1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Thi truong nong san viet nam

31 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 500 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Từ sau năm 1975, khi đất nước được giải phóng cho đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, tuy nhiên không còn là nước nông nghiệp thuần túy nữa mà Việt Nam đã trở thành nước Nông Công nghiệp. Giờ đây các sản phẩm trong nông nghiệp đã ngày một đa dạng hơn, phong phú hơn cả về chủng loại, mẫu mã và ngày một hoàn thiện hơn về chất lượng. Từ một nền nông nghiệp nghèo lạc hậu, không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân, thì giờ đây nông nghiệp Việt Nam đã không những cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho thị trường trong nước mà còn vươn ra các thị trường nước ngoài. Nhà nước ta đã xác định nông sản là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước. Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, hàng nông sản đã có mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có thị trường rất lớn khó tính như: EU, Mỹ và Nhật Bản. Thực tế đã chứng minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường trên thế giới. Khi tham gia sân chơi quốc tế, Việt Nam luôn có những cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh, giá trị xuất khẩu nông sản với những nước khác. Tuy nhiên để hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên những thị trường này là một vấn đề không đơn giản. Bàn về vấn đề này, nhóm em đã chọn đề tài tiểu luận: Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng hiện nay của thị trường nông sản Việt Nam như: sản xuất, chế biến, xuất khẩu và từ đó đưa ra được giải pháp phát triển cho ngành nông sản của Việt Nam. Kết cấu bài tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận được chia làm 3 chương gồm: Chương 1: Lý thuyết cơ bản về thị trường nông sản Chương 2: Thị trường nông sản Việt Nam Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển thị trường nông sản Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Từ sau năm 1975, khi đất nước được giải phóng cho đến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, tuy nhiên không còn là nước nông nghiệp thuần túy nữa mà Việt Nam đã trở thành nước Nông - Công nghiệp Giờ đây các sản phẩm trong nông nghiệp đã ngày một đa dạng hơn, phong phú hơn cả về chủng loại, mẫu

mã và ngày một hoàn thiện hơn về chất lượng Từ một nền nông nghiệp nghèo lạc hậu, không đủ cung cấp lương thực, thực phẩm cho nền kinh tế quốc dân, thì giờ đây nông nghiệp Việt Nam đã không những cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho thị trường trong nước mà còn vươn ra các thị trường nước ngoài Nhà nước ta đã xác định nông sản là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng tạo ra nguồn thu ban đầu cực kỳ cần thiết cho phát triển kinh tế đất nước Chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới, hàng nông sản đã có mặt ở 150 nước và nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có thị trường rất lớn khó tính như: EU, Mỹ và Nhật Bản Thực tế đã chứng minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường trên thế giới Khi tham gia sân chơi quốc tế, Việt Nam luôn có những cơ hội để nâng cao sức cạnh tranh, giá trị xuất khẩu nông sản với những nước khác Tuy nhiên để hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên những thị trường này là một vấn đề không đơn giản

Bàn về vấn đề này, nhóm em đã chọn đề tài tiểu luận: "Thực trạng thị trường nông sản Việt Nam" để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng hiện nay của thị

trường nông sản Việt Nam như: sản xuất, chế biến, xuất khẩu và từ đó đưa ra được giải pháp phát triển cho ngành nông sản của Việt Nam

Kết cấu bài tiểu luận ngoài phần mở đầu, kết luận được chia làm 3 chương gồm:

- Chương 1: Lý thuyết cơ bản về thị trường nông sản

- Chương 2: Thị trường nông sản Việt Nam

- Chương 3: Định hướng, giải pháp phát triển thị trường nông sản Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN 1.1 Khái niệm

- Thị trường:

Xét về mặt lịch sử, thị trường xuất hiện và phát triển cùng với sự phát sinh, phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ban đầu là sự trao đổi bằng hiện vật, sau khi có sự ra đời của tiền tệ - đóng vai trò trung gian - giữ chức năng định giá cho mọi hàng hóa trao đổi trên thị trường Ở nước ta, từ khi chuyển sang chế độ kinh tế mới, thuật ngữ thị trường được sử dụng rộng rãi, trên thực tiễn, sách báo Trong ngành nông nghiệp hình thành những cụm từ đa dạng: Thị trường đầu vào, thị trường đầu ra, thị trường phân bón, thị trường lúa gạo… Người ta sử dụng thuật ngữ thị trường chỉ không gian trao đổi hàng hóa: Thị trường nông thôn, thị trường thành thị, thị trường nội địa…

Phân loại thị trường theo các giai đoạn tạo nên sản phẩm, người ta có thể phân chia thị trường thành 2 loại: Thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất và thị trường sản phẩm

- Nông sản: Là những sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động sản

xuất nông nghiệp Nông nghiệp thực hiện những công việc gì thì có những loại nông sản đó kể cả trồng trọt, chăn nuôi gia cầm, gia súc, thủy hải sản…như lúa, ngô, khoai, rau, đậu, gà, vịt, lợn, bò, cá, tôm…

