên của xã hội thành cá nhân vị kỷ và độc lập, và mặt khác, trở thành công dân, thành cá nhân đạo đức" Ông cho rằng chỉ khi nào sức mạnh con người được tổ chức thành sức mạnh xã hội và chính trị, khi đó sự giải phóng con người mới hoàn thành.Trong tác phẩm Phê phán triết học chính trị của Hegel (1843), Marx trực tiếp chống lại những ý kiến của Hegel về xã hội dân sự và nhà nước Một mặt, ông chống lại sự tuyệt đối hóa nhà nước của Hegel; mặt khác ông phê phán cơ sở chủ yếu của xã hội dân sự là chế độ sở hữu tư nhân
Có thể thấy, khái niệm xã hội dân sự xuất hiện chủ yếu là sản phẩm trí tuệ của châu Âu thế kỷ XVIII, khi các công dân tìm kiếm cách thức để xác định vị trí của bản thân trong xã hội, độc lập với nhà nước quân chủ, và ở vào giai đoạn khi mà nền tảng của một trật tự xã hội dựa trên vị thế bắt đầu bị lung lay, suy giảm và theo chiều hướng không thể đảo ngược Theo đó, các nhà tư tưởng đã bàn luân về các đặc điểm, chiều cạnh, mối quan hệ giữa xã
Trang 14hội dân sự – nhà nước – thị trường Chẳng hạn, tác giả Adam Smith cho rằng thương mại nói chung và việc buôn bán giữa các công dân nói riêng đã không những tạo ra của cải mà còn tạo ra cả những mối liên hệ vô hình giữa con người với con người – cội nguồn để tạo xã lòng tin – “vốn xã hội” – nói theo ngôn ngữ kinh tế, xã hội hiện đại
Mặc dù các khái niệm xã hội dân sự có lịch sử phát triển lâu dài và phong phú, song chỉ vào khoảng 2 thập kỷ gần đây nó mới trở thành trọng tâm chú ý trên các diễn đàn công luận quốc tế Giải thích cho điều này có thể thấy nguyên nhân là do sự sụp đổ của khối các nước cộng sản Đông Âu, quá trình dân chủ hóa mở rộng, thay đổi mô hình phát triển kinh tế quá khứ, mong muốn cùng nhau đối mặt và giải quyết những thách thức bất ổn nảy sinh và tăng cường các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ trên toàn thế giới Tuy nhiên, có một số quan điểm e ngại về nguy cơ coi xã hội dân sự là “viên đạn ma thuật” đối với mọi vấn đề phát triển ở quốc gia hoặc toàn cầu, như có quan điểm cho rằng do vấn đề lập kế hoạch nhà nước và tự do thị trường được coi là thất bại và đôi khi cần có “cái gì đó” mới mẻ hơn? Và họ cho rằng, khâu quan trọng chính là xã hội dân sự đang bị “thiếu vắng” song thực sự có phải như vậy không vẫn còn là vấn đề cần tiếp tục tranh luận
Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, xã hội dân sự không nên chỉ giới hạn như là mọi biểu hiện đời sống xã hội bên ngoài hệ thống nhà nước và các quá trình kinh tế mà xã hội dân sự đề xuất các yêu cầu của mình thông qua việc tham gia các tổ chức chính trị xã hội (đảng phái và tổ chức xã hội, kinh tế bao gồm tổ chức sản xuất và tái sản xuất, các hãng và đối tác, xã hội, văn hóa
và truyền thông Mục tiêu chính của xã hội dân sự là làm nổi bật các yêu cầu đối với nhà nước và thị trường, không trực tiếp gắn với giám sát hoặc chinh phạt quyền lực mà nhằm tạo ra sự ảnh hưởng thông qua hoạt động liên kết, thảo luận dân chủ ở lĩnh vực công cộng
Trang 15Cho đến nay, ở châu Âu có nhiều nghiên cứu về các văn bản bàn về khái niệm xã hội dân sự như một ý tưởng và khái niệm chính kể từ khai sáng của Scotland đến cuộc cách mạng ở Đông Âu vào cuối thập kỷ 90 của thế kỷ
XX Các nguồn tư liệu lịch sử đặt ra nhiều câu hỏi và cũng có nhiều quan điểm lập luân mâu thuẫn hoặc tương phản Ví dụ, những tranh luận bàn về nguồn gốc của khái niệm xã hội dân sự, tìm hiểu các thuật ngữ được sử dụng đồng nghĩa hoặc tương đương với khái niệm xã hội dân sự, những thay đổi và truyền thống tác động đến việc sử dụng thuật ngữ này theo thời gian, những điểm mạnh và hạn chế khi sử dụng một thuật ngữ mang tính mâu thuẫn và dễ dàng gây tranh cãi này để phân tích xã hội, chính trị và văn hóa
Theo quan điểm của các ngành kinh tế - xã hội về khái niệm xã hội dân
sự có hai khía cạnh được chú ý Thứ nhất, về mặt thực nghiệm đó là khái niệm chỉ lĩnh vực xã hội Thứ hai, về mặt chuẩn mực khái niệm này được hiểu
và ám chỉ một loại liên kết để nâng cao phúc lợi con người [65, tr.15]
Theo nghĩa hẹp, khái niệm xã hội dân sự: Xác định và phân định rõ
ranh giới, một bên là nhà nước, nền kinh tế và bên kia là xã hội dân sự Cách phân định này có phần cứng nhắc không phản ánh linh hoạt thực tiễn phát triển đa dạng
Theo nghĩa rộng, khái niệm xã hội dân sự công nhận sự trùng lặp giữa
lĩnh vực nhà nước, nền kinh tế và xã hội dân sự, nới lỏng yêu cầu chuẩn mực
để bao gồm cả tổ chức có thể làm việc vì mục đích công, thích ứng với hoàn cảnh cụ thể, linh hoạt song cũng dễ rạo “sự mù mờ”, khó hiểu
Khái niệm xã hội dân sự được sử dụng theo nghĩa của dân chủ phương Tây kinh điển, do đó ở các nước Đông Âu, Mỹ Latinh hay các nước đang phát triển, tùy theo quan điểm có thể áp dụng nhiều định nghĩa với phạm vi (rộng, hay hẹp), trong đó có thể loại bỏ khu vực kinh tế hay bao gộp cả nhà nước, hoặc ngược lại đưa khu vực kinh tế vào và thu hẹp các tác nhân của nhà nước
Trang 16Có thể thấy, chưa có một khái niệm được cho là hoàn hảo về xã hội công dân, xã hội dân sự, và luôn có thể xuất hiện những dự giải khác nhau về
xã hội công dân, xã hội dân sự Ở mỗi thời kỳ, hoặc dưới từng cách nhìn nhận, xã hội dân sự được đề cập có nội hàm và ngoại diên chưa giống nhau
Ngay Trung tâm xã hội công dân cũng đưa ra một cách định nghĩa rất
chung chung:
Xã hội dân sự liên quan đến hoạt động tập thể tự nguyện xoay quanh
sự chia sẻ về lợi ích, mục đích và những giá trị Về mặt lý luận, định chế này phân biệt với nhà nước, gia đình và thị trường trong hoạt động; ranh giới giữa nhà nước, xã hội dân sự, gia đình, thị trường thông thường rất phức tạp, không rõ nét, mang tính thỏa hiệp Xã hội dân sự thường mang tính tác động (gây áp lực) đa dạng về tự quản (autonomy), về quyền lực Xã hội dân
sự thường thể hiện bằng các tổ chức như từ thiện, tổ chức phi chính phủ, tổ chức cộng đồng, hội phụ nữ, niềm tin dựa vào tổ chức, sự liên kết nghề nghiệp, công đoàn [65, tr 23]
Ở bình diện chung nhất, chúng ta chia sẻ với quan điểm cho rằng cụm
từ "dân sự" ở đây có thể hiểu là một tính từ chỉ tính chất của quan hệ xã hội, tức là các quan hệ xã hội được điều chỉnh theo hướng "dân sự" Tuy nhiên, có thể hiểu nội hàm của thuật ngữ "dân sự" (trong cụm từ xã hội dân sự trong phạm vi đề tài này) là để phân biệt tương đối với nhà nước Như vậy, thuật ngữ này dùng để chỉ những định chế "bên ngoài nhà nước" Hiểu theo cách này, xã hội dân sự có thể liên quan đến hoạt động của các đảng phái, tổ chức chính trị Tuy nhiên, vì các đảng phái chính trị với tính chất là những thiết chế gắn liền với việc nắm, giữ nhà nước, và đã là đối tượng nghiên cứu quan trọng của khoa học chính trị, nên đối tượng này thường không được đề cập khi nghiên cứu về xã hội dân sự
