Nhằm làm rõ hơn các vấn đề về việc chi trả bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam để giúp cho những người tham gia bảo hiểm nhân thọ hiểu hơn và có những lựa chọn đúng
Trang 1BỘ GIÁO D ỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP HỒ
CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ HỌAT ĐỘNG CHI TRẢ BẢO HIỂM NHÂN THỌ
CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM
Chuyên ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS NGUYỄN THÀNH ĐỨC
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ THIỆN
MỸ MSSV: 1411270758 Lớp: 14DLK11
TP Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau bốn năm học tập và tìm hiểu về các vấn đề pháp lý trên ghế nhà trường em đã học hỏi được rất nhiều điều từ những điều trong sách vở cho đến những vấn đề trong cuộc sống thông qua các giảng viên tận tâm và nhiệt tình
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất đầu tiên em xin cảm ơn ban lãnh đạo nhà trường đã tạo cơ hội cho em học tập tại trường, tiếp theo em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả thầy cô trong khoa luật đã tạo cho em một môi trường học tập tốt nhất, em cũng cảm ơn tất cả các thầy cô bộ môn đã chỉ dạy cho chúng em những bài học quý giá làm hành trang cho cuộc sống sau này
Em xin gửi lời cám ơn chân thành nhất đến thầy Đức người trực tiếp hướng dẫn và chỉ dạy cho em từ chút một, có lúc em sai thầy cũng la nhưng em biết đó là vì thầy muốn em tốt hơn Em cám ơn thầy rất nhiều !
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “Pháp luật về hoạt động chi trả bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm” là công trình nghiên c ứu của cá nhân tôi, không sao chép c ủa bất cứ ai
Tôi xin ch ịu mọi trách nhi ệm về công trình nghiên c ứu của riêng mình
Thành ph ố Hồ Chí Minh, tháng 08 năm 2018
Người cam đoan
Nguy ễn Thị Thiện Mỹ
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Sau đây là các từ viết tắt và nghĩa được tác giả sử dụng trong khóa luận này:
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tính c ấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên c ứu của đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên c ứu của khóa lu ận 4
4 Đối tượng nghiên cứu 4
5 Phạm vi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Kết cấu khóa luận 5
CHƯƠNG 1: 6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LU ẬN CHUNG V Ề DOANH NGHI ỆP BẢO HIỂM VÀ BẢO HI ỂM NHÂN TH Ọ 6
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân lo ại bảo hiểm nhân t họ 6
1.1.1 Khái niêm bảo hiểm nhân th ọ 6
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ 7
1.1.3 Phân lo ại bảo hiểm nhân th ọ 10
1.2 Khái niêm, điều kiện thành lập và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm 14
1.2.1 Khái niệm về doanh nghi ệp bảo hiểm 14
1.2.2 Điều kiện thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 16
1.2.3 Phân lo ại doanh nghi ệp bảo hiểm 19
1.3 Lịch s ữ hình thành, phát tri ển c ủa bảo hiểm nhân th ọ và doanh nghi ệp b ảo hiểm 25
1.3.1 Trên th ế giới 25
1.3.2 Tại Việt Nam 28
1.4 Chi tr ả bảo hiểm nhân th ọ 29
Trang 6CHƯƠNG 2: 34
THỰC TI ỄN ÁP D ỤNG PHÁP LU ẬT VÀ KI ẾN NGHỊ HOÀN THIỆN VỀ CHI TR Ả BẢO HIỂM NHÂN THỌ 34
2.1 Thực tiễn hoạt động chi tr ả bảo hiểm nhân th ọ 34
2.2 Kiến nghị hoàn thi ện phá p lu ật về chi trả bảo hiểm nhâ n thọ 39
KẾT LUẬN 43
DANH M ỤC TÀI LI ỆU THAM KH ẢO 44
PHỤ LỤC 48
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội mỗi người phải gánh trên người những suy nghĩ, lo lắng từ công việc đến gia đình; để phần nào giảm bớt gánh nặng về tâm lý cũng như kinh tế thì người
ta suy nghĩ đến một hình thức vừa là bảo hiểm vừa là đầu tư Đáp ứng từ nhu cầu đó bảo hiểm ra đời nhưng chỉ đơn giản là bảo hiểm tài sản, thời gian trôi qua thì con người nhận thấy rằng tài sản quý nhất mà mỗi người có đó chính là sức khỏe và tính mạng Chính vì thế họ suy nghĩ đến việc cần bảo hiểm cho tuổi thọ và tính mạng của mình cũng như của người thân BHNT là loại bảo hiểm đám ứng các yêu cầu của con người về việc bảo hiểm cho tính mạng và tuổi thọ của mỗi cá nhân Xuất phát điểm của bảo hiểm nhân thọ là nhằm hỗ trợ giúp đỡ nhau, nhưng thực tế việc mua và nhận tiền bảo hiểm là hai chuyện khác nhau Không phải cứ mua bảo hiểm rồi thì người thụ hưởng sẽ nhận được tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, nó
có nhiều lý do mà việc chi trả bảo hiểm nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không như suy nghĩ của người mua bảo hiểm, trong đó có lý do khách quan, nhưng cũng có nhũng lý do chủ quan từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm
Tại Việt Nam bảo hiểm nhân thọ thời gian gần đây có nhiều bước phát triển nhưng nhìn chung so với các nước trên thế giới thì nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam còn chậm Việc chậm hơn so với các nước bạn là có nhiều nguyên nhân một trong nhưng nguyên nhân là sự lo lắng của khách hàng đối với việc chi trả bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Nhằm làm rõ hơn các vấn đề về việc chi trả bảo hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam để giúp cho những người tham gia bảo hiểm nhân thọ hiểu hơn và có những lựa chọn đúng đắn khi tham gia bảo hiểm nhân thọ, đồng thời cũng nói lên các vấn
đề mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể hoàn thiện tốt hơn để đưa nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam phát triển trên thị trường thế giới, đồng thời cũng thúc đẩy
nền kinh tế phát triển Đó là lý do tôi chọn đề tài “PLVN về hoạt động chi trả bảo
hiểm nhân thọ của doanh nghiệp bảo hiểm” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của
mình