- Thị trường nông sản: Là tập hợp những người mua có cùng nhu cầu, có

khả năng thanh toán về một sản phẩm hàng hóa nông sản nào đó

- Sản phẩm và lợi ích của sản phẩm:

Sản phẩm hàng hóa nói chung là tất cả những gì có thể thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và được đem ra trao đổi trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và sử dụng hoặc tiêu dùng Nói cách khác đó là những thu hút sự chú ý mua sắm có thể chấp nhận để thỏa mãn các mong muốn và nhu cầu của mình Sản phẩm nông nghiệp là những gì thỏa mãn nhu cầu ăn uống, mặc và những dịch vụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp

Một sản phẩm là tập hợp các thuộc tính hữu hình và vô hình bao gồm: Màu sắc, nhãn hiệu, giá cả, uy tín và dịch vụ của người sản xuất, của người bán lẻ…

Lợi ích sản phẩm: Là tính hữu ích của sản phẩm khi tiêu dùng mua để

đáp ứng nhu cầu, là kỳ vọng của người tiêu dùng đối với sản phầm

1.2 Bản chất và các chức năng của thị trường nông sản

1.2.1 Bản chất của thị trường nông sản

Trang 3

Xét về phía kết quả các cuộc trao đổi hàng hóa, kể cả trao đổi hàng hóa đơn giản trực tiếp vật lấy vật hay trao đổi có dùng tiền làm trung gian, thì kết cục của mọi cuộc mua bán trên thị trường đều là sự chuyển giao quyền sở hữu một vật gì đó từ người chủ này sang người chủ khác với một giá cả nhất định do họ thỏa thuận định ra Nói các khác, nếu khi có sự chuyển giao quyền sở hữu một vật trao đổi trên thị trường hàng hóa gọi là quá trình mặc cả hay đàm phán trong thương mại Mọi cuộc đàm phán thương mại giữa hai bên bán và mua trong nền kinh tế thị trường phát triển cao đều mang lại kết quả là hình thành được một tập hợp các thỏa thuận cụ thể về việc mua bán một loại hàng hóa hay dịch vụ cụ thể liên quan đến ngành nông nghiệp.

Về bản chất, thị trường nông sản nói chung được hiểu là tập hợp những thỏa thuận, dựa vào đó mà các chủ thể kinh tế trong và ngoài và ngành nông nghiệp có thể đổi được các hàng hóa nông sản hay các hàng hóa dịch vụ cho nhau

Cùng với sự phát triển ngày càng cao của sản xuất và trao đổi hàng hóa trong nông nghiệp, thị trường nông nghiệp phát triển ngày càng phức tạp, tính chất phức tạp và đa dạng của thị trường nông nghiệp là do tính đa dạng trong nhu cầu tiêu dùng các loại nông sản thực phẩm của người dân ở thành thị hay nông thôn Tuy nhiên, nếu ta coi một loạt những biến đổi về quyền sở hữu và các quá trình kinh tế - kỹ thuật làm cho sản phẩm từ những người sản xuất nông nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, hộ nông dân…) đến tay người tiêu dùng cuối cùng là những dây chuyền marketing thì có rất nhiều dây chuyền khác nhau tùy thuộc vào sản xuất và tiêu dùng khác nhau nhiều về thời gian, không gian, hình thức biến đổi của sản phẩm, các chủ thể quan hệ mua bán… nhưng chúng đều có thể được xem xét trên hai mặt

Cơ cấu tổ chức của mỗi dây chuyền tùy thuộc vào loại kinh doanh của những người nằm quyền sở hữu sản phẩm ở điểm nào đó trên dây chuyền

Chức năng hoạt động tạo ra giá trị được thực hiện ở mỗi khâu tùy thuộc vào những chi phí thu gom, chế biến vận chuyển, bảo quản… mà những người kinh doanh hoạt động trên dây chuyền đã thực hiện

Việc đi theo những dây chuyền maketing khác nhau để hiểu cơ cấu tổ chức của thị trường nông nghiệp không làm mất đi dự khác nhau bản chất giữa maketing nông nghiệp với thị trường nông sản

1.2.2 Chức năng của thị trường nông sản

Bản chất của thị trường nông sản còn thể hiện ở những chức năng của nó Với tính chất là một phạm trù kinh tế, thị trường nông sản có những chức năng

cơ bản sau đây:

Trang 4

Chức năng thừa nhận

Mọi yếu tố đầu vào của sản xuất và đầu ra của nông sản hàng hóa đều thực hiện việc mua bán, tức là chuyển quyền sở hữu với những giá nhất định, thông qua việc thực hiện một loạt các thỏa thuận về giá cả, chất lượng, số lượng, phương thức giao nhận hàng… trên thị trường Chức năng thừa nhận của thị trường thể hiện ở chỗ người mua chấp nhận mua nông sản hàng hóa của người bán và do vậy hàng hóa đã được bán Thực hiện chức năng này nghĩa là thừa nhận các hoạt động sản xuất nông sản hàng hóa và mua bán chúng yêu cầu các quy luật của kinh tế thị trường