Với cách hiểu như vậy, có thể hiểu rằng xã hội dân sự bao gồm mọi
Trang 17nhóm và mọi hoạt động không bị "ràng buộc" bởi chính quyền: Tổ chức chính trị, các hội kinh doanh, các tổ chức tôn giáo, hiệp hội truyền thông, tổ chức từ thiện, công dân v.v Tất cả các tổ chức và các chủ thể này đều góp phần giúp phát triển đặc tính đa nguyên của xã hội và ảnh hưởng đến quan hệ của xã hội
và chính quyền xã hội dân sự như là một bổ khuyết cho "dân chủ đại diện" thông qua cơ chế "dân chủ tham gia"
1.2 Khái quát chung về xã hội dân sự Việt Nam
1.2.1 Những đặc trưng cơ bản của xã hội dân sự Việt Nam
Xã hội dân sự ở Việt Nam có những đặc trưng cơ bản là: Xã hội dân
sự với nhiều Tổ chức ở tất cả các cấp và hoạt động trên hầu khắp đất nước Các tổ chức xã hội dân sự có nhiều nỗ lực và thực hiện nhiều hoạt động tập trung vào giảm nghèo, hỗ trợ những người nghèo và người bất hạnh trong nhiều mặt, và thường rất quan tâm đến vấn đề giảm tác động của những sự kiện thiên tai, mất mát nghiêm trọng về người và của Xã hội dân sự mang đặc điểm khá rõ nét về tinh thần và niềm tin
Có sự hợp tác khá tích cực giữa xã hội dân sự và nhà nước, đặc biệt là đối với các Tổ chức quần chúng và các Hiệp hội nghề nghiệp nằm trong Mặt trận Tổ quốc Tuy nhiên, về sự hợp tác này, cũng có khác biệt giữa những thành phần khác nhau của Xã hội dân sự Trong một giới hạn nào đó, Xã hội dân sự ở Việt Nam chưa có môi trường chính trị - xã hội để có thể phát triển đầy đủ và đổi mới ở mức độ cần thiết đối với các tổ chức xã hội dân sự Trong khi đó, môi trường pháp lý đối với các tổ chức xã hội dân sự đã cơ bản được ban hành
Nhà nước vẫn còn đóng vai trò chủ đạo trong việc lập những quyết sách
và các tổ chức xã hội dân sự chỉ tác động vào quá trình đó thông qua hợp tác Rõ ràng là xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn còn những ràng buộc với Nhà nước, tuy nhiên nhiều thay đổi đã được thực hiện thông qua các hoạt động hành chính
Trang 18Chính các tổ chức xã hội dân sự cũng bộc lộ những điểm yếu do cơ cấu nhiều thành phần và do chưa có các cơ cấu nội bộ và các cơ quan bảo trợ thỏa đáng Các tổ chức quần chúng có cơ cấu tổ chức nhiều cấp bậc và trong quá trình đổi mới ở các cấp dưới không có sự hỗ trợ đầy đủ từ các cấp cao hơn Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam vẫn còn hạn chế về số lượng và cơ cấu nội bộ không phải lúc nào cũng dân chủ, điều này hạn chế khả năng trong việc thực hiện những ý tưởng mới một cách hiệu quả Họ thiếu sự minh bạch và bị hạn chế trong việc ủng hộ và đề cao những giá trị mới Các cơ quan bảo trợ và các mạng lưới vẫn còn yếu và cần nhiều hỗ trợ hơn nữa để phát triển Ngoài ra, nguồn nhân lực và tài lực của các tổ chức xã hội dân sự vẫn còn rất hạn chế
Có một số nghiên cứu chỉ ra rằng các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam chưa phát huy được sự chủ động Bởi vậy, để khắc phục tình trạng này, các tổ chức xã hội dân sự cần phát huy tính tự chủ và năng động để tự tạo ra những điều kiện hợp lý nhằm có môi trường hoạt động hiệu quả trên cơ sở hệ thống pháp luật hiện nay Có như vậy, lợi ích mà cộng đồng có được từ các hoạt động này sẽ được tăng lên rõ rệt
Mặt khác, các tổ chức xã hội dân sự cần phải tìm được phương thức hợp tác, các cơ quan bảo trợ, và sự hỗ trợ mạng lưới tốt hơn thì mới có thể tăng thêm sức mạnh Các tổ chức tổ chức xã hội dân sự cũng phải tự thân nỗ lực và đảm bảo sự rõ ràng minh bạch của mình thì mới chiếm được lòng tin của người dân mà các tổ chức này đại diện Hơn nữa họ phải nâng cao tính chuyên nghiệp và phát triển kỹ năng để có thể vượt qua được thách thức trong
sự ủng hộ từ cả khu vực công và tư nhân
Trong giai đoạn đầu, các tổ chức xã hội dân sự đã khá thành công trong việc tự khẳng định mình Hiện nay, các tổ chức này cần phải củng cố và tìm hướng phát triển mạnh mẽ hơn nữa, và trong một chừng mực nào đó các tổ
Trang 19chức này cần phải từng bước tự cấp kinh phí để phát triển mà không quá lệ thuộc vào một nguồn nào, nhà nước cũng như các nhà tài trợ
Chiều rộng sự tham gia của người dân chỉ những hình thức tham gia khác nhau của người dân trong xã hội dân sự Ở Việt Nam, việc tham gia này
có thể thông qua các hoạt động như tình nguyện làm việc trong các tổ chức; hành động cộng đồng như tham gia vào các buổi họp cộng đồng, các sự kiện hoặc các nỗ lực chung nhằm giải quyết các vấn đề cộng đồng Tại Việt Nam,
kể từ khi có Quy chế dân chủ ở cơ sở, việc người dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng ngày càng nhiều và đạt được những hiệu quả tích cực, nhất là việc người dân tham gia giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, tạo những chuyển biến tích cực trong bài trừ các tệ nạn như tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, nhũng nhiễu Tham gia làm từ thiện cũng là một hoạt động được dùng để đánh giá chiều rộng của sự tham gia của người dân trong xã hội dân sự Đây là hoạt động mang tính nhân đạo và nhân bản sâu sắc, là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam tương thân tương
ái, lá lành đùm lá rách Hoạt động này thường xuyên được khởi xướng bởi Hội chữ thập đỏ và các cơ quan báo chí như Báo Lao động, Tuổi trẻ
Chiều sâu của sự tham gia chỉ mức độ tham gia của người dân vào xã hội dân sự thông qua các phương thức và hành động thực tế Ở Việt Nam, chiều sâu của sự tham gia này thể hiện ở mức độ đóng góp của người dân trong việc làm từ thiện Theo thống kê không chính thức, mức đóng góp của người dân làm từ thiện là 1-2% thu nhập Dù số tiền đóng góp không lớn nhưng ý nghĩa xã hội là rất lớn lao và tạo được những hỗ trợ tích cực cả về vật chất lẫn tinh thần đối với những đối tượng cần trợ giúp Chiều sâu của sự tham gia cũng thể hiện ở việc tình nguyện tham gia vào các hoạt động cộng đồng của người dân Mỗi người dân Việt Nam có thể là thành viên của nhiều
tổ chức xã hội, như một người về già vừa là thành viên của hội hưu trí, hội
Trang 20cựu chiến binh, hội người cao tuổi và tổ dân phố Việc tham gia các hội này là
tự nguyện và thường dành nhiều thời gian vào việc thực hiện các hoạt động mang tính cộng đồng của hội
Sự đa dạng của các thành phần xã hội dân sự thể hiện ở việc thành phần tham và tính hòa nhập của các hội viên từ nhiều thành phần khác nhau Các nhóm xã hội tiêu biểu trong sự tham gia này là phụ nữ, nông dân, người nghèo, người dân tộc thiểu số, công chức nhà nước, tín đồ tôn giáo
Cấp độ cơ chế tổ chức thể hiện ở việc tồn tại các cơ quan bảo trợ hay không đối với tổ chức xã hội dân sự, tính hiệu quả của các mối quan hệ này,
