Vì vậy, các định nghĩa chính về thương mại hóa được tập trung phân tích trong báo cáo này là quyết định của một hộ gia đình phát triển cây trồng có giá trị cao và quyết định bán một phần
Trang 1Các cản trở đối với việc tham gia thị trường
nông sản Việt Nam
Nhóm Nghiên cứu Kinh tế Phát triển(DERG)
Đại học Copenhagen (UoC)
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) Trung tâm Tư Vấn Chính sách Nông nghiệp (CAP)Viện Chính sách và Chiến lược và Phát triển Nông nghiệp nông thôn (IPSARD)
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD)
Nghiên cứu thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (ARD)
Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam
Trang 2hộ gia đình này thay đổi nhiều theo từng tỉnh, ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các hộ gia đình nghèo càng ít tham gia vào việc bán gạo Quy mô đất nhỏ là yếu tố quan trọng dẫn đến hạn chế thương mại nông nghiệp, bên cạnh đó, các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến thương mại nông nghiệp như các quy định hạn chế về đất đai (khuyến khích trồng cây hoa màu giá trị cao), khuyến nông, các yếu tố hỗ trợ mang tính thị trường tại địa phương, và việc tham gia vào các hội nông dân hoặc hội phụ nữ.
Từ khóa: Nông nghiệp; tham gia thị trường, chi phí giao dịch, Việt Nam
JEL:O13, Q12, Q13
Lời cảm ơn:
Chúng tôi chân thành cảm ơn sự hỗ trợ và đóng góp ý kiến của người tham gia hội thảo giới thiệu dự thảo báo cáo tại Viện quản lý kinh tế tháng 7 năm 2010 Chúng tôi cũng rất biết ơn những ý kiến nhận xét sâu sắc và tư vấn của giáo sư Finn Tarp, anh
Trang 3Simon McCoy, và các đồng nghiệp tại CAP trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Trang 41 Giới thiệu
Thương mại hóa nông nghiệp là một con đường không thể thiếu đối với tăng trưởng
và phát triển kinh tế cho hầu hết các nước đang phát triển dựa vào nông nghiệp (Pingali và Rosegrant năm 1995; von Braun 1995) Đối với hầu hết các nước đã đạt được thành công trong phát triển nông nghiệp, thương mại hóa đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Kể từ khi thực hiện công cuộc Đổi Mới vào cuối những năm 1980, Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và giảm nghèo đói một cách đáng kể Trong lĩnh vực nông nghiệp, cuộc cải cách Đổi Mới đã thực hiện các việc sau:
● Phi tập trung hóa đất đai và cải tiến trong phân bổ đất đai
● Loại bỏ các kiểm soát giá cả của nhiều mặt hàng (trong đó có gạo và phân bón)
● Trao quyền tự chủ lớn hơn cho khu vực tư nhân
● Tự do hóa thị trường nông nghiệp, bao gồm việc loại bỏ hoặc cắt giảm các hạn chế về xuất khẩu và thương mại trong nước
Từ những cải cách trên, , thương mại hóa nông nghiệp đã đạt được những bước tiến quan trọng dẫn đến cải thiện đáng kể thu nhập của người nông dân Sản xuất lúa gạo tăng lên mạnh mẽ đưa Việt Nam từ nước nhập khẩu gạo ròng trở thành một trong các nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới Một kết quả điển hình của quá trình thương mại hóa trong nông nghiệp là sản xuất nông nghiệp ở cấp quốc gia trở nên đa dạng hơn -,
ví dụ như việc phát triển nuôi trồng thủy sản, các loại cây trồng thu hoa lợithu hoa lợi
và các cây công nghiệp (đặc biệt là cà phê) Việt Nam hiện nay là nước xuất khẩu hàng đầu trên thế giới của nhiều mặt hàng nông nghiệp như cà phê, điều, cao su, chè, thủy sản Đây là một thành tựu tuyệt vời đối với một quốc gia mà trước đây thậm chí còn không thể sản xuất đủ lương thực để duy trì an ninh lương thực Ngoài ra, có đến hai phần ba nông dân, những người trước đây sinh sống chủ yếu dựa vào nghề nông, đã tham gia vào thị trường sau quá trình tự do hóa (WB, 1998) Từ năm 1993 đến 1998, thu nhập thực tế của hộ gia đình nông thôn tăng lên gần 60%, đây là tốc độ tăng trưởng cực kỳ nhanh đối với cộng đồng nông thôn (Aksoy và Isik-Dikmelik 2007) Ngoài ra, chiếm hơn một nửa trong sự tăng trưởng ở khu vực nông thôn là do
sự tăng lên trong thu nhập nông nghiệp (Isik-Dikmelik 2006)
Trang 5Mặc dù có được những tiến bộ đáng kể, nhưng thương mại hóa nông nghiệp ở Việt Nam vẫn còn cả một chặng đường dài để được mục tiêu thương mại hóa hoàn toàn Thương mại hóa nông nghiệp ở mức độ hộ gia đình rất khác nhau tùy theo vùng và tùy từng loại cây trồng Không nhiều hộ nhận ra những lợi ích mà thương mại có thể mang lại, trong khi đó, một số hộ khác lại có thể gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi nông nghiệp từ phương thức tự cung tự cấp sang hệ thống canh tác thương mại hóa hoàn toàn, mang lại lợi ích cho phần lớn các hộ gia đình nông thôn và tiếp tục giúp đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo ở Việt Nam, nghiên cứu này đặt ra các câu hỏi cần thiết cho việc phân tích và trả lời sau đây:
1 Những xu hướng trong thương mại hóa nông nghiệp gần đây ở cấp hộ gia đình
Phân tích của chúng tôi chỉ ra rằng trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2010, tỷ lệ