Chức năng thực hiện

Hoạt động mua và bán là hoạt động lớn nhất, bao trùm nhất của thị trường Trong nền kinh tế thị trường phát triển, mọi yếu tố đầu vào cho sản xuất và đầu ra sản phẩm chủ yếu đều được tiền tệ hóa thì hoạt động mua bán là cơ sở quan trọng quyết định các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế Chức năng thực hiện của thị trường thể hiện ở chỗ, thị trường thực hiện hành vi trao đổi, thực hiện cân bằng cung cấp từng loại hàng hòa, hình thành giá cả và thực hiện giá trị của nông sản phẩm

Chức năng điều tiết kích thích

Nhu cầu thị trường là mục đích đáp ứng của mọi quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh Thị trường vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy các chủ thể kinh tế Đây chính là cơ sở khách quan đê thực hiện chức năng điều tiết kích thích của thị trường Thực hiện chức năng này, thị trường có vai trò quan trọng trong việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực khan hiếm của đất nước và sản xuất nông nghiệp nói chung cũng như từng phân ngành của nông nghiệp nói riêng

Chức năng thông tin

Có nhiều kênh thông tin kinh tế, trong đó thông tin thị trường là rất quan trọng Chức năng thông tin thị trường bao gồm: Tổng cung, tổng cầu nông sản hàng hóa, cơ cấu cung cầu các loại nông sản hàng hóa, chất lượng, giá cả, thậm chí cả thị hiếu, thách thức, phong tục tiêu dùng của nhân dân…

Những thông tin thị trường chính xác là cơ sở quan trọng cho việc ra các quyết định Các chức năng nêu trên của thị trường nông sản có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, làm cho thị trường thể hiện đầy đủ vai trò bản chất của mình Chức năng thừa nhận là quan trọng nhất, có tính chất quyết định Chừng nào chức năng này thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng Mặt khác khi chức năng thừa nhận đã thực hiện mà các chức năng khác không thể hiện ra thì chắc chắn đã có những yếu tố phi kinh phí nào đó can thiệp vào thị trường làm cho nó bị biến dạng đi

Trang 5

1.3 Đặc điểm thị trường nông sản

Những đặc điểm của thị trường nông sản gắn liền với những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp, với sản phẩm nông nghiệp Những đặc điểm đó là:

– Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và khu vực Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của sản xuất nông nghiệp gắn chặt với điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng Lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối của các vùng là tất yếu rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng sản xuất kinh doanh của cơ sở kinh doanh và tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm

– Tính chất mùa vụ của sản xuất công nghiệp có tác động mạnh mẽ đến cung - cầu của thị trường nông sản và giá cả nông sản Sự khan hiếm dẫn đến giá cả cao vào đầu vụ, cuối vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào chính vụ là một biểu hiện của đặc điểm này

– Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng, phong phú và trở thành nhu cầu tối thiểu hàng ngày của mỗi người, với thị trường rất rộng lớn nên việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm phải hết sức linh hoạt Sản phẩm cồng kềnh, tươi sống khó bảo quản chuyên chở xa, vì vậy cần tổ chức các chợ nông thôn, các cửa hàng lưu động và nhiều lĩnh vực linh hoạt và thuận tiện cho người tiêu dùng, hoặc sơ chế trước khi đi đưa tiêu thụ, đồng thời phải sử dụng các phương tiện chuyên dụng riêng khi vận chuyển, bảo quản

Trang 6

CHƯƠNG II: THỊ TRƯỜNG NÔNG SẢN VIỆT NAM 2.1 Tình hình sản xuất nông sản Việt Nam

Việt Nam với đặc trưng là một nước nông nghiệp điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành sản xuất hàng nông sản phát triển Một số mặt hàng nông sản đã là thế mạnh của Việt Nam trong suốt thời gian qua như gạo, cao su, tiêu, hạt điều, chè, cà phê,…

Sau hơn 15 năm thực hiện theo đường lối đổi mới, ngành nông nghiệp nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, nhiều mặt hàng có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định Trong sự phát triển chung ấy nổi bật nhất là sự phát triển trong sản xuất lương thực Những năm qua sản xuất lương thực có tốc độ tăng trưởng nhanh với tốc độ tăng trưởng bình quân là 5%/năm do vậy không những đáp ứng được đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo giữ vững an ninh lương thực quốc gia mà còn biến nước ta từ một nước nhập khẩu gạo thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ

ba trên thế giới (từ năm 2014 đến nay).

Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, việc đa dạng hoá cây trồng, mở rộng diện tích trồng trọt, thực hiện theo phương châm đất nào trồng cây ấy trong những năm qua đã mang lại hiệu quả kinh tế cao trong nông nghiệp Năm 2014, tổng sản lượng lương thực có hạt toàn quốc đạt 50,2 triệu tấn, tăng 956 nghìn tấn (+1,9%) so cùng kỳ, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, trong đó sản lượng lúa đạt xấp xỉ 45 triệu tấn, tăng 955,2 nghìn tấn, ngô đạt 5,2 triệu tấn, tăng 0,5 nghìn tấn Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2015 (theo giá so sánh 2010) đạt 858,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm 2014, bao gồm: Nông nghiệp đạt 637,4 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3%; lâm nghiệp đạt 26,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,9%; thủy sản đạt 194,4 nghìn tỷ đồng, tăng 3,1%