Mặc dù nghiệp vụ BHNT là mới tại thị trường Việt Nam so với các nước phương tây nhưng đề tài bảo hiểm nhân thọ không phải là một đề tài mới lạ, nó được nghiên cứu rất nhiều trong khóa luận, luận văn, luận án … nhưng với những khía cạnh khác nhau của BHNT như:
Trang 8Một là đề tài khoa học cấp Bộ của Trường Đại học Ngoại thương: “Thị trường bảo
hiểm và các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm ở Việt Nam”, do PGS,TS
Nguyễn Như Tiến làm chủ nhiệm đề tài, bảo vệ năm 20051
Hai là đề tài Luận án tiến sĩ luật học, chuyện nghành luật kinh tế, Trường đại học
luật Hà Nội: “Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Việt Nam những vấn đề
lý luận và thực tiễn” Do th.s Trần Vũ Hãi bảo vệ năm 20142
Ba là đề tài Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí
Minh: “Phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
kinh tế quốc tế”, do Hồ Thủy Tiên bảo vệ năm 2007 3
Bốn là đề tài Luận văn thạc sĩ thương mại, Trường Đại Học Ngoại Thương, Hà Nội
“Phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam thời kỳ hậu WTO”, do
Lương Thị Thu Thủy bảo vệ năm 20104
Trong khóa luận này người viết tập chung vào việc nghiên cứu về hoạt động chi trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ của DNBH cho người thụ hưởng theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó đề tài còn nêu lên những bất cập trong thực tiễn chi trả quyền lợi bảo hiểm và đưa ra một số kiến nghị giúp hoàn thiện trong hoạt động chi trả quyền lợi bảo hiểm Từ đó từng bước thúc đẩy thị trường bảo hiểm tại Việt Nam ngày càng phát triển hội nhập vào thị trường BHNT trên thế giới
Nếu như những đề tài nghiên cứu khác tác giả tập chung vào nghiện cứu thị trường BHNT tại Việt Nam trong đề tài đề tài Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh: “Phát triển thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt
3
H ồ T h ủ y T i ê n ( 2 0 0 7 ) , P h á t t r i ể n t h ị t r ư ờ n g b ả o h i ể m n h â n t h ọ V i ệ t N a m t r o n g g i a i đoạn h ội nh ập ki nh t ế qu ốc t ế, Lu ận án Ti ến s ĩ ki nh t ế, Trư ờ ng Đ ại h ọ c Ki nh t ế Thành
Trang 9Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế”5
, do Hồ Thủy Tiên bảo vệ năm 2007 hay việc tập chung vào nghiên cứu pháp luật về kinh doanh bảo hiểm trong đề tài Luận án tiến sĩ luật học, chuyện nghành luật kinh tế, Trường đại học luật Hà Nội:
“Pháp luật về Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Việt Nam những vấn đề lý luận và
thực tiễn”6 Do th.s Trần Vũ Hãi bảo vệ năm 2014; thì đề tài khóa luận này người viết tập chung vào nghiên cứu về hoạt động chi trả quyền lợi bảo hiểm của DNBH
tại Việt Nam theo pháp luật về kinh doanh
Trong khóa luận này tác giả tập chung nghiên cứu và tìm hiểu về các trường hợp chi trả và loại trừ trách nhiệm chi trả của DNBH theo pháp luật về kinh doanh bảo
hiểm tại Việt Nam
Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp diễn dịch, quy nạp, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phân tích tổng hợp để thực hiện và hoàn thiện đề tài nghiên cứu trong khóa
luận này
Ngoài lời mở đầu, mục lục và các phụ lục thì khóa luận được chia làm hai chương: Chương 1: Khái quát về lịch sử hình thành doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) và bảo hiểm nhân thọ (BHNT) trên thế giới và tại Việt Nam; Pháp luật Việt Nam ( PLVN) quy định các vấn đề về BHNT và DNBH
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện về chi trả BHNT Đây là đề tài có tính mới và lượng kiến thức về đề tài là rộng lớn nhưng do kinh nghiệm và trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những hạn chế về nội dung cũng như hình thức Người viết rất mong nhận được sự đánh giá góp ý của quý thầy cô, bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề này để đề tài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn
Trang 10CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM VÀ
BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1.1 Khái niêm bảo hiểm nhân thọ
BHNT xuất hiện từ lâu trên thế giới nhưng về khái niệm thì có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các tài liệu khoa học Theo Nguyễn Thị Hải Đường (2006) cho rằng: “BHNT là hình thức bảo hiểm những rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của người được bảo hiểm”7 ; tương tự như quan điểm trên Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng: “BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người”8 Tuy định nghĩa này rộng và khái quát, nhưng lại gắn chặt nghiệp vụ BHNT với rủi ro, mà chưa đề cập đến tính tiết kiệm trong các sản phẩm BHNT, đồng thời trong cách hiểu về đối tượng của BHNT lại có tính trùng lắp vì sinh mạng, tuổi thọ và cuộc sống là các khái niệm chồng chất lên nhau Chính vì thế các nhà làm luật thống nhất khái niệm về BHNT tại Luật kinh doanh BH năm 2000 như sau: “bảo hiểm nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hay chết”9
được quy định tại Khoản 12 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 Ta có thể hiểu đó là là sự cam kết giữa công ty bảo hiểm hay còn gọi là doanh nghiệp bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước còn người tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn
Từ khái niệm về BHNT thì BHNT không chỉ là giải pháp để chuyển rủi ro mà còn
là kênh đầu tư tài chính Phần lớn chúng ta đều cần bảo hiểm nhân thọ vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống Bởi vì bảo hiểm nhân thọ được thiết lập để đem đến cho gia đình một sự bảo toàn tài chính trong trường hợp người vợ, người chồng hoặc cha mẹ gặp phải chuyện không may Bảo hiểm nhân thọ có thể giúp thanh toán tiền nhà, tiền đại học cho con, giúp bổ sung tiền hưu trí, để lại một tài sản, đây đồng thời là một yếu tố quan trọng trong kế hoạch tài sản Nói tóm lại, nếu có người thân cần đến thu nhập của mình, thì mình nên nghĩ đến bảo hiểm nhân thọ Ngay cả khi