hộ gia đình tham gia vào thương mại hóa nông nghiệp có giảm chút ít, nhưng mức độ tiếp cận lại tăng lên Nghiên cứu cho thấy trong giai đoạn này, phúc lợi của hộ gia đình có mối tương quan tỷ lệ thuận với thương mại hóa nông nghiệp, mặc dù khó có thể xác định nhân tố nào là tác nhân trong mối tương quan này Chúng tôi đã phân các yếu tố làm hạn chế sự tham gia thị trường của các hộ gia đình làm nông nghiệp, đặc biệt là các hộ gia đình ở Tây Nguyên, Đông Bắc và Tây Bắc, thành ba nhóm như sau:
● Tài sản của hộ gia đình, đặc biệt là vấn đề chứng nhận sử dụng đất đai
● Khả năng tiếp cận với khuyến nông và trở thành thành viên của các tổ chức xã hôi
Trang 6● Chi phí giao dịch, đặc biệt là sự tồn tại của các hỗ trợ mang tính thị trường, cũng như sự sẵn có và khả năng tiếp cận các kênh buôn bán, bao gồm cả thương nhân
Các yếu tố tác động đến khả năng của các hộ gia đình tham gia vào thị trường nông sản thay đổi tùy thuộc theo tỉnh, bởi vậy, cũng cần phải thực hiện các phân tích dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi tỉnh
Cơ cấu báo cáo nghiên cứu bao gồm các phần: trước hết là tóm tắt ngắn gọn về các tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến vấn đề thương mại hóa Tiếp theo là giới thiệu về dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (phần 3) Phần 4 thảo luận về mô hình và
xu hướng thương mại hóa trong giai đoạn điều tra Phần 5 phân tích mô tả các đặc điểm của hộ gia đình tham gia vào thương mại hóa Phần 6 sẽ thực hiện phân tích kinh tế lượng đa biến Phần 7 phân tích về các kênh bán hàng được các hộ gia đình sử dụng và phần 8 là kết luận
Trang 72 Tổng quan tài liệu
Điểm đầu tiên trong việc tổng quan lý thuyết và thực nghiệm về sự tham gia thị trường là xem xét sự khác biệt về chi phí giao dịch, cũng như các cách tiếp cận với tài sản và dịch vụ để tham gia vào các hoạt động thị trường, đây là những yếu tố quan trọng tạo nên sự tham gia thị trường không đồng nhất giữa các hộ sản xuất nhỏ (Key, Sadoulet et al.2000; Barrett 2008) Chi phí giao dịch là các chi phí đáng kể và không đáng kể phát sinh trong quá trình thực hiện một giao dịch, và được xem như là rào cản cho sự tham gia thị trường Chi phí này bao gồm các chi phí về thời gian và tiền bạc
để có được thông tin về đối tác kinh doanh, chi phí để thương lượng các điều khoản trao đổi, các chi phí để thực thi hợp đồng, cũng như các chi phí liên quan đến khoảng cách giữa các đối tác như các chi phí về vận chuyển Chi phí giao dịch có thể khiến một số hộ gia đình tự lựa chọn ra khỏi thị trường và cũng có thể làm giảm khả năng phản ứng của hộ gia đình trước các cú sốc về giá cả Tính toán chi phí giao dịch thường không đơn giản: khó có thể quan sát được nếu nó đủ cao để ngăn chặn sự tham gia thị trường, và thường chỉ quan sát được một phần ngay cả khi giao dịch xảy
ra Như vậy, tài liệu có xu hướng dựa vào yếu tố ẩn, quan sát các biến ngoại sinh được
dự kiến sẽ ảnh hưởng đến quy mô của chi phí giao dịch, chẳng hạn như các biện pháp khoảng cách thị trường, sẵn sàng vận chuyển và tiếp cận thông tin Yếu tố quan trọng thứ hai là rủi ro và cách đối phó với rủi ro, các hộ gia đình quan tâm đến vấn đề đảm bảo lương thực và thường phải đối mặt với rủi ro cao có thể sẽ chọn việc không bán nhằm đảm bảo chắc chắn yêu cầu lương thực của chính họ
Các yếu tố quyết định sự tham gia của hộ quy mô nhỏ vào thị trường nông sản đã được nghiên cứu đối với khu vực Châu Phi Nhìn chung, một tỷ lệ nhỏ, thường là ít hơn một phần tư, nông dân châu Phi khu vực cận Sahara và các hộ gia đình nông thôn (tùy thuộc vào định nghĩa của mẫu điều tra) tham gia chủ yếu vào thị trường thực phẩm ngũ cốc Mạng lưới người bán thực phẩm thậm chí còn ít hơn, nhưng mô hình
tự cung tự cấp không phải là mô hình phổ biến: hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn đang thực sự mua ròng của các loại cây lương thực mà họ cũng sản xuất, dựa vào tiền thu được từ việc bán các nông sản giá trị cao hoặc từ những công việc phi nông nghiệp khác Các tài liệu cho thấy quan hệ tích cực giữa việc tham gia thị trường với: (a) tài sản của hộ (đặc biệt là đất đai, gia súc, lao động và công cụ) và thu nhập (Nyoro, Kiiru et al 1999; Cadot, Dutoit et al 2006; Stephens; Boughton, Mather et al 2007; Levinsohn và McMillan 2007); (b) tiếp cận tín dụng và bảo hiểm (Cadot, Dutoit et al 2006; Stephens và Barrett 2006); (c) đầu vào và tiếp cận với các dịch vụ khuyến nông ( Manyong et al 2008), (d) chi phí giao dịch thấp, bao gồm cả chi phí
Trang 8vận chuyển và chi phí thông tin (Heltberg và Tarp 2002 Alene, Manyong et al 2008; Ouma, Jagwe et al 2010) Nhìn chung, các hộ gia đình khá giả và sinh sống ở vị trí thuận lợi thường có nhiều khả năng hơn để bán sản phẩm cho thị trường Tuy nhiên, theo như Stephens và Barrett (2006), một số tiền nhất định trong tổng doanh thu của một hộ gia đình nghèo đơn giản chỉ là phản ánh sự không hoàn hảo thị trường tín dụng, các hộ gia đình không được tiếp cận thị trường cho vay, các hộ sử dụng thị trường hàng hóa như một hình thức của tín dụng phi chính thức theo mùa vụ, hàng hóa tương tự sẽ được trả lại sau đó Một lập luận tương tự cũng có thể áp dụng trong việc tiếp cận kho dự trữ.