Trình độ thâm canh, ứng dụng khoa học vào trong sản xuất nông nghiệp

đã được cải thiện do vậy năng suất cây trồng đã tăng đáng kể Rõ ràng nhất là đối với cây lúa Sản lượng lúa cả năm 2013 đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011) sản lượng lúa cả năm 2014 đạt xấp xỉ 45 triệu tấn, tăng 900 nghìn tấn (+2,2%) so với năm 2013) Sản lượng lúa cả năm 2015 đạt 45,2 triệu tấn, tăng 240,9 nghìn tấn so với năm 2014

Bước vào triển khai kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 trong điều kiện kinh tế thế giới suy thoái, kinh tế trong nước tăng trưởng chậm lại, giá vật tư tăng, sức mua giảm, tiêu thụ sản phẩm của ngành gặp khó khăn… Đảng ta đã tập trung triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhờ vậy bước đầu có thể đánh giá ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2011 – 2015 đã đạt

Trang 7

được kết quả khá toàn diện Nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng cao, ổn định Theo

số liệu của Tổng cục Thống kê, giai đoạn 2011 – 2015, tốc độ tăng GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt bình quân 3,1%/năm; giá trị sản xuất tăng bình quân 3,6%/năm Chất lượng tăng trưởng được cải thiện, năm 2010 đến

2014, tỷ lệ giá trị gia tăng/giá trị sản xuất nông sản tăng từ 57% lên 65%; năng suất lao động xã hội ngành tăng 1,75 lần, giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt tăng 1,45 lần, trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản tăng 1,71 lần Ngành trồng trọt thực hiện chủ trương tái cơ cấu, áp dụng các tiến bộ về giống

và biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến, bền vững, duy trì được tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất trên 3,15%/năm vượt chỉ tiêu đề ra là 2,83%, an ninh lương thực được đảm bảo, các cây công nghiệp, cây ăn quả có lợi thế cạnh tranh tiếp tục phát triển Ngành chăn nuôi triển khai Đề án Tái cơ cấu ngành, hướng chủ yếu vào nâng cao năng suất, chất lượng đàn vật nuôi Nhờ đó, 5 năm 2011 –

2015, tuy không tăng về số lượng đầu con, nhưng giá trị sản xuất nông sản vẫn tăng bình quân gần 3,4%/năm, trọng lượng lợn thịt xuất chuồng bình quân từ 67,7 kg/con năm 2011 lên 70 kg/con năm 2014 Đặc biệt là phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp tiếp tục phát triển mạnh Đối với chăn nuôi lợn, phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp chiếm 35% đầu con và 43% về sản lượng; tương tự chăn nuôi gia cầm là 30% về đầu con và 40% về sản lượng

Tính đến 6 tháng đầu năm 2016, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 297,2 ngàn tỷ đồng, bằng 99,27% so với cùng kỳ năm trước Chăn nuôi có mức tăng trưởng GTSX cao nhất (+4,7%) đạt 88,7 ngàn tỷ đồng là do lĩnh vực chăn nuôi lợn và gia cầm phát triển tốt, ước tính tổng số lợn cả nước tháng 6 đạt 28,3 triệu con, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm 2015; số gia cầm đạt 341,5 triệu con, tăng 4,3% Tiếp đến là dịch vụ tăng 2,8%, đạt 5,2 ngàn tỷ đồng Ngành trồng trọt, do ảnh hưởng của thời tiết nên giá trị sản xuất trong lĩnh vực này chỉ đạt 203,3 ngàn

tỷ đồng, giảm 3% so cùng kỳ năm ngoái

Bên cạnh đó, 6 tháng đầu năm nay, giá lúa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long diễn biến giảm mạnh Giá cà phê vối nhân xô các tỉnh Tây Nguyên tăng do thời tiết khô hạn tại nhiều vùng trồng cà phê chủ chốt trên thế giới Đồng thời, giá tiêu trong nước cũng tăng mạnh đặc biệt trong tháng 5/2016 và 6/2016 do El Nino làm giảm sản lượng ở nhiều nước trồng tiêu, trong đó có Việt Nam Thời tiết nắng nóng và hạn hán kéo dài trong nhiều tháng qua làm sản lượng nhiều loại trái cây giảm, khiến giá nhiều loại trái cây như xoài, vải, sầu riêng tăng Thị trường chè trong nước tương đối ổn định và có xu hướng giảm dần do nhu cầu giảm và nguồn cung dồi dào bởi yếu tố thời tiết hậu thuẫn vào thời điểm thu hoạch

Chế biến đang là một lĩnh vực còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam Trong thời gian qua, hoạt

Trang 8

động chế biến hàng nông sản phục vụ cho xuất khẩu chủ yếu được thực hiện bởi những người sản xuất với phương tiện chế biến thô sơ lạc hậu, nên có năng suất thấp Hoạt động này chưa được thực hiện một cách hợp lý, đồng bộ, chưa được quan tâm một cách đúng mức nên sản phẩm tạo ra thường có phẩm cấp thấp do tạp chất nhiều, ngoại hình không hấp dẫn, chất lượng không cao Những yếu kém trong khâu chế biến được xem là nổi cộm nhất hiện nay và là một trong những nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam.