cơ chế hỗ trợ và các mối quan hệ của tổ chức xã hội dân sự Ở Việt Nam, hầu hết các tổ chức xã hội dân sự là thành viên của một liên hiệp hoặc cơ quan bảo trợ nào đó Trong đó, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc có mạng lưới rộng khắp các thành viên từ trung ương đến địa phương Các tổ chức này có mối quan hệ chặt chẽ với Đảng và Nhà nước Các hội nghề nghiệp và các hội đoàn khác có sự quan hệ với Nhà nước ít chặt chẽ hơn và thường không mặc nhiên có sự bảo trợ mà thường là xin bảo trợ hoặc do các hội viên tự đóng góp Khi bảo trợ, các cơ quan bảo trợ đều có những mục tiêu đặt ra cho hoạt động của các tổ chức xã hội dân
sự và đa số đều đạt được những mục tiêu đề ra, điều này đúng với hầu hết các tổ chức xã hội dân sự, nhất là các tổ chức quần chúng và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc
Mối quan hệ giữa các đối tượng hoạt động trong xã hội dân sự thể hiện
sự hợp tác và thông tin giữa các tổ chức xã hội dân sự với nhau Ở Việt Nam, việc chia sẻ thông tin trong các hoạt động không phải là một thói quen trong hoạt động của các tổ chức này Vì thông tin gắn với quyền lực và cơ hội Tuy nhiên trong xu thế phát triển chung hiện nay, việc chia sẻ thông tin trong hoạt động của các tổ chức đã trở nên phổ biến nhằm tăng thêm sức
Trang 21mạnh trong các hoạt động vì mục đích chung Và cùng với xu thế đó, việc hợp tác giữa các tổ chức xã hội dân sự đã được thiết lập với nhiều cấp độ khác nhau
Các nguồn lực thể hiện mức độ nguồn lực sẵn có để có thể đạt được những mục tiêu của các tổ chức xã hội dân sự Bao gồm các nguồn lực về tài chính, nguồn nhân lực và nguồn lực cơ sở vật chất kỹ thuật Ở Việt Nam, nguồn lực tài chính của các tổ chức xã hội dân sự phần lớn từ phía Nhà nước, sau đó là các tổ chức nước ngoài và tư nhân Các nguồn lực này nhằm thực hiện những mục tiêu mang tính cộng đồng như xóa đói giảm nghèo, một số vấn đề liên quan đến dân sinh như nước sạch, môi trường, phát triển kinh tế nông thôn nguồn nhân lực của các tổ chức thường rất đa dạng, tùy thuộc vào tính chất của tổ chức đó Ở những tổ chức quần chúng, hội nghề nghiệp hay các tổ chức thành viên của Mặt trận, trình độ học vấn của các thành viên thường rất cao, phần lớn là trình độ đại học, thạc sỹ và tiến sỹ Các tổ chức còn lại thành phần thường ở trình độ học vấn thấp hơn
Về môi trường, bao gồm môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa
và pháp lý đối với xã hội dân sự Đi sâu vào chi tiết và đánh giá về vấn đề này, môi trường của xã hội dân sự thường được phân chia làm các tiểu mục nhỏ, cụ thể hơn để đánh giá, đó là: Bối cảnh chính trị; các quyền tự do cơ bản; bối cảnh kinh tế - xã hội; bối cảnh văn hóa - xã hội; môi trường pháp lý; mối quan hệ xã hội dân sự và nhà nước và cuối cùng là mối quan hệ giữa xã hội dân sự với khu vực tư
Dựa trên sơ đồ trên, chúng ta thấy rằng bốn bình diện xã hội dân sự ở Việt Nam, có độ lớn vừa phải và khá cân bằng, nó cũng phản ánh quan điểm đánh giá tương đối lạc quan khi so sánh với các đánh giá của các chuyên gia quốc tế Bình diện "tác động" có giá trị thấp hơn ba bình diện còn lại
Bình diện "tác động" có điểm số thấp nhất trong bốn bình diện Đây là bình diện khó đánh giá nhất, bởi vì nói chung tác động là không dễ phân tích,
Trang 22đặc biệt trong trường hợp của Việt Nam, hầu hết các hoạt động thường do các
Tổ chức khác nhau kết hợp thực hiện, do các cơ quan tài trợ khác nhau hỗ trợ,
và thường hỗn hợp với các hoạt động của cơ quan nhà nước
1.2.2 Những yếu tố chi phối đến sự hình thành và phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam
Vào đầu thế kỷ 20, lịch sử Việt Nam đã chứng kiến nhiều phong trào quần chúng và các tổ chức xã hội dân sự tham gia giải phóng dân tộc Trước tiên phải kể đến sự thành lập của Hội Duy Tân (cuối tháng 4 năm 1904), Hội được thành lập với mục đích hết sức giản đơn phản ánh nhu cầu của các trí thức ở thời điểm đó là "Cốt sao khôi phục được Việt Nam, lập ra một Chính phủ độc lập, ngoài ra chưa có chủ nghĩa gì khác cả" Nhiệm vụ trước mắt của Hội được đề ra trong ngày thành lập là phát triển thế lực của Hội về người và
về tài chính; chuẩn bị bạo động và phương án hỗ trợ sinh viên sang Nhật học tập và cầu vận
Cùng thời kỳ này, các Hội khuyến học cũng ra đời nhằm giúp hội viên học hỏi, trau dồi kiến thức về ngôn ngữ, văn hóa của nước Pháp bằng mọi phương tiện Phong trào này là cơ sở để đưa tư duy cải cách văn hóa giáo dục
và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc cho Việt Nam
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là sự kế thừa các phong trào
xã hội dân sự Trong phong trào cải cách và giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Yêu sách gửi hội nghị Hòa bình Versailles ngày 19/6/1919, Người đã chỉ rõ những giá trị bình đẳng bác ái, không phân biệt người bản xứ
và người chính quốc, quyền tự do báo chí, tự do lập hội, xây dựng nguyên tắc Nhà nước pháp quyền đó là những giá trị nền tảng của xã hội dân sự
Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý và giá trị của xã hội dân sự trong công cuộc giải phóng đất nước Thời kỳ 1936 - 1939, Đảng rất linh hoạt, khôn khéo trong việc tổ chức quần chúng, không cứng
Trang 23nhắc, không nhất thiết các Tổ chức quần chúng đều phải mang một màu sắc, đều phải nhuộm màu đỏ như công hội đỏ, hội cứu tế đỏ mà có thể lấy những cái tên đơn sơ, dễ hiểu và gần với nhân dân nhằm tập hợp được đông đảo quần chúng vào các tổ chức cách mạng Đảng quyết định lấy tên Thanh niên phản đế đoàn thay Thanh niên cộng sản đoàn, lập Hội cứu tế bình dân thay Hội cứu tế đỏ, lấy tên Công hội thay cho Công hội đỏ và lấy tên Nông hội thay Nông hội đỏ Các tổ chức hội này gắn liền với đời sống sinh hoạt bình thường hằng ngày như hội cấy, hội gặt, hội lợp nhà, hội hiếu hỉ, phường
đi săn, hội hát kịch…
Trước năm 1986, các tổ chức xã hội chủ yếu bao gồm các tổ chức quần chúng, được gọi là các tổ chức chính trị - xã hội như Công đoàn, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Đây là những tổ chức từng được thành lập ra vào những năm 1930, gắn bó mật thiết với Đảng và hoạt động dưới ngọn cờ Mặt trận tổ quốc
Năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành văn bản pháp lý đầu tiên của nhà nước Việt Nam khẳng định quyền lập hội của nhân dân, khẳng định tác dụng của hội đối với sự đoàn kết và góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta (Luật số 102-SL/L-004)
Đầu thập niên 80, của thế kỷ 20, có 3 hiệp hội nghề nghiệp đã được thành lập để thúc đẩy sự giao lưu giữa những người quan tâm tới các lĩnh vực khoa học, văn hóa và đoàn kết Đó là: Liên hiệp các Hội Khoa học và
Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA); Liên hiệp Văn học và Nghệ thuật Việt Nam (VWAA); Liên hiệp các Hiệp hội Hòa bình, Hữu nghị và Đoàn kết Việt Nam (VUPSFO và sau này gọi là VUFO) Từ đầu thập kỷ 90, của thế kỷ 20 tại Việt Nam việc mở cửa xã hội cho các thành phần kinh tế khác cũng tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội và việc phục hồi các tập quán liên quan đến sinh hoạt hàng ngày, một phần là theo các hình thức mới (Malarney 2002) Một
xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện và nở rộ các tổ chức
Trang 24Theo một báo cáo và phân tích của Helvetas năm 1996 (Helvetas 1996- Helvetas Swiss Intercooperation là một tổ chức phát triển có trụ sở chính tại Thụy Sỹ, là một mạng lưới quốc tế bao gồm các tổ chức chi nhánh độc lập hoạt động trong lĩnh vực hợp tác phát triển và cứu trợ khẩn cấp), các tổ chức
xã hội vào giữa thập kỷ 90 được phân chia thành 5 loại:
1) Các tổ chức quần chúng;
2) Các hiệp hội nghề nghiệp xã hội Trung ương;
3) Các hiệp hội địa phương;
4) Các hiệp hội nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật;
5) Các nhóm không chính thức
Tại thời điểm đó, nhà nước chưa ban hành văn bản pháp lý quy định việc thành lập và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ của nước ngoài Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ khi đó được gọi là các tổ chức nghiên cứu và phát triển khoa học và kỹ thuật Vào thời điểm đó Mặt trận Tổ quốc khuyến khích các Tổ chức quần chúng hoạt động độc lập hơn với Đảng và nhà nước và tìm kiếm các nguồn lực bên tổ chức phi chính phủ ngân sách nhà nước để được duy trì và phát triển mà không quá phụ thuộc vào nguồn ngân sách Quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức quần chúng được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1989 đã tạo cơ sở cho khung pháp lý cho việc thành lập và quản lý của các hội quần chúng trong thời kỳ đổi mới (Chỉ thị 01/CT-HĐBT ngày 05/01/1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) Khi mô hình hợp tác xã nông thôn tan rã, các tổ chức quần chúng tại cấp làng, xã bắt đầu tạo lập được vị trí và vai trong quan trọng đối với quần chúng và chính quyền địa phương, và trong các xí nghiệp, nhà máy, tổ chức công đoàn có những nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đồng thời là cầu nối giữa người lao động và người sử dụng lao động theo quy định của Luật Lao động 1994 (Luật Lao động 1994)
Trang 25và vừa do có sự xuất hiện các tổ chức kinh tế kiểu mới như liên doanh, các doanh nghiệp tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài (Luật Doanh nghiệp
1999, Luật Đầu tư nước ngoài 1996) Hội Cựu chiến binh mới ra đời có khác hơn các Tổ chức quần chúng khác sau cuộc chiến tranh chống Mỹ Hội nông dân cơ bản được tổ chức lại trong bối cảnh cải tổ các hợp tác xã năm 1998
và Luật Đất đai 1993, đã xây dựng một mạng lưới mới các câu lạc bộ nông dân Hội Liên hiệp Phụ nữ trở thành một trong những đối tác được quan tâm của các tổ chức tài trợ nước ngoài, các cơ quan phát triển song phương và các
tổ chức phi chính phủ quốc tế là những tổ chức đã tăng lên nhanh chóng từ giữa thập kỷ 90, và Hội đã lập ra hàng ngàn các câu lạc bộ phụ nữ mới ở cơ
sở trên toàn quốc Tổng Liên đoàn Lao động đã có những thay đổi khó khăn hơn các tổ chức khác, và Tổng Liên đoàn có một số đối tác nước ngoài hạn chế để hỗ trợ cho việc chuyển đổi thành các tổ chức cho công nhân trong việc mở rộng thành phần tư nhân, nhưng nó cũng đã thành công trong việc kết nạp các hội viên mới
Các Hiệp hội nghề nghiệp hoạt động trên quy mô quốc gia và thường gắn với một trong các liên hiệp như: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) Vào năm 1995, khoảng 143 hiệp hội quốc gia được xác định là chuyên ngành trong các lĩnh vực xã hội, chuyên môn và kỹ thuật
Vào giữa thập kỷ 90, các nhóm không chính thức cũng bắt đầu xuất hiện mang tính tổ chức nhưng vẫn còn ở quy mô hạn chế Có thể thành lập một tổ chức ở cấp cơ sở nếu liên quan đến một tổ chức được công nhận chính thức Các nhóm này được chính quyền địa phương biết đến và chấp nhận và thông thường được một tổ chức chính thức bảo trợ như Hội Chữ thập đỏ (cũng là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc) và bao gồm các nhóm như nhóm người cao tuổi, nhóm văn hóa, nhóm giáo dục, nhóm dạy học, nhóm giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc các trẻ em tật nguyền
Trang 26Tại nông thôn, người ta cũng kể đến các nhóm quyền lợi như nhóm sử dụng nước, nhóm tín dụng dựa vào tín dụng không chính thức, và họ cũng dựa vào các nhóm thân hữu, theo dòng họ hoặc theo tín ngưỡng Các nhóm không chính thức hoạt động tự quản, có hội viên và tự đảm bảo tài chính (Helvetas 1996) Mặc dù được thừa nhận một cách khắt khe, trước năm 2000 các nhóm đó là "không hợp pháp" vì chúng không hoạt động theo một khuôn khổ pháp lý và không được thừa nhận là hợp lý cho các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ quốc tế
1.3 Pháp luật về xã hội dân sự của một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Pháp luật về xã hội dân sự của Thụy Điển
Thụy Điển là một trong những quốc gia phát triển nhất ở Bắc Âu, trong phạm vi của Luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu về pháp luật về xã hội dân
sự của đất nước Thụy Điển – quốc gia điển hành của các nước Bắc Âu
Xã hội dân sự của Thụy Điển được đặc trưng bởi văn hóa đồng thuận thực dụng, song hành cùng quan điểm bá quyền dân chủ - xã hội Ngay vào thập kỷ 90 của thế kỷ 20, mọi Đảng chính trị đã thống nhất khái niệm về việc làm đầy đủ Sự đồng thuận rộng rãi về xã hội là “ngôi nhà chung” của mọi người, xây dựng các chương trình phúc lợi xã hội cải thiện cuộc sống của đa
số người dân được xã hội chấp nhận rộng rãi
Các tổ chức xã hội dân sự của Thụy Điển có vai trò bổ sung và đóng góp quan trọng trong xã hội Thụy Điển Trong lịch sử khoảng gần 100 năm trở lại đây, các phong trào quần chúng rộng rãi là hình thức tổ chức phổ biến
và sự kết hợp giữa “tiếng nói” – hệ tư tưởng cho các giai cấp, các nhóm kinh
tế, xã hội, lợi ích, nhóm dễ tổn thương và có vai trò thúc đẩy tạo nguồn “vốn
xã hội” là những khái niệm quan trọng giúp mọi người hiểu rõ hơn về khu vực thứ ba và các hoạt động của khu vực này ở Thụy Điển Các tổ chức xã hội dân sự là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế mang tính xã hội và đóng vai trò qua trọng trong tăng trưởng của nhà nước phú lợi
Trang 27Ở Thụy Điển, khái niệm nền kinh tế mang tính xã hội bao gồm hợp tác xã, khu vực xã hội dân sự (các phong trào quần chúng, các tổ chức quỹ
và các nhóm lợi ích) Khái niệm này thích ứng với kiểu chế độ phúc lợi mới mang tính hỗn hợp và các tổ chức khu vực thứ ba tham gia ký kết thực hiện hợp đồng dịch vụ từ khu vực công Các tổ chức xã hội dân sự như phong trào quần chúng, các tổ chức lợi ích và hiệp hội được nhìn nhận chủ yếu thông quan quan điểm của chính phủ, như các trường hợp cho dân chủ và quyền công dân, như công cụ để huy động chính trị và được duy trì để chia