Trang 11mình nghĩ rằng mình không có nhu cầu bây giờ, mình vẫn nên nghĩ đến mua hợp đồng với số tiền nhỏ như là điểm khởi đầu
1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
Khi nói đến đặc điểm của BHNT thì có thể chia làm 5 đặc điểm cơ bản thể hiện sự khác biệt đối với BH phi nhân thọ như sau:đối tượng, nguyên tắc tính phí BH, cơ sở xác định phí bảo hiểm, thời hạn hiệu lực của hợp đồng BHNT, trách nhiệm của DNBH
Thứ nhất về đối tượng của BHNT là “tuổi thọ, sức khỏe, tính mạng và tai nạn con
người”10
Do tính chất đặc biệt của đối tượng hợp đồng BHNT nên không phải bất
cứ ai cũng được mua bảo hiểm nhân thọ cho người khác, để tránh trường hợp nhiều người tham gia bảo hiểm chỉ với mục đích trục lợi BH dựa trên tuổi thọ và tính mạng của người khác Chính vì thế, pháp luật về kinh doanh BH quy định bên mua bảo hiểm chỉ được giao kết hợp đồng BHNT với DNBH nhân thọ khi mua BHNT cho một trong các đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 31 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS 201011 :
Một là bên mua BH tự mua BHNT cho chính mình
Hai là bên mua BH được quyền mua BHNT cho vợ, chồng, con, cha, mẹ của mình
Ba là bên mua BH mua bảo hiểm cho anh, chị, em ruột; người có quan hệ cấp
dưỡng và nuôi dưỡng
Bốn là bên mua bảo hiểm có thể mua BHNT cho người khác nếu bên mua bảo hiểm
có quyền lợi có thể được bảo hiểm Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và theo Khoản 9 Điều 3 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS 2010 thì quyền lợi có thể được bảo hiểm ở đây là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với người được bảo hiểm” 12
Đặc biệt riêng đối với việc giao kết hợp đồng BHNT cho trường hợp chết của người khác thì pháp luật kinh doanh bảo hiểm tại Điều 38 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000, được SĐBS 2010 chia làm hai trường hợp: một là vẫn cho phép giao kết hợp đồng BHNT nếu đáp ứng đủ các điều kiện cụ thể; hai là cấm không cho phép giao kết hợp đồng BHNT với một số đối tượng cụ thể
Trang 12Trường hợp 1: Cho phép bên mua BH giao kết hợp đồng BHNT với trường hợp
chết của người khác nhưng phải được người đó đồng ý bằng văn bản, trong đó ghi
rõ số tiền bảo hiểm, người thụ hưởng và mọi trường hợp thay đổi người thụ hưởng phải có sự đồng ý bằng văn bản của bên mua bảo hiểm
Trường hợp 2: Cấm bên mua BH giao kết hợp đồng BHNT với trường hợp chết
của những đối tượng sau đây: Một là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó đồng ý bằng văn bản; hai là người đang mắc bệnh tâm thần
khoán là “ khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm, công ty bảo hiểm căn cứ vào số tiền bảo hiểm của hợp đồng đã ký kết và các quy định đã thoả thuận trong hợp đồng để trả tiền cho người thụ hưởng”14 Việc chi trả quyền lợi BH cho người thụ hưởng của DNBH không phải là bồi thường thiệt hại giống như ở BH phi nhân thọ mà ở đây được hiểu là DNBH thực hiện cam kết trong hợp đồng BH với bên mua BH Khác với nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong hợp đồng BH phi nhân thọ là thiệt hại đến đâu bồi thường đến đó nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm thì đối với nguyên tắc khoán ở hợp đồng BHNT là người được bảo hiểm, người thụ hưởng cùng lúc có quyền nhận quyền lợi bảo hiểm từ nhiều hợp đồng bảo hiểm con người khác nhau
Thứ ba cơ sở tính phí BH trong hợp đồng BHNT là tuổi thọ của người được BH
Vậy nên việc thông báo tuổi của người được bảo hiểm trong hợp đồng BHNT là vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến số phí bảo hiểm mà người mua BH phải đóng, không những thế nó còn là lý do để DNBH có đồng ý giao kết hợp đồng BHNT đó hay không Nhận thấy sự quan trọng của việc khai báo tuổi trong hợp đồng BHNT nên tại Điều 34 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS
2010 quy định việc khái báo chính xác tuổi của người được BH là nghĩa vụ của bên mua BH15 Trong trưường hợp bên mua thông báo sai tuổi của người được BH thì luật kinh doanh bảo hiểm cũng quy định rất cụ thể về các trường hợp và hậu quả pháp lý của từng trường hợp như sau:
Trường hợp Một là bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo
hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì hợp đồng BHNT đó không có giá trị pháp lý Nên DNBH có
Trang 13quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ các chi phí hợp lý có liên quan Nhưng trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì DNBH phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm
Trường hợp hai là bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm
làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì hợp đồng BHNT đó vẫn có giá trị pháp lý Và DNBH có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng hoặc giảm số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng 16
Trường hợp ba là bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm
dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì hợp đồng BHNT đó vẫn có giá trị pháp lý Nhưng DNBH phải lựa chọn một trong hai giải phải pháp sau: một là hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm đã đóng vượt; hai là tăng số tiền bảo hiểm đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng 17
Thứ tư về thời hạn hiệu lực của hợp đông BHNT thường là rất dài Thời hạn hiệu