2.2 Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông sản

2.2.1 Thị trường trong nước

Hàng nông sản là sản phẩm thiết yếu của mọi người dân như gạo, chè, cà phê,… tuy vậy do mức sống của người dân ta còn thấp nên các sản phẩm nông sản được sản xuất ra chủ yếu là phục vụ cho xuất khẩu mà tiêu thụ cho thị trường trong nước chủ yếu là các sản phẩm thô, thứ cấp với giá rẻ hơn gấp nhiều lần như mặt hàng cà phê trong nội địa chỉ đạt khoảng 6000 tấn/năm chiếm 1,5 – 2% tổng sản lượng cà phê sản xuất ra Tuy vậy hiện nay, mức sống của người dân Việt Nam đã cao hơn trước, do đó nhu cầu về tiêu thụ nông sản ở thị trường nội địa cũng tăng lên

Sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đa dạng, phong phú nhưng cũng phức tạp nhưng trong những năm qua nhờ tổ chức tốt kênh tiêu thụ sản phẩm nên đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế Nhờ có chính sách tự do hóa thương mại nên mọi người, mọi thành phần kinh tế đều đã được tự do hóa tham gia vào các kênh tiêu thụ sản phẩm Các kênh tiêu thụ này có đặc điểm chủ yếu là do tư nhân quản lý chị phối Các kênh gián tiếp bước đầu phát triển như: kênh lương thực thực phẩm cung cấp đi các nước, kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong xuất khẩu Mạng lưới tiêu thụ giữa các vùng tuy chưa đồng đều nhưng cũng đã góp phần phân phối một khối lượng lớn nông sản phẩm Việc hình thành các khu trung tâm, siêu thị như Big C, Lotte Mart, , các chợ đầu mối cũng giúp cho việc trao đổi buôn bán hàng nông sản diễn ra tấp nập hơn và ổn định hơn

2.2.2 Thị trường nước ngoài (xuất khẩu)

Năm 2015, ngành nông nghiệp Việt Nam trải qua nhiều khó khăn khi chịu tác động của thời tiết lẫn yếu tố thị trường khiến kim ngạch xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chính suy giảm mạnh Hơn nữa, các nước là đối thủ cạnh tranh của Việt Nam như Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia lại liên tục phá giá đồng nội tệ khiến hàng nông sản của Việt Nam kém sức cạnh tranh Đến nay, diễn biến thị trường cũng không có nhiều điểm sáng khi ngành nông nghiệp đã chịu ảnh

Trang 9

hưởng nặng nề của hạn hán, xâm nhập mặn, làm sụt giảm sản lượng các mặt hàng như gạo, cao su, cà phê.

Cho dù giá xuất khẩu nông sản được dự báo tăng lên, việc tụt giảm sản lượng một số mặt hàng nông sản chính sẽ tác động xấu đến bức tranh chung về xuất khẩu

Năm 2016, xuất khẩu nông sản của Việt nam được đánh giá có nhiều cơ hội khởi sắc hơn do nhu cầu thị trường tăng, đặc biệt là có sự tác động từ các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt nam và các đối tác chính thức có hiệu lực Những tháng đầu năm 2016, các sản phẩm nông sản xuất khẩu chủ yếu như: gạo, gỗ, cà phê , hạt tiêu, điều vẫn duy trì được đà tăng trưởng tốt Riêng mặt hàng rau quả xuất khẩu có tốc độ phát triển vượt bậc Trước đây, những loại trái cây như: Thanh Long, xoài, vải thiều, nhãn mới chỉ xuất khẩu được số lượng rất ít và hạn chế thì nay đã vào được những thị trường khó tính như: Hoa kỳ, EU

và Nhật Bản Tuy nhiên, sản lượng gạo năm 2016 vẫn sụt giảm đáng kể

2.2.2.1 Mặt hàng cà phê

Ngành cà phê Việt Nam là một ngành sản xuất có truyền thống lâu đời, sản lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam luôn tăng trường trong nhiều năm qua và đang đứng thứ 2 thế giới Đây đang là mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn mang tính chiến lược trong cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam

Theo số liệu của Bộ Công Thương, tình hình xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong niên vụ 2014-2015 (tức từ tháng 10/2014 đến cuối tháng 09/2015) sụt giảm đáng kể so với niên vụ trước do hạn hán kéo dài tại khu vực Tây Nguyên và sâu bệnh nhiều Cụ thể, xuất khẩu cà phê của cả nước niên vụ 2014-

2015 đạt 1,269 nghìn tấn, tương đương 2,648 triệu USD, giảm 23,5% về sản lượng và giảm 21,9% về giá trị

Trang 10

* Niên vụ bắt đầu từ tháng 10 năm trước đến tháng 9 năm sau.