sẻ trách nhiệm về phát triển và thực hiện chính sách lao động cùng với nhà nước Theo quan điểm truyền thống, có thể gọi phong trào quần chúng là tổ chức có tính chất hỗn hợp
Trong thời gian dài, Nhà nước Thụy Điển luôn có quan hệ chặt chẽ với khu vực xã hội dân sự, gần đây Nhà nước Thụy Điển đã gia tăng công nhận vai trò chính trị vã xã hội về khu vực này, đặc biệt về vai trò vận động xã hội thúc đẩy lợi ích thành viên, vận động hành lang, tuyên truyền, tuần hành và tạo dựng hệ tư tưởng, đóng góp vào cung cấp các dịch vụ phúc lợi cho xã hội
Khu vực xã hội dân sự có nhiều đóng góp quan trọng trong các hoạt động về chính trị, xã hội và cách thành tự nói chung của xã hội Thụy Điển Từ
đó, người dân Thụy Điển trở thành thành viên của các tổ chức xã hội dân sự ngày càng cao, trung bình khoảng 25% dân cư tham gia là thành viên của tổ chức xã hội dân sự Khu vực xã hội dân sự này cũng tự hạch toán tài chính thông qua góp phí, lệ phí, nguồn kinh phí khác
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, xảy ra khủng hoảng tài chính cả ở nhà nước và chính quyền đô thị Thụy Điển, do vậy đã nảy sinh các tranh luận mang tính thực dụng và bao trùm là nhằm tìm kiếm các giải pháp đối với vấn
đề phúc lợi hoặc tình trạng khủng hoảng phúc lội Nhằm ổn định tình hình, bên cạnh việc nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề tổ chức nhà nước phúc
Trang 28lợi, các đảng phái cầm quyền của Chính phủ Thụy Điển đều coi khu vực xã hội dân sự là giải pháp thay thế hợp pháp đối với cả cung cấp dịch vụ công, tư
và ủng hộ các công việc tình nguyện Từ đó, những hạn chế về mặt pháp lý đối với khu vực xã hội dân sự dần được dỡ bỏ
Có thể nhìn nhận, khu vực xã hội dân sự được công nhận là có chung lợi ích trong việc tạo dựng mối quan hệ với khu vực công và khu vực tư nhân,
ví dụ, Liên hiệp các tổ chức khu vực thứ ba và các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực y tế và phúc lợi được thành lập năm 2004 Khu vực xã hội dân
sự được tham gia vào quá trình hình thành chính sách công, độc lập về luật pháp và vận động hành lang, thông qua cá diễn đàn… Tuy nhiên, theo quan điểm quốc tế các hoạt động của khu vực này vẫn còn bị hạn chế
Đặc biệt ở Thụy Điển là sự cách biệt giữa nhà nước và khu vực xã hội dân sự rất nhỏ, và nhà nước đóng vai trò tích cực nổi trội, đặt biệt Các lực lượng xã hội dân sự được tổ chức rất tốt và tác động ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình ổn định chính trị đất nước Điều này đã phủ nhận quan điểm cho rằng chế độ nhà nước phúc lợi bao phủ toàn bộ sẽ hủy hoại mong muốn người dân tham gia làm việc không hưởng công ở các tổ chức tình nguyện
1.3.2 Pháp luật về xã hội dân sự của Cộng hòa Pháp
Cộng hòa Pháp là quốc gia theo định hướng thị trường tự do, nhà nước
phúc lợi kiểu châu Âu lục địa Khu vực xã hội dân sự, phi lợi nhuận ở Pháp được hình thành và phát triển có nhiều thăng trầm và chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của truyền thống lịch sử, đặc biệt là chế độ Chính phủ tập quyền của Pháp Ngay từ thời Vua Louis thứ 14, đã cho phép chính quyền trung ương và hành chính vị thế độc quyền lý giải và đại diện về các lợi ích chung của xã hội
Chế độ tập quyền Pháp được nhấn mạnh trong cuộc cách mạng Pháp
1789 và khẳng định trong Luật Le Chapelier 1791 Luật này quy định về việc Pháp bỏ các tập đoàn doanh nghiệp, nghiêm cấm các hoạt động phường hội nghề (guilds) của công nhân, chức nghiệp và các hiệp hội khác, vốn đã
Trang 29tồn tại từ thời cổ đại Các quy định hạn chế về quyền lập hội được khẳng định ở chế độ Nhà nước Cộng hòa đệ nhất và Chính quyền quân chủ 1 Tháng 7 Cơ sở lập luận chính dựa trên quan điểm Rouse J về vai trò nhà
nước là “phương tiện chính để thể hiện các lợi ích tập thể cho mọi người
dân Pháp Không ai được cho phép xúi giục công dân có các lợi ích trung gian (giữa lợi ích cá nhân và lợi ích nhà nước) và tách họ ra khỏi quốc gia dân tộc bằng tinh thần hợp tác”
Mặc dù bị luật hạn chế, các tổ chức hiệp hội tình nguyện, hội tương hỗ vẫn xuất hiện vào cuối năm 1830, khi quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa bắt đầu và sóng phong trào mong muốn thành lập hội bùng phát mạnh mẽ, đòi công nhận quyền lập hội của công nhân Tuy nhiên, năm 1848 phong trào Hội công nhân bị ngăn chặn và trong suốt quá trình thành lập Chế độ Cộng hòa đệ Nhị (1851 – 1870) hoạt động bị hạn chế và chỉ đến năm 1901, sau khi Hội đoàn nghề nghiệp được thành lập (năm 1884) thì nền tảng pháp lý về Hiệp hội Công đoàn mới được hoàn thiện, với tức cách là “cơ quan trung gian” giữa nhà nước và công nhân mới được ghi nhận
Trong chế độ Cộng hòa đệ Tam (1871 – 1940), sự công nhận pháp lý
và hỗ trợ tăng cường cho hợp tác xã, các hội tương hỗ và phong trào hội, nhóm liên kết, được gắn kết với phát triển của các ngành công nghiệp Tuy nhiên, nhìn chung các chính phủ tập quyền Jacobank nối tiếp nhau trong suốt thời gian dài (gồm cả phái Cộng hòa và Bonapacts) đều tỏ thái độ nghi ngờ về các tổ chức tôn giáo và phong trào lao động Các chính phủ chống giáo sĩ, mục sư đều xem các tổ chức từ thiện tin lành và các hội tương hỗ là sự hồi cố của chế độ tôn giáo và nghiệp đoàn kiểu cũ Các tổ chức chính quyền coi phong trào lao động nói chung và tổ chức tự lực, hỗ trợ lẫn nhau của công nhân nói riêng là biểu hiện của chủ nghĩa vô chính phủ và là sự thống trị của giai cấp công nhân – một phong trào đạt đỉnh điểm là Công xã Pari năm 1871
Trang 30khi chính quyền đô thị sợ hãi đấu tranh với nhóm công nhân và coi đó là các liên minh bất hợp pháp
Cho đến cuối thể kỷ 19, khu vực tổ chức phi lợi nhuận đắt đầu thoát ra khỏi tình trạng bất hợp pháp Năm 1889, việc kết tội lập liên minh đã xóa bỏ
và sau đó 20 năm, tội lập công đoàn cũng được xóa bỏ Các tổ chức tình nguyện được hợp pháp hóa theo luật vào năm 1901, song những thay đổi pháp lý này không giúp xóa bỏ sự thù địch lâu dài và sâu sắc giữa nhà nước tập quyền và nhà thờ, và các tổ chức phối hợp bổ sung – subsidiarities, đặc biệt là các trường học và các tổ chức từ thiện
Luật 1901 có hiệu lực trong giai đoạn chính trị chống giáo sĩ, các tổ chức tình nguyện được hợp pháp hóa song vẫn áp dụng một số quy định hạn chế tương đối với các hiệp hội tôn giáo Luật này vẫn còn hiệu lực cho đến nay
Năm 1905, Luật Tái thiết nhà thờ được phục hồi đã tách nhà thờ Thiên chúa tin lành khỏi nhà nước và sự xung đột giữa thế tục và tôn giáo bắt đầu lắng xuống Trong thời kỳ của giai đoạn kỷ nguyên công nghiệp hóa bắt đầu, các hội tương hỗ và hợp tác xã đã tách ra khỏi phong trào công nhân và phát triển theo hai hướng khác nhau Cụ thể, các hội tương hỗ và hợp tác xã định hướng tới giai cấp trung lưu nhiều hơn và phong trào công nhân đi theo hướng cấp tiến và Mácxit