lực của một hợp đồng BHNT thường kéo dài từ 5 năm trở lên có những hợp đồng thời hạn hiệu lực có thể liên tục suốt cả đời Còn đối với thời hạn hiệu lực của hợp đồng BH phi nhân thọ chỉ là 1 năm Chính vì thế thời gian đóng phí BH của hợp đồng BHNT là từ 4 đến 20 năm hoặc nhiều hơn tùy vào từ loại hợp đồng BHNT cụ thể mà người mua lựa chọn và thỏa thuận với DNBH
Thứ năm về trách nhiện của DNBH, DNBH có trách nhiệm trong việc chi trả
quyền lợi bảo hiểm cho người mua bảo hiểm Chi trả BH có thể được xem là hoạt động trả số tiền bảo hiểm của DNBH cho người tham gia bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra và người tham gia bảo hiểm đã thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng bảo hiểm Do quan hệ giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm nhân thọ là quan hệ dân sự18, vậy nên căn cứ xác định trách nhiệm chi trả của doanh nghiệp bảo hiểm là hợp đồng bảo hiểm Mà theo Khoản 1, Điều 12 pháp luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS 2010 thì hợp đồng bảo hiểm được hiểu là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm
Trang 14phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm19 DNBH chỉ chịu trách nhiệm chi trả quyền lợi bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng BH và trách nhiệm của DNBH chỉ phát sinh khi có một trong các trường hợp sau đây được quy định tại Điều 15 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 được SĐBS 2010:
Một là Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí
bảo hiểm 20
Hai là Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa doanh
nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm21
Ba là Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo
hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm22
Trách nhiệm bảo hiểm chỉ được phát sinh khi thuộc 1 trong các trường hợp trên Nếu không có sự thỏa thuận về nội dung hợp đồng trong việc bồi thường khi đang thực hiện đóng phí hoặc nợ phí mà có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì bên phía doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không phải bồi thường khoản tiền này Theo đó, trách nhiệm bảo hiểm phát sinh của doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phát sinh khi hợp đồng đã giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm
1.1.3 Phân loại bảo hiểm nhân thọ
Trong nền kinh tế hội nhập và phát triển như hiện nay thì nhu cầu của con người ngày càng cao và đa dạng về mọi mặt từ ăn uống, sinh hoạt, … Và nhu cầu về các sản phẩm BHNT cũng được nâng cao và đa dạng Chính vì thế nhằm đáp ứng
những nhu cầu khác nhau của từng đối tượng khách hàng khác nhau mà BHNT được chia làm nhiều loại nghiệp vụ khác nhau Theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ quy định tại Khoản 1 Điều 7 luật kinh doanh bảo hiểm 2000 được SĐBS 2010 thì có thể chia nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ thành các loại nghiệp vụ sau23 :
Thứ nhất bảo hiểm trọn đời đây là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được
bảo hiểm chết vào bất kỳ thời điểm nào trong suốt cuộc đời của họ Thuộc loại hợp đồng dài hạn không bị giới hạn ngày hết hạn hợp đồng Trên thực tế tại Việt Nam
Trang 15có một doanh nhân đã tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trọn đời với số đền bù khi có rủi ro xảy ra lên đến 35 tỷ VNĐ ( khoảng 1,85 triệu USD) với mức phí bảo hiểm đóng mỗi năm là 1,2 tỷ VNĐ24
Thứ hai bảo hiểm sinh kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo
hiểm sống đến một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm vẫn sống đến thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm Đối với loại hợp đồng bảo hiểm này giúp cho người được bảo hiểm có được một khoản tiền mong muốn vào một thời điểm nhất định trong tương lai để thực hiện những dự định của họ trong cuộc sống,
nghiệp vụ bảo hiểm này mang tính chất là đầu tư tài chính
Thứ ba bảo hiểm tử kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm
chết trong một thời hạn nhất định, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, nếu người được bảo hiểm chết trong thời hạn được thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm bảo hiểm này là loại bảo hiểm có thời hạn để doanh nghiệp bảo hiểm xác định việc trả tiền bảo hiểm Đồng nghĩa nếu kết thúc thời hạn được bảo hiểm mà ở đây thời hạn được bảo hiểm thường là thời hạn của hợp đồng bảo hiểm Nếu kết thúc thời hạn của hợp đồng bảo hiểm mà người được bảo hiểm vẫn còn sống thì doanh nghiệp bảo hiểm không có trách nhiệm chi trả bảo hiểm cho người thụ hưởng Đồng nghĩa doanh nghiệp bảo hiểm chỉ trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi người được bảo hiểm chết trong thời gian của hợp đồng bảo hiểm
Thứ tƣ bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo
hiểm tử kỳ Tức là người được bảo hiểm còn sống đến một thời điểm quy định được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì người mua bảo hiểm sẻ nhận được số tiền bảo hiểm trong hợp đồng hoặc khoản tiền trợ cấp định kỳ Còn ngược lại nếu người được bảo hiểm tử vong trước thời điểm đó thì người thụ hưởng sẽ nhận được quyền lợi bảo hiểm
Thứ năm bảo hiểm trả tiền định kỳ là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người
được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định; sau thời hạn đó doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm định kỳ cho người thụ hưởng theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm Là dạng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống nghĩa
là nếu người được bảo hiểm chết sẽ chấm dứt các nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm
24
H ồ n g A n h - H o à n g L y ( 2 0 1 0 ) “ M ộ t n g ư ờ i V i ệ t m u a b ả o h i ể m n h â n t h ọ g ầ n 2 t r i ệ u
US D” ht t ps: / / vnexpress.net N gà y 14 t háng 8