Đối với sự tham gia thị trường tại Việt Nam, Rios et al (2008) chỉ ra rằng các hộ gia đình có năng suất cao hơn có xu hướng tham gia vào thị trường nông nghiệp không phân biệt các yếu tố tiếp cận thị trường Đồng thời, các chương trình mục tiêu nhằm cải cách cơ cấu nông nghiệp và vốn có thể dẫn tới việc tăng cả về năng suất và mức
độ tham gia thị trường, trong khi đầu tư vào cơ sở hạ tầng choviệc tiếp cận thị trường lại ít có tác dụng hơn (Rios, Masters et al 2009) Điều này phản ánh qua thực tế trong đầu những năm 1990 Việt Nam đã có một hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản tương đối tốt trong hầu hết các vùng khi so sánh với các nước có mức thu nhập tương
tự
3 Cơ sở dữ liệu và phương pháp luận
Thương mại hóa có thể được hiểu và xem xét theo một số cách khác nhau, có nhiều khái niệm khác nhau đã được sử dụng trong nhiều tài liệu Nó thường được hiểu dưới nghĩa là sự tham gia vào thị trường, điều này có thể là sự tham gia vào thị trường để bán hàng hóa đầu ra hoặc mua hàng hóa đầu vào Báo cáo này chú trọng vào doanh số bán ra của các sản phẩm hàng hóa đầu ra, đặc biệt là các loại cây trồng Chúng tôi trình bày và phân tích ở đây ba tiêu chuẩn đo mức độ thương mại hóa: tỷ lệ tổng sản lượng được bán, tỷ lệ lúa (cây lương thực chiếm ưu thế) được bán, và liệu hộ gia đình cây trồng thu hoa lợicó trồng loại cây giá trị cao nào khác hay không Các tiêu chuẩn này được thảo luận chi tiết hơn dưới đây
Một tiêu chuẩn đơn giản để đánh giá thương mại hóa nông nghiệp là tỷ trọng sản xuất nông nghiệp được bán ra, đây là tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá thương mại hóa Tuy nhiên, thương mại hóa có thể diễn ra dưới các hình thức cụ thể hơn Thứ nhất là việc một hộ gia đình quyết định phát triển một loại cây trồng có giá trị cao, gần như theo định nghĩa này thì sẽ có xu hướng là để bán Một khái niệm thứ hai của thương mại là quyết định của hộ gia đình bán một số sản phẩm lương thực, thay vì giữ lại tất cả để
Trang 9trường hợp cây lúa, cây lương thực chiếm ưu thế tại Việt Nam Vì vậy, các định nghĩa chính về thương mại hóa được tập trung phân tích trong báo cáo này là quyết định của một hộ gia đình phát triển cây trồng có giá trị cao và quyết định bán một phần sản phẩm của hộ gia đình trồng lúa.
Các dữ liệu được báo cáo này dựa trên kết quả được thu thập từ cuộc Điều tra khảo sát hộ gia đình nông thôn Việt Nam (VARHS) ở 12 tỉnh từ tháng 7 đến tháng 9 năm
2006, tháng 7 đến tháng 9 năm 2008 và từ tháng 7 đến tháng 8 năm1 2010 VARHS là cuộc điều tra đa mục đích, thu thập các thông tin đa dạng về hộ gia đình, bao gồm nhân khẩu học, sử dụng đất và quyền sở hữu, tài sản hộ gia đình, sử dụng thời gian và các nguồn thu nhập, tiếp cận tín dụng và bảo hiểm, vốn xã hội, tiếp cận của hộ gia đình đến các thị trường đầu vào và đầu ra Cuộc khảo sát cũng bao gồm một bảng câu hỏi cấp xã, thu thập thông tin tóm tắt ở cấp xã về nông nghiệp, việc làm, cơ sở hạ tầng, quản lý thủy lợi, tín dụng, và các cú sốc Cách thức xây dựng mẫu chính trong VARHS là điều tra lặp các mẫu hộ gia đình nông thôn trong các phần về thu nhập và chi tiêu trong Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam của năm 2002 và 2004 (VHLSS) ở12 tỉnh 2 Các tỉnh đã được lựa chọn trong điều tra được xem như công cụ đánh giá cho các chương trình hỗ trợ của Danida tại Việt Nam Do đó, mẫu được thống kê đại diện ở cấp tỉnh, chứ không phải ở cấp quốc gia Cuộc điều tra bao phủ các tỉnh quan trọng ở phía Bắc và khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, cũng như tại một
số tỉnh khác
Một hạn chế của VARHS so với VHLSS các là có ít dữ liệu chi tiết về chi tiêu cho tiêu dùng, và đặc biệt là thiếu dữ liệu về chi tiêu cho việc mua bán gạo Điều này không cho phép chúng tôi nghiên cứu cụ thể về thành phần tham gia thị trường bao gồm những người chuyên mua thực phẩm hoặc người chuyên bán thực phẩm, do đó các phân tích về thương mại nông nghiệp không bao gồm khía cạnh quan trọng là phúc lợi Mặt khác, các dữ liệu VHLSS về sản xuất cây trồng và thành phần tham gia thị trường bị hạn chế hơn nhiều so với VARHS và do vậy sẽ không thực hiện được các phân tích về vấn đề này