Việc mở rộng các chương trình phúc lợi xã hội của chính phủ vào giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, không chỉ tạo ra nhiều hội lợi ích tương hỗ mà còn ảnh hướng tới định hướng của các tổ chức này, thúc đẩy họ tái định hướng mục tiêu và hoạt động thực tế
Năm 1945, Pháp đã thiết lập thành công hệ thống an sinh xã hội, bảo
vệ toàn bộ dân cư khỏi những rủi ro xã hội như ốm đau, tuổi già, thất nghiệp
và mở rộng phát triển gia đình Các chương trình đáp ứng nguồn cung cấp chi phí cho y tế, nằm viện không mất tiền, hưu trí, các lợi ích cho người cao
Trang 31tuổi khác và chính sách trợ cấp gia đình cho mọi thành viên, trừ con đầu tiên Do đó các hoạt động hội, nhóm lợi ích tương hỗ đã tái khẳng định vị thế độc lập, nhằm hòa nhập và giải quyết tốt hơn các vấn đề phúc lợi nhà nước Các hội tìm kiếm và áp dụng các biện pháp đổi mới để hoàn thiện công tác bảo trợ xã hội – tức là nhằm lấp những khoảng trống trong hệ thống
an sinh xã hội công Dưới sự quản lý thống nhất của Liên minh Hiệp hội thành lập năm 1947, các hiệp hội tham gia hoạt động ở lĩnh vực dịch vụ phúc lợi như y tế, xã hội, vệ sinh, đặc biệt là tăng cường nỗ lực đáp ứng nhu cầu cho các nhóm bất lợi như trẻ em, người già, người nhập cư, người khuyết tật… và cũng cố mối quan hệ với nhà nước
Năm 1970, nhà nước Pháp đã tăng cường thỏa hiệp và phục hồi khu vực phi lợi nhuận với mọi hình thức, với những tên gọi tập thể như “nền kinh
tế mang tính chất xã hội”, “kinh tế dựa trên đoàn kết”, “khu vực phi lợi nhuận” … tái khẳng định lại vị thế, mối quan hệ giữa “cái kinh tế và cái xã hội” trong phát triển xã hội Pháp Các Luật xã hội cơ bản năm 1970 đã góp phần khẳng định vị thế xã hội chính thức của các hiệp hội Pháp Trong thập
kỷ 1970 – 1980, khu vực này được coi là bổ sung thêm cho mối quan hệ giữa chính phủ và các dịch vụ phi lợi nhuận và được tăng cường
Năm 1980, Hiến chương về “nền kinh tế mang tính xã hội” chính thức,
đã công nhận sự tồn tại của khu vực phi lợi nhuận, bất kể sự tồn tại đa dạng pháp lý đối với các thành tố ở khu vực này Hiến chương khẳng định một số
đặc điểm cơ bản của khu vực tổ chức phi lợi nhuận, bao gồm: Thứ nhất, tính
chất tham gia cá nhân, tự do gia nhập và rút lui và điều này khác với sự gắn
kết bắt buộc và các đóng góp cho an sinh xã hội; Thứ hai, tính chất đoàn kết
giữa thành viên – đối với khu vực phi lợi nhuận Pháp, khái niệm đoàn kết đặc biệt quan trọng, theo đó, hàm ý quan hệ cũng tùy thuộc lẫn nhau, cảm giác thuộc về nhau, cộng đồng trách nhiệm và tái phân bổ thu nhập Ở nhiều tổ
Trang 32chức phi lợi nhuận, các thành viên đóng góp mức phí như nhau cho các loại
dịch vụ khác nhau hoặc đóng phí theo mức thu nhập; Thứ ba, tính chất quản
lý dân chủ - các cuộc họp chung thực hiện theo nguyên tắc “mỗi người một phiếu”, điều này khác với các cuộc họp ở hãng cổ phần được thực hiện theo
nguyên tắc “mỗi cổ phần, một phiếu”; Thứ tư, tính chất độc lập với chính phủ
- tổ chức phi lợi nhuận không phải là là bộ phận của Chính phủ Trong nhiều năm, ở Pháp đã tồn tại một số nhóm hoạt động kiểu “nửa chính phủ, nửa hiệp hội” với địa vị pháp lý là hiệp hội, được lập ra nhằm tránh các quy định hành chính và trách nhiệm giải trình công cộng Các thành viên thường là công chức hoặc đại diện chính quyền đô thị Do vậy, các nhóm này không phải là mang tính chất tổ chức tự quản nên không được xếp là bộ phận thuộc “nền
kinh tế mang tính xã hội”; Thứ năm, tính chất tình nguyện của Ban quản trị -
các giám đốc không nhận khoản bù đắp nào, nếu không thuộc chi phí được giải ngân; lợi nhuận không phải là mục đích của tổ chức và không thu lãi của vốn dưới hình thức lợi tức Thu nhập dư thừa ra sau khi trang trải chi phí, được tái đầu tư vào tổ chức Điều này áp dụng nghiêm ngặt trong khu vực hiệp hội, song lại được nới lỏng hơn đối với các tổ chức tương hỗ hoặc Hợp tác xã Các nhóm tương hỗ hoặc hợp tác xã có thể tái đầu tư nguồn lợi nhuận hoặc phân phối cho thành viên hoặc khách hàng dưới dạng giảm phí, giá Vốn chung không được chia ngay cả trong trường hợp giải thể tổ chức phi lợi nhuận, các vốn tài sản cần được chuyển cho tổ chức phi lợi nhuận khác
Đến năm 1982, sau khi chính phủ theo đường lối xã hội chủ nghĩa lên cầm quyền ở Pháp, thực hiến chính sách phi tập trung hóa và sau đó, các chính quyền xã hội chủ nghĩa vẫn tiếp tục áp dụng chính sách lồng ghép và phát triển khu vực phi lợi nhuận, “nền kinh tế mang tính xã hội”, “khu vực thứ ba”, phi lợi nhuận như một thể chế riêng và có cơ sở nền tảng pháp lý rõ ràng về các tổ chức thành viên, bao gồm các hợp tác xã, các nhóm lợi ích
Trang 33tương hỗ, hiệp hội bảo hiểm, các tổ chức quỹ, các hội đồng công nhân và các
tổ chức nhóm xã hội khác Tiếp theo, do kinh tế chậm lại dẫn tới nạn thất nghiệp tăng, nhiều tổ chức y tế công và dịch vụ xã hội bị ảnh hưởng lớn về nguồn thu, do họ gắn quá chặt với hệ thống an sinh xã hội và phụ thuộc vào những khoản đóng góp cá nhân, vốn chịu ảnh hưởng của phát triển thị trường lao động Do đó, các tổ chức công đã tìm kiếm sự hợp tác với các tổ chức mới, thuộc khu vực mới nổi lên – còn gọi là các tổ chức thuộc “nền kinh tế mang tính xã hội”
Các hiệp hội tự nguyện và doanh nghiệp xã hội tăng cường hội nhập và đóng vai trò quan trọng như nghiên cứu nghèo đói, hoàn thiện các luật, khuôn khổ chống nghèo đói… Từ đó, vai trò của khu vực hiệp hội trong định hình chính sách công được thể hiện rõ ràng, từ việc khởi thảo chính sách, xóa bỏ nạn tách biệt xã hội đã làm thay đổi mối quan hệ giữa nhà nước và khu vực phi lợi nhuận và cơ chế quản trị
Gần đây, khu vực phi lợi nhuận (khu vực thứ ba hay khu vực xã hội dân sự) đã được “thể chế hóa” và tái khẳng định vị trí nằm giữa nhà nước
và thị trường (nghĩa là giữa dịch vụ công và doanh nghiệp tư vì lợi nhuận) Tuy nhiên, ở Pháp ít sử dụng thuật ngữ “khu vực thứ ba” như ở các quốc gia châu Âu khác Khu vực xã hội dân sự tích cực tham gia trong xây dựng, thực hiện các chính sách việc làm công cộng, chính sách xã hội và điều này được phản ánh quan mối quan hệ giữa chính quyền nhà nước và khu vực thứ ba về vấn đề quản trị nói chung Theo đói, trong xã hội thực hiện kiểu quản trị hỗn hợp, lồng ghép với cơ chế cạnh tranh (đấu thầu thực hiện dịch vụ) và tổ chức diễn đàn tham vấn, quan hệ đối tác, đặc biệt là cơ thế tham vấn chính quyền địa phương
Năm 2001, chính phủ Pháp đã ký thỏa thuận chung với khu vực xã hội dân sự, tổ chức phi lợi nhuận … cùng cam kết thúc đẩy dân chủ thông qua
Trang 34tham gia công cộng, đảm bảo phát triển kinh tế thị trường, không làm suy giảm hình thành thị trường xã hội mà sẽ phải đảm tính đoàn kết nhiều hơn trong xã hội