Trang 16Đối với từng loại của nghiệp vụ BHNT thì có ưu điểm riêng thích hợp với từng nhu cầu cụ thể của khách hàng Chính vì thế làm cho thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam ngày càng phát triển và đa dạng, từ đó thúc đẩy nền kinh tế chung của cả nước phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thị trường đa dạng Mà theo tổng cục quản lý giám sát bảo hiểm ISA doanh thu khai thác mới 4 tháng đầu năm 2018 của từng nghiệp vụ BHNTcụ thể như sau : Nghiệp vụ bảo hiểm liên kết chung vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu phí khai thác mới, chiếm tỷ trọng 54,39% Nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp chiếm tỷ trọng 27,85%, bảo hiểm tử
kỳ chiếm tỷ trọng 3,23% , các nghiệp vụ chính còn lại (bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm trả tiền định kỳ, bảo hiểm sức khỏe (sản phẩm chính)) chiếm tỷ trọng 6,99%, 25
Biểu đồ 1.1 Tỷ trọng doanh thu khai thác mới 4 tháng đầu năm 2018
(Nguồn: Cục quản lý giám sát bảo hiểm ISA)
Trang 17Còn về về số lượng hợp đồng khai thác mới trong 4 tháng đầu năm 2018 thì dẫn đầu là nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư với 279.481 hợp đồng (chiếm tỷ trọng 43,88%), tăng trưởng 28,8% so với cùng kỳ năm 2017, tiếp theo là sản phẩm bảo hiểm tử kỳ với 175.887 hợp đồng đồng bảo hiểm cá nhân và thành viên trong nhóm (chiếm tỷ trọng 27,61%), tăng trưởng 107,17% so với cùng
kỳ năm 2017, nghiệp vụ bảo hiểm hỗn hợp là 170.373 hợp đồng (chiếm tỷ trọng 26,75%), giảm 14,94% so với cùng kỳ năm 2017
Biểu đồ 1.2 Số lƣợng hợp đồng BHNt khai thác mới theo nghiệp vụ trong 4
tháng đầu năm 2018
(Nguồn: Cục quản lý giám sát bảo hiểm ISA) Theo đánh giá của trang Vietnamnet.vn thì “ trong 5 năm gần đây, thị trường bảo hiểm nhân thọ liên tục tăng trưởng cao trên 30%/năm” và cũng theo thống kê của Cục quản lý giám sát bảo hiểm ISA về quy mô thị trường BHNT 4 tháng đầu năm
2018 với số lượng hợp đồng có hiệu lực (hợp đồng chính) đạt 7.804.586 hợp đồng, tăng 11,32% so với cùng kỳ năm 2017 Tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 22.622,4 tỷ đồng tăng 32,35% so với cùng kỳ năm 2017
175,887 170,373
Trang 181.2 Khái niêm, điều kiện thành lập và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm 1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp bảo hiểm
Trong thời kì hội nhập của nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp theo Nguyễn Văn Định trong Giáo trình quản trị kinh doanh bảo hiểm còn được hiểu một cách khác đó là “ xí nghiệp” 26
Khái niệm về xí nghiệp theo Đại từ điển về kinh tế thị trường là: “đơn vị kinh tế cơ bản, tham gia mọi hoạt động kinh tế như sản xuất, lưu thông để thỏa mản các nhu cầu kinh tế của xã hội; tiến hành kinh doanh tự chủ, thực hiện hoạch toán kinh tế độc lập và có tư cách pháp nhân”27 Chính vì thế ta có thể hiểu DN là một tổ chức kinh tế nhưng không phải bất cứ tổ chức kinh tế nào cũng được xem là DN, bởi chỉ những tổ chức kinh tế hoạt động vì mục đích lợi nhuận thì mới được xem là DN
Về mặt pháp lý thì khái niệm về DN được pháp luật quy định cụ thể tại Khoản 7 Điều 3 Luật Doanh nghiệp 2014 như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh ”28 Từ khái niệm trên thì hiện nay Việt Nam có rất nhiều DN đang hoạt động Cụ thể vào Ngày 6/2/2018, tại Hà Nội, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê công bố cụ thể các chỉ số phát triển doanh nghiệp chủ yếu năm 2017: “Tổng số doanh nghiệp thực tế đang hoạt động do ngành Thống kê điều tra, cập nhật vào thời điểm 31/12/2017 trên phạm vi cả nước ước tính là 561.064 doanh nghiệp, tăng 11,1% so với năm 2016”29
Số lượng DN đang hoạt động là lớn và đa dạng về loại hình DN cũng như là đa dạng về lĩnh lực hoạt động
Trong đó hoạt động kinh doanh bảo hiểm được xem là một trong các hoạt động của
DN trong lĩnh vực BH DN thực hiện hoạt động kinh doanh BH được gọi là DNBH; theo pháp luật về kinh doanh BH thì khái niệm về DNBH được quy định cụ thể tại Khoản 5 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, SĐBS 2010 như sau:
“Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm”30 Để hiểu về DNBH thì cần hiểu về kinh doanh BH
26
P G S T s N g u y ễ n V ă n Đ ị n h ( 2 0 0 9 ) , G i á o t r ì n h Q u ả n t r ị k i n h d o a n h b ả o h i ể m , N X B Đại h ọ c ki nh t ế Quố c dân
Trang 19là gì ? có thể hiểu một cách đơn giản nhất đó là một hoạt động của DNBH nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, nhưng kinh doanh BH không chỉ đơn thuần là một hoạt động tìm kiếm lợi nhuận mà nó còn là một hoạt động với mục đích chia sẽ rủi
ro Theo pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm
2000, SĐBS 2010 thì: “ kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”31
Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm thì có hai nghiệp vụ là kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Do tích chất đặc thù của đối tượng bảo hiểm của 2 nghiệp vụ bảo hiểm nên tại Khoản 2 Điều 60 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS năm 2010 thì :
“doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ”32
Khi DNBH thực hiện việc giao kết hợp đồng BHNT với khách hàng thường thông qua đại lý bảo hiểm Theo pháp luật về kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS
2010 thì đại lý bảo hiểm được hiểu là “tổ chức, cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện hoạt động đại lý bảo hiểm”33 Đại lý bảo hiểm không chỉ là các tổ chức mà còn là các cá nhân chỉ cần đủ các điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 86 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được SĐBS năm 2010 thì có thể trở thành đại lý bảo hiểm34
:
Một là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam
Hai là từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ
Ba là có Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận
cấp
Đại lý bảo hiểm thực hiện nhiều hoạt động thay mặt DNBH như: Giới thiệu, chào bán bảo hiểm; thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm; thu phí bảo hiểm; thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; thực hiện các hoạt động khác có liên quan đến việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm.35 Theo thống kê
Trang 20của Hiệp hội Bảo Hiểm Việt Nam về Số lượng đại lý mới tuyển dụng 6 tháng đầu năm 2017 là 141.305 đại lý, tăng 25,3% so với cùng kỳ năm ngoái, các doanh
nghiệp bảo hiểm có số lượng đại lý mới tuyển dụng nhiều nhất thị trường theo thứ
tự là: Bảo Việt Nhân thọ 31.057 đại lý, Prudential 24.498 đại lý, Dai-ichi 19.489 đại
lý, AIA 15.392 đại lý và Hanwha Life 13.946 đại lý Tính đến hết tháng 6 năm 2017, tổng số lượng đại lý có mặt trên thị trường là 525.150 đại lý, tăng 20% so với cùng
kỳ năm trước Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 163.755 đại lý, Bảo Việt Nhân thọ 142.382 đại lý, Dai-ichi life 66.738 đại lý, Hanwha Life 35.710 đại lý và AIA 34.025 đại lý36
Đơn vị: Đại Lý
Biểu đồ 1.3 Số lƣợng đại lý mới và tổng đại lý của một số DNBH nhân thọ 6
tháng đầu năm 2017
(Nguồn: Hiệp hội Bảo Hiểm Việt Nam)
1.2.2 Điều kiện thành lập doanh nghiệp bảo hiểm
DNBH là một loại hình của DN hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh BH nên để thành lập một DNBH cần có đủ các điều kiện để thành lập DN theo trình tự và thủ tục thành lập DN được pháp luật DN quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 như
Trang 21giấy đề nghị thành lập DN, điều lệ công ty, danh sách thành viên hoặc cổ đông, và các giấy tờ tùy thân37 Nhưng lĩnh vực kinh doanh BH là một nghành nghề kinh doanh có điều kiện được pháp luật Việt Nam quy định tại mục 29 phụ lục 4 của Luật SĐBS Điều 6 và phục lục 4 về danh mục, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện38
của luật Đầu tư 2014 Vậy nên để một DNBH được bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo hiểm thì bên cạnh có đủ các điều kiện để thành lập DN theo pháp luật DN thì DNBH cần phải có đủ các điều kiện được quy định tại Điều 63 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 được SĐBS
2010 bao gồm:
Thứ nhất có vốn điều lệ đã góp không được thấp hơn mức vốn pháp định Mức vốn
pháp định được quy định tại Điều 10 Nghị định 73/2016/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi như sau: đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tùy vào sản phẩm bảo hiểm cụ thể mà mức vốn pháp định là 300 tỷ, 350 tỷ, hoặc 400 tỷ đồng; Đối với doanh nghiệp kinh doanh về bảo hiểm nhân thì do tính đặc biệt của đối tượng bảo hiểm nên mức vốn pháp định đối với doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ cao hơn so với vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ từ 600 tỷ, 800 tỷ, hoặc 1000 tỷ đồng tùy theo sản phẩm bảo hiểm cụ thể; Còn riêng đối vơi doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm về sức khỏe thì vốn pháp định được quy định cụ thể là 300 tỷ đồng.39
Thứ hai là phải có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động được quy định
tại Điều 64 luật kinh doanh bảo hiểm 2000, SĐBS 2010 gồm: Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động; Dự thảo điều lệ doanh nghiệp; phương án hoạt động năm năm đầu; Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người quản trị, người điều hành; Mức góp vốn và
phương thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân chiếm 10% vốn điều lệ trở lên; Và quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm dự kiến tiến hành 40
Thứ ba là có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với nghị định
73/2016/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi
Trang 22Có 2 loại hình doanh nghiệp được pháp luật quy định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm là công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm và công ty cổ phần bảo hiểm
Thứ tƣ là người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp
vụ về bảo hiểm Trong đó thì người quản trị, người điều hành bao gồm những người sau đây: Chủ tịch Hội đồng quản trị (Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Công ty); thành viên Hội đồng quản trị (thành viên Hội đồng thành viên); Trưởng Ban kiểm soát; Trưởng Ban kiểm toán nội bộ; kiểm soát viên (đối với trường hợp doanh nghiệp không thành lập Ban kiểm soát); Tổng Giám đốc (Giám đốc); Phó Tổng Giám đốc (Phó Giám đốc);Trưởng bộ phận kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; kế toán trưởng; Giám đốc chi nhánh; Trưởng văn phòng đại diện; người đứng đầu các
bộ phận nghiệp vụ; chuyên gia tính toán (đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe); chuyên gia tính toán dự phòng và khả năng thanh toán (đối với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chi nhánh nước ngoài)41
Pháp luật bảo hiểm có những quy định chung về người điều hành và người quản trị tại Điều 26 nghị định 73/2016/NĐ-CP về hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Kinh doanh bảo hiểm sửa đổi như : cán bộ, công chức viên chức nhà nước, người chưa thành niên…42
; Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, không bị xử lý kỷ luật dưới hình thức sa thải, không trực tiếp liên quan đến vụ án đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố43
Bên cạnh những tiêu chuẩn chung của người quản trị, người điều hành thì đối với mỗi vị trí của người quản trị, người điều hành có những tiêu chuẩn riêng44