Cuộc khảo sát VARHS năm 2006 bao gồm 2324 hộ gia đình ở 466 xã, năm 2008 đã phỏng vấn được 3.269 hộ gia đình ở 477 xã, trong khi năm 2010 có 3208 hộ gia đình
1 The sampled provinces are, by region: Red River Delta: Ha Tay North East: Lao Cai, Phu Tho North West: Lai Chau, Dien Bien North Central Coast: Nghe Anh South Central Coast: Quang Nam, Khanh Hoa Central Highlands: Dak Lak, Dak Nong, Lam Dong Mekong River Delta: Long
Trang 10ở 467 xã Các mẫu điều tra theo thời gian chúng tôi sử dụng trong bài báo cáo này chỉ bao gồm các hộ gia đình có sản xuất trồng trọt, khoảng 90% các hộ gia đình được khảo sát trong từng năm Chúng tôi cũng sử dụng bộ dữ liệu lặp của 1733 hộ gia đình
có tham gia vào sản xuất cây trồng đã được phỏng vấn trong năm 2006 và sau đó được điều tra lại trong cả hai năm 2008 và 2010 Để giảm thiểu các vấn đề do sự khác biệt mẫu điều tra giữa năm 2006 và hai năm 2008, 2010, chúng tôi thực hiện các phân tích mô tả trong bài viết này bằng cách sử dụng số liệu lặp, đồng thời sử dụng các mẫu theo thời gian cho từng năm để tiến hành các phân tích kinh tế lượng về tỷ lệ khả năng bán ra các sản phẩm nông nghiệp, tần suất bán gạo và tần xuất sản xuất các cây trồng thu hoa lợi được sản xuất Trong phân tích mô tả và định lượng về doanh số bán hàng gạo, chúng tôi sử dụng một mẫu chỉ bao gồm các hộ gia đình trồng lúa nhằm giảm sự không đồng nhất ở cấp độ hộ không quan sát được, có thể được phản ánh bằng lựa chọn loại cây trồng Các loại cây trồng giá trị cao bao gồm cà phê, chè,
ca cao, hạt điều, mía đường, hạt tiêu và cao su
Chúng ta bắt đầu phân tích mô tả tình hình thương mại hóa,bằng việc xem xét tỷ lệ thương mại hóa khác nhau như thế nào theo khu vực, loại hộ … và sự thay đổi trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2010 khi tiến hành điều tra Chúng tôi đối chiếu các đặc điểm của hộ gia đình tham gia vào thương mại với những hộ không tham gia để có thể thấy được mối liên hệ giữa thương mại và phúc lợi của hộ Sau đó, chúng tôi tiến hành một phân tích kinh tế lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định bán gạo và quyết định để phát triển một cây trồng thu hoa lợi bằng việc mô hình hóa các yếu tố như các đặc điểm của hộ gia đình, khu vực … Trên cơ sở đó, chúng tôi sẽ xem xét các hạn chế chính ngăn cản hộ gia đình tham gia và đẩy mạnh thương mại hóa
4 Xu hướng trong các mô hình thương mại hóa
4.1 Tổng quan
Bảng 1 dựa trên một định nghĩa tổng thể về thương mại, theo đó thương mại được hiểu là giá trị tổng sản lượng đã được bán chia cho giá trị của tổng sản lượng đối với tất cả các loại cây trồng Bảng này được tính trên cơ sở bộ dữ liệu lặp của tất cả các
hộ gia đình có sản xuất cây trồng theo trong giai đoạn 2006 - 2010 Cột 2 và 3 cho thấy tỷ lệ các hộ gia đình trồng hoa màu trên tổng số hộ gia đình trong mẫu Nhìn chung, tỷ lệ này ổn định từ năm 2006 đến 2010, với một số thay đổi của tỉnh (ví dụ, tỷ
lệ hộ gia đình trồng trọt tăng lên đáng kể ở Khánh Hòa và Đắc Nông, trong khi tỷ lệ này lại giảm ở Hà Tây và Lai Châu) Cột 4 - 6 giới thiệu tỷ lệ hộ gia đình có bán một
số sản phẩm cây trồng, trong khi các cột từ 7 đến 9 cho thấy chỉ số thương mại hóa
Trang 11cây trồng (giá trị tổng sản lượng sản xuất chia cho giá trị sản lượng bán ra) cho tất cả các hộ gia đình làm nông nghiệp.Vấn đề trọng tâm đầu tiên là những thay đổi theo thời gian của 12 tỉnh tính từ năm 2006 đến năm 2010, theo đó, tỷ lệ hộ gia đình có sản xuất trồng trọt để bán một phần sản phẩm đầu ra đã giảm, tương tự, tỷ lệ tổng sản phẩm được bán trên tổng sản phẩm làm ra cũng giảm trong cùng thời kỳ Tình trạng tương tự cũng xảy ra đối với năm nhóm thu nhập, và cũng là thực tế ở nhiều tỉnh, trừ trường hợp tỉnh Quảng Nam có tỷ lệ hộ gia đình bán sản phẩm trồng trọt tăng lên, và chỉ có 2 tỉnh Quảng Nam và Đắc Nông có giá trị sản phẩm bán ra tương xứng với giá trị gia tăng của tổng sản phẩm Điều này phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của sinh kế nông nghiệp đối với nhiều hộ gia đình trong giai đoạn này.