1.3.3 Pháp luật về xã hội dân sự của Cộng hòa Liên bang Đức
Trong xã hội hiện đại ngày nay, xã hội dân sự đã được Nhà nước Đức quan tâm và có nhiều nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là vấn đề dân chủ trong dân Việc phân tích xã hội dân sự đối với dữ liệu thứ yếu theo chỉ số sắp xếp đã được quản lý Một số nghiên cứu và các khảo sát về tình hình xã hội dân sự đã được phân tích, thể hiện ở một số báo cáo quan trọng như: Dự án so sánh lĩnh vực hoạt động phi lợi nhuận của Johns Hopkins; Thăm dò ý kiến dư luận chung của khoa học xã hội của tổ chức ALLBUS; Các nghiên cứu của Viện thăm dò dư luận Allensbach …
Thuật ngữ Tổ chức xã hội dân sự ở Đức thường không được sử dụng, thay vào đó họ dùng thuật ngữ “Các tổ chức phi lợi nhuận” (ví dụ: các tổ chức, hiệp hội) Xã hội dân sự được phân chia thành lĩnh vực thị trường và nhà nước, các tổ chức phi lợi nhuận có thể phân biệt với các doanh nghiệp (các tổ chức hoạt động với mục đích lợi nhuận) Trong một số trường hợp thì không có sự phân biệt giữa hai loại hình này Tuy nhiên cũng có thể xác định được cơ sở một số phạm vi chính như chia theo hình thức pháp lý (sáp nhập) đoàn thể, các tổ chức (có tính chất pháp lý), các công ty hoạt động phi lợi nhuận và các loại khác Theo đó, một tổ chức phi lợi nhuận ở Đức phải
có 5 đặc điểm chính là: Họ phải là một tổ chức, cá nhân, nhà phân phối phi lợi nhuận, tự quản lý và hoạt động mang tính tự nguyện Tuy nhiên, các đảng phái chính trị và các tổ chức tôn giáo lại vẫn được coi là các tổ chức xã hội dân sự mặc dù thành viên trong các tổ chức này hoạt động không mang tính chất tự nguyện
Trang 351.3.4 Pháp luật về xã hội dân sự của Thái Lan
Cũng như các xã hội nông nghiệp truyền thống, trong lòng xã hội Thái
từ xa xưa đã tồn tại sự cố kết và những mối liên hệ chặt chẽ theo chiều ngang
ở cấp độ vi mô, làng bản, còn gọi là các thể chế không có kết cấu Người dân
cư xử và hợp tác trên cơ sở quan hệ thân tộc và những nguyên tắc tương trợ lẫn nhau, bao gồm đổi công trong việc đồng áng như trồng cấy, gặt hái mùa màng, xây cất nhà cửa và chuẩn bị các nghi lễ, hội hè… nhà chùa đã trở thành trung tâm của đời sống xã hội và những giao dịch xã hội nói trên Chính vì vậy, yếu tố đầu tiên và trước hết cần đề cập là Phật giáo
Ngay từ đời vua thứ ba của nước Sukhothai (Nhà nước Thái thống nhất đầu tiên), vua Ramkhamhaeng (1275-1317) đã lấy Phật giáo Theravada (Maha Nikaya) từ Sri Lanka làm Quốc đạo và tư tưởng Phật giáo làm nền tảng cho đạo đức xã hội Người Thái vui mừng đón nhận Phật giáo một cách tự nhiên và đến lượt mình, Phật giáo lại giúp củng cố và phát triển những quan niệm đạo đức vốn là bản tính của dân tộc Thái, hiền hòa thân thiện và khiêm nhường Phật giáo Thái Lan là Phật giáo nhập thế Mọi tư duy, cách ứng xử và hoạt động của người Thái, từ nhà vua cho đến dân thường đều hướng đến mục đích cao cả nhất là tu nhân tích đức, tích thiện và trừ bỏ điều ác
Chế độ nô lệ và quan hệ "chủ - tớ" (nai - phrei trong tiếng Thí và patron - client trong tiếng Anh) thống trị xã hội Thái Lan trong 500 năm cùng với những nguyên tắc đạo đức Phật giáo đã quy định một hệ thống giá trị tạm gọi là địa vị, quyền lực, thanh thế và đặc quyền Điều đó có nghĩa là khi một người có địa vị thì sẽ có quyền lực, thứ mang lại cho anh ta thanh thế và đương nhiên được hưởng những ưu tiên, ưu đãi, và khi đó tiền bạc tự khắc đến [77, tr 46-55]
Hệ thống giá trị này thấm đẫm xã hội từ trên xuống Người Thái tôn kính nhà vua, tôn trọng người bề trên (lớn tuổi, có địa vị cao, thầy giáo, các bậc tiền bối, người có học vấn cao), đề cao quyền lực, quen thuộc phục tùng,
Trang 36không ưa làm trái ý người khác, không dám mạo hiểm, thường tránh rủi ro… Mặc dù chế độ nô lệ đã bị Vua Rama V xóa bỏ hoàn toàn vào năm 1905
và từ khi Thái Lan trở thành nước quân chủ lập hiến, các thiết chế chính trị,
xã hội đã tiếp cận những hình thức mới, những dấu ấn của quan hệ chủ - tớ vẫn in đậm và quần chúng nhân dân vẫn tiếp tục gắn với hệ thống các giá trị
và tín ngưỡng truyền thống trong thời gian dài Sự chuyển biến về tư tưởng mới chỉ diễn ra ở tầng lớp trên và trung lưu trí thức, chưa diễn ra ra trong dân chúng Tuy nhiên, cải cách của Vua Rama V là một yếu tố cực kỳ quan trọng, đóng góp tích cực vào sự phát triển xã hội dân sự Thái Lan sau này
Trải qua nhiều phong trào, cách mạng xã hội mà có thể nói xã hội dân
sự ở Thái Lan được khởi đầu từ các tổ chức mang tính truyền thống và tôn giáo ở cấp độ vi mô Các hình thức tổ chức xã hội dân sự mới dần được hình thành dưới tác động gián tiếp của bên ngoài, chủ yếu nhờ các yếu tố nội địa, chính là những nỗ lực đổi mới, canh tân đất nước của tầng lớp elite
* Quan điểm khoa học của Thái Lan về xã hội dân sự
Theo giáo sư Kasian Tejapira, "vào đầu những năm 1980, thuật ngữ xã
hội dân sự trong tiếng Anh bắt đầu được dịch sang tiếng Thái và đến năm
1990 thì được các lực lượng xã hội sử dụng rộng rãi" [77, tr.45] Còn theo
Michael Nelsson, "ban đầu các học giả sử dụng các thuật ngữ như tổ chức
phi chính phủ và "tầng lớp trung lưu" để nói đến xã hội dân sự" [78, tr 4-5]
Từ sau khủng hoảng 1997, thuật ngữ này được sử dụng có mục địch nhằm nhấn mạnh vai trò của người công dân tích cực trong việc thực hiện cải cách Bên cạnh đó, người Thái còn có thuật ngữ xã hội dân sự của riêng mình
Từ khi ban hành Hiến pháp năm 1997, Nhà nước Thái Lan không chỉ cấp tiền cho một số tổ chức phúc lợi xã hội, từ thiện, và bàn luận về xã hội dân sự mà chính Nhà nước xây dựng hoạt động xã hội dân sự của riêng mình thông qua việc lập ra prachakhom (đại hội nhân dân) Đây là một diễn đàn
Trang 37nhân dân có cả cấp tỉnh, huyện và xã Mỗi làng đều có đại diện trong diễn đàn này [77, tr 62]
Các đại diện cùng các quan chức địa phương thảo luận các chương trình phát triển của Chính phủ, các kế hoạch kinh tế - xã hội, thậm chí còn có chức năng phân phối, giám sát các quỹ chính phủ ở cơ sở Mặc dù prachakhom được đánh giá là không hiệu quả, nhưng điều đó cũng cho thấy
xã hội dân sự Thái Lan và Nhà nước có mối quan hệ hợp tác nhằm tiến tới một sự đồng thuận và trách nhiệm chung
* Quan điểm của Nhà nước Thái Lan về xã hội dân sự
Quan điểm của Nhà nước Thái Lan về xã hội dân sự cơ bản là những quan điểm chính thức của Nhà nước được đưa ra trong các văn bản có tính chất pháp lý (Hiến pháp, Luật, Sắc lệnh), chính sách của các chính phủ (kể cả các kế hoạch phát triển xã hội) cũng như phát biểu chính thức của các nhà lãnh đạo đất nước
Hiến pháp đầu tiên của Thái Lan dưới chế độ quân chủ lập hiến năm
1932 và các Hiến pháp sau đó của Vương quốc này (1946, 1968, 1978, 1991,
1997, 2007) đều chứa đựng những cơ sở pháp lý căn bản cho sự phát triển của