Bởi vì hoạt động kinh doanh BH hiểm không chỉ đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận
mà nó còn là một hoạt động chia sẻ rủi ro cho thành viên nên để được cấp phép và
đi vào hoạt động thì DNBH phải đáp ứng tất cả các điều kiện thành lập được nêu ở trên Không chỉ có việc thành lập mới có các điều kiện cụ thể mà ngay cả góp vốn vào để thành lập DNBH cũng phải đủ các điều kiện theo pháp luật quy định thì DNBH đó mới được cấp phép hoạt động trên thị trường Quy định về việc góp vốn thành lập DNBH được chia ra thành các đối tượng góp vốn thành lập gồm tổ chức ,
Trang 23cá nhân, và DNBH góp vốn để thành lập một DNBH khác và khi muốn thực hiện việc góp vốn thành lâp DNBH thì phải đủ các điều kiện sau45:
Thứ hai phải góp vốn bằng tiền và không được sử dụng vốn vay, vốn ủy thác đầu
tư của tổ chức, cá nhân khác để tham gia góp vốn
Thứ ba Tổ chức tham gia góp vốn từ 10% vốn điều lệ trở lên phải hoạt động kinh
doanh có lãi trong 03 năm liền kề trước năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và không có lỗ lũy kế đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
Thứ tư tổ chức tham gia góp vốn hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu
cầu vốn pháp định phải bảo đảm vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng
số vốn dự kiến góp
Thứ năm Trường hợp tổ chức tham gia góp vốn là doanh nghiệp bảo hiểm, doanh
nghiệp môi giới bảo hiểm, ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty chứng khoán thì các tổ chức này phải bảo đảm duy trì và đáp ứng các điều kiện an toàn tài chính và được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho phép tham gia góp vốn theo quy định pháp luật chuyên ngành
Nhưng không vì các điều kiện thành lập và góp vốn thành lập mà DNBH tại Việt Nam có số lương ít mà hiện số lượng DNBH đang ngày càng tăng và càng đa dạng
về phân loại
1.2.3 Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
Trước đây khi nghiệp vụ BH mới du nhập vào nước ta thì chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới có thể hoạt động kinh doanh BH nhưng ngày nay với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường đa dạng, phong phú với nhiều thành phần kinh tế tham gia Nhằm theo kịp với tình hình hội nhập của nền kinh tế pháp luật Việt Nam bắt đầu chấp nhận các loại hình DNBH khác nhau và được luật hóa theo Điều 59 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Sửa đổi bổ sung năm 2010 thì doanh nghiệp bảo hiểm gồm có 5 loại hình doanh nghiệp sau đây:
Loại hình thứ nhất là DNBH nhà nước: Theo định nghĩa của luật doanh nghiệp
thì “DN nhà nước là do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” và được thành lập theo quyết định thành lập của nhà nhà nước Hiện tại Bảo Việt là doanh nghiệp bảo
Trang 24hiểm nhà đước duy nhất tại thị trường bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo Quyết định 179/CP của Chính phủ ngày 17/12/1964 và chính thức đi vào hoạt động kinh doanh Bảo hiểm Phi Nhân thọ từ ngày 15/01với trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh duy nhất tại Hải Phòng và thời điểm đó nhưng hiện nay với hệ thống mạng lưới gồm 67 công ty thành viên và hơn 300 phòng kinh doanh phục vụ khách hàng trên toàn quốc, hơn 3.000 cán bộ nhân viên Bảo Việt ngày càng khẳng định vị trí của mình trên thị trường bảo hiểm tại Việt Nam47
Loại hình thứ hai là công ty cổ phần BH: Có thể hiểu công ty cổ phần BH là
doanh nghiệp được sự góp vốn của các cổ đông thông qua việc mua các cổ phần của công ty Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với số cổ phần mà mình đang nắm giữ Hiên nay trên thị trường bảo hiểm nhộn nhịp của Việt Nam thì
có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động kinh doanh bảo hiểm với hình thức là công ty cổ phần bảo hiểm như: Công ty cổ phần bảo hiểm AAA; Công ty cổ phần Bảo Minh; Công ty cổ phần bảo hiểm Toàn Cầu…
Loại hình thứ ba là tổ chức BH tương hỗ: Tổ chức BH tương hỗ Là tổ chức có tư
cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm tương trợ , giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên Thành viên của tổ chức tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm Về mặt pháp lý họ vừa là hội viên vừa là những người được bảo hiểm và tổ chức chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của tổ chức48
Loại thứ tư là DBNH liên doanh: DNBH liên doanh là DNBH thành lập trên sự
góp vốn của các doanh nghiệp và các DN chịu trách nhiệm hữu hạn dựa trên mức vốn góp Một trong số đó là MB Ageas Life đã được hình thành dựa trên sự hợp tác liên doanh giữa tập đoàn bảo hiểm Ageas đến từ Vương quốc Bỉ với 29%, Muang Thai Life Assurance (MTL) của Thái Lan với 10% và Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) với 61% Ngày 21/7/2016, Bộ Tài chính đã cấp giấy phép số 74/GP/KDBH thành lập Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas với vốn điều lệ 1.100 tỷ đồng, hoạt động chính: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và đầu tư tài chính, trụ sở chính Công ty đặt tại Hà Nội49
Ngoài MB Ageas Life thì còn có Công ty Liên doanh Bảo hiểm Quốc tế Việt Nam (VIA) được thành lập ngày 5/8/1996 là một trong những liên doanh bảo hiểm đầu
47
T h e o t r a n g B a o v i e t i n s u r a n c e “ l i c h s ữ h ì n h t h à n h ” h t t p : / / w w w b a o v i e t c o m v n 48
P G S T s N g u y ễ n V ă n Đ ị n h ( 2 0 0 9 ) , G i á o t r ì n h Q u ả n t r ị k i n h d o a n h b ả o h i ể m , N X B Đại h ọ c ki nh t ế Quố c dân
49
T h e o t r a n g M B A g e a s L i f e ( 2 0 1 6 ) “ M B A g e a s Li f e đ ư ợ c c h í n h t h ứ c c ấ p g i ấ y p h é p
t h à n h l ậ p v à h o ạ t đ ộ n g ” h t t p s : / / m b a g e a s l i f e N g à y 2 1 t h á n g 7