Bảng 1: Xu hướng chung của thương mại hóa nông nghiệp, 2006-2010
% hộ có tham gia sản xuất nông nghiệp % hộ có bán sản phẩm trồng trọt Chỉ số thương mại hóa cây trồng
Trang 12nhất ở các tỉnh ven biển và một số tỉnh khu vực Tây Nguyên, trong khi ở khu vực phía bắc và phía tây bắc, tỷ lệ bán ra trong thực tế đã giảm xuống hoặc giữ nguyên.
So sánh giữa các tỉnh, tỷ lệ thương mại hóa (tức là tỷ lệ sản lượng bán ra nếu có) tại các tỉnh Tây Nguyên và Long An là cao nhất Ở Tây Nguyên, tỷ lệ này chủ yếu phản ánh tầm quan trọng của cây công nghiệp, đặc biệt là cà phê, các hộ gia đình trồng cà phê hầu như luôn luôn bán tất cả sản phẩm trồng được Tại Long An, thương mại hóa được phát triển tốt ở mức độ cao trong suốt một thời gian Tỷ lệ thương mại hóa cũng cao hơn ở các hộ gia đình trong các nhóm khá giả trong năm 2006 so với những người trong nhóm nghèo hơn, hộ gia đình giàu có hơn có thể bán một tỷ lệ sản lượng cao hơn
Bảng 2: Xu hướng trong mô hình tổng thể của thương mại hóa nông nghiệp, 2010
4.2 Thương mại hóa lúa gạo
Hiện trạng thương mại lúa gạo được tóm tắt trong Bảng 3 theo tỉnh và tình trạng kinh
tế xã hội Hình 1 giới thiệu tóm tắt các thông điệp chính một cách trực quan Trong giai đoạn này, tỷ lệ hộ gia đình trồng lúa giảm một chút, từ 88% đến 85% của tất cả
Trang 13các hộ gia đình có tham gia vào sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ thương mại
hóa lại tăng lên Tỷ lệ hộ gia đình bán gạo đã tăng từ 51% lên 56% trong giai đoạn
2006 - 2010 Ngoài ra, sản lượng gạo bán ra nếu có đã tăng nhẹ từ năm 2006 đến
2008, và tăng rõ rệt trong giai đoạn từ năm 2008 đến 2010, với mức tăng tổng thể từ
46%-54% gạo sản xuất trong giai đoạn 2006-2010 Hình 1 cung cấp một cái nhìn tổng
quát cho điều này
Xét theo phân bố địa lý, trồng lúa chiếm ưu thế ở tất cả các tỉnh, ngoại trừ ba tỉnh Tây
Nguyên, nơi hầu hết là tập trung canh tác các loại cây trồng thu hoa lợi và cà phê Tỷ
lệ hộ gia đình bán gạo thay đổi theo tỉnh và có xu hướng biến động đáng kể qua các
năm Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 2006 đến 2010, tất cả hộ đều bán gạo, ngoại
trừ hai tỉnh Tây Bắc là Lai Châu, Điện Biên, và hai tỉnh Nghệ An, Khánh Hòa
Trong giai đoạn 2006-2010, nhìn chung mức độ thương mại hóa tăng ở tất cả các tỉnh,
cao nhất tại Tây Nguyên và Long An, và giảm chút ít tại Lào Cai và Long An
Bảng 3: Tỷ lệ hộ gia đình sản xuất và bán gạo của các tỉnh và các nhóm thu nhập
Trang 14Hình 1: Sản xuất lúa gạo và bán hàng giai đoạn 2006-2010.
Trong bảng 3, chúng tôi mô tả thương mại hóa lúa gạo của 5 nhóm thu nhập tính theo năm (2006), có điều chỉnh theo lạm phát và chênh lệch giá ở cấp tỉnh, như là một chỉ báo về tình trạng kinh tế Tính trung bình, các hộ gia đình bán gạo có điều kiện tốt hơn so với những người trồng nhưng không bán gạo trong cả hai năm 2008 và 2010, trong khi hầu như không có sự khác biệt trong năm 2006
Sự tham gia vào thị trường của các nhóm thu nhập là khác nhau Hai nhóm giàu nhất
ít có khả năng trồng lúa hơn so với ba nhóm nghèo nhất trong cả ba năm Các hộ gia đình trong ba nhóm giữa duy trì ổn định việc bán gạo trong giai đoạn này Tỷ lệ các
hộ gia đình có bán gạo tăng lên chút ít trong các nhóm nghèo nhất từ năm 2006 đến
2010, và tăng rõ rệt trong tất cả các nhóm khác Đúng như dự kiến, các hộ gia đình giàu đã duy trì việc bán một số lượng gạo lớn hơn trong cả ba năm Trong giai đoạn
từ năm 2006 đến 2008, khi giá gạo tăng rõ rệt, tỷ lệ gạo bán ra tăng trong nhóm nghèo nhất và giàu nhất, trong khi giảm nhẹ trong các nhóm có thu nhập trung bình Trong giai đoạn 2006-2010, lượng gạo bán ra tăng lên trong tất cả các nhóm ngoại trừ những người giàu nhất thứ hai (nhóm khá), nhưng tăng rõ rệt nhất là ba nhóm nghèo nhất Hình 2 cung cấp một hình ảnh tóm tắt cho những xu hướng này
Hình 2: Tỷ gạo bán ra của các hộ gia đình bán gạo, theo nhóm thu nhập, 2006-2010
Trang 15Bảng 4 cho thấy số lượng sản xuất và bán của những hộ bán gạo Nhìn chung, số
lượng gạo sản xuất tăng lên chút ít, trong khi số lượng bán ra (khi có điều kiện để
bán) giảm nhẹ từ năm 2006 và 2008 và sau đó tăng 11% vào giai đoạn từ năm 2008
đến 2010
Trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2010, khối lượng sản xuất đã tăng ở tất cả
các nhóm thu nhập trừ các nhóm thu nhập trung bình Sự gia tăng này rõ rệt nhất ở