Mặc dù tính đến hết năm 2015 Việt Nam là nước đứng thứ 2 trên thế giới (sau Brazil) tính theo tổng lượng cà phê xuất khẩu, nhưng giá trị sản phẩm chưa cao do Việt Nam chủ yếu xuất khẩu cà phê nhân (cà phê chưa qua chế biến) Cụ thể, xét về cơ cấu các loại cà phê xuất khẩu, cà phê nhân trung bình chiếm hơn 95% trong tổng sản lượng cà phê xuất khẩu của cả nước trong 5 niên vụ gần đây, còn lại là cà phê hòa tan và cà phê rang xay

Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, sản lượng cà phê rang xay và cà phê hoà tan xuất khẩu ngày càng gia tăng, do Việt Nam đã chú trọng nhiều hơn đến việc xuất khẩu cà phê chế biến Theo phòng Nghiên cứu Phát triển thị trường, Cục Xúc tiến thương mại (VIETRADE), trong niên vụ 2014- 2015, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 1,28 triệu bao cà phê hoà tan, tăng 382 nghìn bao (42,4%) so với niên vụ trước Đồng thời, sản lượng xuất khẩu cà phê rang của Việt Nam cũng có sự thay đổi lớn trong niên vụ 2014- 2015 Lượng cà phê rang xay xuất khẩu tăng từ 120 nghìn bao lên đến 475 nghìn bao, cao hơn 337 nghìn bao (280,8%) so với niên vụ 2013- 2014

Trang 11

*Khối lượng 1 bao tương đương 60 kg.

Theo Vietrade, trong năm 2015, cà phê Việt Nam đã xuất khẩu đến 80 thị trường trên thế giới Trong đó, Đức và Hoa Kỳ là hai thị trường dẫn đầu về giá trị nhập khẩu cà phê Việt Nam, lần lượt đạt 358,82 triệu USD (tương đương chiếm 13,42% thị phần) và 313,33 triệu USD (11,72% thị phần) trong năm

2015 Ngoài ra, một số thị trường lớn khác nhập khẩu cà phê Việt Nam là Tây Ban Nha (8,62% thị phần ~ 230,59 triệu USD), Italia (7,43% thị phần ~ 198,56 triệu USD) và Nhật Bản (6,34% thị phần ~ 169,55 triệu USD)

Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tính đến hết tháng 8/2016, khối lượng xuất khẩu cà phê đạt 1,27 triệu tấn về khối lượng và 2,25 tỷ USD về giá trị, tăng gần 40% về khối lượng và 20,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015 Giá cà phê

Trang 12

xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2016 đạt 1.754 USD/tấn, giảm 14,5% so với cùng kỳ năm 2015 Đức và Hoa Kỳ tiếp tục là 2 thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng qua với thị phần lần lượt là 15% và 13% Giá trị xuất khẩu cà phê trong 7 tháng đầu năm 2016 ở hầu hết các thị trường chính của Việt Nam đều tăng so với cùng kỳ năm 2015, ngoại trừ thị trường Tây Ban Nha và Bỉ Cơ cấu xuất khẩu cà phê nhân 92% và cà phê chế biến (hòa tan và rang xay) là 8%

Mặc dù kim ngạch xuất khẩu cà phê từ đầu năm 2016 đến nay tăng mạnh

so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên, theo Hiệp hội Cà phê – Ca cao Việt Nam, sản phẩm tạo ra hiện vẫn chủ yếu xuất dưới dạng thô, giá trị gia tăng thấp Vấn

đề nổi cộm trong ngành cà phê hiện nay là quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt Số cơ sở có thương hiệu, đăng ký kinh doanh còn khá ít Để tạo điều kiện phát triển cho các cơ sở cà phê rang xay uy tín, Hiệp hội Cà phê –

Ca cao Việt Nam kiến nghị các đơn vị chức năng cần quản lý tốt hơn công tác VSATTP tại các cơ sở rang xay, chế biến cà phê trên cả nước trong thời gian tới

2.2.2.2 Mặt hàng gạo

Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với nghề trồng lúa ở các nước châu Á, đồng thời gạo là một trong những mặt hàng lương thực thiết yếu nhất của thế giới Từ sau khi thực hiện đổi mới (năm 1986) đến nay, ngành lúa gạo của Việt Nam đã phát triển liên tục theo định hướng gia tăng sản lượng

Sự gia tăng gần như liên tục này trong suốt hơn hai thập kỷ qua đã giúp Việt Nam không những đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn liên tục là một trong ba nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới

Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho thấy 8 tháng đầu năm 2015, tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giảm đáng kể về cả khối lượng và giá trị Nguyên nhân là do nhu cầu nhập khẩu cả thị trường truyền thống và thị trường mới đều giảm nguồn cung của các nước xuất khẩu dồi dào, dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường, đặc biệt là Thái Lan và Ấn Độ Theo đó, xuất khẩu gạo 8 tháng đầu năm đạt khoảng 3,37 triệu tấn, với kim ngạch 1,51 tỉ USD, giảm 16,6% về khối lượng và giảm 13,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái

Nhưng đến đầu tháng 10/2015 đã có những dấu hiệu khả quan nhờ 2 hợp đồng tập trung xuất khẩu gạo đi Philipines và Indonesia với số lượng 1,5 triệu tấn, nâng lượng gạo cả năm lên 6,59 triệu tấn