xã hội dân sự, cụ thể hơn, đó là các quyền tự do của công dân được quy định trên các lĩnh vực tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội, thành lập đảng phái Đặc biệt, Hiến pháp năm 1997 được đánh giá rất cao khi xuất hiện hai cơ quan là ủy ban nhân quyền quốc gia (thuộc Quốc hội) và ủy ban chống tham nhũng quốc gia
Bên cạnh các Hiến pháp, các văn bản pháp lý khác được cụ thể hóa từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xã hội dân sự ở Thái Lan
Khung khổ luật pháp cho sự ra đời và hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự là Luật Dân sự và Ngoại thương, ban hành năm 1937 dưới thời cầm quyền của Tướng Phraya Phahol Pholphayuhasema và lần sửa đổi gần đây nhất của luật này là vào năm 1992, trong đó quy định cụ thể về thành lập
Trang 38và hoạt động của Hội (Association) và Quỹ (Foundation) Quy được quy định
rõ mục đích là làm lợi cho cộng đồng trên các lĩnh vực hoạt động từ thiện cho cộng đồng, tôn giáo, nghệ thuật, văn hóa, khoa học, giáo dục… chứ không phải là phân chia lợi nhuận (Điều 110) Các thủ tục đăng ký hoạt động của Quỹ cũng được luật này quy định rõ Khác với Quỹ, Hội mới chỉ được quy định ở nội dung đăng ký, đăng ký tư cách thành viên và tổ chức hội họp Theo luật này, Văn phòng Cục cảnh sát quốc gia chịu trách nhiệm về việc thành lập
và giám sát các Hội trong khi Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm về các Quỹ
Xét từ góc độ quản lý, Luật Văn hóa quốc gia (ban hành năm 1942) làm rõ thêm chức năng quản lý của các cơ quan đối với xã hội dân sự Cụ thể,
ủy ban văn hóa quốc gia giám sát và cấp phép các hoạt động độc lập của Tổ chức phi chính phủ trong khi Bộ Nội vụ và Văn phòng Cục Cảnh sát quốc gia đưa ra các quy định về các mặt hoạt động đó
Bên cạnh những quy định chung về thành lập, hoạt động của Hội và Quỹ cũng như việc phân cấp quản lý của các Bộ, Ban, Ngành, các chính phủ Thái Lan đến nay đã ban hành nhiều luật quy định hoạt động của các tổ chức
xã hội dân sự
1.3.5 Pháp luật về xã hội dân sự của Trung Quốc
Nhìn tổng thể lịch sử hiện đại của Trung Quốc, quá trình phát triển của các tổ chức xã hội dân sự của Trung Quốc đã trải qua ba giai đoạn Giai đoạn đầu bắt đầu từ năm 1911 đến năm 1949, giai đoạn 2 từ năm 1949 đến năm
1978 và giai đoạn 3 là từ năm 1978 đến hiện nay Các loại hình tổ chức xã hội khác nhau có liên hệ chặt chẽ và được xếp vào sáu loại hình: loại hình thứ nhất
là các nghiệp đoàn phát triển thương mại, như là phường, hội; loại hình thứ hai
là các tổ chức từ thiện; loại hình thức thứ ba là các tổ chức nghiên cứu; loại hình thứ tư là các tổ chức chính trị như đoàn thanh niên; loại hình thứ năm là các tổ chức văn hóa và nghệ thuật Loại hình thứ sáu là các tổ chức bí mật
Trang 39Tháng 10 năm 1932, Chính phủ ban hành một văn bản pháp luật được coi
là văn bản pháp lý đầu tiên của Trung Quốc về tổ chức xã hội dân sự Năm 1942, Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua "Sơ lược các tổ chức phi chính phủ Shan Gan Ning" và "Đăng ký các tổ chức phi chính phủ Shan Gan Ning"
Giai đoạn thứ hai kéo dài từ năm 1949 đến năm 1978 Sau khi Đảng Cộng sản nắm quyền năm 1949 đến đầu những năm 1950, các tổ chức phi chính phủ được tổ chức lại theo nguyên tắc xã hội chủ nghĩa Nhà nước ban hành các quy định về việc đăng ký thành lập tổ chức xã hội vào tháng 9 năm
1950 Văn bản này định nghĩa về tổ chức xã hội theo cách liệt kê và đưa ra những nguyên tắc mang tính thủ tục về việc đăng ký thành lập tổ chức xã hội, bao gồm: nguyên tắc đăng ký các cấp độ khác nhau của song trùng quản lý
Hai loại tổ chức khác đã ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của các tổ chức phi chính phủ của Trung Quốc Một loại là tổ chức phi chính phủ đã được chính trị hóa với những mục đích chính trị rõ ràng được định nghĩa là các đảng hoặc phong trào chính trị Loại còn lại là một vài tổ chức xã hội bất hợp pháp bị cấm như các tổ chức phong kiến và các tổ chức chống chính phủ
có cả các phường, hội, các đảng phái, tổ chức từ thiện, và tổ chức tôn giáo
Sau thời kỳ đổi mới từ năm 1949, các tổ chức xã hội ở Trung Quốc phát triển rất nhanh từ những năm 1950 đến những năm 1960 Ước tính tăng
từ 44 lên tới 100 tổ chức xã hội mang tính quốc gia và tổ chức xã hội ở địa phương đã tăng lên con số 6000 vào năm 1965 Trong thời kỳ cách mạng văn hóa (diễn ra trong 10 năm từ 1966 tới 1976) các tổ chức xã hội dân sự ở Trung Quốc không có cơ hội phát triển
Giai đoạn thứ ba bắt đầu từ năm 1978 và phát triển liên tục cho đến nay Các chính sách đổi mới đã thay đổi rõ rệt trên hầu hết mọi lĩnh vực của Trung Quốc, từ kinh tế đến chính trị và đời sống xã hội đến hiểu biết về văn hóa Những thay đổi này cũng phản ánh sự phát triển của các tổ chức xã hội
Trang 40của Trung Quốc Vào những năm 1980, các tổ chức xã hội ra đời và phát triển nhanh chóng Theo nghiên cứu của Ying Wang và các chuyên gia khác, các tổ chức xã hội ở tỉnh Hàng Châu và Chiết Giang tăng 24 lần từ năm 1978 đến năm 1990 Sự phát triển nhanh chóng của những năm 1980 là có được từ
sự cởi mở của môi trường xã hội xuất phát từ những cải cách và phát triển kinh tế Trong những năm 1990, hệ thống kinh tế thị trường được tái khẳng định và chính phủ thiết lập "chính phủ nhỏ, xã hội lớn" như mục tiêu của cải cách, đã tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội phát triển Vào những năm
1990, sự phát triển của các tổ chức xã hội Trung Quốc đã lên tới đỉnh cao Các thống kê cho thấy rằng vào năm 1998, cả nước có 1800 tổ chức xã hội mang tầm quốc gia và 165.600 tổ chức xã hội ở địa phương Sự phát triển nhanh chóng của những cơ sở phi doanh nghiệp của tư nhân như trường tư thục, bệnh viện tư nhân kể từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước
đã là sự tiến triển quyết định
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, một số lượng lớn cá nhân
và lực lượng xã hội bắt đầu ủng hộ, tài trợ cho các trường học, bệnh viện, các
tổ chức phúc lợi xã hội và các viện nghiên cứu Vào những năm 1990, các
tổ chức phi doanh nghiệp của tư nhân đã lên tới 700.000 cơ sở
Khung pháp lý được thiết lập từ những năm 1950 và không thể đáp ứng yêu cầu của các tổ chức xã hội ở Trung Quốc ngày nay
Khuôn khổ pháp luật được hình thành vào những năm 1950 và không
có khả năng đáp ứng nhu cầu của tổ chức xã hội tại Trung Quốc ngày nay, văn bản có tên là "Quy chế tạm thời về đăng ký và quản lý các Tổ chức xã hội
đã được thông quá vào tháng 10 năm 1989
Đây là văn bản luật thứ hai về tổ chức xã hội kể từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Các Quy định về các biện pháp quản lý các
tổ chức và Quy chế tạm thời về phòng thương mại nước ngoài đã được thông qua tương ứng vào tháng 8 năm 1988 và tháng 6 năm 1989 Tháng 10 năm