các hộ gia đình thuộc nhóm giàu nhất Số lượng bán giảm đối với các nhóm thu nhập
giàu nhất và thứ hai, trong khi tăng đáng kể cho ba nhóm còn lại Đối với nhóm nghèo
nhất, sự gia tăng về số lượng bán ra lớn hơn nhiều so với sự gia tăng số lượng sản
Điểm quan trọng tiếp theo là xem xét sự khác biệt trong việc tham gia thị trường
thông qua quy mô trang trại Quy mô trung bình của trang trại trong dữ liệu lặp là
khoảng một hecta (tính tổng diện tích đất vẫn đang canh tác), tuy nhiên kích thước
trang trại đã giảm dần theo thời gian Chúng tôi sử dụng diện tích đất trung bình cho
từng năm làm ngưỡng phân biệt giữa các trang trại nhỏ và trang trại lớn hơn Bảng 5
cho thấy rằng các trang trại nhỏ có nhiều khả năng tham gia trồng lúa và ít có khả
Trang 16năng bán trong cả ba năm Họ bán một tỷ lệ nhỏ hơn so với sản lượng họ sản xuất được so với các trang trại lớn hơn Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ nông dân bán gạo vẫn không đổi trong giai đoạn này, thì số nông dân nhỏ có bán gạo lại tăng lên Hơn nữa, trong giai đoạn 2006-2010 lượng gạo bán ra của các trang trại nhỏ hơn tăng nhiều hơn
so với các trang trại lớn, điều đó cho thấy rằng việc tham gia thị trường lúa gạo là không chỉ còn dành cho trang trại lớn
Bảng 5: Tham gia thị trường gạo theo tổng diện tích
Giá trị trung bình cho tổng diện tích đất đang sử dụng (m 2): 2006 = 4412; năm 2008 = 4238; 2010 = 4100
4.3 Các cây trồng thu hoa lợi
Bảng 6 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có sản xuất cây trồng thu hoa lợi giảm nhẹ trong giai đoạn năm 2006 đến 2010, cụ thể tỷ lệ giảm từ 18 xuống 17%, trong khi tỷ lệ hộ gia đình trồng cà phê vẫn ổn định ở mức khoảng 10% trong tổng số hộ gia đình có tham gia vào sản xuất trồng trọt Tuy nhiên, sản lượng của tất cả các cây công nghiệp nói chung và riêng cây cà phê đã tăng gần gấp đôi trong thời gian từ năm 2006 và
2010 Tính theo khu vực địa lý, hầu hết các loại cây trồng thu hoa lợi (cây công nghiệp), và chủ yếu là sản xuất cà phê, đều tập trung ở ba tỉnh Tây Nguyên Điều kiện của các hộ gia đình sản xuất cây trồng thu hoa lợi và những hộ sản xuất cà phê (chỉ xem xét các tỉnh sản xuất cà phê) luôn tốt hơn về cả thu nhập và chi tiêu lương thực tính trên bình quân đầu người trong tất cả các năm điều tra Nhóm giàu nhất có nhiều khả năng để sản xuất các loại cây trồng thu hoa lợi và cà phê trong cả ba năm Tỷ lệ
hộ gia đình canh tác các loại cây trồng thu hoa lợi và cây cà phê vẫn giữ ổn định đối với nhóm nghèo nhất trong giai đoạn này Theo thời gian, tỷ lệ hộ gia đình canh tác cây trồng thu hoa lợi tăng lên trong nhóm giàu nhất, trong khi tỷ lệ này giảm nhẹ trong ba nhóm thu nhập trung bình Có khoảng 5% nông dân sản xuất nhỏ tham gia sản xuất cây trồng thu hoa lợi trong mỗi năm được khảo sát so với 30% của các hộ sản xuất lớn hơn
Trang 17Bảng 6: Tỷ lệ hộ gia đình sản xuất cây trồng giá trị cao và cà phê theo tỉnh và theo nhóm thu nhập giai
Hầu hết các hộ gia đình có sản xuất cây trồng thu hoa lợi (cây công nghiệp) cũng có
cả sản xuất gạo, nhưng tỷ lệ hộ gia đình kết hợp cả hai loại sản xuất cây trồng này đã giảm nhẹ, từ 59% của hộ gia đình có trồng cây giá trị cao trong năm 2006, đến 55% trong năm 2010 Ít hơn 1 / 3 số hộ gia đình kết hợp trồng hai loại có bán gạo Số lượng gạo trung bình được sản xuất và bán ra bởi các hộ vừa trồng cây hoa màu vừa trồng lúa lại thấp hơn so với những hộ không sản xuất cây trồng thu hoa lợi, mặc dù cũng có những thời điểm từ 2008 đến 2010, những hộ trồng cây thu hoa lợi có xu hướng bán nhiều gạo hơn những hộ không trồng
Mỗi chỉ số thương mại hóa được xem xét ở đây cho thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa thương mại hóa nông nghiệp và phúc lợi của hộ gia đình, các hộ gia đình nông nghiệp bán nhiều sản phẩm đầu ra của họ hơn và/hoặc các hộ trồng cây thu hoa lợi, có điều kiện trung bình tốt hơn so với những hộ không tham gia thương mại Tuy nhiên, chỉ dựa trên sự tương quan này thì không thể rút ra bất kỳ kết luận nào về mối quan hệ nhân quả Nhưng nó cho thấy mặc dù mức độ tham gia và mức độ của thương mại hóa đối với mặt hàng lúa gạo của các hộ gia đình nghèo đã tăng lên đáng kể, họ vẫn ít khả năng tham gia sản xuất các loại cây trồng giá trị cũng như cà phê so với các hộ giàu