Trang 25tiên tại Việt Nam có vốn đầu tư nước ngoài ; đến tháng 7/2013 Công ty được đổi tên thành "Công ty Trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm Bảo Việt Tokio Marine"50
Loại hình thứ năm là Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài:
Được đầu tư vốn từ nước ngoài thành lập và hoạt động tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam nhưng đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chính quốc Thị trường bảo hiểm tại Việt Nam không chỉ thu hút các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam mà còn thu hút các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam dưới hình thức các doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài như: Manulife là một doanh nghiệp bảo hiểm với 100% vốn đầu
tư nước ngoài đến từ Canada được cấp phép hoạt động tại Việt Nam từ ngày
12/6/1999; đến từ Mỹ thì có Chubb life VN được cấp phép hoạt động ngày 4/5/2005; công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm có 100% vốn đầu tư nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam ngày 1/11/1999 với nguồn vốn đến từ Anh … 51
50
T h e o T ổ n g c ô n g t y B H B I D V “ L i ê n d o a n h b ả o h i ể m L à o - V i ệ t ” h t t p : / / w w w b i c v n 51
A D M I N I S T R A T O R ( 2 0 1 8 ) “ V ố n p h á p đ ị n h & V ố n đi ề u l ệ c ủ a d o a n h n g h i ệ p b ả o
h i ể m n h â n t h ọ ” h t t p s : / / s u t h a t b a o h i e m c o m N g à y 1 4 t h á n g 1
Trang 26Để hiểu rõ hơn về DNBH ta có thể tham khảo sơ đồ cơ cấu tổ chức của DNBH PJICO tại Việt Nam:
Hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của DNBH PJICO tại Việt Nam
(Nguồn: https://www.pjico.com.vn)
Tại thị trường bảo hiểm trên thế giới, Việt Nam được xem như đứa em sinh sau đẻ muộn so với các đàn anh như Anh, Pháp, Úc,…Nhưng thị trường bảo hiểm tại Việt Nam ngày càng trở nên sôi nổi và nhộn nhịp thu hút nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong và ngoài nước Với sự đa dạng về các loại hình DNBH thì Theo Cục quản lý giám sát bảo hiểm (ISA) ngày 29/12/2016 có 48 doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm
18 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và 30 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ52; tên cụ thể của từng DNBH và website được thể hiện chi tiết tại phụ lục 1 đi kèm theo khóa luận này Cũng theo ISA trong 4 tháng đầu năm 2018 số liệu thực tế về thị phần doanh thu phí gốc của các doanh nghiệp bảo hiểm như sau:
52
C ụ c q u ả n l ý g i á m s á t b ả o h i ể m IS A ( 2 0 1 6 ) “ W e b s i t e c ủ a c á c d o a n h n g h i ệ p b ả o
h i ể m ” h t t p : / / w w w m o f g o v v n N g à y 2 9 t h á n g 1 2
Trang 27Đầu tiên là về các DNBH phi nhân thọ nước ta dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là Bảo Việt với doanh thu ước đạt 3.093 tỷ đồng, tăng 27,40% so với cùng kỳ năm 2017, chiếm thị phần 21,30% Tiếp đến là PVI (2.360 tỷ đồng, tăng 7,05%, chiếm thị phần 16,26%), PTI (1.249 tỷ đồng, tăng 26%, chiếm thị phần 8,60%), Bảo Minh (1.168 tỷ đồng, tăng 10%, chiếm thị phần 8,04%), PJICO (832 tỷ đồng, tăng 7,10%, chiếm thị phần 5,73%53
Biểu đồ 1.4 Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc của các DNBH phi
nhân thọ tại Việt Nam 4 tháng đầu năm 2018
(Nguồn: Cục quản lý giám sát bảo hiểm ISA)
Trang 28Tiếp theo là Thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới của DNBH nhân thọ như sau: Bảo Việt Nhân thọ (20,5%), Daiichi (16,53%), Prudential (15,54%), Manulife (14,71%), AIA (10,22%)
Biểu đồ 1.5 Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam 4
Trang 291.3 Lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm
1.3.1 Trên thế giới
Thứ nhất sự ra đời và phát triển của bảo hiểm nhân thọ trên thế giới: Khi nói
về sự ra đời đầu tiên mang hơi hướng của BHNT là phải nói đến thời kỳ La Mã vào năm 100 Trước Công Nguyên, một câu lạc bộ mai táng trong quân đội được ra đời bởi một nhà lãnh đạo quân đội La Mã có tên gọi là Caius Marius Câu lạc bộ này hoạt đông theo cơ chế là nếu một thành viên trong câu lạc bộ chết thì các thành viên còn lại sẽ góp tiền để mai táng Bởi vì theo quan niệm của người La Mã “Nếu không an táng một cách đoàng hoàng, những linh hồn sẽ trở thành những con ma khốn khổ” Không những thế vào năm 450 Trước Công Nguyên câu lạc bộ không chỉ góp tiền để mai táng mà còn hổ trợ một chút tiền cho người thân của những binh lính không mai bị chết Nhưng khi đế chế La Mã bị sụp đổ thì câu lạc bộ cũng tan rả
và ngưng hoạt đông54
Mặc dù tư tưởng về BHNT đã có và đi vào hoạt động từ những năm Trước Công Nguyên tại La Mã nhưng đó chỉ là ở dạng tham gia vào câu lạc bộ mà chưa có hợp đồng BH ra đời Mãi đến năm 1583, William Gybbon một công dân London được xem là ngươi tham gia hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên thế giới vào năm 1583 Người thừa kế của ông được hưởng 400 bảng Anh sau khi ông chết trong năm đó,
mà mức phí bảo hiểm ông đã đóng lúc đó chỉ 32 bảng Anh55 Sau Cách Mạng Ánh Sáng năm 1688, ở Châu Âu chỉ có duy nhất Vương Quốc Anh công nhận tính pháp
lý của bảo hiểm nhân thọ Nhờ vậy mà trong suốt 3 thập kỷ sau Cách Mạng Ánh Sáng, ở Anh dịch vụ này đã phát triển rất mạnh mẽ và Công ty đầu tiên tại Anh cung cấp BHNT ra thị trường là ASPAO (Amicable Society for a Perpetual
Assurance Office) được thành lập vào năm 1706 tại London, Anh Quốc56 Nhưng đến Năm 1762, thì công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở nước Anh áp dụng phương pháp tính phí BH dựa trên yếu tố tỷ lệ tử vong là công ty BHNT Equitable 57 Với việc ra đời bảng tính toán tỷ lệ tử vong chính là căn cứ quan trọng để các công ty