Sau những tháng đầu năm tăng mạnh (do thực hiện các hợp đồng từ năm ngoái vơi Indonesia, Philippines), xuất khẩu gạo đã đi xuống trong quý II/2016 Theo đó, tháng 4/2016 xuất khẩu chỉ đạt khoảng gần 450.000 tấn, giảm trên 30%; sang tháng 5 xuất trên 400.000 tấn, giảm trên 23%; và đến tháng 6, chỉ đạt

Trang 13

380.000 tấn, giảm gần 40% so cùng kỳ Như vậy, xuất khẩu gạo 6 tháng chỉ đạt 2,657 triệu tấn, giảm gần 2% so với cùng kỳ năm ngoái.

Theo VFA, những thị trường tập trung của gạo Việt Nam chưa thấy dấu hiệu sẽ sớm nhập khẩu thêm gạo trong tương lai gần, đặc biệt tại các thị trường truyền thống của Việt Nam ở Đông Nam Á

Theo đó, cuối tháng 6/2016, Cơ quan Lương thực quốc gia Philipines công bố có đủ gạo trong những tháng giáp hạt (tháng 7 - 9), đồng nghĩa với việc nước này chưa vội nhập khẩu gạo sau khi đã nhận đủ lượng gạo của những đợt

mở thầu cuối 2015 Còn Indonesia cũng thấy có dấu hiệu về tiếp tục mua vào…

Trong khi đó, thị trường lớn nhất của gạo Việt Nam là Trung Quốc (chiếm gần 35% lượng gạo xuất khẩu của Việt nam trong 6 tháng đầu năm), sức mua hiện đang giảm

Bên cạnh sự ảm đạm của thị trường do nhu cầu yếu, thiếu các hợp đồng tập trung, xuất khẩu gạo còn đang phải đối mặt với những khó khăn về tỷ giá

Khoảng sáng trong bức tranh xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay, chính là thị trường châu Phi, khi trong 6 tháng đầu năm nayxuất khẩu tăng gần 11% so cùng

Mặc dù sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam vẫn cao, nhưng người nông dân thu nhập vẫn còn thấp

Thứ nhất là do các đặc điểm như thiếu chuẩn hóa, cước phí vận chuyển cao, khó bảo quản và chịu sự bảo hộ nội địa cao

Gạo xuất khẩu là mặt hàng có tính cạnh tranh cao, bất chấp việc hoạt động xuất khẩu hay nhập khẩu tập trung vào một số ít quốc gia Giá gạo xuất khẩu trên thế giới liên tục được điều chỉnh bởi tất cả các yếu tố liên quan đến chuỗi giá trị cùng với quá trình tham chiếu đến nguồn cung và nguồn cầu ở các quốc gia khác nhau, đến các mức giá cả của các loại gạo khác nhau, cũng như của các loại ngũ cốc khác và cả các chính sách bảo hộ gạo nội địa liên tục thay đổi của các quốc gia

Thứ hai, áp lực cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu gạo ngày càng tăng chủ yếu do xu hướng gia tăng xuất khẩu gạo

Trang 14

Trong số các nước xuất khẩu gạo truyền thống, Ấn Độ là nước có sự bứt phá mạnh mẽ nhất trong xuất khẩu gạo, và trở thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Những năm gần đây, Ấn Độ đã mở rộng được thành công thị phần xuất khẩu gạo sang Nam Phi và có thể cạnh tranh ngang sức với Thái Lan ở thị trường này Ở châu Á, Campuchia và Myanmar đang có mức tăng trưởng mạnh

về xuất khẩu gạo, cạnh tranh trực tiếp với các nước xuất khẩu gạo truyền thống

Xu hướng tự lực về cung cấp lúa gạo tại các nước nhập khẩu gạo cũng là một yếu tố Xu hướng này cũng được nhận thấy rõ ở châu Phi Nguồn cung dồi dào

là nguyên nhân khiến một số nước ở châu Phi cắt giảm lượng gạo nhập khẩu

Thứ ba, giá trị xuất khẩu gạo Việt Nam còn thấp

So với các đối thủ cạnh tranh mạnh thì tốc độ tăng sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam cao hơn, nhưng tốc độ tăng kim ngạch lại thấp hơn Sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam lớn thứ hai thế giới nhưng chỉ xếp thứ 3, thứ

4 nếu xét về giá trị gạo xuất khẩu Sự gia tăng hay giảm sản lượng và đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam chịu tác động lớn từ sự biến động về sản lượng sản xuất và xuất khẩu gạo của các nước trong khu vực như Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Pakistan và sự biến động của giá cả trên thị trường thế giới