có hơn
Trang 18Nếu so sánh tỷ lệ tăng bình quân thu nhập đầu người giữa các hộ gia đình có bán một loại cây trồng nông nghiệp bất kỳ và những hộ không bán bất kỳ một loại nào, ta sẽ thấy trong năm những hộ không có bán bất kỳ loại sản phẩm nông nghiệp nào lại có
tỷ lệ tăng thu nhập cao hơn những hộ có bán Nhưng nếu tập trung vào các hộ có bán lúa gạo, nghiên cứu cho thấy thu nhập của những hộ này tăng nhiều hơn những hộ không bán gạo trong năm 2006 Lúa gạo tất nhiên là mặt hàng buôn bán quan trọng đối với thị trường Việt Nam, điều này cho thấy những người có bán gạo trong năm
2006 đã phát triển tốt hơn trong những năm sau đó so với những người không bán Tất nhiên vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn tới các yếu tốt khác, chẳng hạn như phân tích về kênh bán hàng
5.Đặc điểm hộ gia đình và thương mại hóa nông nghiệp: vai trò của tài sản, tiếp cận tín dụng, chi phí giao dịch và nhân khẩu của hộ
Mục đích của báo cáo này là tìm hiểu những yếu tố hạn chế sự tham gia thị trường của hộ gia đình sản phẩm nông nghiệp, và chúng tôi tiến hành phân tích theo hai bước: thứ nhất là thực hiện phân tích mô tả, xem xét trang trại và các đặc điểm hộ gia đình theo thời gian; trong phần tiếp theo, sẽ sử dụng phân tích đa biến để xem xét đồng thời những ảnh hưởng của các đặc tính khác nhau, từ đó rút ra kết luận mạnh mẽ hơn về ý nghĩa tương đối quan trọng của những yếu tố này
Các phân tích trong phần này dựa trên số liệu lặp của 1733 hộ gia đình có tham gia vào sản xuất cây trồng Chúng tôi bắt đầu bằng cách dùng ba khái niệm ngắn về thương mại hóa các hộ gia đình trong dữ liệu lặp cho mỗi năm khảo sát (2006, 2008
và 2010) Chúng tôi xem xét các đặc điểm của hộ gia đình theo khái niệm thứ hai và thứ ba của thương mại hóa: những người đang tham gia vào bán gạo, hoặc các loại cây trồng thu hoa lợi Chúng tôi so sánh giá trị trung bình của họ với các nhóm khác chẳng hạn như hộ gia đình trồng lúa nhưng không bán ra thị trường, và các hộ gia đình không tham gia sản xuất các loại cây trồng thu hoa lợi tương ứng Bảng 7-9 tại phần phụ lục tóm tắt lại các kết quả
Các phân tích mô tả đặc điểm trang trại và hộ gia đình cho thấy nhiều điểm tương đồng về người nông dân tham gia thương mại hóa và sự thay đổi theo thời gian Người bán gạo, hộ gia đình canh tác cây trồng thu hoa lợi và những hộ trồng cà phê (phân tích cho hộ cà phê giới hạn chỉ trong ba tỉnh trồng cà phê ở khu vực miền trung Tây Nguyên ) hầu hết là những hộ gia đình giàu, có ưu đãi tốt hơn về đất đai, con người và vốn xã hội Những hộ gia đình này có tổng thu nhập và thu nhập từ nông nghiệp cao Xét tổng thể theo định nghĩa của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
Trang 19họ ít có khả năng bị rơi vào diện nghèo Tỷ lệ hộ nghèo nằm trong số những a hộ có bán gạo từ năm 2006 đến 2010 Những hộ sản xuất cà phê cũng ít có khả năng bị rơi vào diện nghèo trong cả hai năm; tỷ lệ hộ nghèo giảm trong cả hai đối tượng (các hộ
có trồng cà phê và các hộ không trồng cà phê) tính theo thời gian ở ba tỉnh Tây Nguyên, nhưng tỷ lệ này cao hơn đối với các hộ sản xuất cà phê Mặt khác các hộ gia đình sản xuất cây trồng thu hoa lợi có nhiều khả năng trở thành diện nghèo trong năm
2006, và ít có khả năng thành diện nghèo trong cả hai năm 2008 và 2010; tương tự, tỷ
lệ hộ nghèo giảm đối với các hộ gia đình có sản xuất cây trồng thu hoa lợi so với các
hộ khác trong giai đoạn này Điều này cho thấy thương mại dường như là một phần quan trọng của chiến lược sinh kế hộ gia đình thoát khỏi đói nghèo
Các hộ gia đình thương mại hóa cũng sử dụng đất nhiều hơn, tỷ lệ đất được tưới tiêu cao hơn, đất được các hộ đầu tư đầu vào nhiều hơn và có khuynh hướng thuê thêm lao động Họ cũng dành tỷ lệ cao hơn cho diện tích đất để thực hiện thâm canh, tức là các khu vực được quy hoạch chỉ để trồng lúa hoặc ít nhất trong một vụ Quy định này thường áp dụng đối với đất được sử dụng hiệu quả nhất Trong khi đó, không ngạc nhiên khi thấy rằng tỷ lệ các hộ có bán gạo thường có tỷ lệ đất bị hạn chế cây trồng nhiều hơn, một kết quả khác thường đối với các hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi có thể được giải thích bằng việc các hộ này trên thực tế được địa phương hỗ trợ cung cấp đầu vào có chất lượng cao hơn so với những hộ khác Điều này cho phép họ có thể đa dạng hóa cây trồng hướng tới tập trung chuyên sâu loại cây trồng trên những thửa đất
họ có thể lựa chọn loại cây trồng
Vốn xã hội và vốn lao động cũng đóng một vai trò quan trọng trong hành vi tham gia thị trường: các hộ gia đình thương mại hóa có nhiều khả năng tiếp cận dịch vụ khuyến nông, đào tạo nông nghiệp (mặc dù điều này không được thực hiện đối với các hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi trong năm 2006), các hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi và
cà phê cũng có khuynh hướng gia nhập các tổ nhóm nông dân nhiểu hơn Các họat động đào tạo và dịch vụ khuyến nông có thể cải thiện kỹ thuật canh tác và có tác động tích cực đến sản lượng đầu ra Tham gia vào các tổ nhóm nông dân cung cấp cho các
hộ gia đình một số lợi ích như tiếp cận tín dụng, học tập kinh nghiệm từ những hộ khác, chia sẻ thông tin và có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nông nghiệp trong cả hai giai đoạn sản xuất và tiếp thị tiêu thụ
Ngoài ra, giữa các nhóm nông dân tham gia thương mại hóa với những nhóm khác cũng còn một số điểm khác biệt quan trọng Một trong những điểm khác biệt thú vị là các phân tích theo khía cạnh dân tộc Số hộ buôn bán gạo trong năm 2006 phần nhiều
là các hộ dân tộc thiểu số, nhưng trong cả năm 2008 và 2010 thì tỷ lệ hộ bán gạo là
Trang 20dân tộc Kinh lại nhiều hơn, điều này cho thấy các hộ nông dân tộc Kinh đã tận dụng tốt hơn lợi thế của việc tăng giá gạo qua các giai đoạn bằng việc bắt đầu bán gạo Ngược lại các hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi thường luôn là các hộ dân tộc thiểu
số, trong khi trồng cà phê lại chủ yếu là các hộ dân tộc Kinh Yếu tố về giới của chủ
hộ không khác biệt nhiều giữa những hộ có bán gạo vào không bán gạo, nhưng với những hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi thì có tỷ lệ chủ hộ đa số là nam Với yêu cầu đầu vào cao hơn cho các loại cây trồng, có thể thấy vấn đề mà các chủ hộ nữ phải đối mặt là các khả năng thanh toán bằng tiền mặt để mua nguyên liệu đầu vào, ví dụ như tiếp cận tín dụng hoặc các khoản tiền lương của các thành viên trong hộ Cả hai loại
hộ bán gạo và các sản phẩm cây trồng có giá trị đều cùng có khả khả năng vay mượn hoặc tiền mặt hoặc hàng hóa và giống để sản xuất Cuối cùng, các hộ gia đình sản xuất cây trồng thu hoa lợi và hộ trồng cà phê thường ở gần đường giao thông lớn, trong khi các hộ bán gạo lại ở xa hơn các hộ không bán gạo Kết quả này phản ánh sự khác biệt trong cách tiếp thị cho lúa và cây trồng thu hoa lợi: gạo có thể dễ dàng được bán cho các hộ gia đình lân cận và thị trường địa phương, trong khi cây trồng có giá trị cao có nhiều khả năng được bán trên thị trường thông qua các thương nhân, do đó thấy được tầm quan trọng hơn của vị trí khu vực hộ đối với cơ sở hạ tầng giao thông
Để hiểu được những hạn chế trong thương mại hóa, cần phải xem xét các hộ gia đình theo chuỗi thời gian và quan sát hành vi tham gia của hộ Đặc biệt, cần quan tâm xác định các yếu tố có liên quan chặt chẽ với tính dễ thay đổi trong việc tham gia thị trường, chẳng hạn như quyết định của một hộ gia đình rằng sẽ thôi tham gia hay bắt đầu tham gia thị trường bán sản phẩm … Để nghiên cứu vấn đề này, chúng ta sẽ xem xét theo chuỗi dữ liệu lặp và nhìn vào những thay đổi trong hành vi tham gia thị trường của cùng một hộ gia đình theo thời gian
Như dự đoán, các khoản đầu tư ban đầu cho sản xuất của các hộ sản xuất cây trồng thu hoa lợi và sản xuất cà phê không thay đổi nhiều cây trồng thu hoa lợi : 78% hộ gia đình sản xuất cây trồng thu hoa lợi trong năm 2006 vẫn tiếp sản xuất trong năm 2010, trong khi số hộ trồng cà phê tăng đến 92% Theo bộ dữ liệu lặp, số hộ gia đình bắt đầu sản xuất cây trồng giá trị trong năm 2010 ít hơn 2% (32 hộ gia đình), trong khi có 2%
hộ ngừng sản xuất trong năm 2010 (đối với trường hợp này, chúng tôi hy vọng điều này có nghĩa là các hộ gia đình vẫn còn có cây cối, nhưng không thu hoạch)
Đối với doanh số bán hàng gạo, 70% các hộ gia đình có trong dữ liệu lặp bán gạo trong năm 2006 cũng bán trong năm 2010, nhưng tổng doanh số biến đổi nhiều Khoảng 20% hộ gia đình không bán gạo trong năm 2006 nhưng bán trong năm 2010, trong khi 15% các hộ gia đình có bán gạo trong năm 2006 và không còn bán trong