Tuy khoảng cách về giá gạo xuất khẩu giữa Việt Nam và thế giới thu hẹp dần do chất lượng gạo tăng lên, nhưng giá gạo xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn giá gạo xuất khẩu của thế giới Vấn đề không phải do Việt Nam chủ động hạ giá để cạnh tranh mà phải chấp nhận mức giá thấp hơn so với mặt bằng giá thế giới do chất lượng gạo chưa cao Có những thời điểm, gạo xuất khẩu cùng phẩm cấp thấp, cùng thị trường nhưng giá gạo của Việt Nam vẫn thấp hơn giá gạo xuất khẩu của Thái Lan từ 35-80 USD/tấn Đây chính là sự thiệt hại đối với Việt Nam, có ảnh hưởng không nhỏ đến sức cạnh tranh của gạo xuất khẩu Xét khả năng cạnh tranh về giá, khoảng cách chênh lệch giữa giá gạo xuất khẩu (loại 5% tấm) của Thái Lan và Việt Nam có xu hướng giảm trong những năm

2000 – 2003 (chênh lệch giá chỉ khoảng 10-15 USD/tấn) nhưng sau đó lại tăng lên 45 USD/tấn vào năm 2006 Nếu so sánh mức bình quân tất cả các loại gạo xuất khẩu thì giá gạo xuất khẩu tuy có được cải thiện hơn nhưng vẫn còn khoảng cách và giá gạo của Việt Nam luôn thấp hơn giá gạo của Thái Lan từ 15-30 USD/tấn Nguyên nhân chính gây ra sự chênh lệch về giá này là do chất lượng

gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn của Thái Lan

Thứ tư, do cấu trúc thị trường chưa bền vững

Thị trường xuất khẩu gạo hiện tại tập trung vào một số thị trường chính, gạo Việt Nam xuất khẩu sang khu vực châu Á chiếm tỷ lệ khoảng 75,75%, châu Phi chiếm khoảng 12,68%, châu Mỹ chiếm khoảng 7,58%, châu Âu chiếm khoảng 1,5%, Trung Đông chiếm khoảng 1,27%, châu Úc chiếm khoảng 1,21%

Trang 15

Các thị trường nhập khẩu của Việt Nam với số lượng lớn là Trung Quốc, Philippines, châu Phi, Malaysia, Indonesia, Cuba và Hông Kông.

Trong những năm qua, Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam và Pakistan là những quốc gia xuất khẩu gạo chính trên thế giới, chiếm tới 71,81% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn cầu Trung Quốc, Negeria, Iran và Indonesia là những nước nhập khẩu gạo chính, nhưng chỉ chiếm 23,32% tổng lượng gạo nhập khẩu toàn cầu Điều này cho thấy các nước xuất khẩu gạo có xu hướng tập trung hơn, trong khi các nước nhập khẩu khá phân tán Mỗi quốc gia xuất khẩu gạo thường đều có những thị trường xuất khẩu chủ yếu của riêng mình và cạnh tranh trong những thị trường xuất khẩu khác Việc quá chú trọng đến tăng sản lượng dẫn đến chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, thị trường xuất khẩu tập trung ở phân đoạn thấp, kém đa dạng và đặc biệt đang tập trung rất nhanh vào thị trường Trung Quốc Khi những thị trường xuất khẩu này gặp khó khăn, lập tức tạo sức

ép giảm giá lên toàn bộ thị trường nội địa, gây thiệt hại cho các thành phần trong chuỗi sản xuất lúa gạo trong nước, đặc biệt là người nông dân

Thứ năm, các chính sách chưa phát huy hiệu quả

Hiện nay, trên thị trường xuất khẩu gạo vẫn còn thiếu vắng các liên kết ngang giữa các công ty (ví dụ như trong việc đàm phán giá lúa gạo xuất khẩu)

và liên kết dọc với các công ty cung ứng đầu vào cho sản xuất Xu hướng xây dựng vùng nguyên liệu hiện được thực hiện rất “gượng ép” do các doanh nghiệp chủ yếu dựa vào nguồn cung sẵn có trên thị trường, sản phẩm xuất khẩu không

có sự khác biệt lớn, rủi ro về lợi nhuận cao do thị trường đầu ra không ổn định Trong những năm vừa qua, một loạt các chính sách được ban hành tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hành vi của các chủ thể trên thị trường lúa gạo Tuy nhiên, các chính sách được thiết kế cũng bộc lộ nhiều bất cập và không đạt được kết quả như kỳ vọng

Chẳng hạn như chính sách quy định điều kiện doanh nghiệp xuất khẩu gạo Theo đó, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, nếu đáp ứng

đủ các điều kiện và được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo Tuy nhiên, doanh nghiệp muốn kinh doanh xuất khẩu gạo phải đảm bảo ít nhất hai điều kiện cần, đó là: có ít nhất 1 kho chuyên dùng dự trữ và 1 cơ

sở xay xát thóc Mục tiêu của chính sách này là giảm bớt các đầu mối xuất khẩu nhằm tránh hiện tượng tranh mua, tranh bán Tuy nhiên, chính sách này không đạt được mục tiêu liên kết nhà xuất khẩu với nông dân Chính sách này vô hình trung tạo ra thêm một tầng lớp nữa giữa nông dân và các doanh nghiệp xuất khẩu Đó là các doanh nghiệp thu gom cho các doanh nghiệp xuất khẩu

2.3 Phân tích SWOT

2.3.1 Điểm mạnh

Ngày đăng: 20/11/2016, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w